CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (IV) Jàtaka
Việt
dịch: Nguyên Tâm Trần Phương Lan
Chương
VII
Phẩm
bảy bài kệ
396.
Chuyện Ác Hạnh (Tiền thân Kukku)
Cái
nóc nhà này cao thước rưỡi...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về việc
giáo hóa một quốc vương. Hoàn cảnh này sẽ xuất hiện trong
tiền thân Tesakuna, số 521.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát là quốc
sư về thế sự cũng như thánh sự. Vua ấy đi theo tà đạo,
cai trị bất chánh và thâu góp tài sản bằng cách đàn áp
dân chúng. Bồ-tát muốn khuyến giáo vua, liền đi quanh quẩn
tìm một ví dụ.
Bấy
giờ, nội thất trong cung làm chưa xong, nên mái nhà trên ấy
chưa hoàn chỉnh. Các cây rui chống đỡ nóc nhọn chỉ vừa
mới được đặt vào đúng vị trí. Vua đã du ngoạn trong
ngự viên, khi trở về cung, vua nhìn lên và thấy nóc nhà hình
tròn, sợ nó sẽ rớt xuống, vua bước ra đứng bên ngoài,
rồi lại nhìn lên và suy nghĩ: "Làm thế nào nóc nhà này đứng
yên như vậy. Các rui này ra sao? Và vua liền ngâm vần kệ
đầu hỏi Bồ-tát:
1.
Cái nóc nhà này cao thước rưỡi,
Tám
cây kèo lớn đỡ quây quần
Gỗ
sim-sa với sà-ra thẳng,
Bởi
vậy nóc nhà đứng vững chăng?
Nghe
vậy, Bồ-tát suy nghĩ: "Ta đã có được một ví dụ để
khuyến giáo nhà vua". Ngài liền ngâm các vần kệ sau:
2.
Ba mươi rui nhỏ gỗ sa-ra
Ðược
xếp đều quanh dưới mái nhà,
Áp
sát vào nhau nâng thật vững,
Cho
nên nóc đứng thẳng ngay mà.
3.
Vậy người có trí được quây quần
Với
quốc sư hiền, bạn tận trung,
Sẽ
chẳng sa cơ lúc mạt vận,
Như
rui đỡ nóc mái thăng bằng.
Trong
lúc Bồ-tát đang nói, vua xem xét kỹ hành vi xử thế của
mình: "Nếu không có nóc nhà thì các cây rui không đứng vững;
nóc nhà cũng không đứng vững nếu không được các cây rui
nâng đỡ. Nếu các cây rui gãy thì nóc nhà sụp đổ. Cũng
vậy, một vị vua ác hạnh không tập hợp các thân bằng,
đại thần, quân đội, Bà-la-môn và gia chủ lại với nhau,
và nếu đám quần thần tan rã vua không được nâng đỡ sẽ
mất hết quyền lực, vì thế vua phải sống công chính".
Ngay
lúc ấy, đám thị nữ đem dâng vua một quả bưởi. Vua bảo
Bồ-tát:
- Này
Hiền hữu, hãy ăn bưởi này.
Bồ-tát
cầm bưởi và thưa:
- Tâu
Ðại vương, người nào không biết cách ăn bưởi sẽ làm
cho nó đắng hoặc cay. Song người có trí biết cách lấy chất
đắng ra, và không bỏ chất chua, hoặc làm hỏng hương vị
của bưởi khi ăn bưởi.
Rồi
dùng thí dụ này, ngài trình bày cho vua biết cách tạo tài
sản chân chánh qua hai vần kệ:
4.
Ăn bưởi luôn phần vỏ đắng cay,
Nếu
không gọt vỏ với dao này,
Chỉ
ăn phần ruột là thơm ngọt,
Nếu
thêm vỏ thì hết ngọt ngay.
5.
Vậy người có trí chẳng hung tàn
Thâu
góp thuế trong các xóm làng,
Tăng
sản nghiệp nhưng không phạm tội.
Bước
đường chân chánh tạo danh vang.
Vua
vừa tham vấn Bồ-tát vừa đi đến hồ sen, khi nhìn một hoa
sen đang nở có màu sáng đẹp như mặt trời mới mọc, không
bị nước làm ô nhiễm, nhà vua bảo:
- Này
Hiền hữu, hoa sen kia mọc thẳng lên không bị nước làm ô
nhiễm sắc hương.
Bồ-tát
liền đáp lại:
- Tâu
Ðại vương, một vị vua cũng phải như vậy.
Rồi
Ngài ngâm các vần kệ này để khuyến giáo:
6.
Như hoa sen nở ở trong hồ
Rễ
trắng, nước trong bảo dưỡng cho,
Dưới
ánh mặt trời hoa nở đẹp
Không
hề bụi bặm chẳng bùn nhơ.
7.
Vậy người có đức hạnh đưa đường,
Khéo
luyện ôn nhu, đủ thiện lương,
Như
đóa sen trong hồ nước ấy,
Bùn
nhơ chẳng cấu uế tâm can.
Vua
nghe lời Bồ-tát khuyên giáo từ đó về sau trị nước chân
chính và thực hành các thiện sự, bố thí cùng nhiều phước
nghiệp khác, nên được sinh lên thiên giới.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự
Thật và nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy, vua là Ànanda và vị quốc sư có trí chính là Ta.
-ooOoo-
397.
Chuyện Sư Tử Manoja (Tiền thân Manoja)
Cung
nọ đã giương cong vút lên...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Trúc Lâm về một
Tỷ-kheo thân cận bạn ác.
Hoàn
cảnh đã được nêu đầy đủ chi tiết trong tiền thân Mahilàmukhata,
số 26. Bậc Ðạo Sư bảo:
- Này
các Tỷ-kheo, không phải lần đầu kẻ này thân cận bạn
ác.
Rồi
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát là Sư tử
sống với Sư tử cái và hai con, một trai một gái. Sư tử
con tên là Manoja. Khi lớn lên, nó lấy một sư tử cái làm
vợ. Như thế cả bầy có năm sư tử.
Manoja
thường giết trâu rừng và nhiều dã thú khác, nhờ đó nó
đem thịt sống về nuôi cha mẹ, em và vợ. Một hôm trong chỗ
săn mồi, nó thấy một chó rừng tên Giriya không chạy được
và đang nằm sấp. Nó hỏi:
- Này
bạn, sao thế?
- Tâu
Chúa công, tôi muốn phục vụ ngài.
- Thế
thì tốt.
Sau
đó, nó đem chó rừng về hang, Bồ-tát thấy vậy bảo:
- Này
con Manoja, chó rừng là loại độc ác tham tàn, hay xúi giục
điều xấu, đừng đưa thứ chó này về ở gần con.
Song
ngài không ngăn cản được nó.
Thế
rồi một hôm, chó rừng muốn ăn thịt ngựa, liền nói với
Manoja:
- Tâu
Chúa công, trừ thịt ngựa ra, chúng ta không có gì ăn cả.
Vậy chúng ta hãy đi bắt ngựa.
- Song
nơi đâu có ngựa thế, bạn?
- Tại
Ba-la-nại, cạnh bờ sông.
Manoja
nghe lời khuyên này và cùng đi với chó đến nơi có bầy
ngựa tắm dưới sông. Nó bắt một con ngựa, mang trên lưng
chạy nhanh về miệng hang. Sư tử cha ăn thịt ngựa và bảo:
- Này
con, bầy ngựa là tài sản của vua, mà vua chúa thường có
nhiều mưu kế, lại nhiều người thiện xạ bắn cung. Sư
tử ăn thịt ngựa không sống lâu được đâu. Từ rày con
đừng bắt ngựa nữa.
Sư
tử con không theo lời cha khuyên nhủ, cứ tiếp tục bắt ngựa.
Vua nghe có con sư tử đến bắt ngựa, liền bảo làm một
hồ nước cho ngựa ở trong kinh thành. Song sư tử vẫn đến
bắt ngựa. Vua truyền làm chuồng ngựa với máng thức ăn,
nước uống đem đến tận nơi cho chúng. Sư tử nhảy vượt
bức tường và bắt ngựa từ chuồng ra. Vua liền truyền gọi
một xạ thủ có tài bắn nhanh như chớp, hỏi anh ta có thể
bắn sư tử chăng. Anh ta tâu có thể, rồi làm một tháp canh
gần bức tường, nơi sư tử thường đến và đợi tại đấy.
Sư
tử đến, để chó rừng ở một nghĩa địa bên ngoài, còn
nó nhảy vào thành bắt ngựa. Người xạ thủ suy nghĩ: "Tốc
lực của sư tử này quá nhanh khi nó đến". Cho nên anh ta chưa
bắn nó, song khi nó trở về mang theo con ngựa, bị vướng
víu vì gánh nặng kia, người xạ thủ liền bắn một mũi
tên nhọn vào phía đùi sau của sư tử. Mũi tên đâm xuyên
suốt ra phía đùi trước và bay vút lên không. Sư tử thét
lên:
- Ta
bị thương rồi!
Sau
khi bắn sư tử xong, vị thiện xạ búng dây cung vang lên như
sấm. Chó rừng nghe tiếng sư tử gầm và tiếng cung vang rền,
liền suy nghĩ: "Bạn ta đã bị bắn, chắc hẳn phải chết,
thôi chẳng còn tình bạn gì với vật đã chết, ta muốn đi
về hang cũ trong rừng kia". Rồi nó ngâm hai vần kệ:
l.
Cung nọ đã giương cao vút lên,
Dây
cung phát tiếng sấm vang rền,
Ma-no-ja,
chúa sơn lâm ấy,
Thân
hữu của ta, bị giết liền.
2.
Than ôi, ta phải kiếm khu rừng,
Cố
sức hết lòng, thật gắng công,
Ta
phải tìm về nơi trú ẩn,
Bỗng
dưng tình bạn hóa thành không.
Sư
tử con chạy vụt về ném xác ngựa trước miệng hang, rồi
ngã chết liền. Thân quyến vội bước ra, thấy mình nó nhuộm
đầy máu từ vết thương chảy xiết, vừa nằm chết vì đã
đi theo bạn ác. Cha, mẹ, em và vợ sư tử lần lượt ngâm
bốn vần kệ:
Cha:
3.
Số phận con ta chẳng thịnh hưng,
Say
mê, kết hợp ác thân bằng,
Nhìn
Ma-no ấy đang nằm đó
Do
bởi lời khuyên của chó rừng.
Mẹ:
4.
Lòng mẹ chẳng vui khi thấy con
Kết
giao với bọn ác thân bằng
Nhìn
Ma-no ấy đang nằm đó
Máu
chảy nhuộm đầy cả tấm thân.
Em:
5.
Cũng vậy bước đi kẻ thấp hèn
Trong
đời tăm tối phải nằm yên,
Không
hề nghe được lời khuyên nhủ
Của
bạn thật chân, bậc trí hiền.
Vợ:
6.
Phần số tệ tàn hơn biết bao
Khi
người ở địa vị trên cao
Lại
tin tưởng bọn người hèn kém,
Nhìn
chúa sơn lâm đã ngã nhào!
*
Và
cuối cùng là vần kệ phát xuất từ Trí tuệ Tối thắng
của đức Phật:
7.
Ai theo bọn hạ tầng
Chính
nó bị bỏ ruồng;
Ai
thân người đồng đẳng
Chẳng
hề bị phụ phàng;
Ai
phục người tối thượng
Sẽ
mau chóng thịnh hưng.
Vậy
tìm người ưu việt
Ðể
có chốn nương thân.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự
Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo thân cận bạn
ác đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy, chó rừng là Ðề-bà-đạt-đa, Manoja là vị Tỷ-kheo thân
cận bạn ác, em gái là Uppalavannà (Liên Hoa Sắc), vợ của
sư tử là Tỷ-kheo-ni Khemà (Thái Hòa), Sư tử mẹ là mẫu
thân Ràhula và Sư tử cha chính là Ta.
-ooOoo-
398.
Chuyện Hiếu Tử Sutana (Tiền thân Sutana)
Vua
đã gửi ngươi một bát cơm...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo phụng dưỡng cha mẹ mình. Hoàn cảnh sẽ xuất hiện
trong Tiền thân Sàma, số 540.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh vào một gia đình nghèo, cha mẹ đặt tên ngài là Sutana.
Khi lớn khôn, ngài làm việc kiếm tiền nuôi cha mẹ, đến
thời cha ngài qua đời, ngài phụng dưỡng mẹ mình.
Thời
ấy, vua Ba-la-nại thích săn bắn. Một hôm vua cùng quần thần
đông đảo đi vào một khu rừng rộng khoảng một hai đặm,
và truyền lệnh cho tất cả mọi người:
- Nếu
có con nai nào chạy thoát ở điểm canh giữ của người nào
thì người ấy bị phạt số tiền bằng giá con nai.
Sau
khi dựng một túp lều được dấu kín bên vệ đường, quần
thần dâng nó cho vua dùng. Bầy nai bị chấn động vì tiếng
la hét của đám người bao vây nơi trú ẩn của chúng, rồi
một con nai chạy về địa điểm vua canh giữ. Vua nghĩ thầm
"Ta muốn bắn nó" rồi giương cung lên. Con vật biết mưu kế
đánh lừa, thấy mũi tên sắp đến gần sườn liền ngã lăn
tròn như thể trúng mũi tên. Vua nghĩ: "Ta đã bắn trúng nó
và chạy lại bắt nai."
Nhưng
con nai vùng lên lao vụt nhanh như gió. Quần thần và mọi người
kia đều cười nhạo vua. Ông liền đuổi theo con nai cho đến
khi nó mệt nhoài thì rút kiếm chặt nó làm đôi. Rồi kéo
con nai lên một khúc gỗ, ông khiêng nó lên như cái đòn gánh,
vừa đi vừa nói: "Ta muốn nghỉ ngơi một lát", ông đến
gần cây đa bên vệ đường và nằm xuống ngủ say.
Một
quỷ Dạ-xoa (Yakkha) tên là Makhadeva tái sinh ở cây đa này,
được Thiên vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) cho phép bắt mọi
sinh vật nào đến gần nó để ăn thịt. Khi vua này thức
dậy, Dạ-xoa bảo:
- Cứ
ở lại đây, ngươi là món mồi của ta.
Rồi
nó cầm lấy tay vua.
- Ngài
là ai? Vua hỏi.
- Ta
là Quỷ Dạ-xoa, sinh ra tại đây. Ta bắt mọi người đến
nơi đây để ăn thịt.
Vua
lấy hết can đảm hỏi:
- Thế
ngài chỉ ăn thịt hôm nay hay ăn mãi?
- Ta
sẽ còn ăn mãi mọi vật ta bắt được.
- Thế
thì hãy ăn con nai này hôm nay và để ta đi về. Từ ngày mai
ta sẽ gửi cho ngài một người cùng với một đĩa cơm mỗi
ngày.
- Vậy
hãy cẩn thận đấy. Hễ ngày nào không gởi ai đến thì ta
sẽ ăn thịt ngươi.
- Ta
là quốc vương ở Ba-la-nại, chẳng có việc gì ta không làm
được cả.
Quỷ
Dạ-xoa nhận lời hứa rồi để vua ra về. Khi vua đến kinh
thành, ông đem chuyện ấy kể cho vị cận thần nghe và hỏi
những gì cần phải làm.
- Tâu
Ðại vương, có hạn kỳ nhất định nào không?
- Không.
- Thế
thì Ðại vương đã tính việc sai rồi đấy. Nhưng không sao
cả. Có rất nhiều tù nhân trong ngục.
- Vậy
khanh cố sắp đặt việc này để cứu mạng ta.
Vị
cận thần đồng ý, mỗi ngày bắt một tù nhân từ trong ngục
gửi ra cho quỷ Dạ-xoa cùng với một dĩa cơm mà không nói
gì với kẻ ấy cả. Quỷ Dạ-xoa ăn hết cả cơm lẫn người.
Sau một thời gian các ngục thất đều trống vắng. Vua tìm
không ra người đi đưa cơm, lòng run rẩy sợ chết. Vị cận
thần an ủi ông và bảo:
- Tâu
Ðại vương, lòng tham tài sản còn mạnh hơn lòng tham sống.
Ta hãy gói một ngàn đồng tiền đặt trên lưng voi, rồi lấy
trống truyền lệnh: "Ai muốn đem cơm cho quỷ Dạ-xoa và lãnh
số tiền bạc này?".
Vua
nghe lời làm theo như vậy. Bồ-tát suy nghĩ: "Ta chỉ làm công
được một xu rưởi mỗi ngày khó lòng phụng dưỡng mẹ.
Nay ta muốn lấy số tiền kia trao cho mẹ rồi đi gặp quỷ
Dạ-xoa. Nếu ta thắng nó thì tốt, còn nếu không thì mẹ
ta cũng sống an nhàn sung túc". Vì thế ngài nói chuyện với
mẹ, song bà bảo:
- Mẹ
vừa đủ rồi, mẹ không cần tiền bạc.
Rồi
bà ngăn cản ngài hai lần, nhưng lần thứ ba, ngài không xin
phép mẹ nữa, mà đến gặp quan quân nói:
- Thưa
các quan, hãy đưa ngàn đồng tiền, tôi nhận mang cơm đi.
Rồi
đưa cho mẹ ngàn đồng tiền, ngài bảo:
- Mẹ
thân yêu, đừng lo buồn, con sẽ thắng quỷ Dạ-xoa và đem
hạnh phúc cho mọi người. Con sẽ trở về nhà khiến cho mẹ
đang khóc than phải cười to lên đấy.
Rồi
chào mẹ xong, ngài cùng quan quân đi yết kiến vua, rồi kính
lễ vua và đứng tại đó. Vua hỏi:
- Này,
thiện nam tử, cậu muốn đem cơm à?
- Tâu
Ðại vương, phải.
- Thế
cậu cần mang theo vật gì bên mình?
- Tâu
Ðại vương, đôi hài bằng vàng của ngài.
- Tại
sao thế?
- Tâu
Ðại vương, quỷ Dạ-xoa kia chỉ ăn thịt kẻ nào đứng trên
mặt đất dưới gốc cây của nó, còn tiểu tử sẽ đứng
trên đôi hài, chứ không phải trên mặt đất.
- Thế
còn vật gì nữa?
- Tâu
Ðại vương, chiếc lọng của ngài.
- Tại
sao thế?
- Tâu
Ðại vương, quỷ Dạ-xoa kia chỉ ăn thịt kẻ nào đứng dưới
bóng cây của nó, còn tiểu tử đứng dưới bóng chiếc lọng,
chứ không phải bóng cây.
- Thế
còn vật gì nữa?
- Tâu
Ðại vương, thanh kiếm của ngài.
- Ðể
làm gì?
- Tâu
Ðại vương, ngay loài quỷ cũng sợ những người mang khí
giới trong tay.
- Thế
còn gì nữa chăng?
- Tâu
Ðại vương, cái bát vàng của ngài, đựng đầy ngự thiện
dâng lên ngài.
- Này
thiện nam tử, tại sao vậy?
- Một
người có trí khôn như tiểu tử mà phải ăn cơm gạo thô
trong dĩa đất thì không thích hợp chút nào.
Vua
chấp thuận và sai các quan đem đủ mọi thứ ngài đã yêu
cầu. Bồ-tát thưa:
- Tâu
Ðại vương, đừng sợ gì cả, tiểu tử nguyện sẽ trở
về hôm nay sau khi chiến thắng quỷ Dạ-xoa và đem lại an
lạc cho ngài.
Thế
rồi ngài cầm mọi thứ cần dùng và đi đến nới ấy, ngài
sắp đặt mọi người đứng không xa nơi ấy rồi mang đôi
hài vàng vào chân, đeo thanh kiếm vào đai, che chiếc lọng
trên đầu và cầm bát cơm bằng vàng đến gặp Dạ-xoa.
Quỷ
Dạ-xoa nhìn ra đường thấy ngài liền suy nghĩ: "Người này
đến đây không giống bọn người đã đến trước kia, vì
duyên cớ gì vậy?".
Bồ-tát
đứng gần cây, lấy mũi kiếm đẩy dĩa cơm vào dưới bóng
cây rồi đứng gần bóng cây, ngâm vần kệ đầu:
1.
Vua đã gửi ngài một bát cơm,
Lại
thêm thịt nấu thật ngon thơm,
Ma-kha
có ở nhà không đấy,
Xin
hãy bước ra nhận để ăn!
Nghe
vậy, quỷ Dạ-xoa suy nghĩ: "Ta muốn đánh lừa nó, rồi sẽ
ăn thịt nó khi nó bước vào bóng cây". Con quỷ liền ngâm
vần kệ thứ hai:
2.
Hãy bước vào trong, hỡi cậu trai,
Với
cao lương mỹ vị trên tay,
Cả
cơm cùng với thân người nữa,
Này
cậu, ta xơi tuyệt lắm thay!
Tiếp
theo, Bồ-tát đáp hai vần kệ:
3.
Dạ-xoa sẽ mất vật to hơn
Ðổi
lấy vật này bé con con.
Tất
cả mọi người đều sợ chết,
Chẳng
còn ai đến biếu cao lương!
4.
Vậy ngài sẽ được cấp lương cao
Tinh
sạch nêm gia vị ngọt ngon.
Song
nếu ăn ta, thì khó kiếm
Một
người nào khác đến đem cơm.
Quỷ
Dạ-xoa suy nghĩ: "Cậu trai này nói có lý", rồi đầy thiện
ý, nó ngâm hai vần kệ:
5.
Su-ta-na, quả thật đúng thay
Mối
lợi ta như cậu tỏ bày,
Hãy
trở lại thăm hiền mẫu nhé,
Ta
cho phép cậu bước đi ngay.
6.
Lấy gươm, lọng, bát, cậu thanh niên,
Hãy
nhắm đường đi, cất bước liền,
Thăm
mẹ hiền trong niềm phấn khởi,
Cho
bà sống hạnh phúc bình yên.
Nghe
lời Dạ-xoa, Bồ-tát hoan hỷ, ngài nghĩ thầm: "Bổn phận
ta đã hoàn thành, quỷ Dạ-xoa đã được chinh phục, ta được
hưởng tài sản và lời hứa của vua đã được thực hiện".
Ngài liền ngâm vần kệ cuối cùng:
7.
Dạ-xoa cùng với mọi thân nhân,
Mong
ước toàn gia được phước ân,
Lệnh
vua đã thực hành viên mãn,
Tài
sản ta nay được hưởng phần.
Ngài
khuyến giáo quỷ Dạ-xoa và bảo:
- Này
bạn, xưa kia bạn đã tạo ác nghiệp, bạn tham tàn độc ác,
ăn thịt nhiều người nên tái sinh làm quỷ Dạ-xoa. Từ rày
về sau đừng giết hại sinh mạng như vậy nữa.
Thế
là ngài nêu rõ mọi công đức nhờ giữ giới hạnh và các
nỗi khổ đau vì tạo ác nghiệp. Rồi an trú quỷ Dạ-xoa vào
Ngũ giới, ngài bảo:
- Này,
tại sao bạn ở trong rừng? Mau lên, ta sẽ để bạn cư ngụ
cạnh cổng thành và bảo đem cao lương mỹ vị đến cho bạn.
Sau
đó ngài ra đi cùng quỷ Dạ-xoa, bảo nó cầm kiếm cùng nhiều
vật khác và đến thành Ba-la-nại. Quân sĩ báo tin Sutana đã
trở về cùng quỷ Dạ-xoa. Vua cùng triều thần đi ra đón
Bồ-tát và làm chỗ cư trú cho quỷ Dạ-xoa tại cổng thành,
rồi sai người đem cao lương mỹ vị cho nó. Xong vua vào thành,
lấy trống truyền lệnh hội họp toàn dân trong thành để
tuyên dương công trạng của Bồ-tát và phong ngài chức vụ
thống lãnh quân đội. Còn chính vua được an trú vào lời
dạy của Bồ-tát, thực hành nhiều thiện sự, bố thí và
các công đức khác nên về sau tái sinh cõi thiên.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự
Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo phụng dưỡng
mẹ đã đạt Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy, quỷ Dạ-xoa là Angulimàla (Người đeo vòng ngón tay), vua
là Ànanda và hiếu tử kia chính là Ta.
-ooOoo-
399.
Chuyện Chim Thứu (Tiền thân Gijjha)
Làm
sao thân lão biết tìm mồi...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ-kheo phụng dưỡng mẹ mình.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh làm chim Thứu (kên kên). Khi lớn lên, ngài đưa cha mẹ
đã
già và mù mắt vào ở trong hang thứu và đem thịt quạ cùng
nhiều loại khác về nuôi hai vị. Thời ấy có một thợ săn
đặt bẫy bắt chim thứu quanh nghĩa địa Ba-la-nại.
Một
hôm Bồ-tát đi kiếm thịt đến gần nghĩa địa và sa chân
vào bẫy. Ngài không nghĩ đến mình, mà chỉ nhớ đến cha
mẹ già: "Giờ đây làm sao cha mẹ sống được? Ta chắc hai
vị sẽ chết vì không biết ta mắc bẫy, sẽ bơ vơ khốn
khổ và héo mòn dần trong hang núi ấy". Do vậy ngài ngâm vần
kệ đầu than khóc:
1.
Làm sao thân lão biết tìm mồi
Trong
chốn hang sâu của núi đồi?
Ta
bị buộc chân vào chiếc bẫy,
Làm
nô lệ của Ni-la thôi.
Con
trai người thợ săn, nghe ngài than khóc, liền ngâm vần kệ
thứ hai, chim Thứu ngâm vần kệ thứ ba và cứ liên tiếp
xen kẽ như vậy:
Con
của thợ săn:
2.
Chim Thứu, sao chim khóc ỉ ôi,
Tiếng
chim đưa đến tận bên tai,
Ta
chưa từng thấy hay nghe được
Chim
biết thốt ra tiếng giống người.
Chim
Thứu:
3.
Ta nuôi phụ mẫu đã già rồi
Ở
trong hang nọ dưới chân đồi,
Làm
sao thân lão tìm mồi được
Khi
thứu trở thành nô lệ người?
Con
của thợ săn:
4.
Kên kên nhìn xác chết đằng xa
Hơn
cả một trăm dặm vượt qua,
Vì
cớ sao chim không thấy rõ
Lưới
kia bẫy nọ thật gần mà?
Chim
Thứu:
5.
Khi đời sắp đến vận suy tàn,
Thần
chết đang đòi hỏi số phần,
Dù
có đứng gần bên chiếc bẫy,
Cũng
không thấy bẫy đặt dây giăng!
Con
của thợ săn:
6.
Thôi hãy về đi với lão thân
Ở
trong hang núi, hãy chăm nom,
Về
thăm cha mẹ trong an lạc,
Chim
được ta cho thỏa ước mong.
Chim
Thứu:
7.
Hỡi thợ săn cùng cả họ hàng,
Cầu
mong hạnh phúc đến nhà chàng!
Ta
về với mẹ cha già yếu,
Chăm
sóc hai thân ở dưới hang.
Sau
đó Bồ-tát được giải thoát khỏi nỗi sợ chết, vui mừng
tạ ơn vừa ngâm vần kệ cuối cùng, vừa ngậm đầy thịt
trong mỏ và bay về đưa mồi cho cha mẹ.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự
Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, vị Tỷ-kheo được an trú
vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy, người thợ săn là Channa (Xa-nặc), cha mẹ ta là thân
quyến trong hoàng gia và Thứu vương là Ta.
-ooOoo-
400.
Chuyện Hoa Cỏ Kusa (Biệt hiệu của Chó rừng - Tiền thân
Dabbhapuppha)
Này
bạn A-nu, chạy tới ngay...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về Upananda,
một người của bộ tộc Thích-ca (sakya).
Vị
ấy xuất gia theo Giáo-pháp, nhưng lại từ bỏ các hạnh tri
túc và những đức hạnh khác nên trở thành tham lam. Ðầu
mùa mưa, ông đến ở thử hai ba tinh xá, để lại một cái
dù hay chiếc hài ở một tinh xá, và một chiếc gậy hay bình
nước ở một tinh xá khác, rồi chính ông đến an cư ở một
tinh xá khác nữa. Ông bắt đầu trú mưa tại một tinh xá
ở thôn quê và bảo:
- Chư
Tỷ-kheo phải sống tri túc.
Rồi
cố ra vẻ như đang làm cho mặt trăng xuất hiện trên trời,
ông giải thích pháp môn đưa đến hạnh tri túc, tán thán
đời sống tri túc với các nhu cầu tối thiểu. Nghe lời ông,
Tăng chúng ném bỏ mọi y bát tốt đẹp, mang bát đất phấn
tảo y (y bằng giẻ rách), ông liền đem các thứ kia về tư
thất của mình. Khi mùa mưa và lễ Tự tứ (Pavàranà) đã
xong, ông chất đầy một xe chở đến Kỳ Viên.
Trên
đường đi, dừng lại phía sau một tinh xá trong rừng, ông
lấy dây leo quấn hai chân và nói:
- Chắc
chắn có thể kiếm được vài thứ ở đây.
Rồi
ông đi vào tinh xá. Có hai Tỷ-kheo già đã an cư mùa mưa ở
đó, họ kiếm được hai tấm y vải thô và một chiếc mền
lông mịn, rồi chẳng biết phải chia chúng ra sao, họ hoan
hỷ khi thấy ông đến, nghĩ thầm: "Trưởng lão này sẽ chia
các vật dụng cho hai ta", liền nói:
- Này
Hiền giả, chúng tôi không thể chia các y phục dùng cho mùa
mưa này được, chúng tôi có bàn cãi về việc này, xin Hiền
giả chia dùm chúng tôi.
Vị
ấy bằng lòng, chia hai tấm y vải thô cho họ, còn ông lấy
cái mền, và bảo họ:
- Vật
này dành cho tôi là người biết Giới luật.
Rồi
ông bỏ đi. Hai Trưởng lão này thích chiếc mền, liền cùng
đi với ông đến Kỳ Viên và kể câu chuyện với chư Tăng
hiểu biết luật, rồi hỏi:
- Có
đúng là những vị biết Giới luật lại cướp bóc tài sản
như vậy chăng?
Tăng
chúng thấy đống y bát do Tỷ-kheo Upananda đem đến, liền
hỏi:
- Này
Hiền giả, Hiền giả thật có đại phước đức, Hiền giả
đã tạo được nhiều thực phẩm và y phục thế kia!
Ông
đáp:
- Này
các Hiền giả, tôi có phước đức gì đâu? Tôi chỉ lấy
được các thứ này theo cách như vầy như vầy.
Rồi
ông đem mọi chuyện kể ra hết cho mọi người nghe.
Tại
Chánh pháp đường, Tăng chúng nêu vấn đề thảo luận, bảo
nhau:
- Này
các Hiền giả, Tỷ-kheo Upananda thuộc bộ tộc Thích-ca, rất
tham lam tài vật.
Bậc
Ðạo Sư thấy đề tài của các vị, liền bảo:
- Này
các Tỷ-kheo, hành vi của Upannanda không phù hợp để tinh tấn.
Khi một Tỷ-kheo giảng giải hạnh tinh tấn cho người khác
thì trước tiên thì tự mình phải cho phù hợp rồi mới giáo
giới người khác.
Giữ
mình đúng mực trước tiên,
Rồi
sau thuyết giảng, bậc hiền vị tha.
Bằng
cách ngâm vần kệ Pháp cú này, Ngài giải bày Giáo pháp và
nói:
- Này
các Tỷ-kheo, không phải Upananda chỉ tham lam lần đầu, mà
xưa kia kẻ ấy cũng đã cướp bóc tài vật của loài khác
nữa.
Rồi
ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa. khi vua Brahamdatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát làm một
Thần cây bên bờ sông. Một con chó rừng tên Màyàvì, đã
có vợ và sống một nơi gần bờ sông. Một ngày kia, vợ
nó bảo chồng:
- Này
chàng, thiếp có một niềm ao ước, thiếp muốn ăn cá hồng
rohita tươi.
Chó
rừng đáp:
- Cứ
yên lòng, ta sẽ đem cá tươi về cho nàng.
Rồi
nó ra phía con sông, quấn chân bằng dây leo đi dọc theo bờ.
Lúc ấy có hai con rái cá tên Gambhìracàri và Anutìracàri đang
đứng trên bờ rình bắt cá. Gambhìracàri chợt thấy một
con cá hồng rohita lớn, liền nhảy xuống nước chụp lấy
đuôi cá. Con cá quá mạnh vùng ra được lôi theo rái cá. Nó
liền gọi bạn:
- Con
cá này to lắm, vừa đủ cho hai ta.
Rồi
nó ngâm vần kệ đầu:
1.
Này bạn A-nu, chạy tới ngay,
Ta
cầu khẩn bạn giúp ta đây,
Ta
vừa bắt cá này to lớn,
Song
nó kéo ta mạnh thế này!
Nghe
vầy, con kia ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Gam-bhi, bạn tốt số dường nào!
Móng
vuốt bạn cầm vững mạnh sao!
Chẳng
khác đại bàng câu rắn nước,
Ta
câu cá nọ nhấc lên cao!
Sau
đó cả hai rái cá kéo con cá hồng rohita đặt xuống đất
và cắn nó chết xong, lại bảo nhau:
- Bạn
chia cá ra nào.
Rồi
chúng cãi nhau nhưng không chia cá được phải ngồi xuống,
và để cá nằm đó. Lúc ấy chó rừng vừa bước tới chỗ
ấy. Thấy chó, cả hai đều chào rất lễ phép và nói:
- Thưa
Tôn ông có lông màu cỏ xám, con cá này do hai chúng tôi bắt
được, rồi sinh chuyện cãi nhau vì chúng tôi không biết cách
chia cá. Xin Tôn ông chia cá đều hai phần dùm cho.
Rồi
chúng ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Một cuộc tranh giành giữa chúng tôi
Tôn
ông mang áo xám kia ôi!
Xin
ông ổn định dùm tranh chấp
Cho
thật công bằng giữa cả đôi.
Chó
rừng nghe vậy, liền tự xưng anh hùng qua vần kệ:
4.
Ta đã giải phân lắm cạnh tranh
Làm
xong sứ mạng thật hòa bình,
Chư
Tôn hãy để điều tranh chấp
Tại
hạ công bình ổn định nhanh.
Ngâm
vần kệ xong, chó chia cá và ngâm thêm vần kệ này:
5.
A-nu, hãy lãnh phần đuôi,
Còn
chú Gam-bhì, thủ cấp rồi,
Phần
giữa dành cho ta xử kiện,
Trả
công xứng đáng thế này thôi!
Như
vậy, sau khi chia cá xong, chó rừng bảo:
- Các
ông ăn đầu đuôi cá chứ đừng cãi nhau nữa.
Rồi
ngậm khúc giữa vào mồm, nó chạy bay trước mắt cặp rái
cá. Chúng ngồi ủ rũ, như thể vừa mất cả ngàn đồng tiền,
rồi ngâm vần kệ thứ sáu:
6.
Nếu không tranh cãi chuyện vừa rồi,
Chắc
chắn là vừa đủ cá thôi,
Nay
bị chó rừng mang hết thịt,
Chỉ
còn để lại khúc đầu đuôi!
Chó
rừng rất hài lòng, nghĩ thầm: "Nay ta đem cá hồng rohita về
cho vợ ta", rồi nó đi tìm vợ. Chó cái thấy nó đến, liền
đon đả chào mừng và ngâm vần kệ:
7.
Như vua mãn nguyện được cầm quyền
Thâu
gọn giang sơn trị nước yên,
Mãn
nguyện ta nhìn chàng trở lại,
Ngậm
đầy trong mỏ cá tươi nguyên!
Rồi
nó hỏi chó rừng cách nào kiếm được mồi ngon qua vần kệ:
8.
Chàng vốn sinh ra ở đất bằng,
Làm
sao bắt cá giữa dòng sông?
Phu
quân, chàng lập kỳ công ấy,
Cho
biết vì sao, thiếp ước mong.
Chó
rừng ngâm vần kệ giải thích phương cách ấy cho vợ nghe:
9.
Vì cạnh tranh nên chúng yếu dần,
Cạnh
tranh làm chúng phải suy tàn,
Cạnh
tranh, rái cá mất phần hưởng,
Vì
vậy Mà-yà được miếng ngon.
*
Và
một vần kệ khác nữa xuất phát từ Trí tuệ Tối thắng
của đức Phật:
10.
Cũng vậy, tranh giành giữa thế nhân,
Tìm
người xử kiện: nó chia phần,
Gia
tài của chúng suy tàn hết,
Công
khố nhà vua được thịnh hưng.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các sự
thật và nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy, chó rừng là Upananda, hai con rái cá là hai người kia,
và Thần cây chứng kiến câu chuyện chính là Ta.
-ooOoo-
401.
Chuyện Người Nuốt Lưỡi Kiếm (Tiền thân Dasanaka)
Bảo
kiếm Da-san thích máu hồng...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về âm
mưu quyến rủ một Tỷ-kheo do người vợ cũ gây ra.
Tỷ-kheo
ấy thú nhận đã thối thất vì lý do này. Bậc Ðạo Sư bảo:
- Nữ
nhân ấy đã làm hại ông. Thời xưa ông cũng đã suýt chết
vì tương tư kẻ ấy. Về sau nhờ các bậc trí ông được
cứu sống lại.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi Ðại vương Maddava trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh làm con một gia đình Bà-la-môn. Cha mẹ đặt tên ngài
là nam tử Senaka. Khi lớn lên, ngài đi học mọi nghệ thuật
tại Takkasilà, và khi về Ba-la-nại Ngài trở thành quốc sư
của vua Maddava về thế sự cũng như thánh sự. Ngài được
danh hiệu bậc Hiền trí Senaka và được cả kinh thành sùng
kính như mặt trăng, mặt trời.
Thời
ấy con trai của vị tế sư hoàng gia đến yết kiến vua, thấy
bà chánh hậu trang điểm ngọc vàng cực kỳ diễm lệ, đâm
ra si tình, khi về nhà chẳng chịu ăn uống gì cả, cứ nằm
dài ra. Bạn hữu liền hỏi thăm và chàng trai kể hết mọi
chuyện. Vua hỏi:
- Con
trai của vị tế sư hoàng gia không đến, việc này là thế
nào?
Khi
nghe duyên cớ, vua cho gọi chàng trai vào và bảo:
- Trẫm
trao hoàng hậu cho cậu trong bảy ngày, cứ ở nhà cậu bảy
ngày ấy xong, qua ngày thứ tám, cậu trả lại nàng cho ta.
- Thế
thì tốt lắm, tâu Ðại vương.
Chàng
trai đáp rồi đem hoàng hậu về nhà thọ hưởng lạc thú
với nàng. Hai người đâm ra say mê nhau, và bí mật trốn khỏi
nhà chạy sang một xứ khác, không ai biết họ đi đâu và
đường đi của họ chẳng khác nào đường của con tàu trên
biển cả.
Vua
truyền đánh trống thông báo khắp kinh thành, nhưng dù đã
tìm mọi nơi, họ vẫn không thấy nàng đã đến đâu cả.
Sau đó nỗi đau buồn khủng khiếp vì thiếu nàng xâm chiếm
trọn tâm can vua. Tim ông bừng nóng rực và trào máu ra ngoài!
Tiếp theo đó, máu từ ruột gan chảy ra khiến bệnh trầm
trọng thêm. Các ngự y tài danh đều không thể chữa trị
được đành bó tay.
Bồ-tát
suy nghĩ: "Bệnh này không phải do nội thân vua, mà do vua mắc
tương tư vì không thấy hoàng hậu. Ta thử dùng vài phương
cách chữa trị xem sao. "Ngài liền gọi hai quốc sư hiền trí
của vua là Àyura và Pukkusa vào bảo:
- Ðức
vua không có bệnh gì, ngoại trừ tâm bệnh chỉ vì ngài không
thấy hoàng hậu đó thôi. Giờ đây ngài là bậc cứu hộ
cao cả đối với thần dân. Ta quyết tìm mọi cách trị bệnh
ngài. Ta muốn triệu tập một đám quần chúng vào sân chầu
và bảo một người biết xảo thuật nuốt lưỡi kiếm sắc
biểu diễn việc này. Ta sẽ đưa Hoàng thượng ra cửa sổ
nhìn xuống đám đông. Ngài sẽ nhìn người nuốt lưỡi kiếm
và hỏi: "Có việc gì khó hơn thế chăng?". Lúc ấy, này Tôn
giả Àyura, xin hãy đáp: "Nói: Ta sẽ từ bỏ vật này vật
kia, còn khó hơn nữa". Sau đó ngài sẽ hỏi Tôn giả Pukkusa,
và Tôn giả cần phải trả lời: Tâu Ðại vương, nếu một
người nói: "Ta từ bỏ vật này vật kia", rồi lại không
bỏ nó được, thì lời nói đó sẽ vô ích thôi. Không ai
sống hay uống ăn bằng những lời như vậy, nhưng người
nào hành động theo lời nói và đem cho một vật đúng theo
lời hứa thì chính họ làm được một việc khó hơn việc
kia nữa đấy". Sau đó ta sẽ tìm cách tiến hành mọi sự
tiếp theo.
Thế
là ngài bảo tập họp một đám đông. Rồi ba bậc trí nhân
ấy vào trình vua:
- Tâu
Ðại vương, có đám đông trong sân chầu. Nếu ai nhìn xuống
đó đổi sầu làm vui. Vậy xin Ðại vương hãy cùng chúng
thần đến đó xem sao.
Ba
vị rước vua đến hé mở cửa sổ cho vua nhìn thấy đám
đông. Nhiều người lần lượt biểu diễn các xảo thuật
mà mình biết. Sau cùng có một người nuốt lưỡi kiếm sắc
cạnh dài ba mươi ba phân (33 phân Anh: khoảng 80 cm).
Vua
thấy vậy suy nghĩ: "Người này đang nuốt lưỡi kiếm, ta
muốn hỏi các bậc trí nhân này xem có việc gì khó hơn không?"
Rồi
vua ngâm vần kệ đầu hỏi Àyura:
1.
Bảo kiếm Da-san thích máu hồng,
Cạnh
đều sắc nhọn thật hoàn toàn,
Giữa
đông người, nó ăn thanh kiếm,
Chẳng
có việc nào khó nữa chăng?
Ta
hỏi có gì đem sánh được
Nhờ
khanh giải đáp, hởi hiền nhân.
Àyura
ngâm vần kệ thứ hai đáp lời:
2.
Lòng tham dụ kẻ nuốt thanh gươm,
Cho
dẫu lưỡi gươm bén thập toàn,
Song
nói: "Ta cho, lòng tự nguyện"
Là
điều khó thực hiện vô cùng,
Mọi
điều gì khác đều không khó,
Ðại
đế Kiệt-đà, tôi giải phân.
Khi
vua nghe lời Àyura, ông liền suy nghĩ: "Thế thì bảo: "Ta cho
vật này" còn khó hơn nuốt thanh kiếm. Vậy ta đã nói: "Ta
ban hoàng hậu cho con trai tế sư", tức là ta đã làm một việc
rất khó". Nhờ thế nỗi đau buồn trong tâm vua lắng dịu
được một chút. Rồi suy nghĩ: "Có gì khó hơn nói: "Ta cho
người khác vật này" chăng?", ông lại ngâm vần kệ thứ
ba nói chuyện với Trí giả Pukkusa:
3.
Ày-ra đã giải đáp lời ta,
Trí
tuệ cao siêu quả thật là,
Ta
hỏi giờ đây câu nữa nhé:
Còn
gì khó nữa hỡi, Pusk-sa,
Nếu
đem so sánh điều trên ấy,
Hiền
giả, xin mời giải đáp ta.
Trí
giả Pukkusa ngâm vần kệ thứ tư đáp lại:
4.
Người ta không sống được bằng lời,
Lời
nói thốt ra uổng phí thôi,
Song
nếu đem cho không tiếc nuối,
Việc
này còn khó bội hơn rồi.
Mọi
điều gì khác đều không khó,
Ðại
đế, đây lời đáp của tôi.
Vua
nghe vầy, suy nghĩ: "Trước tiên ta nói: "Ta sẽ đem hoàng hậu
ban cho con trai tế sư", rồi ta đã làm theo lời hứa và đem
cho nàng. Hiển nhiên ta đã làm một việc rất khó". Do vậy,
nỗi sầu của vua giảm bớt phần nào. Rồi ông chợt nghĩ:
"Không có ai thông thái hơn Trí giả Senaka. Ta muốn hỏi vị
ấy câu này".
Ông
liền ngâm vần kệ thứ năm hỏi ngài:
5.
Puk-sa đã giải đáp lời ta,
Trí
tuệ cao siêu quả thật là.
Ta
hỏi giờ đây câu nữa nhé:
Còn
gì khó nữa, hỡi Sen-ka,
Nếu
đem so sánh điều trên ấy,
Hiền
giả xin mời giải đáp ta.
Senaka
ngâm vần kệ thứ sáu đáp lời vua:
6.
Nếu người có của đã đem cho
Bất
luận là gì, dẫu nhỏ to,
Ðừng
tiếc nuối sau khi bố thí,
Việc
này quả thật khó hơn mà,
Mọi
điều gì khác đều không khó,
Xin
đáp Ðại vương Ma-kiệt-đà.
Vua
nghe lời Bồ-tát, lại suy nghĩ: "Ta đã đem hoàng hậu ban cho
con trai tế sư do ta tự nguyện, nay ta lại không kiềm nỗi
ưu tư, ta sinh phiền não, héo mòn: thật không xứng đáng với
ta. Nếu nàng thương yêu ta thì nàng đã không bỏ vương quốc
mà chạy trốn như vậy. Ta còn phải liên hệ gì với nàng
đã không yêu thương ta và bỏ trốn đi?".
Trong
lúc vua suy nghĩ như vậy, mọi sầu não đều rơi rụng hết
như giọt nước đổ trên lá sen, lập tức tâm vua được
bình an. Ông hồi phục sức khỏe và an lạc ngâm vần kệ
cuối cùng tán thán Bồ-tát:
7.
Ày-ra giải đáp lời ta,
Thế
rồi Hiền giả Puk-sa cũng vầy,
Lời
Sen-ka quả thật hay,
Trong
ba lời giải lời này tối ưu.
Sau
khi tán thán, vua hoan hỷ ban thưởng ngài nhiều vàng bạc châu
báu.
*
Khi
pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các sự
thật. Khi các sự thật kết thúc, vị Tỷ-kheo thối thất
đã được an trú vào Sơ quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy, hoàng hậu là người vợ cũ, vua là là Tỷ-kheo thối
thất, Àyura là Moggallàna, Pukkusa là Sàriputta và Hiền giả
Senaka chính là Ta.
-ooOoo-
402.
Chuyện Túi Da Đựng Bánh (Tiền thân Sattubhasta)
Tâm
tư lão rối loạn, ưu phiền...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về sự
Viên mãn của Trí tuệ Tối thắng. Hoàn cảnh chuyện này sẽ
xuất hiện trong tiền thân Mahà-Ummagga, số 546.
*
Ngày
xưa có vị vua tên là Janaka trị vì ở Ba-la-nại. Thời ấy
Bồ-tát được sinh vào một gia đình Bà-la-môn, cha mẹ đặt
tên ngài là nam tử Senaka. Khi lớn lên, ngài theo học các nghệ
thuật tại Takkasilà rồi trở về Ba-la-nại yết kiến vua.
Vua phong cho ngài chức vụ đại thần và ban cho ngài đại
vinh hiển.
Ngài
dạy vua về thế sự lẫn thánh sự. Là người thuyết Pháp
khả ái, ngài an trú vua vào Ngũ giới, bố thí và hành trì
trai giới và Thập thiện đạo, như vậy tức là an trú vua
vào chánh hạnh. Toàn quốc độ được ở cảnh như thời
có chư Phật xuất hiện. Vào các ngày trai giới nửa tháng
một lần, nhà vua, các phó vương, cận thần đều tụ tập
và trang hoàng phòng họp.
Bồ-tát
thuyết Pháp trong một giảng đường tôn nghiêm trên bảo tọa
bọc da nai, với uy lực của một vị Phật, lời ngài dạy
chẳng khác gì lời dạy của chư Phật.
Thời
ấy có một Bà-la-môn già nua, xin tiền bố thí được một
ngàn đồng, để dành trong một gia đình Bà-la-môn, rồi lại
làm hành khất thêm nữa. Khi ông ra đi, gia đình nọ tiêu hết
cả tiền. Sau đó ông trở lại đòi số tiền. Vì gia chủ
không có tiền trả, nên gả con gái cho ông làm vợ. Vị Bà-la-môn
già đem nàng về cư ngụ trong một làng Bà-la-môn không xa
Ba-la-nại. Vì cô vợ còn trẻ nên không thỏa mãn- tham dục
và phạm tà hạnh với một Bà-la-môn trẻ.
Ở
đời có mười sáu việc không thể nào thỏa mãn. Ðó là
mười sáu việc gì? - Biển không thỏa mãn với các dòng sông,
lửa không thỏa mãn với nhiên liệu, vua không thỏa mãn với
quốc độ, kẻ ngu không thỏa mãn với ác nghiệp, nữ nhân
không thỏa mãn với ba việc ân ái, nữ trang và sinh con, Bà-la-môn
không thỏa mãn với thánh kinh, bậc trí không thỏa mãn với
Thiền định, bậc hữu học không thỏa mãn với danh vọng,
người ly tham không thỏa mãn với khổ hạnh, người tinh tấn
không thỏa mãn với nỗ lực, người hay nói không thỏa mãn
với chuyện trò, nhà chính trị không thỏa mãn với hội nghị,
người mộ đạo không thỏa mãn với việc phục vụ Giáo
hội, người thích bố thí không thỏa mãn với việc bố thí,
người đa văn không thỏa mãn với việc nghe Pháp, tứ chúng
không thỏa mãn với việc yết kiến đức Phật.
Vì
thế nữ nhân Bà-la-môn này không thỏa mãn việc ân ái, muốn
đẩy chồng đi xa và phạm tà dục một cách táo bạo. Một
ngày kia, cô ả nằm dài theo gian kế đã dự trù. Khi ông chồng
hỏi:
- Nàng
ơi, nàng làm sao thế?
Cô
ả đáp:
- Chàng
Bà-la-môn ơi, thiếp không thể làm việc nhà chàng được
nữa, phải kiếm một nữ tỳ.
- Nàng
ơi, ta không có tiền, vậy ta sẽ lấy gì để mua nữ tỳ
chứ?
- Chàng
hãy làm hành khất kiếm tiền mà thuê nữ tỳ.
- Thế
nàng hãy sắp đặt vài vật để ta lên đường.
Cô
ả đặt vào túi da đủ các thứ bột bánh đã nướng và
chưa nướng xong trao cho lão. Lão Bà-la-môn đi qua mọi thôn
làng thành thị, kiếm được bảy trăm đồng, nghĩ thầm:
"Số tiền này đủ để mua gia nô nữ tỳ rồi", lão liền
trở về làng.
Ðến
một địa điểm thuận tiện, để uống nước, lão mở túi
xách ăn một ít bánh nướng, rồi đi uống nước mà không
buộc miệng túi. Lúc ấy một con rắn hổ trong thân cây rỗng,
ngửi mùi bánh bò vào túi nằm cuộn tròn ăn bánh. Lão trở
lại, không nhìn vào túi, cứ buộc túi lại và vác lên vai
ra đi.
Lúc
ấy một vị Thần cây ngồi trên bộng thân cây ấy đến
bảo cho lão biết trên đường đi:
- Này
Bà-la-môn, nếu lão dừng lại trên đường, lão sẽ chết;
còn nếu lão về nhà thì vợ lão sẽ chết đấy.
Xong
vị thần biến mất. Lão nhìn quanh, không thấy vị thần nên
lòng kinh hoảng vì sợ chết, vừa đi đến cổng thành Ba-la-nại
vừa khóc than.
Hôm
ấy vào ngày rằm trai giới, ngày Bồ-tát thuyết Pháp, đang
ngồi trên bảo tọa trang nghiêm và một đám đông đem hương
hoa đủ loại đến từng đoàn nghe thuyết Pháp. Lão Bà-la-môn
hỏi:
- Các
người đi đâu thế?
Họ
đáp:
- Này
lão Bà-la-môn, hôm nay bậc Trí giả Senaka thuyết Pháp với
giọng êm dịu và oai lực của một vị Phật. Lão không biết
ư?
Lão
suy nghĩ: "Họ bảo ngài là một bậc thuyết Pháp hiền trí,
còn ta đang lo âu sợ chết, các bậc trí có khả năng diệt
trừ các đại phiền não, vậy ta nên đến đó nghe Pháp".
Vì
thế lão cùng đi với họ; khi quần chúng và vua đã ngồi
chung quanh Bồ-tát, lão đứng bên ngoài, không xa pháp tọa,
với túi thức ăn trên vai và lòng sợ chết. Bồ-tát thuyết
giảng chẳng khác nào ngài đang đưa cả dải thiên hà xuống
trần giới hay đổ trận mưa đầy thực phẩm thiên giới
cho đời.
Quần
chúng vô cùng hoan hỷ tán thưởng, lắng tai nghe Pháp. Các
bậc trí thường nhìn xa thấy rộng. Vào lúc ấy Bồ-tát mở
đôi mắt có đủ năm vẻ đẹp nhìn khắp Hội chúng, thấy
vị Bà-la-môn, liền nghĩ: "Cả Hội chúng đông đảo này tràn
ngập hân hoan nghe Pháp và tán thưởng, chỉ trừ một Bà-la-môn
ủ rũ khóc lóc. Chắc hẳn phải có nỗi sầu tư nào trong
lòng khiến lão tuôn lệ. Cũng giống như tẩy rỉ sét với
chất chua, hay làm một giọt nước rơi khỏi lá sen, ta sẽ
thuyết Pháp cho lão giải sầu và an vui tâm trí". Vì thế ngài
gọi lão:
- Này
lão Bà-la-môn, ta là trí giả Senaka, nay ta muốn giải mối
sầu cho lão, hãy bạo dạn nói ra đi.
Ngài
ngâm vần kệ đầu hỏi lão:
1.
Tâm tư lão rối loạn, ưu phiền,
Nước
mắt chảy là cớ hiển nhiên,
Lão
mất gì, vào đây muốn kiếm
Thứ
gì? Hãy nói rõ ngay liền.
Sau
đó, Bà-la-môn ngâm vần kệ bày tỏ duyên cớ nỗi sầu:
2.
Vợ chết, nếu tôi trở lại nhà,
Còn
không, tôi sẽ hóa ra ma,
Ðiều
này làm trái tim đau nhói,
Xin
giải vấn đề, hỡi Sen-ka.
Nghe
vị Bà-la-môn nói, Bồ-tát bủa giăng tấm lưới tri kiến
như ném lưới vào biển cả, và suy nghĩ: "Có nhiều nguyên
nhân gây tử vong ở đời này: một số chết chìm ngoài biển,
hoặc bị loài cá dữ ăn thịt, một số rơi xuống sông Hằng,
hay bị cá sấu vồ, một số khác rơi từ cây xuống hay bị
gai nhọn đâm, một số bị khí giới loại đánh vào người,
một số khác ăn nhằm chất độc, bị treo cổ hay rớt xuống
vực sâu, chết cóng vì giá buốt, hay các loại bệnh tấn
công. Nay giữa mọi duyên cớ ấy, lão Bà-la-môn này phải
chết vì cớ nào nếu lão ở nán lại trên đường đi hôm
nay, hoặc vợ lão phải chết nếu lão về nhà?".
Trong
lúc suy xét, ngài thấy cái túi trên vai lão và nghĩ: "Chắc
hẳn có con rắn chui vào túi, có lẽ vì nó đã nghe mùi bánh
khi lão ăn sáng và đi uống nước mà quên buộc miệng túi
xách. Sau khi uống nước xong, lão Bà-la-môn trở lại và có
lẽ đã tiếp tục lên đường sau khi buộc túi và cầm túi
lên mà không thấy con rắn bò vào. Nếu lão ở nán lại trên
đường, đến tối lão sẽ tự nhủ lúc dừng chân: "Ta muốn
ăn bánh". Rồi mở túi ra, lão sẽ đặt tay vào, con rắn sẽ
cắn tay lão gây tử vong. Ðây chính là nguyên nhân lão sẽ
chết nếu ở lại trên đường. Nhưng nếu lão về nhà, túi
ấy sẽ đến tay vợ lão, bà ta sẽ nói: "Ta muốn xem đồ
đạc bên trong", rồi bà ta mở túi ra và đặt tay vào, con
rắn sẽ cắn bà ta bỏ mạng. Ðây chính là nguyên nhân vợ
lão chết nếu lão về nhà hôm nay". Ngài biết được điều
này do trí của ngài tinh xảo về mọi phương tiện.
Lúc
ấy ngài lại suy nghĩ: "Ðây chắc hẳn là con rắn hổ đen,
táo bạo, không hề biết sợ, nên khi cái túi da đập vào
sườn lão Bà-la-môn, nó chẳng nhúc nhích hay run rẩy gì cả.
Nó cũng không tỏ dấu hiệu là nó đang có mặt tại Hội
chúng đông đảo này, do đó nó phải là con rắn hổ đen bạo
dạn, không biết sợ".
Từ
tri kiến tinh xảo các phương tiện, ngài biết điều này như
thể ngài chứng kiến với thiên nhãn. Như vậy Ngài chẳng
khác nào một người đứng gần đó nhìn con rắn bò vào túi,
rồi quyết định sự việc bằng trí kiến tinh xảo của ngài.
Bồ-tát ngâm vần kệ thứ ba đáp câu hỏi của vị Bà-la-môn
ngay giữa hội chúng triều đình:
3.
Suy xét mọi nghi hoặc trước tiên,
Nay
ta tuyên bố sự đương nhiên:
La-môn,
trong túi đồ ăn ấy
Ðã
lẻn chui vào rắn hổ đen!
Nói
vậy xong, Ngài hỏi:
- Này
lão Bà-la-môn, có thứ bánh nào trong túi xách của lão chăng?
- Thưa
Trí giả, có.
- Thế
lão có ăn bánh lúc điểm tâm sáng nay chăng?
- Thưa
Trí giả, có.
- Thế
lão đã ngồi đâu?
- Ở
trong rừng, dưới một gốc cây.
- Thế
khi lão ăn bánh xong và đi uống nước, lão có buộc miệng
túi lại hay không?
- Thưa
Trí giả, tôi không buộc.
- Khi
lão đã uống nước và trở về, lão có buộc miệng túi sau
khi nhìn vào trong không?
- Thưa
Trí giả, tôi buộc miệng túi mà không nhìn vào trong.
- Này
lão Bà-la-môn, khi lão đi uống nước, ta chắc là con rắn
đã lẻn vào túi do ngửi mùi bánh mà lão không biết: đấy
là trường hợp này. Vậy lão mau đặt túi xuống, để ngay
giữa Hội chúng và mở miệng túi ra. Lấy gậy đập vào túi,
rồi lão sẽ thấy con rắn hổ đen bò ra với chiếc mào giương
rộng và rít lên. Lão sẽ hết hồ nghi. Ngài lại ngâm vần
kệ thứ tư:
4.
Cầm gậy đập lên chiếc túi dày,
Im
hơi, hai lưỡi chính con này,
Trí
ông hết rối vì nghi hoặc,
Mở
túi, rồi ông thấy rắn ngay!
Vị
Bà-la-môn làm theo lời Bồ-tát bảo, mặc dù lão hết sức
kinh hoàng chấn động. Con rắn bò ra khỏi túi khi đầu nó
bị chiếc gậy đánh trúng, và nó dừng lại nhìn mọi người.
*
Bậc
Ðạo Sư ngâm vần kệ thứ năm giải thích vấn đề:
5.
Kinh hãi, lão ra giữa đám đông,
Mở
dây chiếc túi đựng đồ ăn,
Một
con rắn hổ bò hung dữ,
Kiêu
hãnh giương cao cả chiếc mồng!
Khi
con rắn bò ra với chiếc mồng giương cao, đó là điềm báo
hiệu Bồ-tát sẽ là vị Phật Chánh Ðẳng Giác. Ðám đông
bắt đầu vẫy khăn và búng tay hàng ngàn người, bảy báu
vật được ném tung ra như thể mưa rào, hàng ngàn tiếng hô:
"Tốt lành thay!" vang dậy, ồn ào như đất lỡ.
Lời
giải đáp một câu hỏi như vậy do uy lực của một bậc
Giác Ngộ chứ không phải nhờ nguồn gốc sinh trưởng, cũng
không phải uy lực của người giàu sang danh vọng. Vậy đó
là uy lực gì?- Chính là uy lực của tri kiến. Người có tri
kiến làm trí tuệ tăng trưởng, mở rộng cánh cửa đi vào
các Thánh đạo, chứng đắc Niết-bàn bất tử tối thượng
và thành tựu viên mãn các quả vị Thanh văn, Ðộc giác và
Chánh Ðẳng Giác: Tri kiến là điều tối thắng giữa các
đức tính đưa đến Niết-bàn bất tử tối thượng. Mọi
thành phần khác đều là phụ thuộc.
Do
vậy có câu tục ngữ:
6.
Người thiện bảo tri kiến tối ưu
Như
trăng đi giữa các vì sao,
Tiền
tài, đức hạnh, lòng công chánh,
Là
các nô tỳ bậc trí cao.
*
Khi
câu hỏi đã được Bồ-tát giải đáp xong, một người nhử
rắn làm một chiếc khăn bịt miệng rắn rồi đến chụp
lấy nó và đem thả vào rừng.
Vị
Bà-la-môn đi đến yết kiến vua, kính chào xong, lại ngâm
nửa vần kệ tán tụng vua:
7.
Chúa thượng Jan-ka, lợi lạc thay,
Ðại
vương có bậc trí nhân này.
Sau
khi ca tụng vua, lão cầm bảy trăm đồng tiền trong túi ra,
vừa tán thán Bồ-tát, vừa ngâm một vần kệ rưởi bày tỏ
ước muốn bố thí trong niềm hoan hỷ:
Trí
ngài đáng sợ, hồ nghi biến,
Trước
mắt ngài nhìn thấu suốt ngay.
8.
Này đây có cả bảy trăm đồng,
Xin
nhận lấy ngay vật hiến dâng,
Vì
chính nhờ ngài, tôi được sống
Cùng
nguồn an lạc của thân nhân.
Nghe
vầy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ chín:
9.
Bậc trí không dùng vật cúng dâng
Chỉ
vì các khúc kệ ca ngâm,
Tốt
hơn, ta tặng luôn tiền ấy
Trước
lúc lão về lại cố hương.
Nói
vậy xong, Bồ-tát đưa trọn số tiền trả lại vị Bà-la-môn
và hỏi:
- Ai
bảo lão đi kiếm số tiền này?
- Thưa
Trí giả, chính tiện nội.
- Thế
hiền nội già hay trẻ?
- Thưa
Trí giả, tiện nội còn trẻ.
- Thế
thì cô ả đang phạm tà hạnh với kẻ khác, nên đã bảo
lão đi xa vì nghĩ cần phải hành động như thế cho an toàn.
Nếu lão đem số tiền này về nhà, cô ả sẽ đem cho tình
nhân số tiền do lão khổ công kiếm được. Vậy lão không
nên về nhà ngay, mà phải để số tiền ngoài thành phố,
dưới gốc cây đâu đó.
Nói
xong ngài bảo lão ra đi.
Khi
lão đến gần làng, lão chôn tiền vào một gốc cây, và về
đến nhà lúc chiều tối. Lúc ấy vợ lão đang ngồi với
tình nhân. Vị Bà-la-môn đứng ở cửa gọi to:
- Nàng
ôi!.
Cô
ả nhận ra tiếng lão, vội tắt đèn và ra mở cửa. Khi lão
đã vào trong, cô ả dẫn kẻ kia ra cửa, rồi trở vào nhà,
chẳng thấy món gì trong túi, liền hỏi:
- Này
chàng Bà-la-môn, chàng kiếm được của bố thí gì trên đường
đi thế?
- Một
ngàn đồng tiền.
- Thế
tiền đâu rồi?
- Nó
được chôn ở chốn nọ, nhưng đừng lo, ngày mai ta sẽ đi
lấy nó.
Cô
ả liền đi báo cho tình nhân biết. Hắn đến đó lấy tiền
ngay như thể tài sản của hắn vậy. Hôm sau, vị Bà-la-môn
đến nhưng không thấy tiền đâu, liền đi tìm Bồ-tát, ngài
hỏi:
- Này
lão Bà-la-môn, có việc gì thế?
- Thưa
Trí giả, tôi không thấy tiền đâu cả.
- Thế
lão có nói cho vợ biết chăng?
- Thưa
Trí giả, có.
Biết
là cô vợ đã báo cho tình nhân rõ, Bồ-tát bảo:
- Này
lão Bà-la-môn, thế có vị Bà-la-môn nào là bạn của vợ
lão không?
- Thưa
Trí giả, có.
Lúc
ấy bậc Ðại Sĩ truyền người đem đến một số tiền đủ
chi phí trong bảy ngày để cho lão và dặn:
- Hãy
ra về, và hai vợ chồng lão hãy đãi tiệc mời mười bốn
vị Bà-la-môn đầu tiên, gồm bảy người bạn lão và bảy
người bạn của vợ lão. Rồi từ đó về sau cứ mỗi ngày
bớt một vị khách cho đến ngày thứ bảy, lão chỉ mời
một Bà-la-môn và vợ lão mời một. Khi ấy nếu lão thấy
vị Bà-la-môn được vợ lão mời vào ngày thứ bảy ấy đã
đến các lần trước, thì hãy báo cho ta.
Lão
Bà-la-môn làm theo lời ngài, rồi đến trình Bồ-tát:
- Thưa
Trí giả, tôi đã nhận thấy vị Bà-la-môn luôn luôn đến
làm thực khách của nhà tôi.
Bồ-tát
sai người đi theo lão, đem vị Bà-la-môn ấy đến và hỏi:
- Có
phải anh lấy một ngàn đồng tiền của lão này dấu ở dưới
gốc cây nọ chăng?
- Thưa
Trí giả, tôi không lấy.
- Thế
anh biết ta là Trí giả Senaka ư? Ta muốn bảo anh đem số tiền
ấy về đây.
Hắn
sợ hãi thú nhận:
- Tôi
đã lấy số tiền ấy.
- Thế
anh đã làm gì?
- Thưa
Trí giả, tôi cất ở chỗ nọ.
Bồ-tát
lại hỏi vị Bà-la-môn già kia:
- Này
lão Bà-la-môn, lão muốn giữ vợ lại hay lấy vợ khác?
- Thưa
Trí giả, cho lão được phép giữ vợ lại.
Bồ-tát
sai người đi lấy số tiền và đem cô vợ lão đến, trao
số tiền từ tay kẻ trộm ấy lại cho lão Bà-la-môn, rồi
ngài trừng phạt kẻ trộm, đuổi hắn ra khỏi tỉnh và trừng
phạt luôn cô vợ. Về sau ngài ban lão Bà-la-môn đại vinh
dự bằng cách cho phép lão sống ở gần ngài.
*
Khi
Pháp thoại chấm dứt, Bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các Sự
Thật. Lúc kết thúc các Sự Thật, nhiều Tỷ-kheo đạt Sơ
quả (Dự Lưu).
Rồi
Ngài nhận diện tiền thân:
- Thời
ấy vị Bà-la-môn là Ànanda, vị Thần cây là Sàriputta, hội
chúng là Tăng chúng của đức Phật và Trí giả Senaka chính
là Ta.
-ooOoo-
403.
Chuyện Trí Giả Atthisena (Tiền thân Atthisena)
At-thi,
lắm kẻ đến mong cầu...,
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại đền Aggàlava gần
Àlavi, về các điều lệ xây tịnh thất.
Hoàn
cảnh đã được nêu trong tiền thân Manikantha số 253. Bậc
Ðạo Sư bảo Tăng chúng:
- Này
các Tỷ-kheo, ngày xưa trước khi đức Phật ra đời, các ẩn
sĩ ngoại đạo dù được vua ban đặc ân, cũng không bao giờ
cầu xin điều gì cả, vì thấy rằng cầu xin kẻ khác không
đem lại an lạc thư thái.
Nói
vậy xong Ngài kể câu chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát được
sinh vào một gia đình Bà-la-môn và được đặt tên là Nam
tử Atthisena. Khi lớn lên, ngài học các nghệ thuật ở Takkasilà,
và về sau, nhận thấy nỗi đau khổ của tham dục, ngài xuất
gia tu tập và thành đạt các Thắng trí cùng các Thiền chứng,
ngài sống ở vùng Tuyết Sơn. Sau đó xuống vùng dân cư tìm
muối và dấm, ngài đến Ba-la-nại. Sau khi ở trong một lâm
viên, hôm sau ngài đi khất thực tại cung đình.
Vua
hài lòng trước phong cách oai nghi của ngài, liền cho người
mời ngài vào, đặt ngài ngồi lên sàng tọa trên sân thượng
và cúng dường thực phẩm. Khi ngài nói lời tùy hỷ công
đức, vua rất hân hoan, và nhận được lời ngài hứa hẹn
cư ngụ trong ngự viên, vua đến tham kiến Bồ-tát mỗi ngày
hai ba lần. Một hôm vua hoan hỷ nghe ngài thuyết Pháp xong,
liền ban cho ngài một điều ước:
- Xin
ngài hãy nói cho trẫm biết bất cứ điều gì ngài ước nguyện,
từ quốc độ của trẫm trở xuống.
Bồ-tát
không đáp: "Hãy cho ta vật này vật nọ", nhiều kẻ khác đòi
hỏi những vật nào họ mong ước, thường bảo: "Cho tôi vật
này", và vua ban vật đó, nếu không ham thích nó nữa.
Một
hôm vua suy nghĩ: "Nhiều người mong cầu đặc ân hoặc các
khất sĩ thường xin ta vật này vật nọ, nhưng Hiền giả
Atthisena cao quý này, từ khi ta ban điều ước, vẫn không xin
gì cả. Ngài thật là bậc có trí tuệ và thiện xảo các
phương tiện. Ta muốn hỏi ngài".
Thế
rồi, một hôm sau buổi điểm tâm, nhà vua ngồi một bên,
hỏi ngài lý do vì sao nhiều người khác cầu xin ân huệ còn
ngài thì không, và vua ngâm vần kệ đầu:
1.
At-thi, lắm kẻ đến mong cầu,
Cho
dẫu họ xa lạ biết bao,
Lũ
lượt xin ta ban thỉnh nguyện,
Còn
ngài, không ước vọng, vì sao?
Nghe
vầy, Bồ-tát ngâm vần kệ thứ hai:
2.
Hai kẻ cầu ân, hoặc chối từ,
Thảy
đều không đẹp ý bao giờ,
Ðấy
là duyên cớ, xin đừng giận,
Khiến
tiểu thần không thỉnh nguyện vua.
Nghe
lời ngài, vua ngâm tiếp ba vần kệ nữa:
3.
Người nào kiếm sống khẩn cầu hoài,
Chẳng
đến cầu ân lúc hợp thời,
Làm
kẻ khác suy tàn đức độ,
Chính
mình chẳng có kế sinh nhai.
4.
Người nào kiếm sống, khẩn cầu hoài,
Thường
đến cầu ân lúc hợp thời,
Làm
kẻ khác tăng dần đức độ,
Chính
mình cũng được kế sinh nhai.
5.
Bậc có trí không thấy hận sân,
Khi
người lũ lượt đến cầu ân,
Nói
đi, Thánh giả là thân hữu,
Ðiều
ước ngài không thể lỗi lầm.
Như
vậy, dù được ban tặng cả vương quốc, Bồ-tát cũng không
cầu mong gì. Khi nguyện vọng của nhà vua đã được phát
biểu như vậy, Bồ-tát liền bày tỏ đường lối của ẩn
sĩ:
- Thưa
Ðại vương, người thế tục và gia chủ thường thích thỉnh
nguyện, chứ không phải người xuất thế, vì từ khi phát
nguyện xuất gia, ẩn sĩ phải sống đời thanh tịnh khác với
gia chủ. Rồi ngài ngâm vần kệ thứ sáu bày tỏ nếp sống
ẩn sĩ:
6.
Bậc trí không hề thỉnh nguyện đâu,
Thế
nhân phải biết rõ như sau:
Trí
nhân thỉnh nguyện ngồi im lặng,
Như
thế là người trí thỉnh cầu.
Vua
nghe lời Bồ-tát liền nói:
- Bạch
Tôn giả, nếu một người phục vụ có trí tự nguyện cống
hiến thân hữu mình những gì cần được cống hiến, thì
trẫm xin tặng Tôn giả những vật như vầy:
7.
Ngàn bò trẫm tặng Bà-la-môn,
Bó
đỏ, thêm người hướng dẫn đường,
Nghe
các nghiệp