PHẨM NỮ NHÂN
61. CHUYỆN BÀI KINH KHỔ ÐAU (Tiền thân
Asàtamanta)
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại
Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bị tham dục chi phối. Câu chuyện
sẽ được trình bày ở Tiền
thân Ummadanti số 527.
-ooOoo-
62. CHUYỆN CÔ GÁI TRÊN LẦU BẢY TẦNG.
(Tiền thân Andabhuta)
Trò chơi sáo, giả mù...
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại
Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bị ái dục chi phối tâm trí. Bậc
Ðạo Sư hỏi:
- Tăng chúng bảo rằng ông
bị ái dục chi phối, có phải vậy chăng?
- Thưa vâng, quả đúng như
vậy.
- Này Tỷ-kheo, không ai canh giữ đàn
bà được cả. Ngày xưa, có
kẻ đầy mưu trí canh giữ một
nữ nhân từ khi nó mới lọt lòng mà cũng không thể nào giữ
nó được.
Nói vậy xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ vua Brahmadatta trị vì tại Ba-la-nại, Bồ-tát
sinh làm vương tử của bà Chánh hậu. Khi ngài lớn lên, ngài
tinh thông mọi môn học thuật, và khi vua cha băng
hà, ngài lên ngôi làm một vị anh quân, trị dân đúng
pháp. Thời ấym ngài thường chơi súc sắc với vị Tế sư
của triều đình, và khi ném
con bài súc sắc bằng vàng trên mặt chiếc bàn bằng bạc,
ngài thường ca khúc hát cầu may này:
Muôn vật lẽ thường tình,
Sông ngòi uốn lượn quanh,
Còn các loài thảo mộc
Là cây cối mọc thành,
Hễ gặp thời cơ tới,
Nữ nhân phạm ác hành.
Vì khúc hát này làm cho vua thắng cuộc mãi, nên theo đúng
luật chơi bài, vị tế sư mất đến
cả đồng xu dính túi. Và muốn
khỏi sạt nghiệp, vị ấy quyết định
tìm cho ra một cô gái chưa hề thấy người đàn
ông nào, đem về nhà khóa cửa
nhốt trong phòng. Vị ấy nghĩ thầm: "Ta không thể nuôi một
cô gái đã từng thấy đàn
ông. Vậy ta phải tìm một đứa
trẻ sơ sinh, giữ kỹ nó lúc lớn lên, canh chừng nó thật
cẩn mật để không ai có thể
đến gần nó và nó sẽ trung
thành với người đàn ông duy
nhất thôi. Lúc ấy ta sẽ thắng vua và trở nên giàu có".
Bấy giờ vị này rất giỏi khoa tướng số, nên vừa thấy
một người đàn bà nghèo sắp
sinh con, và đứa trẻ sẽ là
con gái, vị ấy bèn thuê tiền để
đem bà ta về ở trong nhà mình,
giữ thật kỹ đến ngày sinh
đứa con xong, bà ta phải đi
ngay với một số tiền. Còn hài nhi kia được
toàn phụ nữ nuôi nấng, không một nam nhân nào được
nhìn thấy nó, trừ vị Tế sư. Khi nó lớn lên, nó thuộc
về quyền sở hữu của vị Tế sư, chủ nhân của nó.
Suốt thời gian cô bé lớn dần, vị Tế sư tránh việc
chơi bài với vua, nhưng khi nó đã
trưởng thành dưới quyền kiểm soát của chính mình, thì
vị Tế sư lại thách thức vua chơi bài. Ngài chấp thuận
và bắt đầu cuộc chơi. Trong
khi vừa ném con súc sắc, ngài vừa hát khúc ca cầu may ấy,
thì vị Tế sư nói thêm:
- Nhưng bao giờ cô bé của hạ thần cũng là ngoại lệ
đấy!
Rồi vận may cũng đổi chiều,
chính vị Tế sư thắng cuộc và nhà vua thua bài.
Khi xét kỹ vấn đề trên,
Bồ-tát nghi ngờ vị Tế sư có giấu kính một cô gái đức
hạnh trong nhà, nên ngài cho người dò tìm và quả đúng
như vậy. Thế là để làm cho
cô bé kia phải sa ngã và phạm lỗi, ngài truyền đưa
tới một gã điếm đàng
giảo quyệt, và hỏi gã có cách quyến rũ cô gái chăng.
- Tâu Ðại vương, chắc chắn là được.
Gã kia đáp.
Nghe vậy, nhà vua cho gã tiền và bảo gã thi hành lệnh ngài
ngay, chớ để mất thì giờ
lâu.
Với số tiền vua ban, gã mua đủ
loại nước hoa, hương liệu và mở cửa tiệm bán nước hoa
gần nhà vị Tế sư. Bấy giờ nhà Tế sư cao bảy tầng, có
bảy cổng, mỗi cổng đều có
người ngồi canh, toàn phụ nữ canh cổng, không đàn
ông nào được phép vào nhà
trừ vị Bà-la-môn. Ngay cả những thúng đựng
rác cũng được khám xét thật
kỹ trước khi đem vào nhà.
Chỉ riêng vị Tế sư ấy được
quyền nhìn thấy cô gái, và cô bé cũng chỉ có một nữ tỷ
hầu hạ. Nữ tỳ này được
giao tiền đi mua hoa tươi và
nước hoa và tặng cô chủ; trên đường
đi, bà ta thường bước ngang
qua cửa tiệm mà gã điếm đàng
kia mới mở. Và gã ấy biết rõ bà ta chính là người hầu
của cô gái kia, bèn đợi một
ngày nọ bà ta đến gần, gã
vội vã chạy bổ ra ngoài cửa hiệu, quỳ xuống chân bà,
hai tay ôm chặt đầu gối bà,
miệng lắp bắp:
- Ôi mẹ ôi! Mẹ đi đâu
lâu nay thế hở mẹ?
Và đồng bọn của gã đứng
canh đó đều
kêu lên:
- Ồ giống như tạc! Tay chân, mặt mũi, cả cách ăn
mặc nữa, đều y hệt nhau!
Trong khi mọi người cứ xem xét trầm trồ không ngớt về
sự giống nhau kỳ diệu kia, người đàn
bà ấy đâm ra hoát hoảng trong
thật thảm hại. Bà ta òa ra khóc lớn rằng đây
hẳn là con trai bà! Rồi vừa khóc lóc vừa kể lể, cả hai
người cứ ôm lấy nhau mà ngã lăn
ra. Sau đó gã hỏi:
- Nay mẹ đang ở đâu
vậy mẹ?
- Mẹ đang ở nhà vị Tế
sư đấy con ạ. Ngài có môt
cô tiểu thiếp đẹp vô song,
quả là tiên trên trời mới đẹp
như thế và mẹ là người hầu của nàng ấy.
- Thế mẹ đang đi
đâu đấy?
- Mẹ đi mua hoa tươi và nước
hoa cho nàng ấy.
- Sao mẹ còn đi đâu
mà mua các thứ ấy nữa? Lần sau mẹ cứ đến
đây, gã kia bảo.
Và gã tặng bà già trầu cau cùng đủ
thứ hoa mà không lấy tiền. Cô gái ngạc nhiên thấy số hoa
tươi và nước hoa bà ta đem
về quá nhiều, bèn hỏi tại sao vị Tế sư Bà-la-môn lại
hậu hỉ với nàng thế. Bà già đáp:
- Sao con lại nói thế hở con?
- Vì số hương hoa bà đem
về nhà đấy mà.
- Ồ không, chẳng phải ngà Bà-la-môn cho tiền hào phóng
đâu, bà già bảo, mà chính vì
già này lấy các thứ kia ở tiệm của con trai già đấy.
Và từ đó, bà già giữ riêng
số tiền vị Bà-la-môn đưa,
rồi đi đến
lấy hoa tươi cùng đủ thứ
khác tại tiệm gã kia khỏi mất tiền.
Vài ngày sau, gã giả vờ đau
ốm, lên giường nằm. Khi bà già ấy đến
cửa tiệm hỏi con trai bà đâu
thì được biết gã đang
bị bệnh. Bà vội bước vào tận nơi, âu yếm vuốt ve đôi
vai gã và hỏi nguyên nhân cơn bệnh. Nhưng gã không đáp.
- Tạo sao con không nói cho mẹ biết hả con?
- Dù con có chết đi cũng không
dám nói với mẹ đâu.
- Nhưng nếu con không nói với mẹ thì còn nói với ai được
nữa?
- Thế thì mẹ ôi, bệnh của con phát ra chỉ vì nghe mẹ
cứ khen cô tiểu chủ của mẹ đẹp
tuyệt trần neân con đâm ra si
tình pháp ốm tương tư đó thôi!
Nếu con chiếm được nàng, con
mới sống nổi, còn không thì con đành
nằm ở đây chờ chết.
- Con ơi, con cứ để việc
này cho mẹ lo liệu. Bà già nói một cách vui vẻ - Con đừng
lo lắng gì về chuyện đó.
Thế rồi mang một thúng chất đầy
hoa tươi cùng nước hoa, mụ đem
về nhà, nói với nàng tiểu thiếp của vị Bà-la-môn:
- Chao ôi! Con trai già đang
ốm tương tư vì nàng, chỉ vì già bảo cho nó biết nàng đẹp
tuyệt vời! Bây giờ biết làm sao đây?
Cô gái đáp:
- Nếu bà tìm cách lén đem
được cậy ấy vào đây,
thì ta cho phép bà đấy.
Ngay sau đó mụ già liền bắt
tay quét dọn tất cả đồ đạc
hư cũ, rác rưởi trong nhà thâu góp cả bảy tầng lầu từ
rầm thượng cho đến nhà bếp,
bỏ vào một thúng đựng hoa
to tướng rồi tìm cách đưa
ra ngoài. Khi người ta lục soát như thường lệ thì mụ già
đổ cả thúng rác lên đầu
người đàn bà giữ cổng, khiến
người đó bỏ chạy ngay trước
cách đối xử quá thô bạo như
thế! Mụ già cũng làm cách ấy với các người giữ cổng
kia, khiến cho họ ngột thở vì đống
rác rưởi trút lên đầu và
mọi người la lối mụ đủ
điều.
Thế là từ đó về sau, mụ
già có đưa vào đưa
ra bất cứ vật gì, cũng không ai có gan lục soát mụ nữa!
Thời cơ đã đến
tay! Mụ lến đưa gã điếm
đàng giấu trong thúng hoa vào
gặp cô tiểu chủ. Gã làm hư hỏng đức
hạnh của cô gái ngay và còn cả gan ở laïi một hai ngày
trong những căn gác nhỏ trên
lầu. Gã lánh mặt khi vị Tế sư đến
nhà, và bầu bạn với cô gái khi vị ấy đi
khỏi. Sau một hai ngày, cô gái bảo tình nhân:
- Này lang quân yêu quý, chàng phải ra đi
rồi đấy.
- Ðúng rồi, nhưng ta muốn đánh
lão Bà-la-môn ấy một cái đã.
- Ðược lắm chứ.
Cô gái đáp và đem
giấu gã một nơi. Sau đó vị
Bà-la-môn đến, cô nàng kêu
lên:
- Này phu quân yêu dấu, tiện thiếp ưa thích ca múa biết
bao, ước gì phu quân vui lòng thổi sáo cho thiếp.
- Vậy ái nương hãy múa đi
nào.
Vị Bà-la-môn lập tức thổi sáo lên.
- Nhưng nếu phu quân nhìn thiếp thì thiếp xấu hổ thẹn
thùng quá không sao dám múa đâu,
để tiện thiếp lấy cái khăn
che kín khuôn mặt khôi ngô khả ái của phu quân trước đã,
rồi tiện thiếp mới dám múa.
- Thôi được rồi, nếu ái
nương quá khiêm nhượng mà không dám múa thì cứ làm thế
đi.
Vậy là cô nàng lấy một tấm vải thật dày buộc chặt
lên mặt lão Bà-la-môn để che
mắt lão. Và cứ giả mù như thế, lão bắt đầu
thổi sáo. Nhảy múa được một
lát, cô nàng lại kêu lên:
- Chàng yêu quý ôi, thiếp lại còn thích đánh
chàng một cái trên đầu nữa
cơ!
- Vậy thì nàng cứ đánh đi
nào!
Lão già ngốc nghếch đáp
mà không chút nghi ngờ gì cả. Thế là cô ả liền ra hiệu
cho gã tình nhân, hắn nhẹ nhàng lẻn ra sau lưng lão Bà-la-môn
đánh cho lão một đấm
trên đầu nên thân! Cái đấm
mới đích đáng
làm sao, khiến hai mắt lão như muốn lòi ra khỏi mặt, trên
đầu lão u lên một cục lớn!
Lão thấy đau điếng
người, liền gọi cô ả kia đến
gấp, đưa tay cho lão xem, và
cô ả bèn đặt tay mình vào
tay lão:
- Ồ bàn tay nàng mềm mại quá, sao nó lại đánh
đau thế này?
Bấy giờ, khi gã đểu cáng
kia đánh lão Bà-la-môn xong, gã
lại đi ẩn mình như cũ. Lúc
ấy cô gái mở khăn ra khỏi
mặt lão, xoa dầu lên chỗ đầu
bị u. Một lát sau lão ra về, gã kia lại được
mụ già giấu vào giỏ hoa đưa
ra khỏi nhà. Lập tức gã đến
yết kiến đức vua và tâu trình
toàn thể cuộc phiêu lưu của gã cho ngài hay.
Bởi thế, khi vị Bà-la-môn vào chầu, vua liền đề
nghị chơi bài súc sắc, vị ấy đồng
ý và chiếc bàn chơi bài được
đem ra. Khi vua ném con bài, ngài
cũng ca khúc hát ấy và vị Bà-la-môn, vì không hay biết gì
về sự hư hỏng của cô tiểu thiếp, nên vẫn nói thêm:
- Bao giờ cô gái của hạ thần cũng là ngoại lệ đấy.
Nhưng lần này lão thua cuộc!
Còn vua đã biết rõ mọi việc
xảy ra, liền bảo Tế sư:
- Sao lại trừ nàng ấy ra? Nàng ấy đã
hư thân mất nết rồi. Ồ khanh cứ tưởng là đem
về nuôi một con bé từ khi lọt lòng mẹ và nhốt nó trong
bảy vòng canh giữ là khanh có thể vững lòng tin vào nó ư?
Này, khanh không thể tin vào một nữ nhân nào cả, dù cho khanh
có ôm nó trong lòng, quanh quẩn suốt ngày bên nó không rời
một khaéc! Chẳng hề có một người đàn
bà nào giữ dạ chung thủy với một người đàn
ông duy nhất trên đời. Còn
về ả tiểu thiếp của khanh, ả bảo khanh rằng ả muốn
nhảy múa, rồi khi đã bịt mắt
khanh xong xuôi, khanh thổi sáo cho ả, thì ả lại đã
gã tình nhân đánh lên đầu
khanh đấy, sau đó
lén đưa gã ra khỏi nhà. Thế
thì ngoại lệ của khanh ở đâu
chứ?
Khi nói vậy xong, nhà vua liền ngâm kệ:
Trò chơi sáo giả mù,
Vì vợ bé phỉnh phờ,
Bà-la-môn ngồi đó,
Cố gìn giữ gái tơ,
Tạo nên người đức hạnh,
Trong trắng, chẳng bùn nhơ!
Học ngay từ việc ấy,
Mà sợ dám liễu bồ!
Bằng cách ấy, Bồ-tát thuyết pháp cho vị Bà-la-môn. Vị
ấy về nhà hạch hỏi cô gái về tội hư thân mất nết mà
cô ả đã bị tố cáo trên.
- Này phu quân yêu quý, ai có thể nói như vậy về tiện
thiếp đấy? Cô gái phân trần:
Tiện thiếp vô tội thật mà, chính bàn tay thiếp đánh
chành thật mà, chứ còn ai vào đây
nữa? Nếu phu quân không tin lời thiếp thì thiếp xin nguyền
đem thân này ra thử lửa để
chứng tỏ không hề có bàn tay nam nhân nào từng đụng
vào người thiếp cả, nhờ vận mong chàng tin tưởng thiếp.
- Muốn thế thì được ngay.
Vị Bà-la-môn liền bảo đem
một đống củi vào và châm
lửa lên. Sau đó cô gái được
gọi đến:
- Này, vị Bà-la-môn nói, nếu nàng tin tưởng lời mình
thật thì hãy thử lửa đi.
Trước đó, cô gái đã
dặn dò mụ già nọ như sau:
- Này mẹ ôi, mẹ hãy gọi con trai mẹ đến
sẳn đây để
nắm lấy tay con đúng lúc con
sắp bước vào lửa nhé!
Và mụ già làm đúng như lời
cô ả dặn, bảo gã kia đứng
chen vào đám đông
đang vây quanh. Sau đó
để đánh
lừa vị Bà-la-môn, cô gái đứng
trước mặt mọi người, hăng
hái thề thốt:
- Thưa phu quân, không hề có tay ai trừ tay chàng đụng
vào người thiếp cả, với lời thề chân thật này, thiếp
cầu mong ngọn lửa đừng làm
hại thân thiếp.
Nói vậy xong, cô ả tiến đến
đống lửa vừa đúng
lúc gã tình nhân nhảy lên chụp lấy tay ả, hét to rằng vị
Bà-la-môn thật đáng xấu hổ
vì đã bắt buộc một thiếu
nữ diễm lệ thế kia phải nhảy vào lửa đỏ!
Cô gái giật mạnh tay ra khỏi tay gã, và kêu ca rằng lời
xác nhận trước đây của ả
đã bị làm hỏng mất rồi,
nên bây giờ ả không thể thử lửa được
nữa! Vị Bà-la-môn hỏi:
- Tại sao lại không được?
Cô ả đáp:
-Bởi vì trước kia thiếp xác nhận không hề có bàn tay
nam nhân nào đụng vào người
thiếp trừ tay chàng ra, nhưng bây giờ lại có một người
đàn ông vừa chụp lấy tay thiếp!
Nghe vậy, vị Bà-la-môn biết rằng mình đã
bị lừa, liền tống cổ cô ả ra khỏi nhà bằng những cái
đấm thẳng tay!
Xem đấy, chúng ta biết rõ
sự hư thân mất nết của đàn
bà ra sao rồi. Không có tội lỗi nào mà chúng không phạm
đến cả, rồi sau đó
muốn đánh lừa các ông choàng,
thì có lời thề thốt nào chúng không nói bừa cho xong đã
chứ! Ngay giữa ban ngày ban mặt thế mà dám cho rằng chẳn
hề phạm tội gì cả đấy!
Lòng dạ chúng thật giả dối điêu
ngoa làm sao! Do đó từ xưa đã
có tục ngữ như vầy:
Một giống toàn lừa phỉnh, dối gian,
Làm sao hiểu nổi, cứ tung tăng
Như đàn cá lội theo dòng
nước,
Lộng giả thành chân, thói các nàng!
Tựa giống bò tham đồng
cỏ mới,
Má đào mơ ước đổi
tình lang
Khác nào cát luùn, không hề thỏa,
Ðộc dữ như loài rắn hổ mang!
Bọn nữ nhi thường rành mọi sự,
Còn ghi giấu được đám
hồng nhan?
*
Quả thật không làm sao giữ nổi đàn
bà, bậc Ðạo Sư nói.
Khi pháp thoại chấm dứt, Ngài tuyên thuyết các Sư thật
và cuối bài giảng ấy, vị Tỷ-kheo bị tham ái chi phối kia
đắc quả Dự lưu. Bậc Ðạo
Sư cũng nêu mối liên hệ giữa hai câu chuyện và nhận diện
Tiền thân:
- Vào thời ấy Ta là vua Ba-la-nại kia vậy.
-ooOoo-
63. CHUYỆN HIỀN SĨ CHÀ LÀ (Tiền thân
Takka)
Bọn nữ nhân đầy rẫy
hận sân....,
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong khi trú tại
Kỳ Viên về một Tỷ-kheo bị tham dục chi phối. Khi được
hỏi, vị Tỷ-kheo thú nhận rằng mình bị tham dục chi phối,
bậc Ðạo Sư hỏi:
- Ðàn bà thật vong ân bội nghĩa, tại sao ông lại để
dục tham chi phối vì họ?
Và Ngài kể câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Bồ-tát đã
chọn đời ẩn sĩ, xây dựng
cho mình moät am thất bên bờ sông Hằng, tại đó
ngài đã đạt
các Thắng trí cùng các Thiền chứng, và an trú trong Thiền
lạc. Thời ấy vị quan giữ công khố ở thành Ba-la-nại có
một cô con gái rất hung dữ, độc
ác được mệnh danh là Ác Tiểu
thư, thường hay mắng chửi đánh
đập gia nhân, nô tỳ của mình.
Một ngày kia, bọn gia nhân đưa
cô tiểu chủ đến vui chơi giải
trì trên sông Hằng; cả đám
đang đùa
giỡn tung tăng trên mặt nước
thì mặt trời lặn dần và một cơn bão lớn bỗng nổi lên.
Vì thế, mọi người vội vã chạy trốn, còn lại bọn nữ
tỳ của nàng kêu to: "Ðây chính là thời cơ tống khứ kẻ
ác độc này đi!".
Rồi chúng ném thẳng cô gái xuống nước và vội vã bỏ về.
Mưa trút xuống như thác, mặt trời dần khuất và màn đêm
xuống rất nhanh.
Khi bọn nô tỳ về nhà mà không có cô tiểu chủ, liền
bị tra hỏi tiểu thư đâu, họ
đều thưa rằng tiểu thư đã
bước lên khỏi bờ sông, nhưng họ không biết nàng đã
đi đâu
cả. Gia đình này đi
tìm kiếm khắp nơi, nhưng không thấy tung tích cô gái đi
lạc.
Trong lúc ấy, nàng kêu gào thất thanh vì bị nước lũ cuốn
theo, đến nửa đêm
thì trôi dạt vào gần am thất của Bồ-tát. Nghe tiếng cầu
cứu, ngài tự nhủ: "Ðây là tiếng đàn
bà kêu cứu. Ta phải cứu người ấy khỏi nước cuốn mới
được". Thế là ngài cầm ngọn
đuốc cỏ soi sáng để
tìm thấy nàng giữa dòng nước.
- Ðừng sợ! Ðừng sợ!
Ngài vui mừng kêu lên và lội xuống, rồi nhờ sức lực
cường tráng như voi của ngài, ngài đưa
cô gái vào bờ an toàn. Sau đó,
ngài nhóm lửa trong am thất để
sưởi ấm nàng và mang trái cây ngon ngọt đủ
loại cho nàng dùng. Khi nàng vừa ăn,
ngài hỏi:
- Nhà cô nương ở đâu, cớ
sao lại rơi xuống sông?
Cô gái kể hết mọi việc đã
xảy ra cho mình. Ngài bảo:
- Cô nương cứ tạm thời ở lại đây.
Ngài để cô gái ở trong am
thất, còn phần ngài ra ở ngoài trời khoảng hai, ba ngày.
Sau đó, ngài bảo cô gái ra đi,
song cô ả cứ nấn ná ở lại cho đến
khi quyến rũ được vị ẩn
sĩ này say mê mình mà cô vẫn không chịu đi
đâu cả. Thời gian qua cô gái
dùng mọi vẻ yêu kiều của mỹ nhân kế khiến ngài mất
hết thiền lực trí tuệ. Ngài vẫn cùng nàng ấy sống trong
rừng.
Nhưng nàng lại không thích ở ơn hiu quạnh mãi, nên đòi
ngài đem về nơi có dân cư.
Thế là chìu theo lời năn nỉ
ỉ ôi kia, ngài đành đem
nàng ấy ra đi đến
một làng ở biên địa, nuối
sống nàng bằng cách bán quả chà là, nên được
gọi tên là "Hiền sĩ Chà Là". Dân làng nhờ ngài dạy cho
cách biết trước lúc được
mùa hoặc mất mùa, rồi trả tiền cho ngài và biếu ngài một
túp lều để sống ở cổng
làng.
Bấy giờ vùng biến địa
hay bị bọn cướp từ núi xuống tàn hại phá phách. Ngày
kia bọn chúng tấn công vò làng ngài đang
ở và cướp của cải. Chúng bắt dân làng khốn khổ kia thu
góp hết tài sản cho chúng rồi cao chạy xa bay, mang theo cô
tiểu thư con quan thủ khố cùng với nhiều người khác về
sào huyệt của chúng. Ðến nơi, chúng thả mọi người kia
ra, song giữ lại cô gái có nhan sắc ấy để
làm áp trại phu nhân của viên tướng cướp thủ lãnh.
Khi Bồ-tát biết việc này, ngài suy nghĩ: "Chắc nàng sẽ
không chịu ở xa ta đâu. Nàng
sẽ trống về đây với ta".
Thế rồi ngài vẫ ở đó chờ
đợi nàng trở về. Trong lúc
ấy nàng thấy rất hạnh phúc và được
phỉ nguyền với bọn cướp kia, nên cứ nơm nớp lo sợ có
ngày vị Hiền sĩ bán chà là đến
bắt nàng đi về lần nữa. Nàng
nghĩ thầm: "Ta sẽ được an
lạc hơn nếu vị ấy chết đi.
Vậy ta phải nhắn tin cho vị ấy giả vờ làm vẻ thương
yêu để dụ vị ấy đến
đây mà chịu chết cho xong".
Sau đó nàng tìm cách đưa
tin cho ngài biết là nàng đang
khổ sở lắm, và nàng mong ước ngài đến
cứu đi về.
Ngài tin lời nàng, vội lên đường
đến cổng làng của bọn cướp,
nhắn tin cho nàng. Nàng bảo:
- Bây giờ ta trốn đi chắc
phải rơi vào tay tên thủ lãnh và hắn giết ta thôi. Vậy
ta hãy đợi đến
nửa đêm rồi đào
tẩu.
Thế là nàng đem giấu ngài
trong phòng, vào nửa đêm tên
cướp trở về nực nồng hơi rượu, nàng hỏi hắn:
- Này lang quân, chàng sẽ làm gì nếu tình địch
ở trong tay chàng?
Hắn bảo sẽ làm thế này thế nọ đối
với tình địch. Nàng bảo:
- Có lẽ gã kia cũng không ở đâu
xa xôi như chàng tưởng đâu.
Hiện nó đang ở trong phòng kế
bên ấy.
Cầm vội ngọn đuốc, tên
cướp chạy vào chụp lấy Bồ-tát đánh
đấm khắp mình mẩy cho hả
giận. Cam lòng chịu đựng những
cái đánh đấm
kia, Bồ-tát không hề kêu than gì, mà chỉ thì thầm:
- Ôi phường vong ân bội nghĩa, thật là gian ác. Bọn lừa
đảo điêu
ngoa xảo trá thế là cùng. Ngài chỉ nói chứng ấy thôi.
Sau khi đã đánh
đập và trói chân Bồ-tát lại,
tên cướp ăn uống xong liền
nằm lăn ra ngủ. Sáng dậy, sau
giấc ngủ tiêu tan hết cơn say sưa hồi hôm, tên cướp lại
đánh đập
Bồ-tát lần nữa, ngài cũng không kêu than gì, mà chỉ lặp
lại mấy lời trên. Tên cướp ngạc nhiên trước chuyện này
và hỏi lý do tại sao khi bị đánh
đập, ngài cứ nói mãi như thế.
Hiền sĩ Chà Là đáp:
- Này nghe đây, rồi người
sẽ hiểu rõ. Trước kia ta là ẩn sĩ độc
cư trong rừng hoang, đã chứng
đắc Thiền định
Thắng trí. Sau đó, ta cứu người
đàn bà này ra khỏi sông Hằng
và giúp đỡ nó đủ
mọi nhu cầu, song đã bị nó
quyến rũ nên mất hết Thắng trí. Rồi ta từ bỏ rừng sâu,
đem nó về làng sinh sống, từ
đó nó bị cướp mang đi.
Nó lại nhắn tin cho ta là nó đang
chịu khổ sở và xin ta đến
giải cứu nó. Nay nó đưa ta
vào tay ngươi, vì vậy ta cứ kêu lên như thế đó.
Nghe vậy, tên cướp bắt đầu
suy nghĩ lại, hắn thầm nhủ: "Nếu cô ả chẳng chút thương
tiếc một người tốt đã từng
làm ơn cô ả nhiều như vậy, thì ả sẽ không làm hại ta
sao được? Ả phải chết!".
Thế là sau khi an ủi Bồ-tát xong, hắn đánh
thức cô ả dậy, vừa cầm kiếm trong tay, hắn vừa bảo rằng
hắn sắp giết Bồ-tát ngoài cổng làng. Rồi bảo ả giữ
chặt Hiền sĩ Chà Là, hắn tuốt kiếm ra, làm vẻ sắp giết
ngài, nhưng lại chặt làm đôi
cô ả đàn bà kia. Xong xuôi hắn
tắm gội cho Bồ-tát sạch sẽ từ đầu
đến chân và tiếp đãi
ngài đủ món cao lương mỹ vị
suốt mấy ngày liền cho thỏa thích.
- Thế bây giờ ngài định
đi đâu?
Cuối cùng tướng cướp hỏi:
- Trần thế chẳng có gì vui thú đối
với ta cả, bậc hiền sĩ nói. Ta sẽ sống đời
ẩn sĩ như xưa kia tại am thất cũ trong rừng.
- Thế thì kẻ hèn này cũng muốn làm ẩn sĩ.
Như vậy cả hai đều trở
thành ẩn sĩ sống tại am thất trong rừng kia, cùng đắc
các Thắng trí và các Thiền chứng, cho đến
khi mạng chung thì thọ sanh lên Phạm thiên giới.
*
Kể câu chuyện ấy xong, bậc Ðạo Sư nêu lên sự liên
hệ giữa hai câu chuyện qua các vần kệ sau:
Bọn nữ nhân đầy rẫy
hận sân,
Nói mồm hai lưỡi, bọn vong ân,
Kẻ gieo chia rẽ, rồi gây chiến,
Vậy hỡi Tỷ-kheo, hãy bước chân
Thẳng tiến đường thanh
cao chắn hẳn
Rồi ngươi thấy Cực-lạc siêu trần.
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết các
Sự thật, và lúc kết thúc bài giảng, vị Tỷ-kheo bị tham
dục chi phối đắc quả Dự
lưu. Và bậc Ðạo Sư nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy, Ànanda là tướng cướp và Ta chính là
Hiền sĩ Chà Là kia vậy.
-ooOoo-
64. CHUYỆN NGƯỜI VỢ KHÓ HIỂU (Tiền
thân Duràjàna)
Chàng tưởng má hồng yêu mến chăng?...
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại
Kỳ Viên về một nam cư sĩ. Chuyện kể rằng thời ấy tại
Xá-vệ có một nam cư sĩ thọ Tam quy và Ngũ giới, là một
đệ tử thuần thành của Phật,
Pháp, Tăng. Nhưng vợ người
này là một nữ nhân độc ác,
nham hiểm. Vào những ngày người vợ ấy phạm lỗi lầm,
nàng nhu mì nhẫn nhục như một nữ tỳ được
mua về với giá một trăm đồng
tiền, còn những ngày nàng không phạm tội gì, thì nàng lên
mặt bà chủ nhà hay giận dữ và khắc nghiệt. Người chồng
không sao hiểu nổi nàng. Nàng cứ làm khổ người chồng đến
độ chàng không đến
yết kiến đức Phật được.
Một ngày kia, chàng mang hương hoa đến,
sau khỉ đảnh lễ kính cẩn
xong, chàng ngồi xuống thì bậc Ðạo Sư bảo:
- Này nam cư sĩ, làm sao đã
bảy tám ngày qua ông không đến
hội kiến Như Lai?
- Bạch Thế Tôn, vợ con có ngày thì dễ bảo như một
tỳ nữ mua về với giá một trăm
đồng tiền, vào ngày khác thì
hay giận dữ khắt khe như một bà chủ. Con không làm sao hiểu
vợ con được. Chính vì vợ
con làm phiền lòng con đến độ
con không đến hầu đức
Thế Tôn lâu nay.
Khi nghe người ấy nói vậy, bậc Ðạo Sư bảo:
- Này cư sĩ, ông đã được
các bậc hiền trí từ xưa nói cho biết rằng thật khó hiểu
được bản tính nữ nhân.
Và Ngài nói thêm:
- Nhưng vì các tiền kiếp đã
trở nên lẫn lộn trong trí ông nên ông không nhớ nổi.
Nói vậy xong Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát
làm một vị giáo sư danh tiếng lừng lẫy khắp nơi, với
năm trăm
thanh niên Bà-la-môn thọ giáo với ngài. Trong số đó
có một thanh niên từ phương xa đến,
chàng đã yêu một thiếu nữ
và cưới người đó làm vợ.
Dù chàng đang sống tại Ba-la-nại,
chàng vẫn không thể nào đến
hầu sư phụ trong hai ba lần liền, vì vợ chàng là người
đàn bà độc
ác, hễ ngày nào phạm lỗi lầm thì nàng ra vẻ nhu mì như
một tỳ nữ, còn ngày nào không làm gì sai trái thì nàng lên
mặt một bà chủ hay nóng giận, khắc nghiệt. Chồng nàng
không thể nào hiểu nổi tính nàng ra sao cả, và chán quá,
bực mình, khổ sở vì nàng đến
độ chàng không đến
hầu hạ sư phụ. Bấy giờ, bảy tám ngày sau, chàng lại đến
hội kiến ngài, và được Bồ-tát
hỏi tại sao lâu nay vắng mặt.
Cháng đáp:
- Bạch sư phụ, nguyên nhân là tại vợ con.
Rồi chàng kể cho Bồ-tát nghe, nàng đã
nhu mì ra sao trong lúc làm vẻ như một tỳ nữ, líuc khác lại
khắt khe chuyên quyền khiến nàng không sao hiểu nàng được.
Và chàng quá phiền muộn khổ sở vì tánh tình thất thường
của nàng nên đã vắng mặt
như thế.
- Này cậu trai Bà-la-môn, rõ ràng như vậy, vào ngày lầm
lỗi, đàm bà tỏ ra khúm núm
trước mặt chồng mình và nhẫn nhục như bọn tỳ nữ; còn
ngày nào không lầm lỗi, họ tỏ ra cứng đầu
bướng bỉnh với cả phu quân. Ðàn bà độc
ác nham hiểm như thế đấy,
khó mà biết được bụng dạ
họ ra sao. Vậy cậu không nên quan tâm đến
những sở trường sở đoản
của họ làm gì.
Nói vậy xong, Bồ-tát ngâm kệ này để
khích lệ đệ tử ngài:
Chàng tưởng má hồng yêu mến chăng?
Này chàng trai hỡi, chớ vui mừng!
Tưởng là nàng chẳng yêu chàng nữa?
Nhẫn nại mà thôi, chớ oán hờn.
Lòng dạ đàn bà ai hiểu
được.
Như bầy cá lội nước tung tăng!
Ðó là lời khuyến cáo của Bồ-tát đối
với đệ tử ngài, nên từ đó
chàng chẳng còn quan tâm đến
tính thất thường của nàng nữa. Còn nàng, khi nghe nói nết
hạnh kém cỏi của mình đã
đến tai Bồ-tát, thì này bỏ
ngay thói hư tật xấu kia, không còn tái phạm.
Phần người vợ của nam cư sĩ này tự nhủ: "Người ta
bảo là đức Phật đã
hiểu roõ thói hư tật xấu của mình rồi!". Từ đó
nàng không còn sai phạm lỗi lầm như trước kia.
*
Khi chấm dứt pháp thoại, bậc Ðạo Sư thuyết giảng
các Sự thật, vào đoạn kết
thúc bài giảng, vị nam cư sĩ đắc
quả Dự lưu. Sau đó bậc Ðạo
Sư nêu liên hệ giữa hai chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy hai vợ chồng kia là hai vợ chồng ngày
nay, và Ta chính là vị giáo sư ấy.
-ooOoo-
65. CHUYỆN NỖI BẤT MÃN. (Tiền thân
Anabhirati)
Khác gì xa lộ, các dòng sông....
Câu chuyện này do bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại
Kỳ Viên, cũng về một nam cư sĩ như chuyện trước. Người
này, trong lúc tìm hiểu, đã
biết chắc chắn về sự hư hỏng của vợ mình, liền cãi
vã với nàng, kết quả là người ấy bực bội đến
độ bảy tám ngày liền không
đến yết kiến bậc Ðạo Sư.
Một ngày kia, chàng đến
tinh xá, đảnh lễ đức
Thế Tôn và ngồi xuống. Khi được
hỏi tại sao chàng vắng mặt bảy tám ngày qua, chàng đáp:
- Bạch Ðưùc Thế Tôn, vợ con hư hỏng khiến con quá
phiền lòng về việc ấy đến
độ không đến
đây được.
Bậc Ðạo Sư bảo:
- Này cư sĩ, ngày xưa người hiền thiện đã
khuyên ông đừng buồn giận
vì thói hư tật xấu của đàn
bà mà phải giữ lòng bình thản; tuy vậy, ông đã
quên chuyện này vì vòng luân hồi sinh tử đã
che mắt ông.
Nói vậy xong, theo lời thỉnh cầu của vị cư sĩ, Ngài
kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì Ba-la-nại, Boà-tát
là một vị giáo sư tiếng tăm
lừng lẫy khắp nơi, như trong chuyện trước. Một đệ
tử của ngài biết được vợ
mình hư hỏng, lấy làm phiền muộn về điều
khám phá trên, đến độ
lánh mặt đi vài ngày, nhưng
một ngày kia được vị giáo
sư hỏi thăm lý do vắng mặt
của chàng, chàng liền thổ lộ tâm sự của mình. Sau đó
vị giáo sư bảo:
- Này con, chẳng có gì riêng tư trong bọn đàn
bà cả. Họ là của chung cho mọi người đấy.
Vì vậy khi người trí biết được
nhược điểm của họ, các vị
ấy không tức giận vì họ nữa.
Nói vậy xong, ngài ngâm kệ này để
khích lệ tinh thần đệ tử:
Khác gì xa lộ, các dòng sông,
Nhà trọ, sân vườn, các quán ăn,
Tửu điếm mở ra mời tất
cả.
Thaäp phương lữ khách, thói ân cần
Thường tình nhi nữ là như thế,
Người trí không hề tỏ hận sân
Hạ cố bận lòng vì nhược điểm
Của loài liễu yếu, bọn hồng quần.
Ðó là lời khuyến cáo của Bồ-tát đối
với đệ tử ngài, tưø đó
về sau vị này giữ bình thản trước mọi việc làm của
nữ giới. Còn người vợ kia cũng được
cảm hóa ngay khi nghe vị giáo sư đã
biết rõ bản chất mình, nên nàng từ bỏ thói hư tật xấu
cũ. Và vợ của người cư sĩ cũng vậy, khi nghe rằng bậc
Ðạo Sư đã hiểu rõ bản chất
của mình, liền từ bỏ thói hư tật xấu cũ.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư tuyên thuyết
các Sự thật, và vào đoạn
kết thúc bài giảng, vị cư sĩ đắc
quả Dư lưu. Bậc Ðạo Sư cũng nêu sự liên hệ giữa hai
câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Hai vợ chồng này ngày nay cũng là hai vợ chồng ngày
xưa, và ta chính là vị giáo sư Bà-la-môn ấy.
-ooOoo-
66. CHUYỆN HOÀNG HẬU TỪ TÂM (Tiền
thân Mudulakkhana)
Trước thời ta được
Từ tâm...
Câu chuyện này được bậc
Ðạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên, về tính tham đắm
ái dục. Chuyện kể rằng một thiện gia nam tử ở Xá-vệ,
sau khi nghe đức Phật thuyết
pháp, liền thành tâm hướng veá Tam Bảo. Vị ấy xuất gia
sống đời Phạm hạnh, theo đúng
Chánh đạo, thực hành Thiền
định và không bao giờ xao lãng
trầm tư đối với đề
tài Thiền quán mà vị ấy đã
chọn.
Một ngày kia, trong lúc đang
khất thực tại thành Xá-vệ, vị ấy chợt gặp một nữ
nhân có nhan sắc quyết rũ, khiến vị ấy ham thích nên đã
vi phạm giới luật tu hành là đưa
mắt ngắm nàng! Dục tham bỗng khởi lên trong tâm vị ấy,
khiến chẳng khác gì cây sung bị búa rìu đẳn
ngã xuống đất.
Từ ngày ấy, do dục tham chi phối, thâm tâm vị ấy đều
mất hết sinh thú trong đời
sống tu hành, cũng chẳng tìm được
Pháp lạc, vị ấy chẳng khác gì một con thú hoàng trong rừng,
cứ để râu tóc, móng tay chân
mọc dài ra dần và y phục bẩn thỉu hôi hám.
Khi các vị đồng Phạm
hạnh biết được tâm trạng
khổ đau của vị ấy, liền
bảo:
- Này Hiền giả, tại sao tâm trí Hiền giả chẳng được
như trước?
Vị ấy đáp:
- Niềm an lạc của ta đã
mất roài.
Tăng chúng liền dẫn vị
ấy đến yết kiến bạc Ðạo
Sư, ngài hỏi tại sao chúng Tăng
dẫn vị Tỷ-kheo ấy đến dù
vị ấy không muốn.
- Bạch Thế Tôn, vì niềm an lạc của vị ấy đã
mất rồi.
- Này Tỷ-kheo, có đúng
vậy chăng?
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Vậy ai đã khiến ông
phải phiền não?
- Bạch Thế Tôn, trên đường
đi khất thực, con đã
vi phạm giới luật của bậc Thánh khi nhìn ngắm một nữ
nhân, và tham dục khởi lên trong tâm con, vì thế co sinh ra
phiền não.
Bậc Ðạo Sư liền bảo:
- Này Tỷ-kheo, chẳng có gì lạ khi ông vi phạm giới
luật vì ham dục lạc, ông đã
nhìn ngắm một đối tượng
trái với giới luật và bị tham dục chi phối.
Thuở xưa, ngay cả những bậc đã
đắc năm
Thắng trí và tám Thiền chứng, những bậc đã
dập tắt dục tham nhờ uy lực của Thiền quán, tâm đã
được thanh tịnh và đôi
chân đã có thể rảo bước
giữa không gian, ngay cả các vị Bồ-tát, mà chỉ vì vi phạm
giới luật khi nhìn ngắm một đối
tượng ngoài thông lệ, nên phải để
mất hết Thiền lực, tâm bị tham dục khuấy động
và phải chịu đại phiền não.
Thế thì trận cuồng phong đủ
năng lực xô ngã núi Tu-Di có
sá gì mà quan tâm đến một
ngọn đoài trọc không lớn hơn
con voi; cơn gió thổi mạnh làm bật gốc cây hồng đào
vĩ đại có màng gì bụi cỏ
bên vách đá; hay cơn gió càn
quét khô cạn cả đại dương
có kẻ gì đến cái ao bé tí
kia chứ? Nếu tham dục có uy lực làm cuồng si tâm trí của
các vị Bồ-tát đã giác ngộ
và thanh tịnh, thì làm sao tham dục lại phải nao núng trước
ông kia chứ? Này, ngay cả những người đã
thanh tịnh cũng bị tham dục làm lạc hướng và người đã
đạt đến
vinh quang tột đỉnh cũng phải
chịu khổ nhục suy tàn.
Nói vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba-la-nại, Bồ-tát
thọ sanh vào một gia đình Bà-la-môn
giàu có tại quốc độ Kàsi.
Khi ngài trưởng thành và việc học vấn đã
hoàn mãn, ngài từ bỏ dục tham, xuất gia sống đời
ẩn sĩ, đi vào chốn độc
cư ở núi Tuyết Sơn. Tại đó,
nhờ thành tựu các pháp môn đưa
đến Thiền định,
ngài đã đạt
các Thắng trí và các Thiền chứng, và sống an vui như vậy
trong Thiền lạc vi diệu.
Vì thiếu muối và giấm, một ngày kia ngài vào Ba-la-nại,
tại đó ngài đến
cư trú trong ngự viên của nhà vua. Ngày kế tiếp, sau khi đã
tắm rửa xong thân mình, ngài xếp chiếc y bằng vỏ cây vẫn
thường đắp, khoác lên vai tấm
da linh dương màu đen, buộc các
cuộn tóc rối thành một búi trên đỉnh
đầu và mang đòn
gánh với hai thúng trên lưng, ngài bắt đầu
du hành để khất thực.
Trên đường đi
đến cổng hoàng cung, oai nghi
của ngài khiến nhà vua thán phục và truyền mời ngài vào.
Thế là vị ẩn sĩ được đặt
lên một bảo tọa cực kỳ huy hoàng lộng lẫy và thết đãi
mọi thứ cao lương mỹ vị. Khi ngài nói lời tùy hỷ công
đức, ngài lại được
mời đến cư ngụ ở hoa viên.
Vị ẩn sĩ nhận lời mời và trong mười sáu năm
liền sống ở hoa viên, thường thuyết giáo cho cả hoàng gia
và thọ hưởng ngự thiện do vua cúng dường.
Bấy giờ, một ngày kia vua phải ra chốn biên địa
để dẹp loạn. Song trước khi
khởi hành, vua ủy thác cho Hoàng hậu được
mệnh danh là Từ Tâm, phải cung cấp các vật dụng cần thiết
cho vị ẩn sĩ thanh tịnh kia. Vì vậy, sau khi vua ra đi,
Bồ-tát vẫn thường đi đến
cung điện khi ngài muốn.
Một ngày kia hoàng hậu Từ Tâm đã
chuẩn bị một bữa cơm dâng cúng Bồ-tát, nhưng vì ngài đến
muộn nên hoàng hậu vô phòng tắm rửa. Sau khi tắm nước
hoa xong, bà vận xiêm y hết sức lộng lẫy, và nằm xuống
đợi ngài đến
trên một bảo tọa nhỏ trong một khách sảnh rộng lớn.
Khi vừa xuất khỏi Thiền định,
thấy đã trễ giờ, Bồ-tát
liền phi hành qua không gian để
đến cung điện.
Chợt nghe tiếng sột soạt của chiếc y bằng vỏ cây, hoàng
hậu vội vã đứng dậy để
đón tiếp ngài. Trong lúc vội
vàng, chiếc y của hoàng hậu tuột xuống, để
lộ mọi vẻ kiều diễm của bà trước mặt vị ẩn sĩ khi
ngài vừa đến cửa. Thấy vậy,
ngài bỗng ham thích chiêm ngưỡng sắc đẹp
nữ nhân kỳ diện kia nên đã
phạm Giới đức: Lửa dục nhen
nhúm trong tâm ngài, khiến ngài giống như thân cây to bị chiếc
rìu đốn ngã.
Lập tức ngài đánh mất Thiền
lực, ngài chẳng khác gì con quạ bị cắc cụt đôi
cánh. Ngài vẫn đứng yên tay
nắm chặt thức ăn, nhưng ngài
không ăn được
mà bước ra đi, toàn thân rung
động vì dục vọng, ngài trở
về am thất trong vườn hoa, nằm xuống trên sàng tọa bằng
gỗ, và suốt bảy ngày liền chịu đói
khát, toàn thân bị siết chặt trong vòng vây của sắc đẹp
yêu kiều kia, nội tâm ngài như bị lửa dục thiêu đốt
bừng bừng.
Vào ngày thứ bảy, nhà vua trở về sau khi đã
bình định biên thùy. Vừa ngự
vương xa giữa đám rước linh
đình quanh hoàng thành xong, vua
đi vào cung. Rồi vua muốn thăm
vị ẩn sĩ kia ngay, bèn đi đên
hoa viên. Tại am thất, vua thấy Bồ-tát đang
nằm trên sàng tọa. Tưởng vị ẩn sĩ bị bệnh, vua ra lệnh
quét dọn sạch sẽ am thất và vừa vỗ vào chân ẩn sĩ ấy
vừa hỏi ngài bị bệnh gì.
- Tâu Ðại vương, tâm ta đang
bị dục tham trói buộc: đó
là căn bệnh duy nhất của ta.
- Ngài có tham dục đối với
ai?
- Tâu Ðại vương, với hàng hậu Từ Tâm đấy.
- Vậy thì từ nay Hoàng hậu thuộc về ngài, trẫm ban nàng
cho ngài đấy. Nhà vua bảo.
Sau đó, nhà vua cùng vị ẩn
sĩ đến cung điện
ra lệnh cho hoàng hậu phục sức cực kỳ lộng lẫy rồi trao
bà cho Bồ-tát. Nhưng trong lúc ban tặng hoàng hậu, nhà vua
bí mật ủy thác bà phải đem
hết sức mình cứu nạn cho vị ẩn sĩ thanh tịnh ấy. Hoàng
hậu bảo:
- Xin Thánh thượng đừng lo
ngại, thần thiếp sẽ đi cứu
ngài.
Thế là cùng với hoàng hậu, vị tu khổ hạnh ra khỏi cung
điện. Sau khi đã
vượt qua Ðại hoàng môn, hoàng hậu kêu lên rằng hai người
phải có một ngôi nhà để ở,
thế là ngài phải trở lại để
xin vua một cái nhà. Và vua ban cho hai vị một túp lều đổ
nát mà khách qua đường dùng
làm nhà tắm. Vị ẩn sĩ đưa
hoàng hậu đến đó
nhưng bà không chịu bước vào trong vì nó dơ bẩn quá.
Ngài kêu lên:
- Vậy ta còn phải làm gì nữa?
Bà đáp:
- Này, chàng hãy dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ.
Bà lại bảo ngài trở về cung vua xin một cái cuốc và
một cái thúng, rồi bảo ngài khuân hết mọi rác rưởi dơ
bẩn đi. Xong lại bảo đi
tìm phân bò về trét lên các bức tường. Hết việc ấy,
bà bảo ngài đi đóng
cái giường, cái ghế, trải một tấm nệm, lấy một bình
nước, một cái chén, cứ mỗi lúc lại bảo đi
tìm một món. Kế đó bà lại
bảo ngài đi gánh nước về
và thêm cả ngàn việc khác nữa. Thế là ngài ra đi
tìm nước đổ đầy
bình, xong lấy nước về tắm rửa và dọn giươøng. Vừa
khi ngài ngồi trên giường cùng bà, bà liền nắm râu ngài
kéo ngài xuống đối mặt mình
và bảo:
- Thế ngài đã quên rằng
ngài là một Bà-la-môn thanh thịnh rồi sao?
Nghe thế, ngài liền tỉnh ngộ sau một thời gian cuồng
tâm loạn trí. (Nhân đây cũng
nên nhắc lại bài thuyết giảng bắt đầu
bằng: Như vậy Dục tham Triền cái được
gọi là Ác dục vì chúng phát khởi từ Vô minh, này các Tỷ-kheo,
những gì phát khởi từ Vô minh đều
tạo nên khối Si ám dày đặc).
Thế là sau khi hồi tỉnh, ngài suy nghĩ thấy rõ bằng cách
nào, khát ái này trở nên mãnh liệt dần dần sẽ đưa
ngài đến bốn đọa
xứ. Ngài kêu lên:
- Nội ngày hôm nay ta quyết đưa
nữ nhân này trả lại cho nhà vua và bay thẳng lên núi!
Ngài liền cùng hoàng hậu đền
yết kiến vua và nói:
- Tâu Ðại vương, ta không còn ham muốn hoàng hậu nữa,
chính vì hoàng hậu mà trước đây
khát ái đã bừng dậy trong lòng
ta.
Nói vậy xong, ngài ngâm kệ:
Trước thời ta được Từ
Tâm,
Lòng ta chỉ một ước mong: chiếm nàng.
Ðến khi nhan sắc nữ hoàng
Ngự trong tâm trí, ta càng đắm
mê,
Dục tham dồn dập tứ bề,
Ðại vương, ta quyết bay về núi xưa.
Lập tức Thiền lực trước kia đã
mất nay trở lại với ngài. Nhảy vụt lên từ mặt đất
và trụ giữa hư không, ngài thuyết pháp cho vua và phi hành
qua không gian đến dãy Tuyết
Sơn. Ngài không bao giờ trở lại đường
thế tục nữa, mà tu tập phát khởi Từ Bi tâm cùng với Thiền
quán không gián đoạn, cho đến
khi ngài mệnh chung và tái sanh vào Phạm thiên giới.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, bậc Ðạo Sư thuyết giảng
Bốn Sự thật. Vào lúc kết thúc bài giảng, vị Tỷ-kheo đaéc
quả A-la-hán. Bậc Ðạo Sư cũng nêu lên mối liên hệ giữa
hai câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Vào thời ấy Ànanda là nhà vua, Uppalavannà (Liên Hoa
Sắc) là Từ Tâm và Ta là ẩn sĩ ấy.
-ooOoo-
67. CHUYỆN NGƯỜI ÐÀN BÀ THÔN QUÊ
(Tiền thân Ucchanga)
Tìm kiếm chồng con thật dễ dàng...,
Câu chuyện này do Bậc Ðạo Sư kể trong lúc trú tại
Kỳ Viên về một người đàn
bà ở thôn quê.
Một thuở nọ, trong quốc lộ Kosala, có ba người đang
cày ruộng ở ven rừng, cùng lúc, một bọn cướp phá hại
dân chúng trong rừng xong và đang
đào tẩu. Các nạn nhân chạy
vào rừng tìm kiếm bọn vô lại nhưng hoài công, khi đến
tận nơi ba người cày ruộng, họ la lên:
- Ðây là bọn sơn tặc giả dạng nông phu!
Thế là họ kéo cả ba tội nhân đến
trình vua Kosala. Lúc bấy giờ có một người đàn
bà đến cung vua khóc than kể
lễ thảm thiết xin có được
cái gì đó để
che thân. Nghe tiếng kêu than, nhà vua ra lệnh ban cho người
đàn bà ấy một tấm áo, nhưng
nàng từ chối bảo rằng đấy
không phải là thứ nàng muốn xin. Vì vậy thị nữ của vua
trở lại trình rằng người đàn
bà ấy không cần áo quần mà cần một tấm chồng! Sau đó
vua truyền đưa người đàn
bà vào chầu và hỏi có phải nàng muốn kiếm chồng thật
chăng.
- Tâu Ðại vương, đúng
thế, người đàn bà đáp.
Vì người chồng mới thực sự là vật che thân cho đàn
bà, còn người đàn bà nào không
có chồng thì dù cho nàng ấy mặc áo quần đáng
giá cả ngàn đồng tiền, cũng
chẳng khác gì mình trần thân trụi!
Và để làm cho lý lẽ này
thêm vững mạnh, nàng lại ngâm câu tục ngữ này:
Khác nào đất nước vì
vua,
Chẳng khác dòng sông suối cạn khô,
Cũng vậy mình trần thân lại trụi
Vì không tùng trúc cạnh đào
tơ!
Nhìn xem quả thật nàng trơ trọi
Dù co mười anh ruột một nhà!
Vua hài lòng với lời giải đáp
của người đàn bà, nên vua
hỏi mối liên hệ giữa nàng với ba tội nhân kia ra sao. Nàng
đáp rằng, một người là chồng
nàng, một người là con trai nàng.
- Này, hãy nhận lấy một đặc
ân của trẫm, vua bảo, trẫm sẽ ban cho nàng một trong ba người
ấy, nàng chọn người nào?
- Tâu Ðại vương, nàng đáp,
nếu tiện thiếp còn sống, tiện thiếp có thể lấy chồng
khác sinh con khác; song nay cha mẹ thiếp đã
mất rồi, chẳng bao giờ thiếp có anh em nào khác nữa. Vậy
tâu Ðại vương, thiếp xin chọn người anh.
Nhà vua đẹp ý với nàng,
bèn thả cả ba người, vậy chính người đàn
bà này là phương tiện cứu nguy cho ba người đàn
ông.
Khi Tăng chúng biết được
chuyện này, liền khen ngợi người đàn
bà kia trong Chánh pháp đường
thì bậc Ðạo Sư bước vào. Ngài hỏi Tăng
chúng đang bàn luận vấn đề
gì và được kể như trên; Ngài
bảo:
- Ðây không phải là lần đầu
tiên, này các Tỷ-kheo, người đàn
bà này cứu nguy cho ba mạng sống ấy, mà ngày xưa cũng vậy.
Nói xong, Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Một thuở nọ khi vua Brahamadatta trị vì ở Ba-la-nại, ba
người đàn ông cày ruộng ở
ven rừng và mọi chuyện xảy ra như chuyện trên.
Khi được vua hỏi muốn chọn
người nào trong ba người, nàng đáp:
- Tâu Ðại vương, Ðại vương có thể gia ân ban cho tiện
thiếp cả ba người chăng?
Vua đáp:
- Không, trẫm không thể.
- Vậy tâu Ðại vương, nếu tiện thiếp không thể xin tha
cả ba, thì mong Ðại vương ban cho thiếp người anh trai.
Vua đáp:
- Hãy nhận lấy người chồng hay con trai của nàng đi,
chứ anh trai thì có quan hệ gì?
Người đàn bà đáp:
- Hai người kia có thể thay thế được,
chứ anh trai thì không bao giờ có nữa.
Nói vậy xong, nàng lại ngâm khúc hát:
Tìm kiếm chồng con thật dễ dàng,
Tha hồ chọn chúng, đứng
đầy đường,
Song tìm đâu được
người anh nữa,
Dù khổ đau cho đến
đoạn trường?
Vua đẹp ý, phán:
- Nàng ấy nói chí lý!
Vua bèn ra lệnh đưa ba người
đàn ông kia từ ngục thất đến
giao cho người đàn bà, nàng
liền đưa cả ba người ra về.
- Như vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo Sư bảo, chính người
đàn bà này thuở xưa kia đã
có lần cứu mạng cho cả ba người đàn
ông.
*
Khi pháp thoại chấm dứt, Ngài nêu sự liên hệ giữa
hai chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Người đàn bà và ba người
đàn ông ngày nay cũng là người
đàn bà và ba người đàn
ông ngày trước và Ta chính là vua ấy.
-ooOoo-
68. CHUYỆN THÀNH SAKETA (Tiền thân Saketa)
Ý an trú vào ai...,
Câu chuyện này, khi ở tại rừng Anjana, gần Saketa, bậc
Ðạo Sư đã kể về một Bà-la-môn.
Truyền thuyết nói rằng, trong khi Thế Tôn với chúng Tỷ-kheo
vây quanh đang đi
vào Saketa, một Bà-la-môn lớn tuổi ở tại Saketa, từ thành
đi ra ngoài, thấy bậc Ðạo
Sư tại ngưỡng cửa, cúi mình xuống chân Ngài, ôm chặt mắt
cá và nói to:
- Này con thân, phải chăng
cha mẹ khi già yếu phải được
các con nuôi dưỡng? Sao mãi cho đến
nay, con không để chúng ta thấy
mặt con? Nay ta thấy con rồi. Hãy để
cha mẹ thấy mặt con.
Nói vậy xong, người Bà-la-môn già dắt bậc Ðạo Sư
vào nhà của mình. Bậc Ðạo Sư vào nhà, ngồi xuống trên
ghế đã soạn sẳn cùng với
chúng Tỷ-kheo. Vị nữ Bà-la-môn đi
đến, cúi mình xuống chân bậc
Ðạo Sư, khóc và nói:
- Này con thân, từ trước đến
nay con đã đi
đâu? Phải chăng
cha mẹ khi già cả phải được
các con hầu hạ?
Rồi bà gọi các con trai, con gái lại, bảo đảnh
lễ anh cả. Hai vị hoan hỷ cúng dường bố thí lớn. Sau khi
dùng cơm, bậc Ðạo Sư đọc
cho hai vị Bà-la-môn bài kinh nói về Tuổi già (Kinh Tập, Chương
4). Sau bài kinh ấy, cả hai đều
chứng quả Nhất lai. Rồi bậc Ðạo Sư từ chỗ ngồi đứng
dậy, đi về rừng Anjana. Các
Tỷ-kheo ngồi họp tại Pháp đường
bắt đầu câu chuyện như sau:
- Này các Hiền giả, vị Bà-la-môn đã
biết vua Tịnh Phạn là phụ thân của đức
Như Lai, mẹ Ngài là Mahàmayà. Tuy vậy, ông cùng với nữ Bà-la-môn,
cả hai gọi đức Như Lai là
con của họ và bậc Ðạo Sư lại chấp nhận, việc này có
lý do gì?
Bậc Ðạo Sư nghe câu chuyện của họ bèn nói:
- Này các Tỷ-kheo, cả hai vị ấy gọi Ta là con của
họ như vậy là đúng.
Rồi bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
- Này các Tỷ-kheo, thuở xưa, vị Bà-la-môn này là cha của
Ta, tiếp tục như vậy không gián đoạn
cho đến năm
trăm đời,
là cậu của Ta trong năm trăm
đời, là ông của Ta trong năm
trăm đời.
Còn vị nữ Bà-la-môn này là mẹ của Ta, tiếp tục như vậy
trong năm trăm
đời, là bà của Ta trong năm
trăm đời.
Ta được lớn lên trong tay người
Bà-la-môn trong một ngàn năm
trăm đời,
và trong tay vị nữ Bà-la-môn trong một ngàn năm
trăm đời.
Sau khi kể về ba ngàn đời
sống, bậc Ðạo Sư là bậc Chánh Ðẳng Giác đọc
lên câu kệ này:
Ý an trú vào ai,
Tâm tư được hoan hỷ
Khi mới thấy lần đầu,
Hãy tin tưởng người ấy.
*
Như vậy, sau khi kể xong pháp thoại này, bậc Ðạo Sư
kết hợp hai câu chuyện, và nhận diện Tiền thân:
- Vị Bà-la-môn và nữ Bà-la-môn này là hai vợ chồng
trong các đời trước, còn người
con trai là Ta vậy.
-ooOoo-
69. CHUYỆN CON RẮN PHUN NỌC ÐỘC (Tiền
thân Visavanta)
Ðáng rủa thay nọc độc...,
Câu chuyện này khi ở Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã
kể về vị tướng quân Chánh pháp. Theo truyền thuyết, trong
một thời gian Trưởng lão ấy thường ăn
các món làm bằng bột do các thiện nam tín nữ đem
đến tinh xá cúng dường. Khi
chúng Tỷ-kheo đã ăn
đầy đủ,
số bánh còn lại rất nhiều. Các vị thiện tín thưa:
- Thưa các Tôn giả, hãy lấy phần cho những vị đi
vắng.
Trong lúc ấy, đệ tử cộng
trú với Trưởng lão đã đi
vào trong làng. Sau khi lấy phần cho người ấy, người ấy
vẫn chua về và thời gian đã
quá trễ, người ta cúng dường phần ấy cho Trưởng lão.
Khi Trưởng lão đang ăn
thì vị Tỷ-kheo trẻ trở về. Trưởng lão nói với Tỷ-kheo
trẻ ấy:
- Này Hiền giả, chúng tôi đã
ăn phần của Hiền giả.
Vị ấy nói:
- Thưa Tôn giả, chúng ta đều
thích đồ ngọt cả.
Bậc Ðại Trưởng lão cảm thấy xúc động,
phiền lòng và quyết định từ
lúc ấy trở đi không ăn
bánh làm bằng bột nữa. Bắt đầu
từ đấy, người ta đồn
Trưởng lão Xá-lợi-phất không ăn
bánh làm bằng bột như trước nữa. Sự không ăn
bánh ấy của Trưởng lão được
chúng Tỷ-kheo biết rõ. Các Tỷ-kheo nói về vấn đề
này trong khi ngồi họp ở Pháp đường.
Rồi bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, các ông đang
ngồi bàn tán về vấn đề gì?
Khi nghe vấn đề ấy, bậc
Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, khi Xá-lợi-phất đã
từ bỏ vật gì, thì dù mất thân mạng, cũng không chấp nhận
lại vật ấy.
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì ở xứ Ba-la-nại, Bồ-tát
sanh ra trong gia đình thầy thuốc
chữa nọc đoäc rắn, và làm
nghề thầy thuốc ấy để sinh
sống. Bấy giờ, một con rắn cắn một người dân quê. Bà
con kẻ ấy lập tức đưa kẻ
đến thầy thuốc. Thầy thuốc
hỏi:
- Bà con muốn chữa trị với dược liệu và rút nọc độc
ra, hay là bắt con rắn đã cắn
và bảo nó hút nọc độc ra?
Theo yêu cầu, thầy thuốc cho bắt con rắn, và khi hỏi có
phải nó cắn người ấy không, con rắn xác nhận chính nó
cắn, thầy thuốc bảo:
- Ngươi hãy lấy miệng hút nọc độc
của ngươi ra tại chỗ bị cắn.
Con rắn kêu:
- Từ trước tới nay, chưa có một lần nào ta lại hút
nọc độc mà ta đã
phun ra. Ta không hút nọc độc
ấy đâu.
Thầy thuốc bảo đem lại
củi, nhen lửa lên và nói:
- Nếu ngươi không hút nọc độc
ra, ngươi phải bò vào lửa này.
Con rắn nói:
- Tha ta bò vào lửa chịu chết, nhưng ta sẽ không hút nọc
độc mà ta đã
một lần phun ra.
Rồi nó đọc bài kệ này:
Ðáng rủa thay nọc độc,
Một lần đã phun ra,
Nay lại vì mạng sống,
Ta phải hút trở vào.
Thà ta chết tốt hơn,
Là sống phải làm vậy.
Nói vậy xong, con rắn bò vào lửa. Thầy thuốc ngăn
chận nó lại, rút nọc độc
cho người bị nạn bằng thuốc và bùa chú, trao Giới cho con
rắn, rồi thả rắn ra và nói:
- Bắt đầu từ nay, chớ làm
hại một ai!
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, không phải chỉ nay Xá-lợi-phất mới
từ bỏ vật gì một lần rồi, dầu phải mất thân mạng,
cũng không chấp nhận lại vật aáy.
Sau khi kể pháp thoại này, bậc Ðạo Sư kết hợp các
câu chuyện và nhận diện Tiền thân:
- Thuở ấy, con rắn là Xá-lợi-phất, còn thầy thuốc
là Ta vậy.
-ooOoo-
70. CHUYỆN HIỀN GIẢ CÁI CUỐC (Tiền
thân Kuddàla)
Chiến thắng ấy không tốt....,
Câu chuyện này, khi ở tại Kỳ Viên, bậc Ðạo Sư đã
kể về Trưởng lão tên là Cittahattha Sariputta. Trưởng lão
ấy, theo truyền thuyết, là một thanh niên thuộc một gia đình
tốt ở Xá-vệ. Một hôm, trên con đường
về nhà, sau khi cày xong, thanh niên ấy đi
vào tinh xá, nhận được các
món ăn thượng vị béo và ngọt
từ bát của một Trưởng lão. Kẻ ấy suy nghĩ: "Chúng ta ngày
đêm tự tay làm nhiều công việc,
nhưng không được các món ăn
ngọt như thế này. Vậy ta hãy trở thành một Sa-môn!". Kẻ
ấy xuất gia, sau một tháng rưỡi tinh cần, nhưng bị phiền
não chinh phục, kẻ ấy hoàn tục. Rồi vì kiếm ăn
mệt nhọc, kẻ ấy trở lại xuất gia, học Thắng Pháp.
Với phương diện này, sáu lần kẻ ấy hoàn tục, sáu
lần xuất gia, nhưng đến lần
thứ bảy trở lại thành Tỷ-kheo. Vị Tỷ-kheo này thông suốt
bảy bộ A-tỳ-đàm (Thắng pháp),
và do đọc lớn tiếng nhiều
lần Giáo pháp của Tỷ-kheo, nhờ triển khai Thiền quán, vị
ấy chứng quả A-la-hán. Các thân hữu Tỷ-kheo cười nhạo,
nói:
- Này, Hiền giả, trước kia tâm Hiền giả là như vậy,
này làm sao các phiền não không tăng
trưởng được?
- Thưa các Hiền giả, từ hôm nay trở đi,
tôi không có thể trở lui đời
sống gia đình được.
Vấn đề vị này chứng
quả A-la-hán như vậy được
nói lên tại Pháp đường:
- Thưa các Hiền giả, dầu được
căn duyên trở thành một vị
A-la-hán như vậy, Tôn giả Cittahattha Sariphutta đã
sáu lần từ bỏ đời xuất
gia. Ôi thật sự là sai lầm cho tánh phàm phu của vị ấy!
Bậc Ðạo Sư đến và hỏi:
- Này các Tỷ-kheo, nay các ông ngồi họp bàn vấn đề
gì?
Khi nghe vấn đề ấy, bậc
Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, tâ của hạng phàm phu là nhẹ dạ,
khó điều phục, bị các đối
tượng chi phối, hay dính chặt. Một khi đã
dính chặt, thì không thể thoát ly mau lẹ. Tâm tư như vậy
được nhiếp phục thật là
tốt lành. Một khi tâm được
nhiếp nhục, thì nó đem lại
an lạc.
Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dục quay cuồng.
Lành thay, điều phục tâm,
Tâm điều, an lạc đến.
(Pháp Cú, 35)
Do tánh khó nhiếp phục này, thuở xưa các bậc hiền trí,
chỉ vì một cái cuoác mà họ không thể bỏ được,
vì lòng tham, sáu lần từ bỏ đời
xuất gia. Chỉ lần xuất gia thứ bảy, Thiền định
khởi lên, họ mới nhiếp phục được
lòng tham ấy!
Nói vậy xong, bậc Ðạo Sư kể câu chuyện quá khứ.
*
Thuở xưa, khi vua Brahmadatta trị vì xứ Ba-la-nại, Bồ-tát
sanh ra trong gia đình một người
làm vườn. Lớn lên Bồ-tát được
gọi là bậc Hiền trí cái cuốc. Với cái cuốc, Bồ-tát dọn
sạch khoảng đất, tự mình
gieo trồng các loại như rau, bí, bầu, dưa leo và các thứ
rau khác để bán và sinh sống
một cách khó khăn. Ngoại trừ
cái cuốc này ra, Bồ-tát không có một tài sản gì khác.
Một hôm, Bồ-tát suy nghĩ: "Ta sống trong gia đình
làm gì? Hãy xin đi xuất gia".
Bồ-tát cất cái cuốc ấy vào một chỗ kín, xuất gia làm
vị tiên nhân du sĩ. Lại nhớ đến
cái cuốc ấy, không thể chặt đứt
lòng tham vì cái cuốc sứt mẻ, Bồ-tát từ bỏ đời
xuất gia. Như vậy lần thứ hai, lần thứ ba; cho đến
lần thứ sáu, Bồ-tát chôn cái cuốc vào một chỗ kín, xuất
gia rồi lại bỏ xuất gia. Ðến lần thứ bảy, Bồ-tát suy
nghĩ: "Chỉ vì cái cuốc sứt mẻ này, ta tiếp tục từ bỏ
xuất gia, nay ta sẽ quăng nó
vò con sông lớn rồi sẽ xuất gia!".
Bồ-tát đi đến
bờ sông, lại nghĩ: "Nếu thấy được
nơi cái cuốc bị rơi, thì ta có thể đi
đến đó
và vớt nó lên được". Nghĩ
vậy, với sức mạnh kiên trì như voi, Bồ-tát cầm cán cuốc
quay tròn trên đầu ba lần, nhắm
mắt lại, quăng cái cuốc vào
giữa dòng sông, và rống lên tiếng rống con sư tử ba lần:
- Ta đã chiến thắng! Ta đã
chiến thắng!
Lúc bấy giờ, vua Ba-la-nại, vừa dẹp xong loạn ở biên
giới trở về, tắm trong con sông ấy. Sau khi trang điểm
đủ mọi châu báu, vua ngồi
trên lưng voi, đang đi,
nghe tiếng Bồ-tát la lớn liền nghĩ: "Người này nói ta đã
chiến thắng. Nó đã chiến thắn
ai vậy? Ta hãy gọi nó". Khi Bồ-tát đến,
vua hỏi:
- Này bạn, ta vừa thắng trận ở chiến trường trở về.
Còn bạn chiến thắng ai vậy?
Bồ-tát thưa:
- Thưa Ðại vương, một ngàn hay một trăm
ngàn chiến trận được Ðại
vương chiến thắng đều vô
ích, nếu Ðại vương không tự mình chiến thắng các phiền
não. Chính do chiến thắng tham dục trong nội tâm, ta đã
chiến thắng các phiền não.
Trong khi nói vậy, Bồ-tát nhìn con sông lớn, khởi lên Thiền
quán với đối tượng về nước,
đắc Thiền chứng, ngồi trên
hư không thuyết pháp cho vua, và đọc
bài kệ này:
Chiến thắng ấy không tốt,
Nếu chiến thắng rồi bại.
Chiến thắng thật tốt lành
Là chiến thắng nội tâm
Nhà vua nghe thuyết pháp, với sự đoạn
trừ vọng kiến, các phiền não được
đoạn tận, tâm tư hướng về
xuất gia. Ngay lúc ấy, tham dục đối
với vương vị cũng tiêu diệt. Vua hỏi Bồ-tát:
- Nay Bồ-tát sẽ đi đâu?
Bồ-tát trả lời sẽ đi vào
Hy-mã-lạp Sơn, xuất gia làm vị tiên nhân du sĩ. Vua nói lê
ý muốn xuất gia của mình và cùng đi
với Bồ-tát. Toàn bộ số người, các Bà-la-môn gia chủ,
toàn thể quần chúng hội họp tại chỗ ấy, tất cả đều
cùng đi với vua. Dân chúng ở
Ba-la-nại được nghe vua Ba-la-nại
của họ hướng về xuất gia sau khi nghe bậc Hiền trí thuyết
pháp, nghĩ rằng họ ở lại đấy
làm gì, cũng xin đi xuất gia.
Từ nội thành dài mười hai dặm, tất cả dân chúng trong
thành đều ra đi.
Hội chúng dài đến mười hai
dặm cùng với Bồ-tát đi vào
Hy-mã-lạp Sơn.
Bấy giờ, chiếc ngai của Thiên chủ Ðế Thích trở thành
nóng. Tìm hiểu lý do, Ðế Thích thấy bậc Hiền trí đang
tiến hành một đại sự xuất
gia. Ước lượng số đại chúng
và số trú xứ cần cho họ ở, Ðế Thích truyền gọi Vissakamma,
Thần xây dựng của chư Thiên, và nói:
- Này, khanh thân, bậc Hiền trí đang
tiến hảnh một đại sự xuất
gia, cần phải có trú xứ cho họ ở. Hãy đi
đến Hy-mã-lạp Sơn, trên một
chỗ bằng phẳng, khanh hãy cho xây dựng một khu ẩn cư dài
ba mươi dặm, rộng mười lăm
dặm.
Vissakamma vâng lời và cho làm đúng
như đã nói. (Ðây chỉ là tóm
tắt. Các chi tiết đầy đủ
sẽ được nói trong Tiền thân
Hattipàla số 509).
Vissakamma hóa hiện ra một khu chòi lá tại các vùng ẩn
cư, đuổi xa các loài thú ồn
ào, các loài chim, các loài phi nhân và lập một con đường
theo mỗi phương hướng chính, con đường
rộng vừa một người đi. Rồi
Vissakamma đi về trú xứ của
mình.
Còn bậc Hiền trí đem theo
hội chúng ấy đi vào dãy Hy-mã-lạp
Sơn, đến chỗ ẩn cư đã
được Ðế Thích cho, đem
theo các vật dụng xuất gia do Vissakamma tạo ra, tự mình xuất
gia trước, rồi sau truyền giới xuất gia cho hội chúng, phân
phối chỗ ẩn cư rồi gia cho họ. Tất cả đều
từ bỏ vương vị ngang bằng vương vị của Ðế Thích. Hội
chúng tràn đầy chỗ ẩn cư
dài đến ba mươi dặm. Sau khi
chuẩn bị các đối tượng đề
tài Thiền quán, và tu tập tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả, Bồ-tát dạy
đề tài Thiền quán cho hội
chúng. Tất cả đều đạt
Thiền chứng, và được sanh
lên cõi Phạm thiên. Còn tất cả những ai hộ trì hội chúng,
đều được
sanh lên cảnh giới chư Thiên.
*
Bậc Ðạo Sư nói:
- Này các Tỷ-kheo, như vậy, khi tâm bị các phiền não
chi phối, thật khó từ bỏ. Các đối
tượng tham ái khởi lên rất khó từ bỏ, khiến cho các bậc
hiền trí cũng trở thành vô trí.
Sau khi kể pháp thoại này xong, bậc Ðạo Sư thuyết giảng
các Sự thật. Cuối bài giảng ấy, một số người chứng
quả Dự lưu, một số người chứng quả Nhất lai, một số
chứng quả Bất lai, một số đạt
quả A-la-hán. Bậc Ðạo Sư kết hợp hai câu chuyện, và nhận
diện Tiền thân:
- Thời ấy, vua là Ànanda, hội chúng ấy là hội chúng
đức Phật, còn bậc hiền trí
là Ta vậy.
-ooOoo-
Ghi chú: Các chuyện từ số 62 đến
số 67 do cư sĩ Trần Phương Lan dịch.