CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (III) Jàtaka
Chương
IV (tiếp theo)
338.
Chuyện Vỏ Trấu (Tiền thân Thusa)
Giác
quan nhạy, chuột kia tinh xảo...,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể khi Ngài trú tại Trúc Lâm về thái
tử Ajàtasattu (A-xà-thế).
Trong
thời gian mang thai thái tử, con gái vua Kosala thường xuyên
thèm khát uống máu ở đầu gối của chồng bà là vua Bimbisàra
(Tàn-bà-sa-la). Bị các phu nhân hầu cận hỏi, bà kể rõ sự
việc ấy cho họ nghe. Vua cũng nghe được, liền gọi các chiêm
tinh gia của ngài đến và nói:
- Hoàng
hậu bị ám ảnh bởi nỗi khát khao như thế, như thế. Kết
quả sẽ ra sao?
Họ
đáp:
- Ðứa
bé nằm trong bào thai sẽ giết ngài và chiếm lấy vương quốc
của ngài.
Vua
nói:
- Nếu
con trai có giết ta và chiếm vương quốc của ta thì đâu có
tai hại gì?
Rồi
ngài lấy gươm khoét đầu gối bên phải của ngài cho máu
chảy vào trong một cái dĩa bằng vàng và trao cho hoàng hậu
uống. Bà tự nghĩ: "Nếu đứa con trai do ta sinh ra sẽ giết
cha nó thì làm sao ta yêu thương nó được?" Thế là bà muốn
trục thai ra. Vua nghe được liền gọi bà đến hỏi:
- Này
ái hậu, họ nói rằng con trai ta sẽ giết ta và chiếm lấy
vương quốc của ta. Nhưng ta đâu có thoát được tuổi già
và cái chết? Hãy chịu cho ta thấy mặt con ta. Từ nay, đừng
làm như thế nữa.
Thế
nhưng hoàng hậu vẫn đi vào vườn cây mà làm như trước.
Vua nghe liền cấm hoàng hậu vào vườn. Khi đủ ngày đủ
tháng, bà sinh ra một đứa con trai. Vào ngày lễ đặt tên,
vì đứa bé đã là kẻ thù của cha nó từ khi chưa ra đời
nên nó được đặt tên là A-xà-thế. Nó lớn lên giữa cuộc
sống vương giả.
Một
hôm, bậc Ðạo Sư cùng với năm trăm Tỷ-Kheo đến cung điện
vua và ngồi xuống. Chúng Tỷ-Kheo cùng đức Phật được vua
đãi thức ăn ngon, gồm cả loại cứng và loại mềm. Sau khi
đảnh lễ bậc Ðạo sư, vua ngồi xuống nghe Ngài thuyết pháp.
Bấy giờ thái tử bé bỏng kia được ăn mặc đẹp đẽ và
được mang đến cho vua. Vua bày tỏ tình cảm nồng nàn đón
tiếp đứa bé, đặt nó lên đùi, vuốt ve nó với tình thương
yêu tự nhiên của một người cha đối với con. Thế là vua
không còn nghe Pháp nữa. Bậc Ðạo sư thấy vua lơ đãng liền
bảo:
- Tâu
Ðại Vương, ngày xưa, khi các vị vua ngờ vực các con trai
của mình, đã bắt giữ riêng chúng ở một nơi kín đáo và
ra lệnh rằng khi nào họ chết đi thì chúng mới được mang
về và lên nối ngôi.
Rồi
do yêu cầu của vua, Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-Tát là
một giáo sư nổi tiếng ở Takkasilà, dạy các học nghệ cho
nhiều vương tử trẻ và nhiều con cái của các Bà-la-môn.
Bấy
giờ, con trai của vua Ba-la-nại lúc được mười sáu tuổi
đã đến học với ngài. Sau khi tinh thông ba tập Vệ-đà và
đủ mọi ngành văn học nghệ thuật, chàng từ giã thầy ra
về. Do đặc tài tiên tri, vị giáo sư nhìn chàng và nghĩ:
"Người này sẽ gặp nguy hiểm vì đứa con trai. Bằng thần
lực, ta sẽ giải thoát cho chàng thoát khỏi họa ấy".
Giáo
sư sáng tác bốn bài kệ, trao cho hoàng tử và dặn:
- Con
ơi, sau khi con lên ngôi vua, khi con trai của con lên mười sáu
tuổi, con hãy đọc bài kệ thứ hai trong buổi đại yến tiệc,
đọc bài thứ ba ngay đầu tầng trên cùng khi con lên mái điện
và đọc bài thứ tư ngay ở ngưỡng cửa lúc con vào vương
phòng.
Thái
tử rất hài lòng nghe lời thầy. Chàng từ giã giáo sư ra
đi.
Sau
một thời gian làm phó vương, khi vua cha mất, chàng lên nối
ngôi. Con trai của vua khi lên mười sáu tuổi, nhân lúc vua
đang dạo chơi trong vườn cây, nhận thấy cảnh cha mình cao
sang, quyền lực bèn tha thiết muốn giết vua để chiếm lấy
vương quốc của ngài. Chàng tỏ ý ấy cùng các quan hầu cận
mình. Họ bảo:
- Thưa
Ðiện hạ, đạt được quyền lực khi người ta đã già rồi
thì có tốt lành gì đâu? Bằng cách này hay cách nọ, ngài
phải giết đức vua để chiếm lấy vương quốc cho riêng
ngài.
Thái
tử nói:
- Ta
sẽ giết vua bằng cách bỏ thuốc độc vào thức ăn của
ngài.
Rồi
chàng lấy thuốc độc và ngồi ăn cơm tối với vua cha. Khi
cơm được dọn ra bát, vua đọc bài kệ đầu:
Giác
quan nhạy, chuột kia tinh xảo,
Trong
phần cơm, nhận thấu rõ ra:
Tránh
ăn nhiều vỏ trấu kia,
Lựa
cơm từng hạt để mà ăn thôi.
"Ta
bị lộ tẩy rồi", thái tử nghĩ thế và không dám bỏ thuốc
độc vào bát cơm. Chàng đứng dậy cúi mình chào vua và đi
ra. Chàng kể lại cho các vị hầu cận của chàng:
- Hôm
nay ta bị lộ rồi, ta sẽ làm sao mà giết vua đây?
Từ
đó, họ vào nằm ẩn trong vườn cây, bàn bạc thì thầm với
nhau:
- Còn
một cách nữa, trong buổi đại tiệc, ngài hãy mang gươm,
đứng lẫn giữa các quan, rồi khi thấy đức vua rời khỏi
cận vệ thì ngài phải lấy gươm đâm vua một phát và giết
chết vua.
Họ
sắp đặt nhứ thế, thái tử sẵn sàng chấp thuận. Trong
buổi đại tiệc, chàng mang gươm vào, xê dịch từ chỗ này
đến chỗ khác để tìm dịp mà đâm vua. Bấy giờ, vua đọc
bài kệ thứ hai:
Chuyện
bí mật ở trong rừng đó,
Chính
ta đây hiểu rõ còn chi!
Trong
làng, mưu định thầm thì,
Bao
nhiêu cũng đã rõ ghi tai này.
Thái
tử nghĩ: "Cha ta biết ta là kẻ địch của ngài rồi". Chàng
liền bỏ chạy và kể lại cho các vị cận thần nghe. Sau
một thời gian bảy, tám ngày, họ bảo:
- Thưa
Ðiện hạ, đó là ngài chỉ tưởng tượng ra trong trí ngài
như thế chứ cha ngài không biết ngài toan tính gì đâu. Hãy
giết đức vua đi.
Thế
rồi một hôm chàng cầm gươm đứng trong căn phòng của vua
ở trên cùng các bậc cầu thang. Vua đứng trên đầu cầu
thang đọc bài kệ thứ ba:
Con
khỉ nọ ra tay một bận,
Làm
những điều tán tận ác nguy.
Khi
con bé bỏng biết chi,
Sức
kia há đủ để bì được chăng?
Thái
tử nghĩ: "Cha ta muốn bắt ta". Quá sợ hãi, chàng phóng chạy
đi và kể lại cho đám người hầu cận là chàng đã bị
cha hăm dọa. Nửa tháng sau, họ lại bảo:
- Thưa
Ðiện hạ, nếu đức vua biết điều này, ngài đã không để
quá lâu như thế. Tất cả là do trí tưởng tượng của ngài
khởi ra đấy. Hãy giết vua đi.
Thế
là một hôm, chàng lại cầm gươm vào vương phòng ở trên
tầng cao của cung điện và chui nằm dưới giường, định
chờ vua đến mà giết ngay. Vua dùng cơm tối xong, đuổi người
hầu đi để vào phòng nằm. Khi ngang ngưỡng của phòng, ngài
đọc bài kệ thứ tư:
Ngươi
thận trọng trườn thân, giống với
Dê
chột kia, đồng cải lạc bầy,
Ngươi
đang ẩn nấp dưới đây.
Là
ai, ta cũng biết ngay cả rồi!
Thái
tử nghĩ: "Cha ta đã nhận ra ta rồi. Bây giờ ngài định sẽ
giết ta đây". Quá sợ hãi chàng chui ra khỏi giường, ném
gươm dưới chân vua và nói:
- Xin
phụ vương tha thứ cho con.
Và
chàng nằm mọp trước vua cha. Vua phán:
- Ngươi
tưởng rằng không ai biết ngươi toan tính gì ư?
Sau
khi quở trách thái tử, vua ra lệnh xích chàng lại, bỏ vào
ngục và cho người canh gác cẩn thận. Rồi vua suy tưởng
về các đức hạnh của Bồ-Tát. Về sau, ngài băng hà. Khi
người ta làm lễ an táng ngài xong, họ đưa thái tử ra khỏi
ngục và tôn lên làm vua.
*
Ðến
đây bậc Ðạo sư chấm dứt bài thuyết giảng và nói:
- Thế
đấy, tâu Ðại vương, các vua chúa ngày xưa đã nghi ngờ
trong những trường hợp nghi ngờ là đúng.
Và
Ngài nêu sự kiện này nhưng vua cũng không lưu ý đến lời
Ngài. Rồi bậc Ðạo sư nhận diện Tiền thân:
- Lúc
bấy giờ, vị giáo sư nổi danh ở Takkasilà chính là Ta.
-ooOoo-
339.
Chuyện Xứ Baverù (Tiền thân Bàveru)
Trước
khi Công có chỏm...,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể tại Kỳ Viên về một số ngoại
đạo sư mất các lợi dưỡng và vinh dự mà họ đã có. Các
ngoại đạo sư này vốn nhận được lợi dưỡng và cung tôn
nhưng đến khi đức Phật ra đời thì họ không còn được
như thế nữa. Họ trở nên giống như những con đom đóm giữa
lúc bình minh.
Các
Tỷ-Kheo bàn luận về số phận của họ trong Pháp đường.
Bậc Ðạo sư đến và hỏi các Tỷ-Kheo đang họp nhau bàn
tán vấn đề gì. Khi nghe họ thuật lại, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, không phải chỉ bây giờ mà xưa kia cũng thế,
trước khi những ngưới có đức hạnh xuất hiện, những
kẻ vô danh đạt được lợi dưỡng và cung tôn cao nhất;
nhưng đến khi những người có đức hạnh xuất hiện thì
những kẻ vô hạnh mất lợi dưỡng và cung tôn.
Rồi
Ngài kể một chuyện ngày xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-Tát sinh
ra là một con Công. Khi lớn lên, ngài rất xinh đẹp và sống
trong một khu rừng nọ. Bấy giờ có một số thương gia đến
Bàveru mang theo trên tàu một con quạ lạ. Vào thời ấy, không
có chim chóc nào ở Bàveru cả. Những người sinh trưởng ở
xứ Bàveru thỉnh thoảng đến và thấy con chim này đậu trên
chóp cột buồm. Họ bảo:
- Hãy
để ý đến màu da của con chim này. Hãy nhìn cái mồm ở
cuối cổ họng nó, đôi mắt giống như hai viên ngọc của
nó.
Họ
ca ngợi con Quạ như thế và nói với các thương gia ấy:
- Này
các ông, hãy cho chúng tôi con chim này đi. Chúng tôi cần nó,
các ông có thể kiếm được một con khác trong xứ các ông.
Các
thương gia bảo:
- Thế
thì hãy theo giá cả mà lấy nó đi.
Họ
bảo:
- Hãy
bán nó cho chúng tôi với giá một đồng nhé!
Các
thương gia trả lời:
- Chúng
tôi không bán nói với giá ấy đâu!
Rồi
cứ tăng dần giá tiền, những người kia bảo:
- Hãy
bán cho chúng tôi với giá một trăm đồng.
Các
thương gia nói:
- Con
chim này rất lợi ích cho chúng tôi, nhưng thôi hãy tạo tình
bằng hữu giữa chúng ta vậy.
Và
họ bán nó với giá một trăm đồng tiền.
Những
người dân địa phương ấy nhận lấy con Quạ và bỏ nó
vào trong một cái lồng vàng, cho nó ăn đủ thứ, cá, thịt,
trái cây rừng. Ở một nơi không có chim, một con quạ có
mười đặc tính xấu lại được lợi dưỡng và trọng vọng
cao nhất. Lần kế, những thương gia kia lại đến vương quốc
Bàveru họ mang theo một con Công chúa mà họ dạy nó kêu lên
khi họ búng ngón tay và nhảy múa khi họ vỗ tay. Khi đám đông
tu tập lại, con Công đứng ở phần trước chiếc tàu, vỗ
cánh kêu lên thật êm ái và nhảy múa. Mọi người trông thấy
nó rất thích thú, và họ bảo:
- Con
vương điểu này thật đẹp và được khéo dạy quá. Hãy
cho chúng tôi đi.
Các
thương gia nói tiếp:
- Lần
đầu, chúng tôi mang đến một con Quạ, các ông đã lấy nó
đi. Lần này, chúng tôi mang đến con Công chúa này, các ông
cũng đòi lấy nữa. Thiệt là không thể đến mà nêu tên
bất cứ con chim nào tại xứ của các ông nữa!
Họ
nói:
- Thưa
các ông, hãy vui lòng cho chúng tôi con chim này và hãy kiếm
một con khác trong xứ của các ông.
Sau
khi tăng mãi giá lên, cuối cùng họ mua được con Công chúa
với giá một ngàn đồng. Họ bỏ nó vào trong một cái lồng
được trang hoàng bằng bảy viên ngọc, cho nó ăn cá, thịt
và trái cây rừng, cũng như mật, bắp chiên, nước đường
v.v... con Công chúa đã tiếp nhận được lợi dưỡng và trọng
vọng cao nhất. Từ khi con Công đến, con Quạ không còn được
lợi dưỡng và trọng vọng nữa. Chẳng còn ai muốn nhìn tới
nó nữa. Quạ không còn được đồ ăn loại cứng và loại
mềm nữa, "quạ, quạ" rồi bay đi, đậu trên một đống phân.
*
Bậc
Ðạo sư liên kết hai câu chuyện và với trí tuệ Toàn hảo,
Ngài đọc các bài kệ sau đây:
Trước
khi công có chỏm
Xuất
hiện ở nơi đây.
Quạ
được thịt, trái cây,
Làm
quà cung dâng đến.
Giọng
ngọt ngào trìu mến,
Công
đến Bà-ve-ru,
Quạ
liền bị khước từ,
Lợi
dưỡng và danh vọng.
Người
ta rất kính trọng
Nhiều
đạo sĩ tu hành.
Ðến
khi Phật khai minh
Ánh
hào quang chân lý.
Khi
với giọng từ ái,
Ðức
Phật thuyết pháp ra;
Ngoại
đạo bị người ta
Tước
đi mọi danh lợi.
Sau
khi đọc bốn bài kệ này, bậc Ðạo sư nhận diện tiền
thân:
- Bấy
giờ đạo sĩ Kỳ-na Nàthaputta là con Quạ, còn Ta là con Công
chúa.
-ooOoo-
340.
Chuyện Trưởng Giả Visayha (Tiền thân Visayha)
Vi-say-ha,
xưa người ban tặng...,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể tại Kỳ Viên về Trưởng giả Cấp
Cô Ðộc. Trường hợp dẫn đến câu chuyện đã được kể
rõ trong số 40. Tiền thân Khadiragàra. Ở đây, bậc Ðạo sư
gọi cư sĩ Cấp Cô Ðộc và bảo:
- Này
cư sĩ, các bậc hiền trí ngày xưa vẫn cứ bố thí, không
nghe lời khuyên bảo của Thiên Chủ Ðế thích, vua cõi trời,
khi Thiên chủ đứng trên không vừa cố can ngăn họ vừa nói:
Ðừng bố thí.
Rồi
do yêu cầu của Trưởng giả, bậc Ðạo sư kể một chuyện
quá khứ.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì ở xứ Ba-la-nại, Bồ-Tát
là một đại thương gia, tên là Visayha, tài sản tới tám
trăm triệu đồng. Có đầy đủ Năm đức hạnh, ngài rất
rộng rãi về tiền bạc và ưa thích bố thí. Ngài cho xây
các nhà bố thí tại bốn cổng thành, ở trung tâm thành phố
và trước nhà riêng của ngài. Ở tại sáu nơi này, ngài đều
đích thân đi đến bố thí, và mỗi ngày sáu trăm ngàn người
đến xin. Thức ăn của Bồ-Tát và thức ăn của các hành
khất đều cùng một thứ y như nhau.
Ngài
đã làm rung động nhân dân khắp nước Ấn Ðộ vì các tặng
phẩm của ngài, nên trú xứ của Thiên Chủ đế thích bị
rung chuyển vì kết quả phi thường do lòng bác ái của ngài
và chiếc ngai vàng bằng hoàng thạch của vị Thiên đế ấy
đã nóng lên.
Ðế-thích
kêu lên:
- Ta
chẳng biết ai muốn làm ta rời khỏi chỗ ngồi của ta ở
trên trời thế này?
Thiên
chủ nhìn quanh ngài, thấy vị đại thương gia ấy và tự
nghĩ: "Visayha này bố thí và vì phân phát tặng phẩm ở khắp
nơi nên làm rung động toàn cả nước Ấn Ðộ. Bằng cách
bố thí, không chừng y sẽ hạ bệ ta và tự trở thành Ðế
Thích đấy. Ta sẽ tiêu hủy của cải y, sẽ làm y thành một
kẻ nghèo và do đó sẽ khiến y không thể tiếp tục bố thí
nữa được".
Thế
là Ðế thích làm cho dầu, đường, mật... cả kho chứa thóc
cũng như các nô lệ, người làm công đều biến mất. Những
người bị mất các tặng phẩm do Trưởng giả bố thí đến
nói với ông.
- Thưa
ngài, nhà bố thí đã biến mất ở khắp nơi, chúng tôi không
tìm thấy thứ gì do ngài cung cấp.
Vị
trưởng giả nói:
- Từ
nay hãy lấy tiền vậy. Ðừng bỏ mất sự bố thí.
Rồi
ông gọi vợ, bảo hãy giữ trọn lòng từ thiện. Bà tìm khắp
nhà mà cũng không thấy được một đồng lẻ nào. Bà nói:
- Thưa
ông, ngoài quần áo chúng ta đang mặc, tôi chẳng thấy gì
nữa cả. Toàn cả nhà đều trống rỗng.
Mở
bảy kho ngọc ra, họ cũng không tìm thấy được gì. Chẳng
còn thấy ai cứu giúp vợ chồng vị thương gia cả, nô lệ
cũng không, người làm cũng không nốt. Bồ-Tát lại bảo vợ:
- Bà
ơi, chúng ta không thể dứt bỏ nhiều việc từ thiện của
chúng ta. Bà hãy kiểm khắp nhà cho đến khi bà tìm được
một thứ gì đó.
Bấy
giờ, một người cắt cỏ ném liềm hái, đòn và dây thừng
bó cỏ trong phòng và chạy. Bà vợ của phú ông tìm thấy
các thứ ấy và bảo:
- Ông
ơi, đây là tất cả các thứ tôi tìm thấy được.
Rồi
bà mang trao chúng cho ông. Bồ-Tát nói:
- Bà
ơi, suốt mấy năm nay tôi không hề cắt cỏ, nhưng hôm nay
tôi sẽ cắt cỏ mang đi bán và nhờ đó sẽ chi tiêu vào việc
bố thí thích đáng.
Vì
sợ sẽ phải ngừng việc từ thiện, vị thương gia cầm lấy
liềm hái, đòn và dây thừng rời khỏi thành phố, đến một
nơi có nhiều cỏ và cắt, bó cỏ lại thành hai bó và tự
bảo: "Một bó là của gia đình ta, còn bó kia ta sẽ dùng cho
việc bố thí".
Ông
mang cỏ vào đòn, gánh đi bán ở cổng thành và nhận được
hai đồng tiền nhỏ. Ông liền cho các hành khất phân nửa
số tiền. Lúc ấy, có nhiều hành khất và họ cứ kêu xin:
- Hãy
cho chúng tôi với.
Thế
là ông cho luôn phần tiền còn lại và ngày hôm sau ông cùng
với vợ phải nhịn đói. Cứ như thế, sáu ngày trôi qua.
Sang đến ngày thứ bảy, trong khi ông đang nhặt cỏ, vì ông
vốn đã mảnh mai lại phải chịu đói trong suốt bảy ngày,
mặt trời chiếu nóng trên trán ông khiến mắt ông đảo lộn
trong đầu, ông bất tỉnh ngã xuống, làm vung cả cỏ. Quan
sát việc Visayha làm, Ðế Thích rất cảm động. Ngay lúc ấy,
Thiên chủ hiện đến, đứng trên không và đọc bài kệ đầu:
Vi-say-ha,
xưa người ban tặng,
Bố
thí nhiều, mất hẳn giàu sang.
Nay
giữ mình, chớ trao ban
Niềm
vui bền vững, người hằng sống luôn.
Bồ-Tát
nghe những lời ấy, liền hỏi:
- Ngài
là ai thế?
Thiên
chủ nói:
- Ta
là Ðế Thích
Bồ-Tát
bảo:
- Chính
Ðế Thích đã bố thí, hành trì những bổn phận đạo đức
của mình, nhờ giữ gìn các ngày trai giới, làm tròn bảy
hạnh nguyện nên đạt ngôi vị Ðế Thích. Thế mà nay lại
ngăn cấm việc bố thí đã tạo ra sự cao cả của chính ngài
đây. Như vậy quả thực ngài đã phạm vào một hành vi không
xứng đáng rồi.
Nói
thế xong, ngài đọc ba bài kệ sau đây:
Thế
không đúng - đời thường vẫn bảo:
Hành
vi hèn làm xấu cho danh.
Ðấng
nghìn mắt, hãy ngó ngàng
Cho
tôi khỏi lỗi, dù đang khổ sầu.
Xin
chớ để bao nhiêu của cải
Tôi
chi tiêu, ngu dại, phóng cuồng
Chìm
vào dục lạc, hư danh
Chỉ
xin như trước, thêm phần phúc may.
Theo
xe xưa, xe nay vững tiến,
Còn
sống đây, tôi vẫn trao ban
Dù
đang cảnh khổ tôi mang,
Ý
tôi cao thượng xin đừng cản ngăn.
Ðế
thích không thể nào khiến cho Bồ-Tát ngưng bỏ ý định của
ngài được, liền hỏi tại sao ngài bố thí. Ngài đáp:
- Tôi
không ham muốn trở thành Ðế Thích, thành Phạm thiên, mà
chính là mong tìm Giác ngộ.
Nghe
nói thế, Ðế thích tỏ vẻ hân hoan, lấy tay vuốt ve lưng
Bồ-Tát. Ngay lúc được hưởng ân huệ ấy, toàn thân Bồ-Tát
tràn ngập cả niềm vui. Do năng lực siêu phàm của Ðế Thích,
toàn bộ tài sản của ngài trở lại với ngài. Ðế Thích
bảo:
- Này
đại thương gia, từ nay ngài hãy cứ bố thí, phân phát mỗi
ngày một triệu hai trăm ngàn phần.
Sau
khi tạo cho nhà Bồ-Tát tài sản vô lượng, Ðế thích từ
giã ngài và đi thẳng về trú xứ riêng của mình.
*
Bậc
Ðạo sư chấm dứt bài thuyết giảng và nhận diện Tiền
thân:
- Bấy
giờ, mẹ của La-hầu-la là vợ của vị thương gia, còn Ta
chính là Visayha.
-ooOoo-
341.
Chuyện Vua Kandari (Tiền thân Kandari)
Câu
chuyện Tiền thân này sẽ được kể đầy đủ trong số 536.
Tiền thân Kunàla.
-ooOoo-
342.
Chuyện Con Khỉ (Tiền thân Vànara)
Ta
từ nước, cá ơi...,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể khi ngài trú tại Trúc Lâm về cách
Ðề-bà-đạt-đa định giết đức Phật. Tình tiết dẫn đến
câu chuyện đã được kể chi tiết trước đây.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-Tát sinh
ra là một con khỉ ở vùng Tuyết sơn. Khi lớn lên ngài sống
trong sông Hằng.
Bấy
giờ, một con cá sấu cái sống trong sông Hằng, rất khao khát
được ăn trái tim của Bồ-Tát, liền ngỏ ý với chồng.
Cá sấu đực tự nghĩ: "Ta sẽ giết con khỉ bằng cách nhận
chìm nó xuống nước rồi lấy trái tim cho vợ ta".
Vì
vậy nó đến nói với Bồ-Tát:
- Này
bạn, chúng ta hãy đi ăn trái cây rừng trên một hòn đảo
kia.
- Làm
sao mà tôi đến đó được? Bồ-Tát nói.
- Tôi
sẽ đặt bạn trên lưng tôi và mang bạn đến đó.
Cá
sấu trả lời. Bồ-Tát không biết ý định của cá Sấu,
liền nhảy lên ngồi trên lưng nó. Cá sấu sau khi bơi một
đoạn ngắn, liền bắt đầu lặn xuống. Khỉ bảo:
- Này
ông, sao ông nhận chìm tôi xuống nước thế?
Cá
sấu nói:
- Ta
sắp giết ngươi và cho vợ ta trái tim của ngươi.
Bồ-Tát
nói:
- Hỡi
ông bạn khờ khạo, bộ ông tưởng rằng trái tim của tôi
ở bên trong tôi đấy à?
- Thế
thì ngươi để nó ở đâu?
- Ông
không thấy nó đang treo ở cây sung đằng kia ư?
- Ta
thấy rồi, Cá sấu đáp. Nhưng ngươi có chịu cho ta không?
- Vâng,
chịu chứ. Khỉ đáp.
Thế
là cá sấu thật là ngu, mang khỉ và bơi đến gốc cây sung
trên bờ sông. Bồ-Tát phóng khỏi lưng cá sấu và đứng trên
cây sung và đọc các bài kệ:
Ta
từ nước, cá ơi!
Lên
tới đất khô này,
Há
chỉ để sau tốt
Rơi
vào thế lực ngươi?
Mít,
hồng đào đó kìa,
Khi
ta đã chán ra,
Sung
đây ta nên hái,
Hơn
trái xoài đằng xa.
Kẻ
nào gặp dịp tốt
Mà
chẳng vươn lên được,
Dưới
chân kẻ nghịch thù,
Thảm
thương nằm lạy lục.
Kẻ
nào biết ngay liền
Nỗi
nguy biến phần mình,
Không
hề bị uy hiếp.
Trước
kẻ nghịch cường quyền.
Bồ-Tát
đọc bốn bài kệ trên về sự thành công trong các việc đời,
rồi liền ngay đó vụt biến vào đám cây rậm.
*
Sau
khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Bồ-Tát nhận diện tiền
thân.
- Bấy
giờ Ðề-bà-đạt-đa là con cá Sấu, còn ta là con Khỉ.
-ooOoo-
343.
Chuyện Con Hạc (Tiền thân Cuntani)
Lâu
nay tôi giúp đỡ nhà này...,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể tại Kỳ Viên về một con hạc sống
trong cung vua xứ Kosala.
Tương
truyền con hạc mái này mang thư tín cho vua, nó có hai con nhỏ.
Vua sai hạc mang thư đến cho một ông vua nọ. Khi hạc đi xa,
hai nam tử trong vương gia lấy tay bóp chết hai hạc con. Hạc
mẹ trở về không thấy hai con, liền hỏi ai đã giết con
nó. Người ta kể lại sự việc như vậy.
Bấy
giờ trong cung vua có nuôi con hổ dã man, dữ dằn, bị cột
bằng dây xích rất chắc. Hai cậu bé kia đến coi hổ, con
hạc đi theo và tự nghĩ: "Hai con nhỏ của ta bị hai đứa
bé này giết, vậy ta sẽ thanh toán chúng". Rồi nó nắm lấy
hai cậu bé ném vào chân con hổ. Hổ gầm gừ một tiếng rồi
nhai trọn cả hai. Hạc tự hỏi: "Thế là ta được thỏa lòng
mong ước". Rồi hạc bay lên không, thẳng tới dãy Tuyết Sơn.
Các
Tỷ-Kheo nghe chuyện ấy, bắt đầu bàn tán trong Pháp đường:
- Này
các Hiền giả, nghe nói một con hạc kia trong điện vua đã
ném hai cậu bé vào một con hổ vì hai cậu bé này đã giết
chết hai con nhỏ của nó; và sau khi đã gây cái chết cho chúng,
hạc bỏ đi.
Bậc
Ðạo sư đến và hỏi các Tỷ-Kheo đang bàn tán chuyện gì.
Rồi Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, không phải chỉ bây giờ mà xưa kia cũng thế,
con hạc ấy đã mang lại cái chết cho những kẻ đã giết
con nó.
Và
liền đó, Ngài kể lại một câu chuyện ngày xưa.
*
Ngày
xưa, Bồ-Tát ở Ba-la-nại trị vì vương quốc của ngài rất
công chính. Một con Hạc nọ ở trong điện của ngài, thường
mang thư tín cho ngài. Câu chuyện xảy ra y như ở trên. Ðiểm
đặc biệt ở đây là sau khi con Hạc để cho con hổ giết
chết các cậu bé, liền tự nghĩ: "Ta không thể ở đây mà.
Ta sẽ ra đi, nhưng dù ta bỏ đi, ta cũng sẽ không ra đi mà
không nói với đức vua. Nói với vua xong, ta sẽ bỏ đi". Vì
vậy nó đến ngồi gần vua, vái chào và đứng xa xa một tí
rồi thưa:
- Tâu
Ðại vương, chính ngài bất cẩn mà các hoàng tử đã giết
các con nhỏ của tôi và vì quá căm giận tôi đã khiến cho
họ chết để báo thù. Bây giờ tôi không thể sống ở đây
nữa.
Rồi
nó đọc bài kệ đầu:
Lâu
nay tôi giúp đỡ nhà này
Như
chính nhà tôi - được trọng thay,
Nhưng
chính vì ngài làm thế đấy.
Bây
giờ tôi phải bỏ đi ngay.
Vua
nghe thế liền đọc bài kệ thứ hai:
Người
ta thanh toán nỗi cừu oan,
Hại
nọ, hại này phải xứng cân,
Thù
hận thế là nên dẹp bỏ,
Hạc
hiền, hãy ở lại, ta van.
Nghe
thế, hạc đọc bài kệ thứ ba:
Kẻ
bị hại cùng người tác hại.
Không
bao giờ hòa hợp như xưa
Tâu
vua chớ giữ tôi đây nữa,
Thôi
nhé, tôi đây đến chốn xa.
Vua
nghe xong liền đọc bài kệ thứ tư:
Nếu
họ khôn ngoan chẳng dại khờ,
Có
cơ sống an ổn, hài hòa,
Kẻ
gây hại với người mang hại,
Này
hạc hiền ơi, ở lại mà.
Chim
Hạc nói:
- Tâu
Ðại vương, sự việc đã như vậy, tôi không thể ở lại
nữa.
Rồi
nó chào vua, bay lên không và về thẳng dãy Tuyết Sơn.
*
Bậc
Ðạo sư chấm dứt bài thuyết giảng và nhận diện Tiền
thân.
- Con
hạc trong chuyện cổ là con hạc ngày nay, còn vua Ba-la-nại
chính là Ta.
-ooOoo-
344.
Chuyện Người Ăn Trộm Xoài (Tiền thân Ambacora)
Cô
nào đã ăn xoài ngài đó...,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể tại Kỳ Viên về một ông già trông
coi các trái xoài.
Tương
truyền khi đã già, ông trở thành một nhà tu khổ hạnh, dựng
một túp lều lá trong một vườn xoài ở ngoại ô Kỳ Viên.
Chẳng những ông chỉ ăn trái xoài chín từ trên cây rụng
xuống mà còn đem cho bà con của ông nữa. Trong khi ông bận
đi khất thực, một bọn trộm đến hái xoài của ông xuống,
ăn một số rồi mang theo một số còn lại. Bấy giờ có bốn
cô gái của một thương gia giàu có kia, sau khi tắm ở sông
Aciravati về, lang thang đây đó lạc vào trong vườn xoài ấy.
Tu sĩ già kia trở về, thấy các cô ở đó liền buộc tội
rằng các cô đã ăn xoài của ông.
- Thưa
ngài họ bảo- chúng tôi vừa mới đến, chúng tôi không ăn
xoài của ngài.
- Vậy
các cô hãy thề đi, ông ấy nói.
- Thưa
ngài, chúng tôi sẽ thề. Họ bảo thế và nói lời thề.
Tu
sĩ già ấy làm nhục họ bằng cách khiến họ phải thề như
thế rồi để cho họ đi.
Các
Tỷ-Kheo nghe ông ấy làm như vậy, bắt đầu bàn tán trong
Pháp đường rằng ông già ấy đã buộc các cô gái của một
thương gia phải thề khi các cô vào trong vườn xoài mà ông
ở, và sau khi làm họ phải hổ thẹn bằng cách bắt họ thề,
ông ta đã để cho họ đi.
Bậc
Ðạo sư đến và hỏi các Tỷ-Kheo đang bàn tán về việc
gì. Nghe thuật xong, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, không phải chỉ bây giờ mà xưa kia cũng thế,
ông già ấy đã trông coi xoài, đã khiến các cô gài của
một phú thương phải nói lời thề, ông ta để họ đi.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-Tát là
thiên chủ Ðế thích. Bấy giờ có một vị khổ hạnh xảo
quyệt dựng một túp lều lá để trú ẩn trong vườn xoài
trên một bờ sông gần Ba-la-nại. Ông ta trông giữ xoài cho
các đồng bạn của ông. Ông trú ở đó và kiếm sống bằng
nhiều cách dối gạt khác nhau.
Bấy
giờ Ðế Thích, vua cõi trời, tự nghĩ: "Ta muốn biết ai trong
cõi người đã phụng dưỡng cha mẹ, cung kính đối với các
bậc trưởng thượng trong gia đình, bố thí, giữ giới hạnh
và hành trì các ngày trai giới? Những ai trong bọn họ sau
khi đã sống đời tu hành, vẫn tiếp tục tận tụy làm các
bổn phận xứng đáng với người tu? Những ai trong đám tu
hành ấy lại cón phạm ác hạnh?"
Quan
sát thế gian, nhìn thấy nhà tu ác hạnh này đang trông giữ
vườn xoài của ông, Thiên chủ bảo: "Vị khổ hạnh giả
mạo này bỏ bê các bổn phận của một tu sĩ như tinh tấn
để thiền định phát sinh v.v... mà lại cứ trông giữ một
vườn xoài. Ta sẽ đe dọa cho lão sợ mới được". Thế là
khi nhà tu hành kia vào làng khất thực, Ðế thích dùng thần
lực làm rụng xoài xuống và làm như thể xoài bị bọn trộm
vơ vét ấy.
Bấy
giờ có bốn cô gái con một thương gia ở Ba-la-nại vào vườn,
tu sĩ giả mạo kia trông thấy liền chận lại và hỏi:
- Các
cô đã ăn xoài của ta.
Họ
nói:
- Thưa
ngài, chúng tôi vừa mới đến. Chúng tôi không ăn xoài của
ngài đâu!
- Vậy
thì hãy thề đi. Ông ta nói.
Họ
hỏi:
- Thề
xong, chúng tôi được phép đi chứ?
- Chắc
chắn là như thế.
- Tốt
lắm, thưa ngài. Họ nói.
Rồi
cô lớn nhất trong bọn tuyên thệ bằng bài kệ đầu:
Cô
nào đã ăn xoài ngài đó
Sẽ
gặp chồng thô lỗ cục cằn,
Râu
lông xoắn xám, xảo giảm,
Tóc
kia từng lọn uốn quăn trên đầu.
Vị
khổ hạnh bảo:
- Cô
hãy đứng sang một bên.
Rồi
ông bảo cô con gái thứ hai của thương gia nêu lời thề.
Cô này đọc bài kệ thứ hai:
Hãy
cho cô trộm cây xoài ấy,
Kiếm
mãi chồng chẳng thấy ai ra.
Mười
ba, mười chín tuổi qua,
Ba
mươi gần đến biết là làm sao.
Cô
này sau khi nêu lời liền đứng sang một bên, cô thứ ba đọc
bài kệ thứ ba:
Kẻ
nào đã vào ăn xoài ngọt
Sẽ
cô đơn khổ nhọc lên đường,
Ðến
nơi hò hẹn muộn màng,
Sầu
đau khi thấy tình lang đi rồi!
Thế
rồi cô đứng sang một bên. Cô gái thứ tư đọc bài kệ
thứ tư:
Cô
nào đã làm hư cây hết,
Mặc
đồ xinh, đầu kết hoa cài.
Dầu
chiên-đàn vẫn xức hoài,
Nhưng
giường kia vẫn miệt mài gái tân!
Nhà
tu nói:
- Các
cô đã thề bồi rất trang trọng, hẳn là những kẻ khác
đã ăn xoài chứ không phải các cô. Bây giờ các cô hãy đi
đi.
Nói
thế xong, ông ta cho họ ra đi. Lúc ấy Ðế Thích liền hiện
ra một hình hài hung tợn đuổi nhà tu hành giả mạo kia ra
khỏi nơi ấy.
*
Sau
khi thuyết giảng xong bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ, nhà tu sĩ giả mạo kia là ông già trông coi vườn xoài.
Bốn cô gái của thương gia cũng chính là các cô gái này,
còn ta là Thiên chủ Đế thích.
-ooOoo-
345.
Chuyện Con Rùa Lười Biếng (Tiền thân Gajakumbha)
Một
khi lửa cháy lan rừng...,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể tại Kỳ Viên về một Tỷ-Kheo lười
biếng.
Nghe
nói ông ta là một người thuộc dòng cao quí và sống ở Xá-vệ.
Sau khi đã nhất tâm theo Giáo pháp và thọ giới, ông lại
trở nên lười biếng. Ðối với việc học đạo, thuyết
pháp, thiền định, đi khất thực thuộc bổn phận của tu
sĩ, ông ta đã không thực hiện đầy đủ, bị tội lỗi tấn
công trấn áp và người ta luôn luôn trông thấy ông ở các
chỗ nghĩ chân công cộng.
Các
Tỷ-Kheo bàn tán tính lười biếng của ông trong Pháp đường:
- Này
các Hiền hữu, người ấy sau khi thọ giới trong một Giáo
pháp cao vời dẫn đến giải thoát lại tiếp tục lười biếng,
giải đãi và bị tội lỗi tấn công trấn áp.
Bậc
Ðạo sư đến và hỏi các Tỷ-Kheo họp lại bàn tán việc
gì. Khi nghe thuật chuyện xong, Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-Kheo, không phải chỉ bây giờ mà từ xưa kia, ông
ấy cũng đã lười biếng.
Rồi
Ngài kể một câu chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta đang trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-Tát là
quan đại thần được trọng vọng của vua. Nhà vua có khuynh
hướng lười biếng và Bồ-Tát đang tìm mọi cách để vua
tỉnh ngộ.
Một
hôm, vua vào trong vườn cây cùng với quan đại thần của
mình và trong lúc đang dạo chơi, vua trông thấy một con Rùa
lười biếng. Người ta bảo rằng những con vật biếng nhác
như con này, dù di chuyển suốt cả ngày, cũng chỉ nhích đi
được một hai phân mà thôi.
Vua
trông thấy nó bèn hỏi:
- Này
bạn, con vật ấy tên gì thế?
Bồ-Tát
trả lời:
- Tâu
Ðại vương, đây là một con Rùa; nó quá lười chậm đến
nỗi dù nó di chuyển suốt cả ngày cũng chỉ dịch được
một hai phân mà thôi.
Rồi
ngài gọi con Rùa và nói:
- Này
anh Rùa, bộ dáng anh thật chậm chạp. Giả như có hỏa hoạn
phát sinh trong rừng thì anh làm gì đây?
Rồi
ngài liền đọc bài kệ đầu:
Một
khi lửa cháy lan rừng,
Phải
rời đi tránh con đường khói sau,
Hỡi
anh Lệt-bệt, làm sao
Tìm
ra cho được cách nào an thân?
Rùa
nghe thế liền đọc bài kệ thứ hai:
Nơi
nào cũng lắm lỗ hang,
Cây
nào cũng nứt ra từng hốc kia.
Ðấy
đều chỗ trú ấy mà,
Nếu
không tìm được đành là chết luôn!
Bồ-tát
nghe xong liền đọc hai bài kệ tiếp:
Ai
hấp tấp khi cần nghĩ lại,
Và
chậm lâu khi phải thực nhanh
Sẽ
làm tiêu phúc mong manh,
Như
cành lá nọ dưới chân đạp đầy.
Nhưng
hễ ai chờ ngay đúng lúc,
Thực
hành không hấp tấp vội vàng,
Làm
tròn mục đích mình mang,
Như
vần trăng vẫn trọn đường nó đi.
Vua
nghe các lời này của Bồ-tát, từ đó không còn biếng nhác
nữa.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng rồi nhận diện Tiền
thân:
- Bấy
giờ, Tỷ-kheo biếng nhác kia là con Rùa, còn Ta là vị hiền
trí nọ.
-ooOoo-
346.
Chuyện Đạo Sĩ Kesava (Tiền thân Kesava)
Ngài
vừa sống cùng hàng vương giả...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về sự đãi ngộ của
tình bằng hữu.
Trong
nhà của Trưởng giả Cấp Cô Ðộc luôn luôn có năm trăm
Tỷ-kheo được cấp dưỡng. Ngôi nhà thường vẫn giống như
là một chỗ nghỉ ngơi dành cho chúng Tỷ-kheo rực rỡ màu
sắc của các y vàng và ngào ngạt hương thơm thánh thiện.
Một
hôm vua tham dự một cuộc diễn hành quanh thành phố, trông
thấy chúng Tỷ-kheo trong nhà của Trưởng giả liền tự nghĩ:
"Ta sẽ cúng dường đều đặn cho hội chúng Thánh nhân này".
Vua đến Tinh xá và sau khi đảnh lễ bậc Ðạo Sư, liền đặt
vấn đề cúng dường thường trực cho năm trăm Tỷ-kheo. Từ
đó trong cung vua luôn luôn có cuộc bố thí, thức ăn hảo
hạng, cơm gạo thơm tho, nhưng lại chẳng có ai tự tay trao
tặng vật với vẻ trìu mến thương yêu. Các vị quan cứ
việc phân phát thức ăn và các Tỷ-kheo cũng chẳng muốn ngồi
đó để ăn, mà lại lấy các thức ăn ngon đủ loại rồi
mỗi vị đến từng nhà thủ hộ riêng của mình, cho họ các
thức ăn ấy và ăn các thức ăn do chủ nhà dọn cho, không
kể đạm bạc hay cao sang gì cả.
Một
hôm người ta mang đến dâng cho vua nhiều trái cây rừng. Vua
bảo:
- Hãy
mang cho hội chúng các Tỷ-kheo.
Họ
mang trái đến phạn đường và trở về tâu vua:
- Không
có một Tỷ-kheo nào ở đó.
- Sao?
Chưa đúng giờ thọ thực ư? Vua hỏi.
- Tâu,
đúng giờ đấy ạ, - họ đáp - nhưng các Tỷ-kheo lấy thức
ăn ở đây rồi mang đến nhà các thị giả trung tín của
các vị, và cho họ thức ăn, còn chính các vị ấy dùng bất
cứ thức ăn gì được dọn ra, không kể đạm bạc hay cao
sang gì cả.
Vua
bảo:
- Thức
ăn của ta thì cao sang. Thế mà tại sao trên đời này có người
nhận lấy thức ăn từ chúng ta để rồi ăn thức khác?
Ròi
vua tự nghĩ: "Ta sẽ hỏi bậc Ðạo Sư".
Rồi
vua đến Tinh xá và hỏi Ngài.
Bậc
Ðạo Sư nói:
- Thức
ăn tốt nhất là thức ăn được cho với tình yêu thương.
Vì thiếu những người tạo mối thân tình bằng cách bố
thí với niềm yêu thương nên các Tỷ-kheo đã lấy thức ăn
ở đó và mang đến ăn tại các nhà thân hữu của họ. Tâu
Ðại vương, không có vị ngọt nào bằng vị ngọt của tình
thương. Thứ gì được cho mà không tình thương thì dù nó
gồm bốn thứ ngon ngọt cũng không xứng bằng gạo rừng được
cho với tình thương. Các giá trị ngày xưa, khi họ bị bệnh
dù vua cùng với năm gia đình ngự y chữa trị thuốc men, nếu
bệnh vẫn không giảm, thì họ đến với các bằng hữu thân
tình. Rồi nhờ ăn cháo gạo rừng và hạt cỏ không có muối,
và ngay cả rau cũng không muối, chỉ đổ nước vào thôi,
thế mà họ được lành bệnh.
Nói
xong, do yêu cầu của mọi người, bậc Ðạo Sư kể một câu
chuyện ngày xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
trong một gia đình Bà-la-môn tại vương quốc Kàsi, người
ta gọi ngài là Nam tử Kappa. Khi lớn lên, ngài hoàn tất mọi
học nghệ tại Takkasilà và sau đó sống đời tu hành.
Bấy
giờ có một nhà tu khổ hạnh tên là Kesava được năm trăm
nhà tu hành khác theo hầu, rồi trở thành sư trưởng của
một đám môn đệ và trú trong dãy Tuyết Sơn. Bồ-tát đến
với ông rồi trở nên môn trưởng của năm trăm đồ đệ,
trú tại đó và tỏ ra trìu mến thương yêu Kesava. Sau đó
hai người trở nên đôi tri kỷ.
Chẳng
bao lâu, Kesava cùng với các nhà tu hành ấy đến Ba-la-nại
để kiếm muối, giấm và trú trong vườn cây của vua. Hôm
sau họ vào thành và đến cổng cung vua. Vua trông thấy đoàn
tu sĩ liền mời họ dùng bữa tại cung vua, hứa hẹn với
họ, cho họ ở trong vườn cây của vua. Thế rồi khi mùa mưa
chấm dứt, Kesava từ giã nhà vua. Vua bảo:
- Thưa
Trưởng lão, ngài đã già rồi, ngài nên ở gần chúng tôi
và để các tu sĩ trẻ kia về Tuyết Sơn.
Kesava
chấp thuận bảo đoàn tu sĩ cùng người trưởng môn về Tuyết
Sơn và trú ở đó với các tu sĩ kia. Kesava đau khổ vì bị
tách khỏi hội chúng của Kappa, ông cứ mong mỏi gặp Kappa
nên không ngủ được. Vì mất ngủ, ông ăn không tiêu, ông
bị chứng đi tiêu ra máu đau đớn vô cùng. Nhà vua cùng năm
gia đình ngự y săn sóc vị ẩn sĩ, nhưng bệnh của ông không
bớt được. Vị ẩn sĩ hỏi vua:
- Tâu
Ðại vương, ngài muốn tôi chết đi hay lành bệnh?
Vua
đáp:
- Thưa,
tôi muốn ngài được lành bệnh.
- Thế
thì hãy cho tôi về dãy Tuyết Sơn. Ông nói.
- Vâng,
vua đáp.
Rồi
vua sai một đại thần tên gọi Nàrada, bảo ông ta đi cùng
với một số thợ rừng đưa vị tu sĩ ấy về Tuyết Sơn.
Nàrada đưa Kesava đến đó rồi quay về. Kesava chỉ mới trông
thấy Kappa, tâm bệnh của ông liền dứt và nỗi khổ đau
lắng xuống ngay. Thế rồi Kappa dâng cho ông cháo nấu bằng
hạt cỏ và gạo rừng trộn chung với rau rồi đổ nước
vào. Không muối, không gia vị, ngay lúc dùng thứ ấy, bệnh
kiết lỵ của ông thuyên giảm liền.
Vua
lại gọi Nàrada đến và bảo:
- Hãy
đi hỏi thăm tin tức của ẩn sĩ Kesava.
Nàrada
đến nơi, thấy Kesava đã lành bệnh liền bảo:
- Thưa
Trưởng lão, đức vua Ba-la-nại cùng với năm gia đình ngự
y chữa trị ngài mà vẫn không thể chữa lành bệnh của ngài.
Kappa đã chữa trị ngài như thế nào vậy? Rồi ông đọc
bài kệ đầu:
Ngài
vừa sống cùng hàng vương giả
Vua
sẵn lòng cho thỏa nguyện ngài
Lều
Kap-pa có gì hay
Ke-sa-va
phải nơi đây lui về?
Kesava
nghe thấy liền đọc bài kệ thứ hai:
Mọi
thứ đây, tràn trề yêu mến,
Nà-ra-da,
yêu đến cả cây
Lời
Kap-pa, hỷ lạc đầy
Dâng
lên âm hưởng vui vầy lòng ta.
Sau
lời ấy, Kesava lại nói:
- Kappa
muốn làm cho ta hài lòng, đã cho ta ăn cháo nấu bằng hạt
cỏ và gạo rừng trộn với rau rồi thêm nước vào, không
có muối, gia vị và nhờ thế bệnh tật của thân ta được
ngăn chận và ta đã lành hẳn.
Nàrada
nghe thế liền đọc bài kệ thứ ba:
Quen
gạo tinh nấu pha với thịt,
Món
nhạt kia, ngài biết sao ăn?
Làm
sao hạt cỏ, gạo hoang,
Ngài
chia xẻ được với đoàn ẩn tu?
Nghe
xong, Kesava liền đọc bài kệ thứ tư:
Thức
ăn có thể là ngon, dở,
Chỉ
ít ỏi hay có rất nhiều;
Nhưng
ăn đầy đủ thương yêu,
Thương
yêu, nước chấm tuyệt chiêu được tìm.
Nàrada
nghe thế liền quay về kể cho vua nghe:
- Kesava
nói như thế, như thế...
*
Sau
khi chấm dứt bài thuyết giảng, bậc Ðạo Sư nhận Tiền
thân:
- Bấy
giờ, vua là Ànanda, Nàrada là Sàriputta, Kesava là Bakabrahmà,
và Kappa chính là Ta vậy.
-ooOoo-
347.
Chuyện Cái Chày Sắt (Tiền thân Ayakùta)
Tại
sao giữa không trung ngươi đang đứng...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên về bổn phận phải
hành thiện đối với mọi người.
Trường
hợp dẫn đến câu chuyện đã được kể trong số 469. Tiền
thân Mahàkanha.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
là con của chánh hoàng hậu. Khi lớn lên, ngài học đủ các
học nghệ và khi vua cha mất, ngài được tôn lên ngôi và
trị vì vương quốc rất công chính.
Bấy
giờ người ta rất sùng kính các thần linh, thường giết
nhiều dê, cừu v.v... để tế thần. Bồ-tát cho đánh trống
tuyên bố:
- Không
được giết hại sinh vật nào cả.
Bọn
quỷ Yakkha (Dạ-xoa) mất các tế vật rất căm giận Bồ-tát,
liền rủ nhau họp lại trong dãy Tuyết Sơn rồi sai một quỷ
Yakkha hung ác đi giết Bồ-tát. Nó cầm một khối sắt sáng
loáng to bằng cái vòm nhà và ngay sau lúc nửa đêm, nó đến
đứng đầu giường Bồ-tát để đập chết ngài. Ngay lúc
ấy, ngai của Ðế Thích nóng lên. Sau khi quan sát, Thiên chủ
biết được nguyên nhân, liền cầm lưỡi tầm sét của mình
đứng phía trên quỷ Yakkha kia. Bồ-tát thấy quỷ ấy liền
nghĩ: "Sao nó lại đứng đây nhỉ? Ðấy là nó muốn bảo
vệ ta hay muốn giết ta?"
Bồ-tát
nghĩ như thế rồi đọc bài kệ đầu:
Tại
sao giữa không trung, ngươi đang đứng
Hỡi
Dạ-xoa, chày sắt lớn trên tay,
Phải
chăng ngươi ngăn kẻ hại ta đây,
Hay
chính lúc ta bị ngươi làm hại?
Bấy
giờ Bồ-tát chỉ trông thấy quỷ Yakkha mà không trông thấy
Ðế Thích nên không dám đập Bồ-tát.
Nghe
Bồ-tát bảo thế, con quỷ nói:
- Tâu
Ðại vương, không phải tôi đứng đây để canh giữ ngài,
tôi định đập ngài bằng khối sắt sáng ngời này nhưng
vì sợ Ðế Thích nên tôi không dám đập.
Ðể
giải thích ý mình, con quỷ đọc bài kệ thứ hai:
Là
sứ giả của các thần La-sát
Hiện
ra đây, tôi nhằm giết ngài thôi,
Chày
không vung đập xuống được đầu ngài,
Vì
đầu ấy, chính Ind-ra bảo vệ.
Nghe
thế, Bồ-tát đọc thêm hai bài kệ nữa:
Nếu
Ind-ra là Su-jà Chúa tể
Ðấng
Ðại vương, Thiên chủ đoái giúp ta,
Dù
xé trời, yêu quỷ thét gầm la,
Cũng
chẳng đủ sức làm ta sợ hãi.
Hãy
để bọn ma bùn, yêu tinh ấy
Mặc
sức mà xàm bậy nói lung tung
Bọn
chúng đâu đủ sức sánh ngang cùng
Khi
có cuộc đối đầu rất nghiêm trọng!
Thế
rồi Ðế Thích đuổi Dạ-xoa chạy. Thiên chủ khích lệ Bồ-tát
và nói:
- Ðại
vương đừng sợ, Từ nay chúng ta sẽ bảo vệ ngài. Ðừng
sợ.
Nói
xong, Thiên chủ quay thẳng về trú xứ của mình.
*
Bậc
Ðạo Sư chấm dứt bài thuyết giảng ở đây rồi nhận diện
Tiền thân:
- Bấy
giờ, Anuruddha (A-na-luật-đà) là Ðế Thích, còn Ta là vua Ba-la-nại.
-ooOoo-
348.
Chuyện Chốn Rừng Hoang (Tiền thân Aranna)
Mối
nghi này, thưa cha, xin giải tỏa...,