Lời
Giới thiệu
Hòa
thượng Thích Minh Châu
Chúng tôi bắt
đầu dịch tập Jàtaka (Bổn Sanh hay chuyện Tiền Thân) này,
theo cách phân loại, đây là tập thứ 10 trong bộ Khuddaka Nikàya
(Tiểu Bộ Kinh). Những Kinh đã được dịch là: Khuddakapàta
(Tiểu Tụng, số 1); Dhammapada (Pháp Cú, số 2,); Udàna (Phật
Tự Thuyết Kinh, số 3); Itivuttaka (Phật Thuyết Như Vậy, số
4); Suttanipàta (Kinh Tập, số 5); Theragàthà (Trưởng Lão Tăng
Kệ, số 8); Therìgàthà (Trưởng Lão Ni kệ, số 9). Nay dịch
tập Jàtaka (Bổn Sanh, số 10).
Vì lần này, chúng tôi chỉ mới
dịch 120 mẫu chuyện cho Tập I, nên con số chính xác có bao
nhiêu mẫu chuyện trong toàn tập Jàtaka chưa được xác định.
Theo tập Jàtaka bằng chữ Pàli, thời con số cuối cùng là
547 mẫu chuyện (Jàtaka I, trang 596). Nhưng, ở bản dịch tiếng
Anh ghi là 550 chuyện, chia thành 22 chương (Nipàta). Phân loại
này phần lớn dựa trên số kệ (gàthà) trong mỗi chuyện.
Ví như chương một có 150 mẫu chuyện, mỗi mẫu chuyện có
một bài kệ. Chương hai gồm 100 mẫu chuyện, mỗi mẫu chuyện
có hai bài kệ. Chương ba, chương bốn, mỗi chương gồm 50
chuyện, mỗi chuyện có ba và bốn bài kệ. Cho đến chương
hai mươi mốt có 5 câu chuyện, mỗi chuyện có 80 bài kệ.
Chương hai mươi hai có 10 câu chuyện, với một số kệ nhiều
hơn. Mỗi Jàtaka (Bổn Sanh) gồm có bốn phần:
1) PACCUPPANNA-VATTHU: Câu chuyện hiện
tại, một câu chuyện được xem là xảy ra trong thời đức
Phật tại thế, nên gọi là câu chuyện hiện tại, và vì
câu chuyện này, đức Phật kể ra một câu chuyện quá khứ.
2) ATITAVATTHU: Câu chuyện quá khứ,
có liên hệ đến những nhân vật trong câu chuyện hiện tại.
Trong câu chuyện quá khứ, luôn luôn có sự hiện diện của
Bồ Tát (là Tiền thân của đức Phật) trong một vai trò nào
đó. Có một hay nhiều bài kệ, khi thì do Bồ Tát nói, khi
thì do đức Phật nói, phần lớn dưới hình thức một bài
dạy đạo đức.
3) VEYYÀKARANÀ: Giải thích bài kệ
hay một vài danh từ trong câu chuyện quá khứ.
4) SAMODHÀNA: Phần kết hợp, Đức
Phật kết hợp hai mẫu chuyện hiện tại và quá khứ, có
khi thêm một bài thuyết pháp, kết quả của bài ấy và cuối
cùng là phần nhận diện Bổn Sanh, chỉ rõ sự liên hệ giữa
những nhân vật chính trong hai câu chuyện quá khứ và hiện
tại.
Theo truyền thống Tích Lan, câu chuyện
hiện tại, câu chuyện quá khứ, lời giải thích và phần
kết hợp gồm thành tập Jàtaka atthakathà (Bổn Sanh sớ giải).
Tập này được dịch sang tiếng Singala (Tích Lan), trừ các
bài kệ vẫn giữ tiếng Pàli. Tập Jàtaka Atthakathà bằng tiếng
Singala (Tích Lan) lại được dịch qua tiếng Pàli với danh
từ là Jàtakassa Atthavannanà, mà nay chúng tôi đang dịch ra
tiếng Việt Nam. Truyền thống xem rằng chính Buddhaghosa đã
dịch từ tiếng Singala ra tiếng Pàli, nhưng truyền thống này
chưa được các học giả đồng ý.
Chúng tôi không dịch Phần 3, Veyyàkaranà,
vì phần này có tánh cách sớ giải.
Vì chỉ mới dịch có 120 mẫu chuyện
thành Tập I này, nên chúng tôi chỉ có thể dựa vào số 120
mẫu chuyện, này để phân tích và đưa đến một vài kết
luận hay nhận xét cho riêng 120 mẫu chuyện mà thôi. Chỉ khi
nào dịch xong toàn bộ, sẽ có những kết luận chung cho cả
tập Jàtaka.
Trước hết là nhận xét về trú
xứ của câu chuyện hiện tại và câu chuyện quá khứ:
Dựa theo những công trình của các
vị học giả đã nghiên cứu trước, chúng nhận thấy các
câu chuyện quá khứ được xảy ra phần lớn về phương Bắc
và phương Tây nước Ấn Độ. Còn các câu chuyện hiện tại
được xảy ra phần lớn về phương Đông Ấn Độ. Ví dụ,
trong các câu chuyện quá khứ, Ba-La-Nại được đề cập đến
428 lần, Gadhàra 25 lần, còn trong câu chuyện hiện tại, Kosala
được đề cập 428 lần và Magadha 58 lần (xem Jàtaka tập
VII, trang VI). Riêng trong 120 mẫu chuyện hiện được phiên
dịch, trong các câu chuyện hiện tại, Kỳ Viên được nói
đến 83 lần, Trúc Lâm 10 lần, Xá Vệ 6 lần, v.v...
Jàtaka hay Bổn Sanh là những mẫu
chuyện diễn tả các đời sống trước (tiền thân) của đức
Phật và danh từ dùng trong các câu chuyện quá khứ là Bồ
Tát. Chúng ta phải xác nhận ở nơi đây, danh từ Bồ Tát
trong các chuyện Bổn Sanh chỉ cho tiền nhân của đức Phật
trong những đời sống quá khứ, khi làm chư thiên, khi
làm thú vật, khi làm vua, khi làm hoàng tử v.v... Trong các câu
chuyện quá khứ, nhân vật nổi bật nhất luôn luôn là Bồ
Tát, thường đóng vai trò linh động nhất hay quan trọng nhất
Phân tích 120 câu chuyện quá khứ
được dịch trong tập I này, chúng tôi xin ghi nhận nơi đây
những vai trò Bồ Tát đã đóng như sau:
* 26 lần Bồ Tát làm chim làm thú:
1 lần làm chó, 2 lần làm ngựa, 4 lần làm bò đực, 1 lần
làm voi, 2 lần làm cá, 5 lần làm nai, 3 lần làm khỉ và 8
lần làm chim. Về các loài chim: ngỗng trời 1 lần, chim cút
3 lần, chim trĩ 1 lần, chim chúa 2 lần, chim bồ câu 1 lần.
* Bồ Tát làm vua 6 lần, làm con
vua 6 lần, làm đại thần 7 lần, làm triệu phú 10 lần, làm
địa chủ 1 lần, làm Bà-La-Môn 4 lần, làm hiền trí 11 lần,
làm Sư Trưởng 8 lần, làm ẩn sĩ 6 lần.
* Bồ Tát hành nghề cũng rất rộng
rãi và đa dạng: làm trưởng đoàn lữ hành 3 lần, làm nghề
đi buôn 2 lần, làm người cày ruộng 1 lần, làm người đánh
trống 1 lần, làm người thổi tù-và 1 lần, làm thầy thuốc
1 lần, làm thợ hớt tóc 1 lần, học nghề đoán sao, nghề
nhào lộn 2 lần, làm co trai một gia đình 2 lần. Ngoài ra,
chúng ta còn ghi nhận thêm: Bồ Tát làm chư thiên 5 lần, làm
thần cây 8 lần.
Đây chỉ nói đến 120 chuyện trong
tập này thôi, chưa đề cập đến các mẫu chuyện còn lại.
Nhìn chung, chúng ta cũng thấy vai trò của vị Bồ Tát thật
là đa dạng, thật là phong phú, và vì đóng vai trò tiền thân
đức Phật, phong cách đạo đức của Bồ Tát thật hoàn toàn
tuyệt diệu từ lời nói, từ suy tư cho đến việc làm.
Mỗi chuyện tiền thân có một bài
kệ, phần lớn do Bồ Tát nói, có khi đức Phật nói. Những
bài kệ này, có thể là một lời phê bình khi nhận xét những
sự việc đã xảy ra, có khi là một lời cảnh cáo những
nhân vật trọng yếu, sai trái, có khi là một lời khuyên giáo
đạo đức, dựa trên câu chuyện đã xảy ra. Nghiên cứu các
bài kệ này cũng là một nguồn cảm hứng đặc biệt, và
các bài kệ được xem là phần cổ kính nhất của tập Bổn
Sanh này.
Phân tích 120 câu chuyện hiện
tại trong Bổn Sanh này, chúng ta nhận thấy những đề
tài được đề cập liên hệ trực tiếp với đức Phật,
với các vị trưởng lão kế cận đức Phật, với các vị
Tỳ-kheo, và một số cư sĩ liên hệ nhiều với đạo Phật.
Ngoài ra, có đề cập những đề tài thông thường như đồ
ăn cho người chết, lễ cúng dường khi cầu nguyện, các chòi
lá bị cháy v.v... Đề tài sau này chiếm tỷ lệ rất thấp.
Những đề tài liên hệ trực tiếp
đến đức Phật như thần thông song hàn (số 29), Devadatta
luôn luôn tìm cách hại Phật (số 11, 21, 26, 57, 58, 72, 113),
nữ Bà-la-môn Cinca vu oan đức Phật số (120), đức Phật nhập
Niết Bàn (số 95). Tiếp đến là một số Trưởng Lão thân
cận với đức Phật như Ànanda (số 92, 95), Ràhula (số 167),
Sàriputta (số 37, 69), Cullapanthaka (4), Laludàya (5) v.v...
Tiếp đến nữa là đề cập đến
một số Tỳ-kheo có các hạnh không được tốt đẹp và cần
đức Phật giáo giới, đề tài này có thể nói là chiếm
đa số. Như Tỳ-kheo thối thất tinh tấn (số 2, 3, 23, 24, 51,
52, 55), Tỳ-kheo có nhiều đồ vật (6, 32) Tỳ-kheo khó nói
(15, 43, 48, 59, 60, 82, 104, 116), Tỳ-kheo bị ái luyến (30, 61,
63, 66, 85, 106), Tỳ-kheo nói khoác (80), Tỳ-kheo ném con ngỗng
trời (107), Tỳ-kheo làm ồn phi thời (119), Tỳ-kheo uống nước
không có lọc (31).
Tiếp theo là các đề tài liên hệ
đến các đệ tử cư sĩ, hoặc của đức Phật hay của các
vị Trưởng lão. Cấp-Cô-Độc được nói đến khá nhiều
(số 1, 40, 45, 83, 90, 103), đệ tử của Sàriputta (25, 39).
Lại có một số đề tài có thể
xem là không liên hệ đến đạo Phật, như đồ ăn cho người
chết (số 18), lễ cúng dường khi cầu nguyện (19), làm lợi
ích cho bà con (12), các chòi lá bị cháy (36), các cơn mộng
(77) và đề tài liên hệ đến nữ nhân (61, 62, 63, 64, 65, 66,
67).
Dựa trên các đề tài được đề
cập trong các câu chuyện hiện tại, chúng ta có thể nói,
những đề tài phần lớn đề cập đến Giáo hội Phật giáo
trong thời đức Phật còn tại thế và khoảng 100 năm sau khi
đức Phật nhập Niết Bàn, nhất là một số tệ trạng các
Tỳ-kheo gặp phải, sau khi đạo Phật được truyền bá khắp
xứ Ấn Độ và khi bậc Đạo Sư không còn nữa. Các đề
tài và các mẫu chuyện cũng giúp chúng ta hiểu được một
số nét về tình trạng xã hội đương thời.
Chúng tôi phải gác một bên, không
cho đăng một số mẫu chuyện về nữ nhân, có tánh cách châm
biếm thái quán, và câu chuyện 16 giấc mộng, có tánh cách
sấm ký, sợ bị hiểu lầm.
Ở đây, một vấn đề phải được
đặt ra là "Ai là tác giả các tập Jàtaka này?". Tuy
Bộ này được phân loại vào Khuddaka Nikàya (Tiểu Bộ Kinh),
tức là một trong năm tập Nikàya, Kinh Tạng, và mỗi câu chuyện
đều được diễn tả như là đức Phật đã kể lại, chúng
ta có những lý do xác đáng để khẳng định tác giả các
tập này phải là các vị Tỳ-kheo, hoặc sống trong thời đức
Phật, hoặc sau đó khoảng vài chục năm: vì chỉ có những
vị này mới thông hiểu được tổ chức của Giáo hội và
hiểu được những mẫu chuyện dân gian của Ấn Độ; vì
chỉ những người am hiểu dân tình, đồng quê xứ sở Ấn
Độ mới có thể ghi nhận và trình bày được. Bài giới
thiệu không cho phép chúng tôi đi sâu vào vấn đề tác giả
của các mẫu chuyện Bổn Sanh này. Nhưng căn cứ trên ngôn
ngữ học, trên cách hành văn, trên các danh từ được dùng
trong các câu chuyện, các giáo lý được đề cập, đức Phật
được diễn tả, pháp môn được tu tập v.v..., chúng ta có
những lý do để khẳng định tập Jàkata này mở một kỷ
nguyên mới trong văn học Phật giáo và trong cung cách truyền
bá đạo Phật, được xảy ra sau khi Phật nhập Niết Bàn.
Tuy vậy, chúng ta phải xác nhận
rằng nền văn học Phật giáo Jàtaka này đã tác dụng rất
lớn, ảnh hưởng đến sự truyền bá đạo Phật, trong quá
khứ cũng như trong hiện tại, ở Ấn Độ cũng như ngoài Ấn
Độ, không những trong lãnh vực văn học mà còn lan đến
lãnh vực nghệ thuật, kiến trúc, đời sống xã hội nhân
dân, v.v...
Trước hết, một số mẫu chuyện
Jàtaka được khắc trên những tác phẩm điêu khắc tại các
chùa, các tháp như ở Sanchi, ở Amaravati, đặc biệt Bharhut,
Ấn Độ. Tại đấy, tên các Jàtaka được khắc rõ ràng.
Ngày nay, một số công trình điêu khắc ấy vẫn còn được
giữ khá nguyên vẹn tại các di tích Phật giáo Ấn Độ. Những
công trình điêu khắc ấy chứng tỏ các câu chuyện tiền
thân đã được biết đến rất nhiều vào thế kỷ thứ ba
trước kỷ nguyên. Pháp Hiển, nhà chiêm bài Trung Quốc, khi
đến thăm Tích Lan vào thế kỷ thứ tư sau kỷ nguyên, đã
chứng kiến tại ngôi chùa Abhayagiri, sự trình diễn năm trăm
chuyện tiền thân của đức Phật, khi Ngài còn là Bồ Tát,
dưới hình thức con voi, con nai, v.v... Chúng tôi khi còn ở
Tích Lan, nhân ngày Phật Đản có chứng kiến các tấm Pandal
rất lớn, về các mẫu chuyện Jàtaka để dân chúng đến
xem và chiêm ngưỡng. Và tại các Pandal ấy, có diễn xuất
các vở kịch mẫu chuyện Jàtaka nữa. Vì vậy, ngày lễ Phật
Đản ở Tích Lan là ngày mà rất đông dân chúng đi từ Pandal
này qua Pandal khác, vừa dự lễ, vừa xem diễn các vở kịch
về Jàtaka; dân chúng vui chơi một đêm trong ngày hội lớn.
Các mẫu chuyện này cũng được dùng làm đề tài thuyết
pháp trong các dịp lễ, dân chúng đến nghe suốt đêm, nghe
các vị sư Tích Lan kể chuyện tiền thân Jàtaka mà không biết
mệt.
Một ảnh hưởng nữa mà các câu
chuyện này đem lại, nhất là các mẫu chuyện về súc vật,
nhiều khi vượt qua biên giới tôn giáo Ấn Độ và trở thành
những chuyện cổ tích dân gian, nửa thần thoại, nửa thực
tế, không lệ thuộc tôn giáo này hay xứ sở nào. Chúng tôi
tin rằng có một số chuyện cổ tích Việt Nam được bắt
nguồn từ những chuyện Jàtaka này như chuyện Tấm Cám chẳng
hạn. Những mẫu chuyện cổ tích này đã trở thành gia tài
chung của nền văn hóa dân gian, phản ảnh được những tính
chất bình thường của dân chúng, dưới mọi chân trời, trong
đời sống hằng ngày của dân chúng, khi phải tiếp xúc với
những gì hay, hoặc xấu của cuộc đời. Chính vì vậy mà
các tập Jàtaka này rất được phổ biến, không những trong
giới Phật tử mà còn lan tràn khắp mọi địa phương, mọi
dân tộc.
Tập Jàtaka có khoảng năm trăm năm
mươi mẫu chuyện. Nay mới dịch xong tập I với một trăm
hai mươi mẫu chuyện. Như vậy còn lại khoảng bốn trăm ba
mươi chuyện, sẽ được tiếp tục dịch và dự tính mất
hai năm mới xong. Qua việc dịch tập Jàtaka, chúng tôi gặp
phải một thể văn hoàn toàn sai khác với các bản Nikàya,
danh từ khác lạ, rất phong phú, rất nhiều chữ mới. Đó
là thể văn kể chuyện, trực tiếp ghi chép các cuộc đối
thoại, nên vừa dài vừa linh động, dịch cho gọn và cho sát
với nguyên bản thật là cả một vấn đề.
Chúng tôi muốn nói thêm về mục
đích phiên dịch kinh Tạng Pàli ra tiếng Việt. Từ Ấn Độ
về nước vào năm 1964, chúng tôi bắt tay phiên dịch ngay hai
bộ Màjjhima Nikàya (Trung Bộ Kinh) và Dìgha Nikàya (Trường
Bộ Kinh) cho đến năm 1975 mới dịch xong. Từ năm 1975 đến
1978, chúng tôi dịch xong hai bộ Samgutta Nikàya (Tương Ưng Bộ
Kinh) và Anguttara Nikàya (Tăng Chi Bộ kinh). Từ năm 1978, chúng
tôi bắt đầu dịch bộ Khuddaka Nikàya (Tiểu Bộ Kinh) và cho
đến nay, đã dịch được sáu tập trong mười lăm tập, đang
dịch tập Jàtaka thứ bảy. Dịch xong Jàtaka, chúng tôi tự
xem là dịch xong Kinh Tạng Pàli, số tập còn lại trong Tiểu
Bộ Kinh xin nhường lại cho các vị khác. Còn chúng tôi dự
định duyệt lại các bộ Nikàya đã phiên dịch, thống nhất
lại các danh từ chuyên môn, thống nhất lại các đoạn văn
tương đương, hiệu đính lại các đoạn văn, các danh từ
sai lầm, cố gắng hoàn thành cho được tốt đẹp những công
trình phiên dịch của chúng tôi.
Chúng tôi phiên dịch Kinh Tạng Pàli
hướng về hai mục đích rõ rệt:
1) Mục đích thứ nhất là giới
thiệu Kinh Tạng Pàli cho Phật tử và cho nhân dân Việt Nam,
những nguyên bản kinh điển được xem là cổ xưa nhất và
chứa đựng những giáo lý trung thành nhất của đức Phật.
Đức Phật dạy các Phật tử hãy học giáo của Ngài trong
ngôn ngữ của mình. Phật tử Việt Nam, tất nhiên phải học
giáo lý của Ngài ngang qua tiếng Việt, và nhờ vậy Phật
tử Việt Nam vượt qua được những trở ngại ngôn ngữ và
tự mở rộng cửa chánh pháp và cho mình và cho mọi người.
Chúng tôi phiên dịch Kinh Tạng vì
chúng tôi xem Kinh Tạng gìn giữ được những lời dạy trung
thành nhất của đức Phật chưa bị ảnh hưởng bởi những
chia rẽ hệ phái và tông phái (Nam tông, Bắc tông).
2) Mục đích thứ hai của chúng
tôi trong nhiệm vụ phiên dịch này là xây dựng cho được
một Đại Tạng Việt Nam. Ngày nay, chúng ta đã được độc
lập thống nhất, chúng ta phải có Đại Tạng Việt Nam cho
Phật tử Việt Nam. Ngôn ngữ Việt Nam đủ phong phú, đủ
trong và sức mạnh đóng vai trò chuyển ngữ. Ngày nào, chúng
ta còn lệ thuộc vào Pàli Tạng hay Hán Tạng v.v... ngày ấy,
chúng ta vẫn còn lệ thuộc những văn tự ấy. Độc lập
ngôn ngữ cũng có nghĩa là độc lập dân tộc. Xưa kia, ông
cha ta đề cao tiếng Nôm là cũng vì vậy, vì chỉ có độc
lập ngôn ngữ mới khỏi bị đồng hóa bởi văn hóa ngoại
bang.
Chúng ta đang cần nghiên cứu Pàli
Tạng và Hán Tạng nhưng nghiên cứu không có nghĩa là cam tâm
lệ thuộc và văn tự Pàli hay văn tự Hán Tạng. Điều cốt
yếu là thấy rõ điều ấy, và thấy rõ điều ấy cũng tức
là thấy được sự cần thiết phải xây dựng cho được
một Đại Tạng Việt Nam.
Viết tại Viện Phật
Học Vạn Hạnh trong mùa An Cư năm 1980,
để kỷ niệm Lễ Vu Lan năm
Canh Thân.
Tỷ Kheo THÍCH MINH CHÂU
Viện Trưởng Viện Phật Học
Vạn Hạnh
Chân thành cám ơn anh Bình
Anson đã gửi tặng Thư Viện Hoa Sen
phiên bản vi tính bộ kinh này
(Tâm Diệu)