CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
Chương
VIII
Phẩm
Tám Bài Kệ
417.
Chuyện Hiền Mẫu Kaccàni (Tiền thân Kaccàni)
Mặc
áo trắng và tóc xõa vai...,
Bậc
Ðạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
người phụng dưỡng mẹ mình.
Chuyện
kể rằng đó là một thiện gia nam tử ở Savatthì (Xá-vệ).
Khi cha mất, chàng chuyên tâm săn sóc mẹ, hầu hạ mẹ các
công việc súc miệng đánh răng, tắm rửa v.v... và đem cháo
cơm thức ăn cho mẹ. Bà mẹ bảo: "Này con, có nhiều phận
sự khác trong đời gia chủ, con phải cưới một cô gái nhà
đàng hoàng, cô ấy sẽ săn sóc mẹ, để rồi con đi làm công
việc khác thích hợp hơn". - "Mẹ ơi, chính vì lợi ích và
niềm vui của con mà con hầu hạ mẹ, chứ ai khác có thể
hầu để tăng gia sản của ta chứ". - "Con không màng đến
đời sống gia đình. Con muốn phụng sự mẹ, sau khi mẹ qua
đời, con sẽ làm ẩn sĩ khổ hạnh."
Bà
mẹ cố nài ép con mãi, và cuối cùng không cần thuyết phục
con hay được con chấp thuận, bà cứ đưa về một cô gái
con nhà tử tế. Chàng cưới vợ và sống với nàng vì chàng
không muốn trái ý mẹ, nên muốn bắt chước, nàng cũng chăm
nom mẹ chồng chu đáo. Nhận thấy lòng tận tụy của vợ,
chàng đem về cho nàng mọi thức ăn ngon lành mà vị ấy có
thể kiếm được.
Theo
thời gian, nàng dâu suy nghĩ ngu xuẩn theo kiểu kiêu hãnh của
nàng: "Chàng cho ta mọi thức ăn ngon lành chàng kiếm được,
chắc hẳn chàng mong muốn tống mẹ đi cho rảnh, vậy ta sẽ
tìm cách làm việc đó". Một hôm nàng bảo:
- Chàng
ơi, mẹ mắng tôi lúc chàng đi vắng.
Người
chồng không nói gì. Nàng suy nghĩ: "Ta sẽ chọc tức bà già
và làm cho con trai bà ấy không chịu nổi mẹ nữa".
Từ
đó nàng đem cháo cho bà hoặc quá nóng hoặc quá lạnh, hoặc
quá mặn hoặc quá nhạt. Khi bà lão than phiền cháo quá nóng
hay quá mặn, nàng đổ thêm nước lạnh đầy dĩa, rồi khi
nghe cháo quá lạnh hoặc quá nhạt, nàng thường kêu to:
- Mới
đây mẹ bảo quá nóng và quá mặn, ai chiều chuộng bà cho
được.
Lúc
tắm rửa, nàng thường dội nước quá nóng lên lưng bà già,
nghe bà bảo:
- Con
ơi, lưng mẹ bỏng rồi đấy!
Nàng
liền dội nước thật lạnh lên bà mẹ, rồi khi nghe bà than
phiền, nàng bịa chuyện với hàng xóm:
- Bà
già này khi thì bảo nước quá nóng, khi thì bảo nước quá
lạnh, ai còn chịu đựng được sự trơ tráo của bà ấy
nữa?
Nếu
bà già than phiền giường bà đầy rệp, nàng sẽ đem giường
ấy ra, và giũ mạnh vạt giường của nàng lên đó rồi mang
nó về chỗ cũ, bảo bà:
- Tôi
đã giũ nó rồi.
Bà
già hiền lành lại bị rận rệp cắn nhiều gấp đôi trước
kia, nên phải ngồi suốt đêm và than phiền bị rệp cắn
suốt đêm, nàng đáp lại:
- Giường
mẹ mới được giũ hôm qua và hôm kia nữa, ai có thể chiều
chuộng mọi yêu sách của bà già này chứ?
Muốn
làm cho con trai bà phản đối mẹ, nàng lại rải đờm dãi,
tóc bạc khắp nơi, rồi khi chàng hỏi ai làm cho nhà cửa bừa
bãi dơ bẩn như vậy, nàng thường bảo:
- Mẹ
chàng làm đấy, nhưng nếu tôi bảo mẹ đừng làm vậy, thì
mẹ lại la lối lên. Tôi không thể ở chung nhà với một
bà chằn như vậy, chàng phải quyết định hoặc mẹ hoặc
tôi ở lại đây thôi.
Chàng
nghe nàng nói vậy liền bảo vợ:
- Nàng
ơi, nàng còn trẻ và có thể ở nơi nào tùy ý, muốn đi đâu
thì đi nhưng mẹ tôi già yếu, tôi là chỗ tựa của bà. Vậy
nàng hãy đi về với người thân thuộc.
Khi
nghe vậy nàng sợ hãi nghĩ thầm: "Chàng không thể xa cách
người mẹ rất thân yêu đối với chàng. Còn nếu ta về
nhà cũ, ta sẽ sống cuộc đời cô đơn khổ sở. Vậy ta muốn
hòa giải với chồng và chăm sóc bà như xưa". Từ đó nàng
làm đúng như thời trước.
Một
hôm vị cư sĩ này đến Kỳ Viên nghe Pháp, đảnh lễ bậc
Ðạo Sư xong, chàng đứng một bên. Bậc Ðạo Sư hỏi xem
có phải chàng vẫn không xao nhãng bổn phận cũ, và vẫn tận
tụy chăm sóc mẹ già chăng.
Chàng
đáp:
- Thưa
vâng, Bạch Thế Tôn. Mẹ con đem về cho con một cô gái để
làm vợ trái ý con, nàng ấy đã làm nhiều việc không xứng
đáng như vậy.
Rồi
chàng kể hết mọi việc cho Ngài nghe:
- Song
nàng ấy không thể ly gián mẹ con với con được, nên bây
giờ nàng ấy lại chăm sóc bà hết sức cung kính.
Bậc
Ðạo Sư nghe chuyện và bảo:
- Ngày
nay ông không nghe theo lời vợ, nhưng ngày xưa ông đã bỏ
mẹ vì nghe lời vợ xúi giục và nhờ ta đưa bà ấy về lại
cho ông chăm nom.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của chàng, Ngài kể câu chuyện đời
xưa.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, có một thanh niên
trong gia đình nọ hết lòng chăm sóc mẹ già khi cha cậu từ
trần, giống như phần duyên khởi chuyện này, các chi tiết
cũng được nêu ra đầy đủ như trên. Nhưng trong trường
hợp này, khi người vợ bảo nàng không thể sống với bà
chằn kia và chàng phải quyết định một trong hai người phải
ra đi, thì chàng theo lời vợ cho rằng mẹ mình có lỗi và
bảo:
- Mẹ
ơi, mẹ luôn gây chiến trong nhà này, từ nay mẹ đi sống
nơi khác tùy ý mẹ.
Bà
mẹ nghe vậy, vừa khóc vừa đi đến nhà bạn đâu đó, làm
thuê chật vật để sống qua ngày. Sau khi bà ra đi, con dâu
bà mang thai sinh con trai, nên thường rêu rao với chồng và
hàng xóm rằng việc sinh con ấy chưa hề xảy ra trước kia,
khi còn có bà chằn ở trong nhà.
Sau
khi sinh con, nàng bảo chồng:
- Tôi
chưa bao giờ sinh con lúc mẹ chàng còn ở trong nhà, nay tôi
đã có con: như thế chàng có thể thấy rõ bà ấy đúng là
bà già chằn thuở trước rồi đó.
Bà
già nghe chuyện sinh con trai được dâu bà xem là do bà ra khỏi
nhà, liền suy nghĩ: "Chắc chắn thần Công chánh đã chết
trên đời này, vì nếu không phải như vậy, những kẻ này
đã không sinh con trai và sống sung sướng sau khi đánh đuổi
mẹ mình: Ta muốn làm lễ cúng tế thần Công chánh đã chết".
Vì
vậy một ngày kia, bà đem mè xay, gạo cùng một cái nồi và
muỗng nhỏ, bà ra nghĩa địa đốt lửa trong cái lò làm bằng
ba sọ người, rồi bà xuống suối tắm rửa đầu mình, giặt
áo quần xong trở lại nơi lò lửa, xõa tóc ra và bắt đầu
vo gạo.
Thuở
ấy Bồ-tát là Thiên chủ Sakka, và các Bồ-tát luôn chú tâm
cảnh giác. Ngay lúc ấy ngài nhìn xuống trần gian và thấy
bà già khốn khổ kia đang làm lễ tống táng thần Công chánh
như thể thần Công chánh đã chết. Muốn chứng tỏ uy lực
của ngài trong sự cứu giúp bà, ngài giáng trần giả dạng
một Bà-la-môn du hành trên đường, khi nhìn thấy bà, ngài
rời đường cái đến đứng bên bà, bắt đầu câu chuyện
bằng cách hỏi:
- Mẹ
ơi, người ta thường không nấu cơm trong nghĩa địa. Mẹ
định làm gì với cơm và mè này khi nấu xong?
Rồi
ngài ngâm vần kệ đầu:
1.
Mặc áo trắng và tóc xõa vai,
Kac-cà-ni
lại nấu nồi sôi,
Gạo
mè bà rửa đằng kia đó,
Bà
có dùng không lúc chín rồi?
Bà
ngâm vần kệ thứ hai nói cho ngài biết:
2.
Ðạo sĩ ơi, tôi chẳng muốn ăn
Mè
xay và cả món cơm hầm:
Giờ
đây đã chết thần Công chánh,
Tôi
muốn cúng dâng lễ tế thần.
Thiên
chủ, hiện thân của thần Công chánh, đáp vần kệ thứ ba:
3.
Khi quyết định, bà phải nghĩ suy:
Bà
nghe ai nói vọng ngôn kia?
Ngài
ngàn mắt ấy đầy uy lực,
Công
chánh Thần không thể chết đi.
Nghe
ngài nói, bà già ngâm đôi vần kệ tiếp theo:
4.
La-môn, tôi chứng kiến rành rành,
"Công
lý chết rồi." Tôi phải tin:
Tất
cả kẻ nào theo ác hạnh
Hiện
giờ hưởng đại phồn vinh.
5.
Dâu của tôi ngày trước hiếm hoi,
Ðánh
tôi, rồi lại đẻ con trai,
Nó
thành bà chủ trong nhà ấy,
Tôi
bị lãng quên, bị bỏ rơi.
Thiên
chủ Sakka liền ngâm vần kệ thứ sáu:
6.
Không phải đâu, ta sống mãi mà,
Nay
ta giáng thế, chính vì bà,
Dâu
bà đánh mẹ, song dâu cháu,
Sẽ
hóa tro trong lửa của ta.
Nghe
thể bà lão kêu to:
- Than
ôi, ngài vừa nói gì thế? Tôi sẽ cố sức giúp cháu tôi
khỏi chết.
Rồi
bà ngâm vần kệ thứ bảy:
7.
Thiên chủ, mong sao hợp ý ngài,
Vì
tôi, ngài đến tự trên trời,
Ước
mong đôi trẻ và thằng cháu
Ðược
sống đời hòa thuận với tôi.
Sau
đó Thiên chủ Sakka ngâm vần kệ thứ tám:
8.
Ka-ti sẽ mãn nguyện, vì bà
Bị
đánh, song bà tin tưởng ta
Công
chánh, vậy cùng con, cháu nội
Sống
đời hòa thuận ở trong nhà.
Bấy
giờ sau khi nói xong, Sakka Thiên chủ hiện ra đủ mọi vẻ
uy nghi của ngài, dùng thần lực đứng trên không và nói:
- Kaccàni,
bà đừng sợ, thần lực của ta, con và dâu bà sẽ đến đây
đem bà về nhà, hãy sống hòa thuận với chúng.
Rồi
ngài trở về cõi của ngài.
Nhờ
uy lực của Thiên chủ, con và dâu bà nghĩ đến mọi tính
tốt của bà trước kia và đi tìm khắp thôn làng, họ thấy
bà đã đi về phía nghĩa địa. Họ theo con đường ấy và
gọi bà, khi gặp lại bà, họ quỳ xuống chân bà xin lỗi
và được bà tha thứ lỗi lầm cũ.
Bà
vui mừng chào đón cháu nội. Vì vậy cả bọn họ cũng hoan
hỷ trở về nhà và từ đó sống chung với nhau.
9.
Với con dâu thảo lại vui mừng
Bà
lão Ka-ti đã sống chung,
Thiên
chủ giải hòa xung đột cũ,
Cháu
con săn sóc thật ân cần.
Vần
kệ này được cảm tác do Trí tuệ Tối thắng của đức
Phật.
*
Sau
pháp thoại, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Sự Thật. Khi kết
thúc các Sự Thật, vị cư sĩ được an trú vào Sơ quả (Dự
Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy, người cư sĩ phụng dưỡng mẹ mình là người đang phụng
dưỡng mẹ ngày nay, người vợ thời ấy là người vợ thời
nay và Sakka Thiên chủ chính là Ta.
-ooOoo-
418.
Chuyện Tám Tiếng Kêu (Tiền thân Atthasadda)
Ngày
xưa thường gọi chốn này...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
tiếng động kinh hoàng không phân biệt được mà vua xứ Kosala
đã nghe lúc nửa đêm. Hoàn cảnh này đã được tả trong
Tiền Thân Lohakumbhi, số 314.
Tuy
nhiên lần này, khi vua hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, việc trẫm nghe tám tiếng kêu ấy có mang lại điều
gì chăng?
Bậc
Ðạo Sư đáp:
- Thưa
Ðại vương đừng sợ hãi: không có mối nguy gì xảy ra cho
Ðại vương do các tiếng kêu ấy. Những âm thanh kinh hoàng
khó phân biệt như thế không chỉ một mình Ðại vương nghe
được, mà các đế vương ngày xưa cũng đã từng nghe những
âm thanh tương tự và dự định theo lời khuyên của các Bà-la-môn
dâng tế lễ bốn loại sinh vật, nhưng sau khi nghe các bậc
hiền trí khuyên nhủ, các vua ấy đã thả tự do cho bầy súc
vật được thâu góp để tế đàn và truyền đánh trống
ra lệnh cấm mọi việc sát sinh.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của vua, Ngài kể câu chuyện đời xưa
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh vào một gia đình Bà-la-môn có gia sản đến tám trăm
triệu đồng tiền.
Khi
lớn lên, ngài học mọi ngành nghệ thuật tại Takkasilà. Sau
khi cha mẹ qua đời, ngài xem xét tất cả các kho tàng, rồi
từ bỏ mọi của cải bằng cách bố thí, đoạn trừ tham
dục và đến vùng Tuyết Sơn trở thành một vị khổ hạnh
chuyên tâm nhập định.
Sau
một thời gian, ngài trở về chốn cư trú của quần chúng
để tìm muối và dấm, đến tận Ba-la-nại, nghĩ ngơi trong
ngự viên. Thời ấy vua Ba-la-nại nghe tám tiếng kêu lớn trong
lúc đang ngủ trên vương sàng khoảng nửa đêm: đầu tiên,
một con Hạc kêu trong vườn gần hoàng cung ; thứ hai, ngay
sau khi Hạc kêu, một con quạ cái kêu từ cổng chuồng voi
; thứ ba, một con mọt kêu ở nóc hoàng cung ; thứ tư, chim
Sơn ca thuần dưỡng kêu trong hoàng cung ; thứ năm, một con
Nai thuần dưỡng cũng kêu tại chỗ ấy; thứ sáu, một con
Khỉ thuần dưỡng cũng kêu tại đó ; thứ bảy, một vị
tiểu Thần sống trong hoàng cung cất tiếng kêu than ; và thứ
tám, ngay sau khi tiếng kêu cuối cùng ấy, một vị Ðộc Giác
Phật thốt ra một âm thanh đầy hoan lạc khi bay qua mái hoàng
cung tiến về phía ngự viên.
Vua
rất kinh hãi khi nghe tám tiếng kêu trên, hôm sau liền tham
vấn các Bà-la-môn. Họ đồng đáp:
- Tâu
Ðại vương, tai họa sắp xảy ra với Ðại vương, hãy cho
phép chúng thần dâng lễ tế đàng ngoài hoàng cung.
Rồi
khi được vua cho phép họ làm điều sở thích, họ hoan hỷ
đến và bắt đầu chuẩn bị tế đàn. Bầy giờ, một đệ
tử trẻ tuổi của vị tế sư Bà-la-môn trưởng thượng rất
thông thái đa văn, chàng thưa với thầy:
- Bạch
Tôn sư, không nên gây nhiều việc sát hại sinh vật độc
ác và thô bạo như vậy.
- Này
đệ tử, con biết gì về việc này chứ? Cho dẫu chẳng có
gì khác xảy ra, chúng ta cũng được ăn một mẻ cá thịt
no nê thỏa thích!
- Bạch
Tôn sư, đừng vì cái bụng mà tạo ác nghiệp đưa đến tái
sinh trong địa ngục.
Nghe
vậy, các Bà-la-môn kia tức giận vị đệ tử muốn làm hỏng
các mối lợi của họ.
Vị
đệ tử sợ hãi đáp:
- Thôi
được, xin cứ tìm cách lấy thật nhiều cá thịt để ăn.
Rồi
chàng rời kinh thành đi tìm một vị khổ hạnh thuần thành
có khả năng ngăn cản vua việc tế đàn kia. Chàng vào ngự
viên và thấy Bồ-tát, liền kính chào ngài và hỏi:
- Tôn
giả không có lòng bi mẫn các sinh vật sao? Vua đã ra lệnh
làm tế đàn gây chết chóc cho nhiều sinh vật, Tôn giả không
muốn giải thoát cho cả đám sinh linh ấy sao?
Này
thanh niên Bà-la-môn, ta không biết vua nước này, vua cũng không
biết ta.
- Bạch
Tôn giả, Tôn giả có biết hậu quả của các âm thanh mà
nhà vua đã nghe sẽ ra sao chăng?
- Ta
biết chứ.
- Nếu
Tôn giả biết, tại sao Tôn giả không bảo cho vua?
- Này
thanh niên Bà-la-môn, làm sao ta có thể kiêu hãnh đến bảo
vua: "Ta biết!" đã chứ? Nếu vua đến hỏi ta, ta sẽ báo cho
ngài.
Vị
Bà-la-môn trẻ tuổi vội vàng đến cung đình, và khi được
hỏi có việc gì, chàng bảo:
- Tâu
Ðại vương, có một vị khổ hạnh biết nguyên nhân các âm
thanh mà Ðại vương đã nghe. Vị ấy đang ngồi trên vương
tọa trong ngự viên và bảo vị ấy sẽ trình bày với Ðại
vương nếu Ðại vương hỏi. Xin Ðại vương hãy làm như vậy.
Vua
vội vàng đến kính lễ vị khổ hạnh và sau khi ân cần chào
nhau, vua ngồi xuống và hỏi:
- Có
thật Tôn giả biết nguyên nhân tám tiếng kêu mà trẫm đã
nghe chăng?
- Tâu
Ðại vương, phải.
- Vậy
xin Tôn giả nói cho trẫm.
- Tâu
Ðại vương, không có gì nguy hiểm liên hệ đến các âm thanh
kia. Trước hết, có một con Hạc trong ngự viên cũ của Ðại
vương thiếu thức ăn nên đói lả gần chết và thốt tiếng
kêu ấy.
Như
thế, do tri kiến của ngài, ngài vừa nêu rõ ý nghĩa tiếng
kêu của con Hạc, vừa ngâm vần kệ đầu:
Tiếng
Hạc:
1.
Ngày xưa thường gọi chốn này
Ao
sâu, tôm cá lội đầy tung tăng,
Là
nơi cư trú Hạc vương,
Tổ
tiên ta cũng sống thường trước kia.
Dẫu
ăn ếch nhái bây giờ,
Chúng
ta không thể xa bờ ao xưa.
- Tâu
Ðại vương, đó là tiếng kêu của con Hạc trong cơn đói
lả, nếu Ðại vương muốn nó khỏi đói, xin hãy ra lệnh
dọn vườn sạch sẽ và đổ nước đầy ao.
Vua
liền bảo một vị triều thần sai người làm việc này.
Rồi
Ngài ngâm vần kệ thứ hai:
Tiếng
Quạ:
2.
Anh chàng một mắt Ban-ra
Là
ai mà cứ phá nhà của tôi?
Bầy
chim mới nở, than ôi!
Ai
người thân thiện cứu tôi khốn cùng?
Rồi
ngài hỏi vua về tên của người trưởng đám quản tượng
ở chuồng voi.
- Thưa
Tôn giả, tên y là Bandhura.
- Tâu
Ðại vương, y chỉ có một mắt ư?
- Thưa
Tôn giả, phải.
- Tâu
Ðại vương, có một con Quạ làm tổ trên cổng chuồng voi,
nó đẻ trứng tại đó và đúng kỳ hạn trứng đã nở thành
chim non. Mỗi khi người quản tượng ra vào chuồng voi để
chăm sóc voi, y hay lấy cái móc đập vào con Quạ và tổ chim
non để phá tổ. Con Quạ trong lúc nguy khốn chỉ muốn mổ
mắt y nên thốt ra tiếng kêu ấy. Nếu Ðại vương có thiện
ý với nó, xin hãy truyền Bandhura vào chầu và cấm y phá tổ
quạ.
Vua
truyền gọi Bandhura vào, khiển trách y và giao chuồng voi cho
kẻ khác.
- Tâu
Ðại vương, trên nóc hoàng cung có một con Mọt gỗ, nó đã
ăn hết gỗ sung tại đó và không thể ăn thứ gỗ cứng hơn.
Vì thiếu thức ăn và không thể bò ra ngoài, nên nó thốt
tiếng kêu thứ ba để than vãn. Ðại vương không cần sợ
nó.
Rồi
nhờ tri kiến của ngài, ngài vừa nêu rõ ý nghĩa tiếng Mọt
gỗ kêu vừa ngâm vần kệ thứ ba:
- Tiếng
Mọt gỗ:
3.
Ta vừa ăn hết gỗ sung,
Mọi
nơi ta đã đi vòng quanh co,
Gỗ
nào cứng, mọt khó ưa,
Còn
thức ăn khác ở xa dưới mình!
Vua
bảo một cung nhân tìm cách giải thoát con mọt.
- Tâu
Ðại vương, trong cung thất có con chim Sơn ca thuần dưỡng
nào chăng?
- Thưa
Tôn giả, có chứ.
Tâu
Ðại vương, con Sơn ca ấy héo mòn vì mong mỏi về rừng mỗi
khi nó nhớ lại quãng đời cũ:
"Làm
sao rời khỏi lồng này,
Làm
sao trở lại rừng ấy thân tình?"
Vì
thế nó thốt lên tiếng kêu thứ tư, xin Ðại vương chớ
lo sợ việc ấy.
Rồi
ngài ngâm vần kệ thứ tư:
Tiếng
Sơn ca:
4.
Ước gì rời chốn cung đình!
Ước
gì giải thoát thân mình tự do!
Hân
hoan bay lượn rừng già,
Rồi
ta xây tổ của ta trên cành.
Ngâm
kệ xong, ngài thêm:
- Tâu
Ðại vương, chim Sơn ca ấy đang mòn mỏi đợi chờ, xin Ðại
vương thả nó ra.
Vua
nghe theo lời ngài.
- Tâu
Ðại vương, trong cung thất có con Nai thuần dưỡng nào chăng?
- Thưa
Tôn giả, có chứ.
- Tâu
Ðại vương, con Nai ấy là trưởng đoàn, nó nhớ nai cái và
mòn mỏi vì nặng tình thương nai cái nên nó thốt tiếng kêu
thứ năm. Ðại vương không nên sợ hãi chuyện ấy.
Rồi
ngài ngâm vần kệ thứ năm:
Tiếng
Nai:
5.
Ước gì rời chốn cung đình!
Ước
gì giải thoát thân mình vui sao!
Uống
dòng nước suối trong veo,
Dẫn
đàn nai vẫn bước theo sau mình!
Bậc
Ðại Sĩ làm cho con Nai được giải thoát và nói tiếp:
- Tâu
Ðại vương, có con Khỉ thuần dưỡng nào ở trong cung chăng?
- Thưa
Tôn giả, có chứ.
Con
Khỉ ấy là chúa đàn khi ở vùng Tuyết Sơn, nó thích thú
bầu bạn với đám khỉ cái. Trước kia nó được một thợ
săn tên Bharata đem về đây. Nay nó đang mòn mỏi mong ước
trở về chốn cư ngụ xưa nên nó thốt tiếng kêu ấy. Xin
Ðại vương đừng sợ chuyện này.
Rồi
ngài ngâm vần kệ thứ sáu:
Tiếng
Khỉ:
6.
Lòng ta nặng trĩu dục tình,
Với
bao ước vọng thân mình nhiễm ô,
Bha-ta,
lạp hộ bắt ta,
Ước
mong phước phận lão gia tràn trề!
Bậc
Ðại Sĩ bảo thả con Khỉ ra và tiếp tục nói:
- Tâu
Ðại vương, có vị tiểu Thần nào giữ kho báu ở trong cung
chăng?
- Thưa
Tôn giả, có chứ.
- Tâu
Ðại vương, vị ấy nhớ lại đời sống cũ với một nữ
thần, vợ vị ấy, nên trong lúc đau khổ vì dục vọng đã
thốt lên tiếng kêu thứ bảy. Một hôm vị ấy cùng vợ trèo
lên đỉnh non cao. Hai vị lượm hoa và tô điểm cho nhau nhiều
loại hoa đủ màu sắc hương vị đặc biệt, nên không hề
lưu ý rằng mặt trời đang lặn và bóng đêm bao trùm trong
khi họ leo xuống. Nữ thần bảo: "Này chàng, trời tối rồi,
chàng hãy xuống cẩn thận kẻo ngã". Và vừa nắm tay chồng,
nàng vừa đưa chồng xuống. Chính vì nhớ lại các lời nói
của vợ mà vị Thần này thốt tiếng kêu, Ðại vương không
cần phải sợ chuyện ấy.
Do
tri kiến của ngài, ngài vừa giải thích trường hợp này
một cách chính xác vừa ngâm vần kệ thứ bảy:
Tiếng
vị Thần:
7.
Bóng đêm dày đặc kéo về
Trên
non cao nọ tứ bề cô đơn,
"Xin
chàng đừng ngã trượt chơn",
Nàng
khe khẽ nhắc bên sườn đá xưa.
Như
vậy Bậc Ðại Sĩ giải thích tại sao vị Thần thốt tiếng
kêu và ngài bảo thả vị ấy ra, rồi nói tiếp:
- Tâu
Ðại vương, còn âm thanh thứ tám là tiếng reo cực lạc.
Một vị Ðộc Giác Phật ở động Nandamùla biết rằng các
hành (các điều kiện tái sinh) sắp đoạn tận đốc với
vị ấy, liền đến nơi cư trú của quần chúng, và suy nghĩ:
"Ta muốn chứng đắc Niết-bàn vô dư y trong ngự viên của
Ba-la-nại. Quân hầu của vua sẽ chôn cất ta, làm lễ cúng
dường và cung kính xá lợi của ta, nhờ vậy sẽ sinh lên
cõi thiên".
Vị
ấy dùng thần lực bay đến đây và ngay khi chạm mái hoàng
cung, vị ấy liền buông xả gánh nặng sinh tử và ca khúc
hoan lạc làm chói sáng lối vào cảnh giới Niết-bàn.
Rồi
ngài ngâm vần kệ thứ tám do vị Ðộc Giác Phật cảm tác:
Tiếng
vị Ðộc Giác:
8.
Tái sinh đã tận với ta,
Không
vào thai mẹ từ giờ về sau,
Ðây
đời cuối ở địa cầu
Sắp
tàn cùng mọi khổ đau phàm trần.
Cùng
với những lời cực lạc này, vị ấy đến ngự viên và
đắc Niết-bàn vô dư y dưới gốc cây Sàla đang nở rộ hoa.
Rồi
Bậc Ðại Sĩ đưa vua đến nơi vị Ðộc Giác Phật đắc
Niết-bàn và chỉ cho vua phần nhục thân của Ngài. Thấy vậy,
vua cùng đoàn quân đông đảo đem hương hoa đến cung kính
làm lễ cúng dường.
Theo
lời khuyên của Bồ-tát, vua đình chỉ việc tế đàn, cho
mọi sinh vật được sống, truyền rao trống lệnh khắp kinh
thành cấm sát sinh, cử hành đại lễ suốt bảy ngày, rồi
làm lễ hỏa táng thân vị Ðộc Giác Phật rất trọng thể
trên hỏa đài chất đầy hương liệu và xây tháp ở ngã
tư đường.
Bồ-tát
thuyết giảng Chánh pháp cho vua và khuyên nhủ vua tinh cần.
Sau đó ngài trở về Tuyết Sơn, thực hành Tứ vô lượng
tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) và không hề gián đoạn Thiền định
nên được sinh vào cõi Phạm thiên.
*
Sau
Pháp thoại, bậc Ðạo Sư bảo:
- Thưa
Ðại vương, không có gì nguy hiểm cho Ðại vương do các tiếng
kêu ấy, vậy hãy đình chỉ tế đàn và ban sự sống cho các
sinh vật này.
Rồi
vua bảo truyền trống lệnh đi khắp kinh thành tha mạng các
súc vật.
Xong,
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy nhà vua là Ànanda, vị đệ tử Bà-la-môn là Sàriputta và
nhà khổ hạnh chính là Ta.
-ooOoo-
419.
Chuyện Kiều Nữ Sulasà (Tiền thân Sulasà)
Này
đây là chiếc vòng vàng...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
nữ tỳ của ông Cấp Cô Ðộc.
Chuyện
kể rằng vào một ngày lễ hội, khi nàng sắp đi cùng đám
gia nhân đến một lạc viên, nàng xin nữ chủ nhân Punnalakkhanadevì
(Phước Tướng) cho nàng một món nữ trang để đeo. Bà chủ
cho nàng một món tư trang của bà trị giá một trăm ngàn đồng
tiền. Nàng đeo vào cổ và cùng đám gia nhân đi đến chỗ
vui chơi. Một tên trộm thèm món nữ trang kia, với dự định
giết nàng để đoạt của, hắn lân la đến nói chuyện với
nàng và tại khu vườn kia, hắn cho nàng ăn cá thịt và uống
rượu mạnh. Nàng suy nghĩ: "Ta chắc chàng làm vậy vì chàng
thích ta". Vào buổi chiều tối khi mọi người nằm xuống
nghỉ ngơi sau các cuộc chơi, nàng đứng dậy đi tìm hắn.
Hắn bảo:
- Này
cô nương, chỗ này không kín đáo, ta hãy đi xa hơn một chút.
Nàng
suy nghĩ: "Bất cứ việc gì thầm kín đều có thể xảy ra
tại nơi này. Chắc chắn anh chàng muốn giết ta và đoạt
món nữ trang ta đang đeo. Vậy ta sẽ dạy anh chàng một bài
học". Vì thế nàng bảo:
- Thưa
Tôn ông, em đang khát nước khô cổ họng vì uống rượu mạnh.
Xin hãy kiếm cho em một ít nước.
Rồi
đưa hắn đến giếng, nàng vừa bảo hắn kéo nước vừa
chỉ cho hắn sợi dây thừng và chiếc gàu. Tên trộm thả
gàu xuống. Rồi ngay khi hắn cúi mình để kéo nước lên,
cô nữ tỳ, vốn rất lực lưỡng, liền đẩy mạnh hắn với
đôi bàn tay và hất hắn xuống giếng. Nàng bảo:
- Mi
chẳng chết vì cách này đâu.
Rồi
ném một cục gạch lớn trên đầu hắn. Hắn chết liền tại
chỗ. Khi nàng trở về thành và trả lại bà chủ món nữ
trang, nàng bảo:
- Con
suýt bị giết hôm nay vì món nữ trang ấy,
Rồi
nàng kể toàn thể câu chuyện. Bà chủ kể chuyện với ông
Cấp Cô Ðộc và ông trình với đức Như Lai. Bậc Ðạo Sư
bảo:
- Này
gia chủ, đây không phải là lần đầu người nữ tỳ có
trí thông minh phát xuất kịp thời, mà ngày xưa cũng vậy.
Ðây không phải lần đầu giết kẻ ấy, mà trước kia cũng
có lần giết nó.
Và
theo lời của ông Cấp Cô Ðộc, ngài kể một chuyện đời
xưa.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, có một kiều
nữ của kinh thành tên gọi là Sulasà, làm chủ một đoàn
năm trăm kỹ nữ sang trọng, giá mỗi đêm hưởng lạc với
nàng là một ngàn đồng tiền.
Cũng
trong kinh thành này có một tướng cướp tên Sattuka, khỏe
mạnh như voi, vẫn thường đột nhập các nhà giàu vào ban
đêm để cướp của thỏa thích. Dân trong thành tụ tập lại
lập cáo trạng tâu với vua.
Vua
ra lệnh quân lính canh đóng rải rác khắp nơi để bắt tướng
cướp và xử trảm. Họ trói tay hắn ra đằng sau và vừa
dẫn hắn ra pháp trường, vừa đánh roi khắp mình mẩy. Lúc
ấy nàng Sulasà đứng bên cửa sổ nhìn xuống đường, thấy
tướng cướp bỗng nhiên đâm ra si tình hắn và suy nghĩ: "Nếu
ta có thể giải nguy cho chàng chiến sĩ lực lưỡng này, ta
sẽ từ bỏ cuộc đời xấu xa hiện nay của ta và sống chân
chánh với chàng".
Theo
cách được tả trong Tiền thân Kanavera, số 318, nàng lấy
lại tự do cho hắn bằng cách gởi một ngàn đồng tiền vàng
và đến tặng viên thị trưởng rồi sau đó sống hạnh phúc
hòa hợp với hắn. Sau chừng ba bốn tháng, tướng cướp suy
nghĩ: "Ta sẽ chẳng bao giờ có thể ở một nơi như vầy,
nhưng ta không thể ra đi tay không. Nữ trang của Sulasà trị
giá một trăm ngàn đồng tiền. Ta muốn giết nàng và lấy
của".
Vì
vậy một hôm hắn bảo nàng:
- Ái
nương ơi, khi ta đang bị quân lính nhà vua kéo đi, ta hứa
cúng lễ vật cho một vị thần cây trên đỉnh núi, nay vị
ấy đang đe dọa ta vì ta không trả lễ. Vậy chúng ta hãy
đi dâng lễ thần.
- Thưa
lang quân, tốt lắm, chúng ta hãy chuẩn bị lễ vật gửi đi
cúng thần.
- Này
ái nương, gửi lễ vật cúng thần không công hiệu gì đâu.
Chúng ta hãy cùng đi dâng lễ mang theo một món tư trang và
đám hầu cận.
- Thưa
lang quân, được rồi, chúng ta cùng làm vậy.
Hắn
bảo nàng chuẩn bị lễ vật và khi họ đến chân núi, hắn
bảo:
- Này
ái nương, vị thần này thấy đông người sẽ không nhận
lễ vật, vậy hai ta cùng đi lên núi dâng lễ.
Nàng
thỏa thuận và hắn bảo nàng mang chiếc bình. Phần hắn đã
chuẩn bị hết sức chu đáo. Khi cả hai đến đỉnh núi, hắn
đặt lễ vật xuống gốc cây mọc cạnh bờ vực cao gấp
trăm lần một người thuờng, và bảo:
- Này
ái nương, ta không đến đây để dâng lễ vật, mà ta đến
với ý định giết nàng rồi trốn đi với mọi tư trang của
nàng, vậy hãy cởi ra hết và góp thành một bó trong áo khoác
của nàng kia.
- Này
lang quân tại sao chàng muốn giết thiếp?
- Vì
tiền của nàng đấy.
- Lang
quân ơi, hãy nhớ lại mọi việc tốt lành mà thiếp đã làm
cho chàng. Khi chàng bị xiềng tay chân và kéo đi xử trảm,
thiếp đã bỏ một anh chàng nhà giàu chỉ vì chàng và trả
một số tiền lớn để cứu chuộc chàng. Dù thiếp có kiếm
được một ngàn đồng tiền mỗi ngày, thiếp cũng không nhìn
đến một nam nhân nào khác. Thiếp đã làm ân nhân của chàng
như vậy. Xin chàng đừng giết thiếp. Thiếp nguyện trao cho
chàng thật nhiều tiền và làm nô tỳ cho chàng.
Cùng
với lời khẩn cầu này, nàng ngâm vần kệ đầu:
1.
Này đây là chiếc vòng vàng,
Này
đây ngọc bích cùng tràng hạt trai,
Lấy
đi tất cả chàng ôi,
Xin
chàng cho thiếp làm tôi tớ chàng!
Khi
ấy Sattuka ngâm vần kệ thứ hai phù hợp với mục đích của
hắn, đó là:
2.
Ðể vàng ngọc xuống, kiều nương,
Và
nàng đừng có khóc thương buồn phiền,
Ta
nay muốn giết nàng liền
Vì
ta không chắc hưởng tiền hồi môn!
Trí
khôn của Sulasà xuất hiện kịp thời, nàng suy nghĩ: "Tên
cướp này không muốn cho ta sống, vậy ta sẽ đoạt mạng
hắn trước bằng cách ném hắn xuống vực sâu", và nàng ngâm
hai vần kệ tiếp:
3.
Suốt bao năm tháng lớn khôn,
Với
bao hồi tưởng trong hồn thật chân,
Thiếp
thề giữa cõi phàm trần
Không
người nào đã thiết thân hơn chàng.
4.
Ðến đây lần nữa cuối cùng,
Thiếp
xin kính lễ trong vòng bàn tay,
Chẳng
bao giờ ở đời này
Ðôi
ta gặp mặt từ đây hỡi chàng!
Sattuka
không thể hiểu được mục đích của nàng, liền nói:
- Tốt
lắm, này ái nương, hãy đến ôm ta trong tay nàng.
Salasà
đi vòng quanh hắn cung kính cuối chào ba lần, vừa hôn hắn
vừa bảo:
- Này
lang quân, bây giờ thiếp sắp đảnh lễ chàng tứ phía.
Nàng
đặt đầu nàng lên chân hắn, vái chào hai bên, xong đi vòng
ra phía sau hắn như thể sắp vái chào hắn tại đó, rồi
với sức mạnh như voi, nàng nắm hai cẳng hắn ném hắn lộn
ngược đầu xuống dưới vực thẳm của tử thần cao gấp
trăm ngàn lần một người thường. Hắn tan thân và chết
tại chỗ.
Thấy
việc này, vị thần trên đỉnh núi ngâm các vền kệ sau:
5.
Trí tuệ khôn ngoan cũng lắm khi
Không
dành riêng với bọn nam nhi,
Nữ
nhi có thể nhiều minh trí
Xuất
hiện trong tình thế hiểm nguy.
6.
Trí tuệ khôn ngoan cũng lắm khi
Không
dành riêng với bọn nam nhi,
Nữ
nhi nhanh trí nhiều mưu kế
Dự
định làm công việc kịp thì.
7.
Cô nàng bày tỏ trí khôn ngoan
Hiểu
biết tinh thông mọi lối đường,
Ðã
giết anh chàng này chẳng khác
Giết
con nai với chiếc cung giương.
8.
Người nào khi gặp cảnh cùng đường,
Không
thể vươn lên để thoát thân
Sẽ
ngã nhào như tên trộm ngốc
Ngã
vào trong vực thẳm tan xương.
9.
Còn kẻ tinh nhanh ấy sự tình
Hiểm
nguy đến với số phần mình,
Như
nàng được thoát thân ra khỏi
Cừu
địch bên mình đáng hãi kinh.
Như
vậy Sulasà đã giết tên cướp nọ. Khi nàng xuống núi và
đứng giữa đám hầu cận, họ hỏi chồng nàng đâu. Nàng
bảo:
- Ðừng
hỏi ta nữa!
Rồi
leo lên xe, nàng đi thẳng về kinh thành.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy hai kẻ ấy chính là hai người bây giờ, và vị Thần
núi ấy chính là Ta.
-ooOoo-
420.
Chuyện Người Giữ Ngự Viên Sumangala (Tiền thân Sumangala)
Ý
thức giận hờn, nét mặt cau...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc
khuyến giáo một vị vua. Trong dịp này, theo lời yêu cầu
của vua, Bậc Ðạo Sư kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bố-tát được sinh
làm hoàng tử của một chánh hậu. Khi lớn lên, vua cha băng
hà, ngài lên làm vua và thực hành đại bố thí. Ngài có một
người giữ ngự viên tên là Sumangala.
Thuở
ấy một vị Ðộc Giáo Phật rời động Nandamùla để du hành
khất thực, và khi đến Ba-la-nại, Ngài ở lại trong ngự
viên. Hôm sau Ngài vào thành Khất thực. Vua đón Ngài với
vẻ ân cần đặc biệt, mời Ngài vào cung ngồi trên bảo
tọa, thiết đãi đủ món ăn thượng vị, loại cứng loại
mềm, và nhận lời tùy hỷ công đức của Ngài xong, liền
khẩn cầu Ngài hứa một lời rồi truyền đưa Ngài trở lại
ngự viên.
Sau
bữa điểm tâm, vua thân hành đền sắp đặt nơi cư trú để
Ngài ở suốt ngày đêm và cho người giữ ngự viên Sumangala
đến hầu cận Ngài xong, mới thở về thành. Sau đó vị Ðộc
Giác Phật thường ăn uống tại cung vua và ở lại ngự viên
một thời gian dài, còn Sumangala vẫn cung kính hầu hạ Ngài.
Một
hôm Ngài ra đi, bảo Sumangala:
- Ta
sắp đi đến làng kia vài ngày, song ta sẽ trở lại đây.
Hãy trình với đức vua.
Sumangala
liền trình lên vua việc này. Sau vài ngày ở tại làng kia,vị
Ðộc Giác Phật trở lại ngự viên vào buổi chiều tối.
Sumangala
không biết Ngài trở lại, nên cũng đã đi về nhà. Vị Ðộc
Giác Phật cất y bát, và sau khi dạo chơi giây lát, Ngài ngồi
xuống một phiến đá.
Hôm
ấy có vài người khách lạ đến nhà người giữ ngự viên.
Muốn nấu món súp và cà-ri đãi khách, y cầm cung đi giết
một con nai nuôi trong ngự viên. Y đang tìm nai thì chợt thấy
vị Ðộc Giác Phật, tưởng đó là một con nai lớn, y nhắm
một mũi tên và bắn Ngài. Vị Ðộc Giác Phật mở khăn trùm
đầu ra và gọi:
- Sumangala!
Vô
cùng xúc động, Sumangala đáp:
- Thưa
Tôn giả, con không biết Tôn giả đã về nên bắn Tôn giả
vì tưởng là nai. Xin Tôn giả tha thứ cho con.
- Ðược
lắm, nhưng ông sẽ làm gì bây giờ? Này, hãy rút mũi tên
ra mau!
Y đảnh
lễ rồi rút mũi tên ra. Vị Ðộc Giác Phật cảm thấy vô
cùng đau đớn và đắc Niết-bàn vô dư y ngay tại đó. Người
giữ vườn nghĩ rằng vua sẽ không tha thứ nếu biết chuyện
này, y liền đem vợ con trốn đi.
Nhờ
thần lực, cả kinh thành đều biết tin vị Ðộc Giác Phật
đã đắc Niết-bàn và mọi người vô cùng xúc động. Hôm
sau một số người vào ngự viên, thấy di hài của Ngài liền
tâu trình vua rằng người giữ ngự viên đã chạy trốn sau
khi giết vị Ðộc Giác Phật.
Vua
cùng đông đảo tùy tùng đến lễ bái di hài ấy suốt bảy
ngày, rồi hỏa táng trọng thể xong, lấy xá-lợi và xây tháp
thờ. Sau đó vua vẫn thường cúng dường tháp xá-lợi và
cai trị đúng Pháp.
Năm
sau, Sumangala quyết đi tìm hiểu xem vua nghĩ về việc này ra
sao, y đến yết kiến và hỏi một vị triều thần để xem
vua nghĩ gì về y. Vị triều thần ca ngợi Sumangala trước
mặt vua, nhưng vua làm như thể không nghe gì cả. Ông không
nói thêm nữa, nhưng sau báo cho Sumangala biết vua không hài
lòng về y.
Một
năm sau nữa, y lại đến và năm thứ ba, y đem vợ con đến.
Vị triều thần biết vua đã nguôi giận nên bảo Sumangala
ở cung môn và tâu vua rằng Sumangala đã đến chầu. Vua truyền
y vào, sau nghi thức chào mừng, vua hỏi:
- Này
Sumangala, tại sao ngươi giết vị Ðộc Giác Phật là người
mà ta đang cúng dường để tạo công đức?
- Tâu
Ðại vương, tiểu thần không cố ý giết Ngài, nhưng chỉ
vì duyên cớ này mà tiểu thần phạm tội.
Rồi
y kể lại chuyện cũ. Vua bảo y đừng sợ, và vừa trấn an
y vừa cho y giữ chức ngự viên như cũ.
Sau
đó triều thần hỏi:
- Tâu
Ðại vương, tại sao Ðại vương không trả lời khi nghe những
lời ca ngợi Sumangala hai lần trước và lần thứ ba nghe chuyện,
Ðại vương lại truyền y vào chầu và tha thứ cho y?
Vua
phán:
- Này
Hiền khanh, một vị vua hành động vội vã lúc nóng giận
là điều sai lầm, vì vậy trẫm im lặng lần đầu, và lần
thứ ba khi trẫm hiểu mình đã nguôi giận, mới truyền gọi
Sumangala.
Về
việc này ngài ngâm các vần kệ nêu rõ phận quân vương:
1.
Ý thức giận hờn, nét mặt cau,
Quân
vương đừng giáng trận đòn đau,
Những
điều bất xứng ngôi Thiên tử
Sẽ
tiếp theo sau cái gật đầu.
2.
Ý thức tính tình bớt khắt khe,
Quân
vương ban pháp lệnh ra uy,
Khi
nào vụ án đà thông hiểu,
Hãy
xác định các hình phạt thích nghi.
3.
Không giận mình và chẳng giận ai,
Biết
phân biệt rõ đúng và sai,
Dù
vua ngự trị trên quần chúng,
Ðức
hạnh khiến vua vĩ đại hoài.
4.
Vua chúa buông lung các việc công,
Thực
hành roi trượng chẳng bao dung,
Ô
danh dưới thế phần vua hưởng,
Ðịa
ngục đợi chờ lúc mạng chung.
5.
Người nào yêu đạo đức hiền nhân,
Trong
sạch vẹn toàn khẩu, ý, thân,
Ðầy
đủ từ tâm, an tịnh quý,
Vượt
qua hai thế giới phàm trần.
6.
Trẫm là vua chúa của thần dân,
Sân
hận không ngăn cản ý tâm,
Khi
trẫm cầm gương đi trị tội,
Từ
tâm thúc đẩy phạt công bằng.
Như
vậy vua đã nêu rõ mọi đức tính của mình qua sáu vần kệ,
tất cả triều thần đều hoan hỷ và tán thán các công hạnh
vua qua lời tung hô:
- Các
pháp thực hành đức hạnh ưu thắng như vậy thật xứng với
Ðại vương!
Sau
khi cả triều đình tán thán xong, Sumangala cung kính đảnh lễ
vua và sau đó ngâm ba vần kệ ca ngợi ngài:
7.
Uy lực vinh quang của Ðại vương,
Ðừng
bao giờ bỏ đạo luân thường,
Thoát
ly sân hận và kinh hãi,
Trị
nước trăm năm mãi lạc an.
8.
Vương tử có đầy đức tính trên
Nhân
từ, song đạo hạnh trung kiên,
Trị
toàn dân với lòng công chánh,
Khi
bỏ cõi đời, đến cõi thiên.
9.
Lời nói thật chân với thiện hành,
Dùng
phương tiện tốt đạt công thành,
Trấn
an quần chúng còn dao động,
Như
đám mây mưa thật mát lành.
*
Sau
bài Pháp thoại liên hệ việc giáo hóa vua Kosala, bậc Ðạo
Sư nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy vị Ðộc Giác Phật đắc Niết-bàn vô dư y, Sumangala là
Ànanda và vua chính là Ta.
-ooOoo-
421.
Chuyện Người Hớt Tóc Gangamàla (Tiền thân Gangamàla)
Ðịa
cầu nòng rực như than..,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc
thực hành các ngày trai giới.
Một
hôm bậc Ðạo Sư dạy các cư sĩ đang giữ ngày trai giới
và bảo:
Này
các cư sĩ, giới hạnh của các ông thật tốt lành, khi giữ
ngày trai giới, các vị phải bố thí, trì giới không sân
hận, khởi tâm từ và thực hành mọi phận sự trong ngày
ấy. Các bậc trí nhân ngày xưa đạt đại vinh hiển dầu
chỉ nhờ giữ được một phần các ngày trai giới.
Và
theo lời thỉnh cầu của họ, Ngài kể câu chuyện đời xưa
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, có một phú thương
trong kinh thành tên là Suciparivàra, gia sản lên tới tám trăm
triệu đồng, chuyên tâm bố thí và làm các thiện sự khác.
Vợ con, toàn thể gia nhân của ông cho đến bọn chăn trâu
bò đều giữ sáu ngày trai giới mỗi tháng.
Thời
ấy Bồ-tát được sinh vào một nhà nghèo kiếm kế sinh nhai
chật vật bằng cách làm thuê. Vì mong có việc làm, ngài đến
nhà phú thương Suciparivàra, khi chào chủ xong, ngồi xuống
một bên, và được hỏi đến đây có việc gì, ngài đáp:
- Tôi
đến để xin việc làm công trong nhà ông.
Thời
ấy, khi những người làm công đến, vị phú thương thường
bảo họ:
- Trong
nhà này mọi công nhân đều giữ ngày trai giới, nếu chú
có thể giữ giới thì chú mới có thể làm việc cho ta.
Song
đối với Bồ-tát, vị ấy không tỏ vẻ muốn nói đến chuyện
giữ giới mà chỉ bảo:
- Tốt
lắm, này thiện nam, chú có thể làm việc cho ta và trù liệu
tiền lương của chú.
Từ
đó Bồ-tát làm mọi công việc của phú thương một cách
nhẫn nại nhiệt tình, không hề nghĩ đến nỗi mệt nhọc
riêng mình, ngài đi làm từ sáng sớm đến chiều tối trở
về.
Một
hôm dân chúng làm lễ hội ở kinh thành, vị phú thương bảo
người tỳ nữ:
- Hôm
nay là ngày hội, cô phải nấu cơm cho công nhân thật sớm.
Họ sẽ ăn sớm và giữ giới kiêng ăn từ đó đến hết
ngày.
Bồ-tát
dậy sớm và đi làm việc. Trước đó không ai bảo ngài phải
giữ giới kiêng ăn hôm ấy. Các công nhân kia ăn từ sớm
và kiêng ăn. Vị phú thương cùng vợ con, gia nhân đều giữ
giới kiêng ăn, mọi người đều trở về nhà riêng ngồi
suy tư về các giới điều. Bồ-tát làm việc suốt ngày xong
trở về nhà lúc trời tối. Người nữ tỳ đầu bếp đưa
cho ngài nước rửa tay và một dĩa cơm lấy từ trong nồi.
Bồ-tát bảo:
- Vào
giờ này ngày thường rất ồn ào, thế mọi người đi đâu
cả hôm nay?
- Họ
đang giữ giới kiêng ăn và mỗi người đều về nhà riêng
rồi.
Ngài
suy nghĩ: "Ta không muốn làm người duy nhất phạm giới giữa
nhiều người giữ giới như vậy". Vì thế ngài đi hỏi vị
phú thương xem có thể giữ giới kiêng ăn bằng cách thi hành
mọi phận sự vào giờ đó không. Ông bảo ngài không thể
thực hành mọi phận sự, bởi vì việc đó đã không được
làm từ sáng sớm nhưng một nửa phận sự thì có thể làm
được. Ngài đáp:
- Mong
được như vậy.
Và
thực hành phận sự ngay trước mặt chủ nhân, ngài bắt đầu
giữ giới kiêng ăn, rồi về nhà nằm suy nghĩ về các giới
điều. Vì ngài không ăn gì suốt ngày, nên vào canh cuối ngài
cảm thấy đau nhói như dao đâm.
Vị
phú thương mang cho ngài một số thuốc giảm đói và bảo
ngài dùng chúng, nhưng ngài bảo:
- Tôi
sẽ quyết không phá giới kiêng ăn, tôi đã nguyện trì giới
dù phải thiệt mạng.
Cơn
đau đớn trở nên mãnh liệt và đến tảng sáng ngài bất
tỉnh. Họ bảo ngài sắp chết nên đem ngài ra ngoài, đặt
vào một nơi an nghỉ. Ngay lúc lấy, vua Ba-la-nại trên chiếc
vương xa cùng đoàn hộ tống đông đảo đến nơi ấy trong
lúc diễu quanh kinh thành. Bồ-tát thấy vẻ huy hoàng của vua,
sinh lòng ao ước làm vua và cầu nguyện điều ấy. Khi mạng
chung, do kết quả việc giữ nửa ngày trai giới trên, ngài
được nhập mẫu thai vị chánh hậu.
Bà
trải qua đủ mọi nghi lễ của thời kỳ thụ thai rồi sinh
một hoàng nam sau mười tháng. Hài nhi được đặt tên là
Udaya. Khi lớn lên, vương tử trở nên hoàn hảo trong mọi
ngành học thuật, nhờ trí hồi tưởng các đời trước, ngài
nhớ lại các công hạnh thuở xưa và nghĩ rằng chính nhờ
một thiện nghiệp nhỏ tạo nên một phước báo lớn, ngài
thường hát khúc ca hoan lạc nhiều lần. Khi vua cha băng hà,
ngài được trao cả vương quốc và nhận thấy cảnh đại
vinh quang của mình, ngài lại hát khúc ca hoan lạc cũ.
Một
hôm dân chúng chuẩn bị lễ hội trong kinh thành. Một đám
đông định tụ tập nhau định bày trò vui chơi giải trí.
Một người gánh nước sống gần cổng Bắc thành Ba-la-nại
đã dấu nửa đồng xu trong viên gạch ở bức tường bao quanh
thành. Y sống chung với một người đàn bà nghèo khổ cũng
làm nghề gánh nước. Vợ y bảo:
- Chàng
ơi, hôm nay có lễ hội trong thành phố, nếu chàng có tiền,
ta hãy đi vui chơi nhé.
- Nàng
ơi, ta có tiền đấy.
- Bao
nhiêu?
- Nửa
xu.
- Ở
đâu?
- Trong
viên gạch bên cổng Bắc, cách đây mười hai do-tuần (dặm),
ta chôn tiền tại đó. Song nàng có gì trong tay chăng?
- Thiếp
có đấy.
- Bao
nhiêu?
- Nửa
xu.
- Vậy
nửa xu của nàng và của ta hợp thành một xu. Ta sẽ đi mua
một tràng hoa với một phần ba số tiền ấy, hương liệu
với một phần ba và rượu nồng với một phần ba. Nàng hãy
đi tìm nửa xu ở nơi cất tiền đem đến đây.
Y thích
thú với ý tưởng do lời vợ gợi lên, liền bảo:
- Nàng
ơi, đừng lo gì, ta sẽ đi tìm nửa xu về đây.
Rồi
y ra đi. Y mạnh như voi, vừa đi khoảng hơn sáu dặm, và mặc
dù trời giữa trưa, y vẫn rảo bước trên cát nóng như thể
được rải than vừa tắt lửa vì y rất thích thú với nỗi
ham muốn được bạc. Trong bộ y phục cũ màu vàng điểm thêm
lá thốt nốt giắt bên tai, y vừa đi ngang sân chầu để theo
đuổi mục đích của mình vừa ca hát.
Vua
Udaya đứng bên cửa sổ mở, thấy y đi đến, không biết
y là ai mà lại coi thường nắng gió như vầy, vừa đi vừa
hát, liền bảo nô tỳ đi gọi y vào.
Y được
lệnh:
- Hoàng
thượng truyền gọi chú vào.
Nhưng
y đáp:
- Hoàng
thượng có nghĩa gì với ta chứ? Ta không biết hoàng thượng!
Y liền
bị lôi vào và đứng chầu một bên.
Sau
đó, vua ngâm hai vần kệ hỏi y:
1.
Ðịa cầu nóng rực như than,
Ðất
đai như đống tro than nóng bừng,
Song
ngươi ca hát vang lừng,
Khí
trời gay gắt chẳng nung ngươi nào!
2.
Mặt trời kia ở trên cao,
Dưới
này cát nóng khác nào lò than,
Song
ngươi ca hát lừng vang,
Khí
trời nắng gắt chẳng làm cháy ngươi.
Nghe
lời vua, y liền ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Chính vì tham dục đốt tôi,
Chứ
không phải ánh mặt trời nấu nung,
Chính
vì phận sự trong lòng
Thúc
tôi vội vã làm xong mọi phần.
Vua
hỏi y có việc gì. Y đáp:
- Tâu
Ðại vương, hạ thần sống gần cổng Nam với một người
vợ nghèo. Vợ thần tỏ ý muốn chúng thần cùng vui chơi lễ
hội nên hỏi thử thần có gì trong tay không. Thần bảo thần
có tiền của chôn dấu trong bức tường cạnh cổng Bắc.
Vợ thần bảo thần đi lầy tiền về để vui chơi . Những
lời nói của vợ thần không rời tâm hồn thần và trong khi
thần suy nghĩ mãi về chúng, tham dục cứ đốt cháy lòng thần.
Công việc của thần là thế đấy.
- Vậy
điều gì khiến ngươi thích thú nhiều đến độ ngươi xem
thường nắng gió và vừa đi vừa hát?
- Tâu
Ðại vương, thần hát vì nghĩ rằng khi tìm được của chôn
dấu, thần sẽ vui chơi thích thú với vợ.
- Này
thiện nam, thế của ngươi chôn dấu bên cổng Bắc được
một trăm ngàn đồng tiền chăng?
- Tâu
Ðại vương, không phải.
Sau
đó vua hỏi liên tiếp có phải năm mươi ngàn, bốn mươi,
ba mươi, hai mươi, mười, năm, bốn ba, hai, một đồng tiền,
nửa đồng tiền, bốn xu, ba xu, hai xu, một xu. Chàng trai đều
đáp: "Không" trước các câu hỏi trên và nói:
- Chỉ
nửa xu. Quả thực, tâu Ðại vương, đó là tất cả gia sản
của thần. Nhưng thần đang hy vọng tìm ra nó rồi đi vui chơi
với vợ, và trong niềm ước vọng thích thú kia, nắng gió
không làm thần khó chịu.
Vua
bảo:
- Này
thiện nam, thôi đừng đi đến đó dưới nắng gắt này nữa.
Ta sẽ cho ngươi nửa xu.
- Tâu
Ðại vương, thần sẽ nhận lời hứa của Ðại vương và
lấy tiền, nhưng thần sẽ không bỏ nửa xu kia đâu. Thần
không bỏ việc đi đến đó đem nó về đâu.
- Này
thiện nam, hãy ở lại đây. Trẫm sẽ cho ngươi một xu, hai
xu.
Rồi
cứ đề nghị thêm nữa, vua tiếp tục nói mười triệu, một
ngàn triệu, vô số vàng bạc, nếu chàng trai chịu ở lại.
Nhưng y vẫn đáp:
- Tâu
Ðại vương, thần sẽ nhận tiền của, nhưng thần vẫn đi
kiếm nửa xu kia!
Sau
đó y được chiêu dụ bằng những lời vua hứa ban chức thủ
kho, và nhiều chức vụ khác nữa, và cả chức vị phó vương.
Cuối cùng y được đề nghị chia nửa vương quốc nếu y
chịu ở lại. Khi ấy y mới chấp thuận! Vua bảo các Ðại
thần:
- Này
các khanh, hãy đưa hiền hữu của trẫm đi cạo râu, tắm
rửa và trang điểm rồi đem người trở lại đây.
Họ
tuân lệnh. Vua chia đôi giang sơn và tặng chàng trai một nửa.
Song chuyện kể rằng y chọn phần nửa ở phía Bắc do lòng
yêu thích nửa đồng xu cũ! Y được gọi là vua Nửa Xu. Hai
vị vua đồng cai trị đất nước trong tình thân hữu hòa
hợp.
Một
hôm, hai vị cùng đi đến ngự viên. Sau khi vui chơi, vua Udaya
nằm xuống kề đầu vào lòng vua Nửa Xu. Ngài ngủ thiếp,
trong lúc đám hầu cận đi quanh quẩn vui chơi. Vua Nửa Xu suy
nghĩ: "Tại sao ta chỉ được nửa vương quốc mãi thôi? Ta
muốn giết vua này và làm vị vua độc nhất."
Vì
thế Vua Nửa Xu rút kiếm ra, nhưng khi nghĩ đến việc đâm
vua này, vua Nửa Xu nhớ lại ngài đã đưa bạn mình từ chỗ
nghèo hèn thành người đồng trị nước với ngài và ban cho
bạn đại quyền lực. Nhận thức tư tưởng vừa khởi lên
trong trí dự định giết một ân nhân như thế là vô cùng
độc ác, vua Nửa Xu liền tra kiếm vào bao.
Lần
thứ hai, rồi lần thứ ba, ý tưởng lại khởi lên. Cảm thấy
tư tưởng này khởi lên mãi sẽ đưa mình đến cái ác nghiệp,
vua Nửa Xu vứt kiếm xuống đất và thức vua kia dậy, vừa
nói vừa quỳ xuống chân ngài:
- Tâu
Ðại vương, xin hãy tha tội cho tôi.
- Này
Hiền hữu, bạn có làm gì sai trái với ta đâu.
- Tâu
Ðại vương, tôi đã làm một việc như vậy.
- Này
Hiền hữu, thế thì ta tha thứ cho bạn. Nếu như bạn muốn
thì cứ làm vua một mình và ta sẽ làm phó vương phụng sự
bạn.
Vua
Nửa Xu đáp:
- Tâu
Ðại vương, tôi không cần vương quốc, tham vọng ấy sẽ
khiến tôi tái sinh vào cõi dữ. Quốc độ này của Ðại vương,
xin nhận lấy nó, tôi muốn trở thành người khổ hạnh. Tôi
đã lấy gốc rễ của dục tham, nó phát xuất từ ước vọng
của con người. Vậy từ nay tôi không còn ước vọng như
thế nữa.
Rồi
ông ngâm vần kệ thứ tư trong niềm hoan lạc:
4.
Nhận ra tham dục, nguồn căn
Ở
trong ước vọng tiềm tàng khắp nơi,
Ta
không muốn nữa vì ngươi,
Vậy
ngươi, Tham dục, phải rời xa đi!
Nói
vậy xong, ông ngâm vần kệ thứ năm thuyết Pháp cho quần
chúng đang đắm say tham dục:
5.
Dục tham ít ỏi chẳng vừa,
Dục
tham nhiều chỉ mang ta khổ buồn.
Này,
luôn thiếu, ngu nhân,
Nếu
ngươi muốn đắc trí thông, bạn hiền!
Thuyết
Pháp như vậy với quần chúng xong, ông giao quốc độ cho vua
Udaya. Rời bỏ quần chúng đang khóc than với nước mắt đầm
đìa, ông đến vùng Tuyết Sơn, trở thành ẩn sĩ khổ hạnh
và đạt Thắng trí. Trong thời gian vị ấy làm nhà khổ hạnh,
vua Udaya ngâm vần kệ thứ sáu bày tỏ nỗi hoan lạc trọn
vẹn:
6.
Thiểu dục đem ta mọi quả thành,
U-da-ya
đạt đại quang vinh,
Người
tinh cần được nhiều an lạc,
Làm
ẩn sĩ, buông bỏ dục tình.
Không
ai biết ý nghĩa vần kệ này. Một hôm, chánh hậu hỏi ngài
ý nghĩa trên. Vua không muốn nói. Thời ấy có người thợ
hớt tóc trong triều tên là Gangamàla mỗi khi vào chầu vua
thường dùng dao cạo trước, rồi sau kẹp tóc vua bằng cái
nhíp. Vua thích việc trước, nhưng việc thứ hai làm vua đau.
Về việc đầu, vua muốn thưởng cho y một đặc ân. Còn việc
thứ hai, vua chỉ muốn chém đầu y thôi!
Một
hôm vua nói chuyện với hoàng hậu, ngài bảo rằng người
thợ hớt tóc trong triều là một tên ngu xuẩn. Khi hoàng hậu
hỏi y phải làm gì trước, ngài bảo:
- Hãy
dùng nhíp trước, rồi dùng dao cạo sau.
Hoàng
hậu truyền gọi thợ hớt tóc vào và bảo:
- Này
thiện nam, khi người tỉa râu đức vua, ngươi nên dùng cái
nhíp kẹp râu tóc ngài trước, rồi dùng dao cạo sau. Nếu
đức vua ban cho ngươi một điều ước, ngươi phải tâu rằng
ngươi không cần gì cả, mà ngươi chỉ muốn biết ý nghĩa
khúc ca của ngài thôi. Nếu ngươi làm vậy, ta sẽ cho ngươi
nhiều tiền.
Y đồng
ý ngay.
Hôm
sau, khi y tỉa râu vua, y cầm cái nhíp trước. Vua hỏi:
- Gangamàla,
đây là kiểu mới của ngươi ư?
- Tâu
Ðại vương, phải - y đáp - thợ hớt tóc thường có kiểu
mới.
Rồi
y kẹp tóc vua với cái nhíp trước và dùng dao cạo sau. Vua
liền ban cho y một điều ước.
- Tâu
Ðại vương, thần không muốn gì cả. Xin Ðại vương cho thần
biết ý nghĩ khúc ca ấy.
Vua
hổ thẹn khi phải nói đến nghề nghiệp của mình trong thuở
hàn vi đời trước, liền bảo:
- Này
thiện nam, điều ước kia có ích lợi gì cho ngươi đâu? Hãy
chọn điều khác.
Nhưng
người hớt tóc cứ van xin điều ấy. Vua sợ thất hứa nên
đồng ý. Như đã tả trong Tiền thân Kummàsapinda, số 415,
vua truyền chuẩn bị mọi sự rất trọng thể rồi ngồi trên
bảo tọa bằng ngọc, kể tất cả chuyện công đức trong
đời vừa qua tại kinh thành này. Rồi ngài bảo:
- Ðiều
ấy giải thích nửa vần kệ, còn nửa vần kia kể chuyện
hiền hữu ta trở thành nhà khổ hạnh trong lúc ta làm vị
vua độc nhất trong niềm tự hào, điều ấy giải thích phần
thứ hai của ca khúc hoan lạc ấy.
Nghe
vậy, người hớt tóc suy nghĩ: "Như vậy, đức vua được
hưởng cả vinh quang này vì đã giữ nửa ngày trai gới. Ðức
hạnh quả thật là chánh đạo. Giả sử ta cũng trở thành
nhà khổ hạnh và tìm đường giải thoát cho ta được chăng?"
Người
hớt tóc liền từ giã đám thân thuộc, tài vật thế gian,
rồi xin phép vua trở thành nhà tu hành đi về vùng Tuyết Sơn
làm vị khổ hạnh. Khi nhận thức được ba đặc tính của
các pháp hữu hình (vô thường, khổ, vô ngã), vị ấy đạt
Thắng trí và trở thành vị Ðộc Giác Phật. Vị ấy có đủ
các y bát nhờ thần lực.
Sau
độ năm sáu năm ở trên núi Gandhamàdana (Hương Sơn), vị
ấy muốn về thăm vua Ba-la-nại, liền bay qua không trung đến
ngự viên, rồi ngồi trên vương tọa. Người giữ vườn trình
nhà vua rằng Gangamàla nay là vị Ðộc Giác Phật, đã phi hành
trên không và đang ngồi trong ngự viên.
Vua
lập tức đến chào vị Ðộc Giác Phật và hoàng thái hậu
cũng ra đi với con. Vua vào ngự viên, kính chào vị ấy và
ngồi xuống một bên cùng đoàn tùy tùng. Vị Ðộc Giác Phật
thân mật đàm đạo với vua và gọi ngài bằng tộc tánh:
- Này
Brahmadatta, Hiền hữu có chuyên tâm tinh cầu, cai trị nước
nhà đúng Pháp, thực hành bố thí cùng các thiện sự khác
chăng?
Hoàng
thái hậu liền nổi giận:
- Ðứa
con nhà hớt tóc hạ tiện này không biết phận mình. Nó dám
gọi hoàng nhi quý tộc của ta là "Brahmadatta".
Rồi
bà ngâm vần kệ thứ bảy:
7.
Khổ hạnh xả ly hết lỗi lầm,
Thợ
ghè, hớt tóc, mọi phàm nhân,
Gan-ga
nhờ đó thành vinh hiển,
Liền
gọi "Brah-ma" đấng quốc vương!
Vua
vội ngăn cản mẫu hậu và tuyên bố mọi đặc tính của
vị Ðộc Giác Phật, ngài ngâm vần kệ thứ tám:
8.
Nhìn xem! Vào lúc phải vong thân,
Khổ
hạnh cho ta hưởng phước phần,
Người
lễ bái ta trong kiếp trước,
Giờ
đây vua chúa phải chào mừng.
Mặc
dù vua đã ngăn cản thái hậu, cả đám quần thần đều đứng
lên bảo:
Một
người hạ tiện thế này dám xưng hô với Hoàng thượng bằng
tên tộc như vậy là không đúng phép tắc.
Vua
lại quở trách quần thần và ngâm vần kệ cuối tuyên bố
các đức tính cuả vị Ðộc Giác Phật:
9.
Chớ trách Gan-ga nói thế này
Bước
đường đạo hạnh thiện toàn thay!
Ngài
đà vượt đại dương phiền não,
Giải
thoát khổ sầu chính tại đây.
Nói
vậy xong, vua vái chào vị Ðộc Giác Phật và xin ngài tha lỗi
cho thái hậu. Vị Ðộc Giác Phật đồng ý và đám quần thần
của vua cũng được tha thứ luôn. Vua ước mong Ngài hứa về
sau sẽ ở lại trong vùng lân cận, nhưng Ngài từ chối, rồi
đứng trên không trước mắt đám triều thần, Ngài khuyến
giáo vua xong trở về Hương Sơn.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này
các cư sĩ, các vị ấy giữ trai giới là việc cần phải
làm.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy, vị Ðộc Giác Phật đắc Niết-bàn vô dư y, vua Nửa
Xu là Ànanda, chánh hậu là mẫu thân Ràhula và vua Udaya chính
là Ta.
TỔNG
MỤC LỤC KINH TIỂU BỘ
