CHUYỆN
TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT (III) Jàtaka
Chương
III (tiếp theo)
Phẩm
Ba Bài Kệ
264.
Chuyện Đại Vương Panàda (Tiền thân Mahà-Panàda)
Vua
Panàda có cung điện ấy...,
Chuyện
này do bậc Ðạo sư kể khi Ngài ghé đến bên bờ sông Hằng,
về thần thông của Trưởng lão Bhaddaji.
Một
dịp khác, khi bậc Ðạo Sư đã an cư mùa mưa ở Xá vệ, Ngài
nghĩ nên ban ân đức cho một trưởng giả trẻ tuổi tên Bhaddaji.
Vì thế, Ngài cùng các Tỳ-kheo lên đường tới thành Bhaddiya
và ở lại đó ba tháng trong rừng Jàtiyà, chờ đợi cho đến
khi chàng trai ấy thuần thục và kiện toàn về tri thức.
Bấy
giờ thanh niên Bhaddaji là một nhân vật cao sang, Con trai độc
nhất của một phú thương ở Bhaddaiya hưởng một gia tài
tám trăm triệu đồng. Chàng có ba ngôi nhà dùng cho ba mùa
khác nhau, mỗi mùa chàng ở bốn tháng trong một ngôi nhà.
Sau thời kỳ ở trong một ngôi nhà, chàng cùng với bà con
bạn bè dời đến một ngôi nhà khác trong cảnh xa hoa lộng
lẫy. Vào các dịp này, cả thành phố thường nô nức đi
xem cảnh sang trọng của chàng thanh niên ấy và giữa các ngôi
nhà ấy, người ta thường dựng lên biết bao chỗ ngồi theo
hình vòng tròn, hàng hàng lớp lớp chồng chất lên nhau.
Sau
khi đã trú nơi kia được ba tháng, bậc Ðạo Sư báo cho dân
trong thành biết Ngài định ra đi. Dân trong thành xin Ngài hãy
nán lại đến ngày mai. Thế là hôm sau, họ góp đủ thứ
tặng vật để cúng dường đức Phật và các Tỷ-kheo, đệ
tử của Ngài. Họ dựng một cái rạp ở giữa thành phố,
trang hoàng đẹp đẽ, sắp xếp các chỗ ngồi rồi thông báo
rằng đã đến giờ. Bậc Ðạo Sư cùng đoàn Tỷ-kheo thứ
lớp đến ngồi vào đó. Mọi người đều đến cúng dường
rất hào phóng. Khi thọ thực xong, bậc Ðạo Sư với giọng
ngọt ngào như mật, đã nói lời tùy hỷ công đức với họ.
Vào
lúc này, thanh niên Bhaddaji đang từ một ngôi nhà của chàng
dời sang ngôi nhà khác. Nhưng hôm đó chẳng có ma nào đến
ngắm vẻ lộng lẫy rực rỡ của chàng ngoài những người
nhà của chàng. Vì thế chàng hỏi những người của chàng
vì sao như thế. Thường thường tất cả thành phố đều
nô nức xem chàng đi từ nhà này qua nhà nọ, các chỗ ngồi
đã được sắp đặt vòng này trên vòng nọ, dãy này trên
dãy kia; ấy thế mà bây giờ chẳng có ai cả ngoài những
kẻ tùy tùng của riêng chàng! Lý do gì như vậy?
Chàng
được trả lời:
- Thưa
chủ nhân, đức Phật đã ở suốt ba tháng gần thành phố
và hôm nay Ngài ra đi. Ngài vừa thọ thực xong và đang thuyết
pháp. Cả thành phố đều đang ở đó nghe Ngài dạy.
Chàng
nói:
- Tốt
lắm, chúng ta cũng sẽ đến đó nghe Ngài.
Thế
rồi chàng trang sức lộng lẫy cùng với số đông tùy tùng
đứng ở mé ngoài đám đông. Khi chàng nghe thuyết pháp, chàng
vứt bỏ hết mọi tham dục cấu uế, đắc quả vị cao rồi
đạt Thánh quả.
Bậc
Ðạo Sư bảo vị thương gia thành Bhaddiya:
- Thưa
ngài, con trai của ngài trông vẻ xa hoa, khi nghe Ta thuyết pháp
đã trở thành một bậc Thánh; chính ngày hôm nay, vị ấy
hoặc sẽ sống đời tu hành, hoặc sẽ nhập Niết-bàn.
- Bạch
Thế Tôn, vị thương gia nói - Tôi không muốn con tôi nhập
Niết-bàn. Xin Ngài chấp nhận cho nó xuất gia. Rồi ngày mai,
xin thỉnh Ngài cùng với nó đến nhà tôi.
Thế
Tôn nhận lời mời ấy. Ngài đưa vị trưởng giả trẻ tuổi
đến tịnh xá, nhận chàng vào giáo đoàn, sau đó thọ tiểu
giới và đại giới. Suốt một tuần, cha mẹ của chàng trai
ấy tiếp đãi chàng rất nồng hậu.
Sau
bảy ngày như thế, bậc Ðạo Sư mang chàng theo khi đi khất
thực, đến một ngôi làng tên là Koti. Dân làng Koti kính cẩn
cúng dường đức Phật và đệ tử của Ngài. Sau khi thọ
thực xong, bậc Ðạo Sư nói lời tùy hỷ. Trong lúc ấy, chàng
trưởng giả đi ra khỏi làng, ngồi bên một bến của sông
Hằng dưới một gốc cây mà trầm tư quán tưởng và nghĩ
rằng khi nào bậc Đạo Sư đến, chàng sẽ đứng lên. Khi
các Trưởng lão cao niên nhất đến gần, chàng vẫn không
đứng dậy, nhưng khi bậc Ðạo Sư đến thì chàng đứng lên
ngay.
Những
người chưa hiểu đạo lấy làm bất bình vì chàng xử sự
như thể một Tỷ-kheo thuộc hàng trưởng thượng, chàng đã
không đứng dậy khi thấy các Trưởng lão cao niên nhất đến
gần.
Dân
làng làm những chiếc bè để đức Phật và các Tỷ-kheo sang
sông. Sau đó bậc Ðạo Sư hỏi xem Bhaddaja ở đâu.
- Bạch
Ngài, kia kìa.
- Ðến
đây Bhaddaji, hãy lên bè của Ta.
Trưởng
lão đứng lên, theo Ngài đến chiếc bè của Ngài. Khi bè ra
tới cửa sông, bậc Ðạo Sư hỏi Bhaddaji:
- Này
Bhaddaji, đâu là cung điện mà ông đã ở lúc Ðại vương
Panàda là vua?
Bhaddaji
đáp:
- Thưa
ở đây, phía dưới nước.
Những
kẻ chưa hiểu đạo bảo với nhau:
- Trưởng
lão Bhaddaji đang tỏ ra mình là một vị Thánh đấy!
Sau
đó bậc Ðạo Sư bảo vị ấy hãy đánh tan mối nghi ngờ
của các bạn đồng tu.
Lập
tức, Trưởng lão cúi mình đảnh lễ bậc Ðạo Sư, và do
thần lực, ông nắm toàn bộ khối cung điện trên đầu ngón
tay rồi bay vụt lên không, mang theo cả tòa cung điện (bao
trùm một khoảng tới hai mươi lăm dặm). Sau đó ông tạo
một lỗ hổng bên trong và xuất hiện trước những chúng
sanh đang có mặt trong cung điện dưới nước rồi tung cả
tòa lâu đài lên khỏi mặt nước một dặm, rồi hai, rồi
ba dặm. Những ai từng là bà con thân thích của ông trong tiền
kiếp kia vì quá yêu thích cung điện ấy, nay đã trở thành
cá, rùa, rắn nước, cóc nhái sinh ra ngay tại nơi ấy.
Bây
giờ khi cả tòa cung điện bị tung lên, chúng giãy giụa lăn
lóc cả ra ngoài rồi rơi bì bõm xuống nước lại. Bậc Ðạo
Sư thấy thế liền bảo:
- Này
Bhaddaji các bà con thân thích của ông đang khốn đốn đấy!
Nghe
Ngài dạy thế, Trưởng lão liền thả cả tòa cung điện ra,
và nó chìm xuống tại chỗ cũ trước đây.
Bậc
Ðạo Sư đã sang bên kia sông Hằng. Hội chúng sửa soạn cho
Ngài một chỗ trên bờ. Ðức Phật ngồi vào chỗ ấy giống
như mặt trời ban mai đang phóng ra những tia sáng. Bấy giờ,
các Tỷ-kheo hỏi Ngài rằng Trưởng lão Bhaddaji đã ở trong
tòa cung điện ấy vào thời nào. Bậc Ðạo Sư trả lời:
- Vào
thời Ðại vương Panàda.
Rồi
Ngài kể cho hội chúng nghe một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa có một ông vua tên Suruci trị vì ở Mithilà, một thành
phố trong vương quốc Videha. Vua có một con trai cũng tên Suruci,
rồi lại có thêm một con trai nữa tên là Ðại Panàda. Họ
làm chủ cung điện kia, do một nghiệp trong tiền kiếp. Có
hai cha con dựng một túp lều lá cùng các cành cây sung làm
nơi cư trú dành cho một vị Ðộc Giác Phật.
Phần
còn lại của câu chuyện sẽ được kể trong Tiền thân Suruci
số 489, Chương Mười bốn.
*
Sau
khi kể xong Pháp thoại, bậc Ðạo Sư với trí tuệ toàn hảo,
đọc lên các bài kệ sau:
Vua
Pa-nà-da có cung điện ấy
Mười
sáu ngàn tầm rộng, một ngàn cao,
Ngàn
tầm cao, cờ xí rợp muôn màu,
Ngọc
bích kết cả trăm tầng lầu các.
Sáu
ngàn văn công tới lui chơi nhạc
Gồm
bảy ban, vẫn múa hát đồng thời,
Bhad-da-ji
đã nói, đúng như lời:
-
Tâu Ðế Thích, nô tài chờ thượng lệnh.
Bấy
giờ, những kẻ chưa hiểu đạo không còn nghi ngờ gì nữa.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại, Ngài nhận diện Tiền thân:
- Thời
ấy Bhaddaji là Ðại vương Panàda, còn Ta là Ðế Thích.
-ooOoo-
265.
Chuyện Mũi Tên (Tiền thân Khurappa)
Khi
nhiều cung bắn vèo tên tới...,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên (Jetavana), về một Tỷ-kheo
mất hết mọi năng lực tinh tấn.
Bậc
Ðạo Sư hỏi có thật Tỷ-kheo ấy đã mất năng lực tinh
tấn không. Vị ấy trả lời thật như thế. Bậc Ðạo Sư
bảo:
- Tại
sao ông lại còn thối thất sau khi đã thọ trì giáo lý giải
thoát này? Ngày xưa, các trí giả đã rất tinh tấn ngay cả
trong những sự việc không đưa đến giải thoát.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi Brahmadatta là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra trong
một gia đình của một người kiểm lâm. Khi lớn lên, ngài
đứng đầu một đoàn gồm năm trăm người kiểm lâm sống
trong một ngôi làng, tại lối vào một khu rừng. Ngài thường
đứng ra tự nhận dẫn mướn cho những ai muốn qua khu rừng
ấy.
Một
hôm, có một người ở Ba-la-nại, con của một thương gia,
đến ngôi làng ấy cùng với một đoàn gồm năm trăm xe chở
hàng. Ông ta gọi Bồ-tát đến, trao cho ngài một ngàn đồng
để được ngài dẫn qua khu rừng. Ngài chấp thuận và nhận
tiền từ tay thương gia ấy. Cầm tiền xong, Bồ-tát tự xem
là đã hiến đời mình để phục vụ vị thương gia. Thế
rồi ngài dẫn ông ta đi qua khu rừng.
Vào
đến giữa rừng, năm trăm tên cướp đột nhiên xuất hiện.
Cả đoàn hộ tống vừa thấy bọn cướp này đã quỳ mọp
xuống ngay. Chỉ riêng người trưởng đoàn kiểm lâm la hét
lên, nhảy vọt tới và đánh đấm, đuổi được tất cả
năm trăm tên cướp chạy trốn để cho vị thương gia kia an
toàn thoát khỏi khu rừng.
Qua
khỏi khu rừng, thương gia ấy cho cả đoàn cắm trại. Ông
cho người trưởng đoàn kiểm lâm ăn những miếng thịt đủ
loại ngon nhất và chính ông cũng ăn cho khỏi cơn đói. Ông
vui vẻ ngồi bên cạnh người trưởng đoàn và bảo:
- Hãy
nói cho tôi biết, làm sao trước cả năm trăm tên cướp đầy
đủ khí giới trên tay bao vây dày đặc thế kia, người không
cảm thấy chút sợ hãi gì trong lòng thế?
Rồi
ông ta đọc bài kệ thứ nhất:
Khi
nhiều cung bắn vèo tên tới,
Nhiều
bàn tay đưa lưỡi thép gần,
Trước
hàng hung hãn Tử-thần,
Sao
người chẳng sợ giữa cơn hiểm nghèo?
Nghe
thế, người kiểm lâm đọc hai bài kệ sau đây:
Khi
nhiều cung bắn vèo tên tới,
Nhiều
bàn tay đưa lưỡi thép gần,
Trước
hàng hung hãn Tử-thần,
Hôm
nay tôi thấy ngập tràn niềm vui.
Niềm
vui ấy cho tôi thắng lợi,
Tôi
liều thân nếu tới lúc cần,
Hành
vi dũng liệt muốn toàn,
Làm
anh hùng, phải coi thường đời ta!
Ngài
phát biểu những lời trên như một trận mưa tên. Sau khi đã
giải thích việc làm anh dũng của mình do đã thoát khỏi lòng
ham sống, Bồ-tát từ giã thương gia trẻ tuổi ấy và quay
về ngôi làng của mình. Suốt đời bố thí và hành thiện
sự, khi mệnh chung, Ngài đi theo nghiệp của mình.
*
Khi
bậc Ðạo Sư kể xong Pháp thoại này, Ngài tuyên thuyết Tứ
Ðế. Ở phần kết thúc Tứ Ðế, vị Tỷ-kheo thối thất
ấy đắc Thánh quả.
Bậc
Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Bấy
giờ Ta là trưởng đoàn kiểm lâm ấy.
-ooOoo-
266.
Chuyện Con Ngựa Quí Tốc Như Phong (Tiền thân Vàtagga-Sindhava)
Mẹ
chàng vì ốm o vàng vọt..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể tại Kỳ Viên, về một người chủ
đất.
Tại
Xá-vệ, người ta nghe nói một phụ nữ xinh đẹp thấy chàng
này cũng đẹp trai liền đem lòng yêu. Nỗi say mê bừng lên
như một ngọn lửa đốt cháy khắp thân thể nàng. Nàng mất
hết tri giác, cả thân lẫn tâm, nàng chẳng thiết gì ăn uống,
chỉ nằm rũ liệt trên giường.
Các
bạn bè và tỳ nữ hỏi vì sao nàng lại phải rối loạn tâm
can đến nỗi phải nằm rũ liệt trên giường thế kia. Họ
muốn biết nguyên nhân vì sao như vậy. Ban đầu, nàng không
chịu trả lời nhưng vì họ cứ thúc ép mãi, nàng đành phải
thú thật sự việc.
- Chị
đừng buồn, chúng tôi sẽ mang chàng lại cho chị!
Họ
bảo như vậy, rồi họ đến nói chuyện với người đàn
ông kia. Lúc đầu chàng từ chối nhưng rồi họ cứ năn nỉ
mãi nên cuối cùng chàng chấp thuận. Thế là họ được chàng
hứa sẽ đến với nàng kia vào ngày, giờ đã định. Họ
liền thuật lại cho nàng nghe.
Nàng
sửa soạn phòng ốc, mặc quần áo thật đẹp rồi ngồi trên
giường chờ chàng đến. Chàng ngồi xuống bên cạnh nàng,
bấy giờ nàng bỗng suy nghĩ: "Nếu ta chấp thuận lời chàng
tán tỉnh ngay lập tức và tự hạ giá mình thì lòng tự trọng
cao của ta sẽ bị dẹp bỏ. Ngày buổi đầu tiên mà để
chàng làm theo ý chàng thì thật là không thích hợp. Thôi hôm
nay mình cứ làm vẻ khó tính rồi sau này sẽ nhượng bộ".
Thế
là ngay khi chàng mới chạm vào nàng bắt đầu tỏ vẻ âu
yếm suồng sã, nàng liền chụp lấy tay chàng và nghiêm nghị
trách cứ chàng, bảo chàng đi ra, vì nàng không thích chàng.
Chàng giận dữ rút lui và ra khỏi nhà.
Khi
các phụ nữ kia biết được sự việc nàng đã làm và thấy
rằng người đàn ông kia đã ra đi, thì họ trách nàng:
- Này
chị, chị đã yêu người ta đến nỗi phải nằm liệt giường,
chẳng thiết gì ăn uống, và chúng tôi cũng đã phải khó
khăn lắm mới thuyết phục được chàng để cuối cùng mang
chàng đến với chị, thế mà chị chẳng có gì để nói với
chàng cả!
Nàng
nói cho họ biết tại sao, họ liền bỏ đi và cảnh cáo rằng
nàng sẽ bị người ta bàn tán.
Người
đàn ông kia chẳng bao giờ đến với nàng nữa. Khi nàng nhận
ra rằng nàng đã mất chàng, nàng bỏ cả ăn mà chết. Khi
người đàn ông kia được tin nàng chết, chàng mang một bó
hoa dầu thơm, hương liệu đến Kỳ Viên. Tại đó, chàng đảnh
lễ bậc Ðạo Sư rồi ngồi xuống bên Ngài.
Bậc
Ðạo Sư hỏi:
- Này
cư sĩ, làm sao mà chúng ta chẳng hề thấy ông đến đây vậy?
Chàng
kể lại cho Ngài nghe toàn bộ câu chuyện và thêm rằng lâu
nay chàng tránh đến hầu đức Phật vì chàng hổ thẹn. Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Này
cư sĩ, người phụ nữ kia cho mời ông đến là do lòng say
mê của nàng, thế rồi nàng chẳng muốn liên hệ gì với
ông cả, lại xua đuổi ông đi khiến ông tức giận, và cũng
đúng như thế, xưa kia nàng cũng đã yêu thương nhiều bậc
trí giả, kêu gọi họ đến và khi họ đến thì lại chẳng
muốn liên hệ gì với họ, cứ làm phiền nhiễu họ như vậy
rồi xua đuổi họ đi.
Thế
rồi do yêu cầu của vị ấy, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện
đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi Brakmadatta là vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là một con
ngựa Sindh. Nó được đặt tên là Tốc-như-phong (nhanh như
gió) và là con ngựa nghi lễ của vua.
Những
người nài thường đem nó đi tắm ở sông Hằng. Nơi đây,
một con lừa cái trông thấy nó liền đem lòng yêu nó. Rung
động vì nỗi say mê, con lừa cái bỏ cả ăn uống, hao mòn
tiều tụy, gầy ốm đến độ chỉ còn xương với da. Một
trong những con lừa con của nó thấy mẹ tiều tụy như thế
liền hỏi:
- Thưa
mẹ, sao mẹ chẳng ăn uống gì cả, sao mẹ lại quá tiều
tụy và nằm run rẩy một nơi thế kia? Có chuyện gì thế
hở mẹ?
Con
lừa cái chẳng nói gì, nhưng con nó cứ hỏi đi hỏi lại
mãi, nó mới kể hết chuyện cho con nghe. Thế rồi con lừa
con an ủi mẹ:
- Thưa
mẹ, mẹ chớ sầu bi, con sẽ mang chú ngựa ấy đến cho mẹ.
Thế
rồi khi ngựa quý Tốc-như-phong xuống tắm, chú lừa con đến
gần nó và nói:
- Thưa
ngài, mẹ tôi yêu ngài: bà chẳng ăn uống gì cả và đang
hao mòn sắp chết. Xin hãy cứu sống mẹ tôi!
- Ðược
rồi, này bạn, tôi sẽ cứu mẹ bạn. Tốc-như-phong bảo.
Khi tôi tắm xong, các anh nài sẽ để tôi thao dượt một chốc
bên bờ sông, bạn hãy mang mẹ bạn đến đấy.
Chú
lừa con đi kiếm mẹ và đưa mẹ đến nơi ấy, rồi chú núp
gần đó.
Người
nài để Tốc-như-phong duỗi chân chạy. Nó dò tìm con lừa
cái và đến với con kia.
Tốc-như-phong
đến gần nó và bắt đầu đưa mũi ngửi. Con lừa cái tự
nghĩ: "Nếu ta tự hạ mình và cứ để cho chàng làm theo ý
chàng trong lúc chàng vừa mới đến, thì danh dự và lòng tự
cao của ta sẽ tiêu tan. Ta phải làm như thể mình không muốn
sự việc chàng làm". Vì thế, nó đã làm vỡ hàm Tốc-như-phong
và suýt giết chết chàng ngựa! "Nàng làm gì ta thế?". Tốc-như-phong
tự nghĩ, cảm thấy xấu hổ rồi bỏ chạy đi.
Thế
rồi con lừa cái hối hận, nằm vật ra đầy đau khổ. Chú
lừa con đến gần và hỏi mẹ như sau:
Mẹ
vì chàng ốm o vàng vọt,
Mẹ
vì chàng chẳng chút uống ăn.
Ngựa
yêu kia mới đến gần,
Cớ
sao mẹ bỗng đâm sầm phóng đi?
Nghe
con bảo thế, con lừa đọc bài kệ thứ hai:
Chàng
kia đến một khi kề sát,
Nếu
ban đầu nhường bước tức thời,
Tiêu
ma giá ngọc cao vời,
Cho
nên mẹ phải vội dời chân ngay!
Qua
những lời này, con lừa giải thích bản tính đàn bà cho con
trai hiểu.
Bậc
Ðạo Sư với Tuệ giác Toàn hảo, đọc bài kệ thứ ba:
Nếu
từ chối chàng trai sang trọng
Ðến
bên nàng mong ngóng yêu đương,
Nàng
đành dằng dặc sầu thương,
Như
Công-đa-lợi đau buồn Như phong!
*
Khi
kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế.
Cuối bài giảng Tứ Ðế, người chủ đất kia đắc quả
Dự Lưu.
Và
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Người
phụ nữ thời ấy là con lừa cái, còn Ta là con ngựa quý
Tốc-như-phong.
-ooOoo-
267.
Chuyện Con Cua (Tiền thân Kakkata)
Con
vật càng vàng, lồi cặp mắt..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể lúc Ngài trú tại Kỳ Viên, về một
phụ nữ.
Người
ta nghe nói một người chủ đất ở Xá-vệ cùng với vợ
đi về quê để thâu tiền nợ thì bị bọn cướp vây bắt.
Người vợ vốn rất xinh đẹp và khả ái. Tên tướng cướp
bị cuốn hút bởi sắc đẹp của nàng, có ý định giết
người chồng để chiếm lấy nàng. Nhưng nàng lại là một
phụ nữ đoan trang đức độ, một người vợ trung kiên. Nàng
phủ phục dưới chân tên cướp và kêu:
- Thưa
ngài, nếu ngài giết chồng tôi vì yêu tôi, tôi sẽ dùng độc
dược hoặc nín thở mà chết theo luôn! Tôi không thể sống
với ngài được đâu! Xin chớ giết chồng tôi một cách vô
ích. Nàng van xin tên cướp như vậy.
Cả
hai vợ chồng ấy trở về Xá-vệ bình yên. Họ được dịp
đi ngang tịnh xá Kỳ-Viên và họ muốn đến tham bái bậc
Ðạo Sư. Vì thế họ vào Hương phòng và sau khi đảnh lễ,
họ ngồi xuống bên Ngài. Bậc Ðạo Sư hỏi họ từ đâu
đến.
- Chúng
con đi thâu tiền nợ, họ đáp.
- Các
người đi đường có bình yên không? Ngài hỏi tiếp.
- Dọc
đường chúng con đã bị cướp bắt - người chồng nói. Thế
rồi tên cướp muốn giết con nhưng vợ con đây đã năn nỉ
xin tha cho con và con đã mang ơn nàng cứu mạng.
Bậc
Ðạo Sư dạy:
- Này
cư sĩ, ông chẳng phải là kẻ độc nhất được nàng cứu
mạng đâu! Vào thời xưa nàng cũng đã từng cứu mạng nhiều
bậc trí giả khác.
Thế
rồi do yêu cầu của vị ấy, bậc Ðạo Sư kể một chuyện
đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi Brahmadatta làm vua xứ Ba-la-nại, trong dãy Hy-mã-lạp
Sơn có một cái hồ rộng nơi đó có một con Cua vàng rất
lớn. Vì cua sống ở đó nên nơi ấy được gọi là Hồ Cua.
Con Cua lớn lắm, lớn bằng cả cái sân đập lúa. Nó có thể
bắt các con voi rồi giết và ăn thịt chúng. Vì sợ nó nên
chẳng voi nào dám đến gần đó để ăn đọt non.
Bấy
giờ Bồ-tát đầu thai vào lòng một con voi cái là vợ của
chúa voi đầu đàn sống gần Hồ Cua. Voi mẹ muốn được
an toàn cho đến lúc sinh con, đã tìm đến một nơi khác trong
một ngọn núi và tại đó nó đã sinh một con voi đực. Theo
thời gian voi con lớn lên rất thông minh, to lớn, khỏe mạnh
và thành tựu mọi mặt. Nó oai nghi, sừng sững như trái núi
màu tím thẫm.
Nó
chọn một con voi khác làm vợ và quyết bắt cho được con
cua kia. Vì vậy cùng với vợ và mẹ, nó tìm đến đàn voi
và gặp cha nó để xin đi bắt Cua.
- Con
không thể làm được việc ấy đâu con ạ! Voi cha bảo.
Nhưng
nó cứ nài nỉ xin phép cha mãi, cuối cùng cha nó bảo:
- Thôi
được, con cứ thử xem!
Thế
là chàng Voi trẻ tập hợp tất cả các voi quanh Hồ Cua lại
và dẫn chúng đến gần hồ. Nó hỏi:
- Cua
thường bắt voi lúc nào? Lúc voi đang đi tới hồ, hay lúc
chúng đang ăn, hay lúc chúng quay trở lên?
Bọn
voi đáp:
- Nó
bắt lúc chúng quay trở lên.
- Ðược
rồi - Voi nói - Tất cả các bạn hãy đi tới hồ và cứ ăn
thứ gì tùy thích rồi quay trở lên trước, tôi sẽ theo cuối
cùng đằng sau các bạn.
Ðàn
voi làm theo như vậy.
Cua
thấy Bồ-tát trở lên sau rốt, liền chộp lấy chân Voi, siết
chặt vào càng, giống như người thợ rèn kẹp khối sắt
trong đôi gọng kềm khổng lồ. Vợ Bồ-tát cũng không rời
chồng, nàng vẫn đứng đó, sát bên chồng. Bồ-tát ra sức
kéo nhưng vẫn không sao làm Cua nhúc nhích được. Thế rồi
Cua kéo và lôi được Voi về phía mình.
Giữa
lúc nguy khốn này, Voi rống lên, rống lên. Nghe tiếng rống
ấy, các voi khác quá kinh hãi, vụt chạy tán loạn, kêu thét
như tiếng kèn đến vung vãi phân. Ngay cả vợ Voi cũng chẳng
đứng yên được và toan phóng chạy. Thế rồi để tỏ cho
vợ biết mình đang bị bắt giữ và hy vọng làm cho vợ khỏi
phóng chạy đi, Voi đọc lên bài kệ đầu:
Con
vật càng vàng, lồi cặp mắt,
Sống
hồ, trần trụi, bọc trong mai,
Tôi
kêu, nó kẹp, nghe đau đớn,
Nàng
hỡi, thương tôi, chớ bỏ tôi!
Nghe
thế, vợ Voi quay lại đọc bài kệ thứ hai an ủi chồng:
Rời
chàng, thiếp quyết chẳng khi nào,
Sáu
chục năm đời, chúa tối cao,
Cả
bốn phương trời đều chứng tỏ
Chẳng
ai thắm thiết sánh chàng đâu!
Vợ
Voi khích lệ chồng như thế và nói:
- Này
bậc trượng phu, bây giờ thiếp sẽ bảo Cua kia thả chàng
ra.
Rồi
vợ Voi cầu xin Cua qua bài kệ thứ ba:
Trong
các loài Cua ở biển xa,
Hoặc
là Ner-bud, hoặc Hằng Hà,
Ngài
là tối thượng, nay tôi biết,
Xin
để chồng tôi được thoát ra.
Khi
nàng đọc xong, lòng kiêu hãnh hung hăng của Cua bị tiếng
nói phụ nữ hóa giải. Quên cả sợ, Cua nới lỏng đôi càng,
thả chân con Voi ra, chẳng nghi ngờ gì đến việc Voi sẽ làm
khi được thả. Thế là Voi nhấc chân lên, đạp lên lưng
Cua làm cho đôi mắt Cua phải lòi ra lập tức. Voi sung sướng
kêu lên.. Các con voi kia chạy lại, kẹp Cua đi, đặt Cua nằm
trên đất rồi dẫm nát nó. Ðôi càng Cua bị gãy rời tả
tơi. Thế rồi Hồ Cua, vì ở gần sông Hằng, bị ngập trong
một cơn nước dâng. Khi nước hạ, nước rút từ hồ ra tới
sông Hằng. Ðôi càng cua bị đẩy đi, bập bềnh trong nước
sông Hằng. Một càng trôi ra biển, còn càng kia được mười
anh em trong hoàng tộc tìm thấy khi họ đang tắm sông và họ
dùng càng này làm cái trống nhỏ, gọi là Ànaka. Các thần
Àsura (A-tu-la) tìm được cái càng trôi ra biển kia, và dùng
nó làm trống, gọi là Àlambara. Về sau các thần Asura (A-tu-la)
bị Thiên chủ Sakka đánh bại, phải chạy đi và bỏ lại
cái trống. Sakka bảo giữ trống ấy để làm đồ dùng riêng.
Do thế, người ta mới thường nói: "Sấm động như mây Álambara".
*
Khi
kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế
và cuối bài giảng, cả người chồng và người vợ đều
đắc quả Dự Lưu. Và Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy, nữ cư sĩ này là con Voi cái, còn Ta chính là con
Voi chồng.
-ooOoo-
268.
Chuyện Kẻ Làm Hại Vườn (Tiền thân Àràma-Dùsa)
Giỏi
nhất trong bọn là đây..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể lúc Ngài trú ở một vùng quê gần
Dakkinãgiri (Nam Sơn), về con trai của một người giữ vườn.
Sau
mùa an cư, bậc Ðạo Sư rời Kỳ-Viên và đi khất thực ở
một vùng gần Dakkinãgiri. Một cư sĩ mời đức Phật và đoàn
Tỷ-kheo của Ngài ngồi xuống khu vườn của ông để ông
dâng cơm và bánh. Sau đó ông bảo:
- Nếu
có ai trong các vị muốn ngoạn cảnh thì xin cứ đi theo người
giữ vườn.
Rồi
ông sai người giữ vườn mời chư Tăng các trái cây mà họ
thích.
Lát
sau, họ đến một chỗ trống:
- Tại
sao chỗ đất này trơ trụi và chẳng có cây cối gì cả thế?
Họ hỏi.
Người
giữ vườn đáp:
- Ðó
là do con trai của một người giữ vườn đấy! Anh ta phải
tưới cây con và nghĩ rằng tốt hơn là anh nên tưới nước
thế nào cho hợp với độ dài của rễ cây. Vì thế, anh nhổ
hết cây lên xem rễ để tùy theo đó mà tưới nước. Kết
quả là nơi đây trở thành trơ trụi.
Các
Tỷ-kheo trở về, kể chuyện lại cùng bậc Ðạo Sư. Ngài
dạy:
- Chẳng
phải chỉ bây giờ người kia mới phá hại vườn cây như
vậy, trước đây anh ta cũng đã làm thế.
Rồi
Ngài kể một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi một vị vua tên là Vissasena đang trị vì Ba-la-nại,
một ngày lễ hội được tuyên bố. Người giữ vườn kia
nghĩ rằng anh ta nên đi dự lễ, vì thế anh gọi các con khỉ
sống trong khu vườn lại và dặn:
- Khu
vườn này là nguồn lợi lớn cho các bạn. Nay ta muốn đi
dự lễ, các bạn hãy tưới đám cây con vào ngày thứ bảy
nhé.
- Vâng
ạ. Chúng đáp.
Anh
ta giao các bình tưới cho chúng rồi ra đi.
Bầy
khỉ xách nước và bắt đầu tưới rễ cây.
Con
khỉ già nhất kêu lên:
- Khoan
đã! Có đủ nước luôn luôn đâu phải dễ! Chúng ta phải
tính sao cho tốt. Hãy nhổ cây lên và coi kỹ độ dài của
rễ, nếu cây có rễ dài, chúng phải cần nhiều nước; còn
nếu cây có rễ ngắn, chúng chỉ cần một ít nước thôi!
- Ðúng
thế, đúng thế.
Cả
bọn khỉ đều đồng ý. Thế rồi vài con khỉ đi nhổ cây
lên. Các con khác trồng chúng lại và tưới nước vào.
Bấy
giờ Bồ-tát là một trưởng giả trẻ tuổi sống tại Ba-la-nại.
Nhân có việc, ngài đi ngang khu vườn và thấy việc các đàn
khỉ đang làm.
- Ai
bảo các ngươi làm thế? Ngài hỏi.
- Trưởng
đoàn của chúng tôi đấy! Bọn khỉ đáp.
- Nếu
trí tuệ của trưởng đoàn đã như thế thì còn lại đám
chúng bây có ra gì nữa! Ngài nói.
Và
để giải thích sự việc, ngài đọc bài kệ đầu:
Giỏi
nhất trong bọn là đây,
Thông
minh như kiểu thế này được sao?
Khỉ
kia nếu chọn tối cao,
Những
tên còn lại phận nào định đây?
Nghe
phê phán như vậy, bọn khỉ đọc tiếp bài kệ thứ hai:
Lời
kia, người cũng chẳng hay,
Thế
này trách cứ la rầy chúng tôi!
Nếu
không biết rễ ngắn dài,
Làm
sao thấy được cây trồi lớn đây?
Nghe
thế Bồ-tát liền trả lời bằng bài kệ thứ ba:
Khỉ
ơi, ta chẳng trách bây,
Cũng
không trách bọn đó đây trong rừng.
Chủ
kia mới thật điên khùng,
Ra
đi giao hết cây trồng nhờ coi!
*
Khi
kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Người
phá hoại vườn cây thời ấy là con khỉ đầu đàn, còn Ta
là vị trí giả kia.
-ooOoo-
269.
Chuyện Nàng Sujàta (Tiền thân Sujàta)
Kẻ
hưởng được bề ngoài duyên dáng..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ-Viên, về một
cô gái, tên là Sujàta, dâu ông Cấp Cô Ðộc, con gái của
vị phú thương Dhananjaya và là em út của nữ cư sĩ Visàkhà.
Cô
ta về làm dâu nhà ông Cấp Cô Ðộc với lòng đầy kiêu ngạo
vì nghĩ rằng cô vốn xuất thân từ một gia đình sang trọng.
Cô rất bướng bỉnh, thô lỗ, nóng nảy và hung tợn. Cô từ
chối các bổn phận đối với cha mẹ mới hay đối với chồng
mình. Cô đi khắp nhà nói năng thô lỗ và còn đánh đập
cả mọi người.
Một
hôm, bậc Ðạo Sư cùng năm trăm Tỷ-kheo đến viếng ông Cấp
Cô Ðộc. Mọi người ngồi xuống, vị đại thương gia ngồi
bên cạnh Thế tôn và nghe Ngài thuyết pháp. Lúc ấy, Sujàta
đang la mắng những người giúp việc.
Bậc
Ðạo Sư ngưng nói và hỏi tiếng gì ồn ào như vậy. Vị
thương gia giải thích rằng đó là con dâu thô lỗ của ông,
cô ta đã không cư xử đúng đắn với chồng và cha mẹ chồng,
cô chẳng hề bố thí và chẳng có điểm nào tốt cả; cô
không có lòng tín thành mộ đạo, cô đi khắp nhà, la mắng
suốt ngày đêm. Bậc Ðạo Sư truyền gọi cô ta đến.
Người
phụ nữ kia đến và sau khi đảnh lễ bậc Ðạo Sư, cô đứng
một bên. Rồi bậc Ðạo Sư hỏi cô:
- Này
Sujàta, có bảy loại vợ mà một người đàn ông có thể
gặp; cô thuộc về loại nào?
Cô
ta trả lời:
- Bạch
Thế Tôn, Ngài dạy vắn tắt quá, con không hiểu được, xin
Ngài giải thích thêm.
- Ðược
rồi, - bậc Ðạo Sư dạy - Hãy chú ý nghe đây.
Rồi
Ngài đọc các bài kệ sau:
Tâm
địa xấu, điều hay chẳng thiết,
Yêu
người ngoài, lại ghét bỏ chồng,
Của
tiền chồng tạo phá tan,
Vợ
này Phá hoại nhà chàng xứng tên.
Vật
chồng tặng do tiền mua bán,
Nghề
tinh chuyên, cuốc xẻng nông gia,
Cố
tình lấy cắp dần dà,
Vợ
nào như thế, gọi là Tặc gian.
Quên
phận sự, hung tàn lười biếng,
Lại
tham lam, xấu miệng sân đầy,
Chuyên
quyền với kẻ dưới tay
Mang
danh là loại vợ đây Cao cường.
Còn
kẻ vẫn mến thương điều tốt,
Chăm
sóc chồng như một mẹ hiền,
Của
tiền chồng tạo, giữ gìn,
Mẫu
nghi mới gọi đúng tên vợ này.
Tôn
trọng chồng cũng tày như thế
Ðàn
em thơ kính nể người anh,
Nhún
nhường, tuân phục chồng mình,
Vợ
là Hiền muội, đúng tình chất chơn.
Kẻ
luôn mừng đón chồng khi thấy
Như
bạn bè sau mấy độ xa,
Hiến
dâng, đức độ, nghiêm hòa,
Vợ
nào như thế, gọi ra Thân bằng.
Sợ
hung tàn, tâm an chịu khổ,
Chẳng
cuồng si, đầy đủ kiên trì,
Chân
tình, chiều chuộng mãi ghi,
Vợ
kia được gọi Nô tỳ chính danh.
Này
Sujàta, trên đây là bảy loại người vợ mà một người
đàn ông có thể có. Ba loại người vợ bị gọi là vợ phá
hoại, vợ bất lương và cao cường phu nhân sẽ tái sinh vào
địa ngục. Bốn loại người vợ còn lại sẽ được sanh
vào cõi trời thứ năm.
Vợ
Cao cường, Tặc gian, Phá hoại,
Giận
dữ hoài, chẳng biết kính ai,
Hết
đời, bỏ xác, đầu thai
Xuống
miền địa ngục khó ngày thoát đi.
Vợ
Thân bằng, Mẫu nghi, Hiền muội,
Hoặc
Nô tỳ, trong cõi đời này,
Ngoan
hiền, tự chủ lâu dài,
Hết
đời, bỏ xác, lên trời sống vui.
Khi
bậc Ðạo Sư thuyết giảng về bảy loại người vợ như
thế, Sujàta đắc quả Dự Lưu, và khi bậc Ðạo Sư hỏi rằng
nàng thuộc loại vợ nào, thì nàng thưa:
- Bạch
Ngài, con là kẻ nô tỳ.
Nói
xong nàng cung kính đảnh lễ đức Phật và được Ngài tha
thứ.
Như
vậy chỉ với một lời khuyên bảo, bậc Ðạo Sư đã thuần
hóa được người phụ nữ xấu tánh kia. Sau bữa ăn, Ngài
tuyên thuyết về các bổn phận trong giáo hội và rồi Ngài
vào Hương phòng.
Bấy
giờ các Tỷ-kheo họp tại Pháp đường và ca ngợi bậc Ðạo
Sư:
- Này
các pháp hữu, chỉ với một lần khuyên bảo duy nhất, bậc
Ðạo Sư đã thuần hóa được người phụ nữ xấu tánh kia
và khiến cho nàng đắc quả Dự Lưu.
Bậc
Ðạo Sư bước vào và hỏi xem họ ngồi với nhau đang thảo
luận chuyện gì. Họ thuật lại như trên. Ngài dạy:
- Ðây
chẳng phải là lần đầu tiên Ta thuần hóa Sujàta bằng một
lời khuyên bảo duy nhất đâu!
Rồi
Ngài kể tiếp một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là thái
tử do Chánh cung hoàng hậu sinh ra. Ngài lớn lên và được
giáo dục tại Takkasila. Sau khi vua cha băng hà, ngài nối ngôi
và trị vì rất công chính.
Mẫu
hậu ngài là một người đàn bà nóng nảy, dữ tợn, thô
lỗ, gắt gỏng, ác khẩu. Ngài chỉ mong sao khuyên bảo được
mẹ, nhưng ngài cũng nhận thấy rằng không nên làm điều
gì bất kính đối với mẹ. Vì thế, ngài cố tìm một cơ
hội để hé lộ dần ẩn ý.
Một
hôm ngài đi vào vườn hoa và mẹ ngài cũng theo ngài. Một
con chim cưỡng xanh đang kêu the thé trên đường. Khi ấy, các
triều thần đều bịt tai lại và la lên:
- Cái
giọng thật kinh khủng! Cái tiếng kêu ấy thật ghê rợn!
Ðừng gây ra cái tiếng ấy nữa!
Bấy
giờ Bồ-tát đang đi qua vườn hoa với mẹ và đoàn người
du lãm. Một con chim Cu đậu trong đám lá rậm của một cây
sàla, hót lên âm điệu ngọt ngào. Mọi người đứng đó
đều thích thú khi nghe nó hót, vỗ đôi bàn tay rồi chìa tay
ra và yêu cầu nó:
- Ôi!
Thật là giọng hót êm dịu, một giọng hót tốt lành, một
giọng hót thanh lịch! Hót lên, chim ơi, hót lên đi!
Rồi
họ cứ đứng đó, rướn cổ lên chờ nghe.
Bồ-tát
chú ý đến hai sự việc này, nghĩ rằng đây là dịp may để
tiết lộ ẩn ý của mình cho mẫu hậu.
- Thưa
mẹ - ngài nói - Tiếng kêu của con chim cưỡng trên đường
làm cho ai nghe cũng phải bịt tai và thốt lên: Ðừng gây ra
cái tiếng ấy nữa! Ðừng gây ra cái tiếng ấy nữa! Và họ
bịt tai lại vì âm thanh dữ dằn chẳng được ai ưa cả.
Thế
rồi ngài đọc các bài kệ sau:
Kẻ
hưởng được vẻ ngoài duyên dáng,
Thoạt
nhìn vào, tươi sáng đẹp thay,
Nhưng
buông lời nói chối tai,
Ðời
này đời kế chẳng ai yêu vì!
Chim
Cu kia, thường khi mẹ thấy,
Lốm
đốm đen xấu vậy mặc dầu,
Tiếng
kêu êm dịu ngọt ngào,
Bao
nhiêu kẻ đón người chào mến thương.
Mong
tiếng mẹ dịu dàng thanh lịch,
Lời
khôn ngoan bỏ hết tự kiêu,
Âm
thanh êm ái mỹ miều
Giảng
bày Thánh pháp ý nêu tỏ tường.
Khi
Bồ-tát khuyến dụ mẫu hậu bằng ba bài kệ trên, ngài đưa
mẹ vào cách suy nghĩ của mình. Sau đó, mẹ ngài sống theo
chính đạo. Chỉ bằng một lời nói, Bồ-tát đã làm cho mẹ
thành một người phụ nữ biết quên mình. Rồi về sau, khi
từ trần, Bồ-tát đi theo nghiệp của mình.
*
Khi
kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Sujàta
là mẹ của vị vua ở Ba-la-nại, còn Ta chính là vị vua ấy.
-ooOoo-
270.
Chuyện Con Cú (Tiền thân Ulùka)
Cú
là vua của các loài chim....
Chuyện
này bậc Ðạo Sư kể lúc Ngài trú tại Kỳ Viên về sự tranh
chấp giữa Quạ và Cú.
Vào
thời kỳ ấy, ban ngày Quạ thường ăn thịt Cú, còn ban đêm
Cú lại bay tới cắn đứt đầu Quạ khi Quạ đang ngủ và
giết đi.
Có
một Tỷ-kheo sống trong một cái cốc ở vùng lân cận Kỳ
Viên, mỗi lúc quét dọn, thường phải đổ cả bảy tám chậu
đầy đầu Quạ rớt từ trên cây xuống. Vị ấy đem sự
việc kia kể lại cho các Tỷ-kheo nghe.
Thế
là trong Pháp đường, các Tỷ-kheo bắt đầu bàn tán về chuyện
ấy.
- Này
Hiền hữu, vị Tỷ-kheo kia thấy nhiều đầu Quạ quá, mỗi
ngày phải đem chúng đổ đi ngay chỗ mình ở!
Bậc
Ðạo Sư đi vào hỏi xem các Tỷ-kheo đang ngồi thảo luận
việc gì. Họ kể cho Ngài nghe và hỏi tiếp rằng sự tranh
chấp giữa Quạ và Cú đã xảy ra từ bao lâu rồi. Bậc Ðạo
Sư trả lời.
- Từ
thời nguyên thủy.
Rồi
Ngài kể cho họ nghe một câu chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, loài người sống trong thời nguyên thủy họp nhau lại
và bầu một người đẹp đẽ, có tướng tốt, oai nghi hoàn
hảo lên làm vua. Các loài bốn chân cũng tụ họp lại và
bầu sư tử làm vua. Loài cá dưới biển cũng chọn vua là
con cá tên Ànanda.
Thế
rồi tất cả chim chóc trên dãy Hy-mã-lạp Sơn cũng tụ họp
nhau lại trên một phiến đá phẳng và kêu lên.
- Loài
người đã có một ông vua, loài thú và loài cá cũng đã có,
còn chim chóc chúng ta thì không. Chúng ta không thể sống hỗn
loạn được, chúng ta cũng phải chọn một ông vua. Hãy chọn
một con chim xứng đáng với ngôi vua.
Chúng
tìm kiếm một con chim như vậy và chọn một con Cú. "Ðây
là con chim mà chúng ta muốn", chúng bảo thế, và một con chim
tuyên bố ba lần cho cả bọn biết rằng sẽ có một cuộc
bầu cử về việc đó. Sau khi kiên nhẫn nghe thông báo hai
lần, đến lần thứ ba một con Quạ đứng dậy la lên:
- Khoan
đã, khi anh ta đang được tôn lên làm vua mà mặt mày còn
như thế kia, huống chi khi anh ta giận dữ thì trông như thế
nào nữa? Nếu anh ta nhìn chúng ta đang giận dữ thì chúng
ta cũng tan xác như mè rán trên chảo nóng mà thôi. Tôi không
muốn tôn anh ta làm vua đâu.
Và
để tán rộng điều này, Quạ đọc bài kệ đầu:
Cú
là vua của các loài chim,
Xin
phép, cho tôi tỏ nỗi niềm.
Chấp
thuận cho Quạ được nói, bọn chim đọc tiếp bài kệ thứ
hai:
Giữa
bọn trẻ kia, xin cứ nói,
Mong
sao tốt đẹp, tỏ tường thêm.
Ðược
cho phép nói, Quạ đọc bài kệ thứ ba:
Trân
trọng trình bày ý của tôi,
Tôi
đây chẳng muốn Cú lên ngôi,
Hãy
nhìn mặt mũi kia như thế,
Hắn
sẽ làm gì lúc giận sôi?
Ðoạn
Quạ bay bổng lên không và kêu:
- Tôi
chẳng thích thế đâu! Tôi chẳng thích thế đâu!
Cú
bay lên đuổi theo Quạ. Từ đấy về sau, cả hai đều nuôi
lòng hận thù nhau. Còn lũ chim kia chọn một con Ngỗng trời
vàng lên làm vua rồi giải tán.
*
Khi
kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế
và nhận diện Tiền thân:
- Lúc
bấy giờ, con Ngỗng trời được chọn làm vua chính là Ta
vậy.
-ooOoo-
271.
Chuyện Kẻ Làm Bẩn Giếng Nước (Tiền thân Udapàna-Dùsaka)
Giếng
được tạo do người ẩn dật..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Isipatana (Trú xứ
của chư Thiên), về một con chó rừng đã làm bẩn giếng
nước.
Người
ta nghe nói có một con chó rừng thường đến làm bẩn cái
giếng mà các Tỷ-kheo thường đến múc nước, rồi bỏ đi.
Một hôm, các chú tiều lấy đất ném nó để đe dọa. Sau
đó, nó không bao giờ trở lại nơi ấy nữa.
Các
Tỷ-kheo nghe chuyện ấy và bắt đầu bàn tán trong Pháp đường.
- Này
các Hiền hữu, con chó rừng thường làm bẩn giếng nước
của chúng ta, từ khi bị các chú tiều dùng đất ném đuổi
đi, đã không hề quay trở lại nữa.
Bậc
Ðạo Sư đi vào và hỏi xem họ đang ngồi với nhau và thảo
luận chuyện gì. Họ kể lại cho Ngài nghe. Ngài dạy:
- Này
các Tỷ-kheo, đây chẳng phải là lần đầu tiên con chó rừng
kia làm bẩn giếng nước. Trước kia nó cũng đã làm như thế.
Rồi
Ngài kể cho họ nghe một chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, chính cái giếng kia nằm tại nơi này có tên là Isipatana
(Trú xứ của chư Tiên) gần Ba-la-nại. Lúc bấy giờ Bồ-tát
sinh ra trong một gia đình thiện hảo. Lớn lên, ngài sống
đời tu hành và cư trú tại Isipatana cùng với một nhóm người
tùy tùng. Một con Chó rừng làm bẩn giếng nước như đã
nói trên rồi phóng chạy đi. Một hôm, các ẩn sĩ vây bắt
được nó và dẫn nó tới trước mặt Bồ-tát. Ngài nói với
nó qua bài kệ đầu:
Giếng
được tạo do người ẩn dật,
Ðộc
cư nơi khoảng đất rừng sâu,
Nhọc
nhằn khổ cực bấy lâu,
Bạn
ơi, sao vấy dơ vào giếng trong?
Nghe
vậy Chó rừng đọc tiếp bài kệ thứ hai:
Ðó
là luật giống dòng tôi đấy,
Uống
nơi nào là vấy cho dơ,
Tổ
tiên làm thế đến giờ,
Lời
ngài trách cứ, có ngờ sai chăng?
Bồ-tát
trả lời bằng bài kệ thứ ba:
Nếu
luật ấy chó rừng đã đặt,
Lạ
lùng thay, phi pháp mất rồi!
Mong
rằng lần cuối thấy ngươi,
Hành
vi kia đúng hay sai, chớ làm.
Bậc
Ðại Sĩ khuyên nhủ nó như vậy rồi bảo:
- Ðừng
đến đó nữa!
Từ
đó về sau, ngay cả việc dừng lại để nhìn qua giếng, con
Chó rừng cũng không dám.
*
Kể
xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế và
nhận diện Tiền thân:
- Cả
hai trường hợp làm dơ bẩn nước cũng đều do chính con Chó
rừng ấy, còn Ta là vị sư trưởng kia.
-ooOoo-
272.
Chuyện Con Cọp (Tiền thân Vyaggha)
Nếu
do gần bạn tri âm..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài trú tại Kỳ-Viên về Kokàlika.
Các
tình tiết của câu chuyện này sẽ được kể trong chương
mười ba và Tiền thân Takkàriya số 481. Ở đây, Kokàlika lại
nói:
- Ta
sẽ đem Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Moggallàna (Mục-kiền-liên)
theo với ta.
Vì
thế, sau khi rời xứ sở của Kokàlika, ông ta đi đến Kỳ-Viên,
vào đảnh lễ bậc Ðạo Sư rồi đi tiếp đến các vị Trưởng
lão. Ông ta nói:
- Này
các Hiền giả, dân chúng ở xứ của Kokàlika muốn mời các
Hiền giả, chúng ta hãy đến đó đi.
- Hiền
giả hãy đi đi, chúng tôi không đi đâu! Xá-lợi-phất và
Mục-kiền-liên trả lời.
Sau
lời từ chối này, Kokàlika ra đi một mình.
Các
Tỷ-kheo bắt đầu bàn tán chuyện ấy trong Pháp đường:
- Này
Hiền hữu, Kokàlika không thể sống với Xá-lợi-phất và
Mục-kiền-liên, và cũng không thể sống mà không có các vị
ấy! Ông ta không chịu đựng nỗi sự chung đụng với họ.
Bậc
Ðạo Sư bước vào và hỏi mọi người đang bàn tán chuyện
gì. Họ kể lại cho Ngài nghe. Ngài dạy:
- Xưa
kia, cũng như bây giờ, Kokàlika không thể sống với Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên cũng không thể sống mà không có hai vị
ấy.
Rồi
Ngài kể một câu chuyện đời xưa.
*
Ngày
xưa, khi Brahmadatta làm vua xứ Ba-la-nại, Bồ-tát là một vị
thần cây sống trong một khu rừng nhỏ. Không xa trú xứ của
ngài bao nhiêu, có một vị thần cây khác sống trong một rừng
rậm. Khu rừng rậm này lại là chỗ ở của một con sư tử
và con hổ. Vì sợ chúng, không ai dám đến đó gieo trồng
hoặc đốn cây, ngay cả dừng chân liếc qua chỗ đó cũng
chẳng ai dám. Sư tử và hổ ăn thịt mọi loài. Thịt ăn còn
dư, chúng vứt bỏ lại rồi đi. Vì thế khu rừng đầy cả
thịt bốc mùi hư thối.
Vị
thần kia điên tiết lên, chẳng kể phải quấy gì nữa, một
hôm đã đến nói với Bồ-tát:
- Thưa
Hiền giả, cả rừng kia đầy mùi hôi thối vì con sư tử
và con hổ kia. Tôi sẽ đuổi chúng đi.
Bồ-tát
bảo:
- Này
Hiền giả, chính hai con thú ấy đã bảo vệ chỗ ở của
chúng ta đấy! Một khi chúng bị đuổi đi thì chỗ ở của
chúng sẽ bị hoang tàn. Nếu người ta không thấy dấu vết
của hổ và sư tử thì họ sẽ tới đốt hết rừng, làm
tất cả thành một khoảng đất trống để trồng trọt. Xin
Hiền giả chớ làm thế!
Rồi
Ngài đọc hai bài kệ đầu:
Nếu
do gần bạn tri âm,
Bình
an có thể bị làm tiêu tan,
Còn
gì cao trọng cho hơn
Như
tròng con mắt người khôn giữ gìn.
Nhưng
khi bạn tri âm thực sự
Làm
tăng thêm mức độ bình an;
Hãy
làm đời bạn an khang,
Hãy
thương đời bạn như thương đời mình.
Tuy
Bồ-tát đã giảng giải như thế, vị thần cuồng si kia cũng
chẳng để tâm. Thế rồi một hôm, ông hiện hình thật khủng
khiếp, đuổi sư tử và hổ đi. Chẳng bao lâu, dân chúng không
thấy vết chân hai con thú kia nữa, họ đoán rằng sư tử
và hổ có lẽ đã bỏ đi sang rừng khác và họ chặt đi một
phía rừng. Bấy giờ, vị thần kia mới đến gặp Bồ-tát
và nói:
- Ôi
thưa Hiền giả, tôi đã không theo lời Hiền giả mà lại
đuổi hai con thú ác kia đi. Bây giờ người ta nhận ra rằng
chúng đã ra đi và họ đang đốn hạ cả khu rừng. Chúng ta
phải làm gì bây giờ đây?
Thần
được trả lời rằng hai con thú ấy đang sống ở một khu
rừng kia, phải đến đó mà tìm chúng về. Vị thần kia làm
theo như thế. Ðứng trước hai con thú, thần kính cẩn chào
rồi đọc bài kệ thứ ba:
Xin
quay trở lại rừng già,
Ðể
rừng khỏi bị san ra đồng bằng.
Bạn
đi, rìu sẽ hạ rừng,
Không
rừng, mãi mãi bạn không có nhà!
Hai
con thú khước từ lời thỉnh cầu và bảo:
- Ði
đi, chúng tôi không đến đó đâu!
Thế
là vị thần kia phải trở về một mình. Chỉ sau một vài
ngày, dân chúng đã đốn hết rừng, làm thành một đồng
ruộng để cày cấy trồng trọt.
*
Khi
kể xong Pháp thoại này, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết Tứ Ðế
và nhận diện Tiền thân:
- Lúc
bấy giờ Kokàlika là vị thần cuồng si, còn vị thần trí
tuệ kia là Ta.
-ooOoo-
273.
Chuyện Con Rùa (Tiền thân Kacchapa)
Ai
kia đem bát xin ăn..,
Chuyện
này do bậc Ðạo Sư kể khi Ngài đang trú tại Kỳ Viên về
sự tranh cãi giữa hai đại thần trong triều vua Kosala.
Các
tình tiết câu chuyện giống như đã được kể ở Chương
Hai, số 154 và 165.
*
Ngày
xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát sinh ra
trong một gia đình ở Kàsi. Khi lớn lên, ngài được giáo
dục tại Takkasilà. Sau khi đã thành tựu về mọi mặt, ngài
lui về sống ẩn dật trong một túp lều lá tại dãy Hy-mã-lạp
Sơn (Tuyết Sơn) bên bờ sông Hằng. Nơi đây, ngài đạt được
các Thắng trí và các Thiền chứng. Nhờ đó, tâm ngài trở
nên an lạc, đạt tới hạnh nhẫn nhục cao vời.
Bồ-tát
thường tĩnh tọa ở trước lều. Bấy giờ có một chú Khỉ
ngỗ nghịch, trơ láo thường đến chọc phá ngài, nhưng nó
không thể nào làm cho tâm ngài dao động. Ngài vẫn ngồi tĩnh
lặng an bình.
Bấy
giờ có một con Rùa cái, một hôm đang nằm giữa trời, há
miệng ngủ thiếp bên dòng nước. Thấy thế, Khỉ trơ tráo
kia liền đến và đút ngón tay vào miệng rùa. Rùa chợt tỉnh
giấc và ngậm miệng lại, cắn chặt lấy tay Khỉ. Ðến khi
chịu không nổi nữa, khỉ tự hỏi: "Ta phải cầu cứu ai
giải thoát cho ta khỏi sự đau đớn cực điểm này?". Khi
nghĩ được rằng chỉ còn cách đến cầu cứu Bồ-tát, nó
liền mang cả con Rùa đến trước ngài. Với giọng hài hước,
Bồ-tát nói với Khỉ qua bài kệ đầu:
Ai
kia đem bát xin ăn,
Vốn
từ đâu lại, có phần gì chăng?
Khỉ
đáp lại qua bài kệ thứ hai: