Tập III -
Trưởng Lão Ni Kệ
Phẩm
Mười - Tập Mười Kệ
63.
Kisa Gotami
Phẩm
Mười Một - Tập Mười Hai Kệ
64.
Uppalavanna
Phẩm
Mười Hai - Tập Mười Sáu Kệ
65.
Pumà hay Punnika
Phẩm
Mười Ba - Tập Hai Mươi Kệ
66.
Ambapali
67.
Rohini
68.
Càpà
69.
Sundari
70.
Subha Con Người Thợ Vằng
Phẩm
X
Tập
Mười Kệ
(LXIII)
Kisà Gotamì (Therì. 143)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, trong
một gia đình nghèo khổ, tên là Gota mì, vì nàng yếu đuối
nên được gọi là Kisà Gotamì (Gotamì ốm yếu). Khi lập gia
đình, nàng bị khinh thường và được gọi là con gái một
người không có gì. Nhưng khi nàng có con, nàng được kính
trọng. Khi người con lớn lên và có thể chạy được, nó
chết, và nàng cảm thấy đau khổ, và nhớ đến sự đối
xử với mình được thay đổi khi đẻ đứa con, nàng nghĩ:
'Chúng sẽ giữ lấy con ta và đem bỏ vào nghĩa địa'. Nàng
ôm đứa con chết vào lòng và đi vào từng nhà xin: 'Hãy cho
con tôi thuốc'. Và được trả lời: 'Nay thuốc còn gì dùng
nữa'. Nhưng nàng không hiểu. Có người thương xót khuyên
nàng đến đức Phật để xin thuốc, Nàng đi đến tinh xá
và xin đức Phật: 'Hãy cho con tôi thuốc'. Bậc Ðạo Sư thấy
được hy vọng tu chứng nơi nàng bèn nói: 'Hãy đi đến nhà
nào không có người chết, và đem lại một hột cải!' Nàng
vâng lời, đi vào nhà đầu tiên và yêu cầu như vậy, nhưng
bị từ chối, vì trong nhà có người chết. Nàng đi vào nhiều
nhà khác, được trả lời như vậy và nàng nghĩ: 'Ðây có
thể là bậc Ðạo Sư dạy khéo cho ta', nên nàng đem dặt con
nàng ở nghĩa địa và nói:
Pháp
này không riêng làng,
Không
riêng thành, gia tộc,
Không
riêng cho một ai,
Cho
đến toàn thế giới,
Kể
cả các chư Thiên,
Ở
tại mọi từng trời,
Pháp
nhĩ là như vậy.
Tất
cả là vô thường.
Rồi
nàng đi đến bậc Ðạo Sư, và khi ngài hỏi có tìm được
hột cải không, nàng trả lời: 'Việc làm đã làm xong về
hột cải. Hãy xác nhận cho con'.
Thế
Tôn nói:
Tâm
còn bị đắm say,
Con
cái và súc vật,
Tử
thần bắt người ấy,
Như
lụt trôi làng ngủ
(Pháp
cú, 287)
Khi
đức Phật nói xong, nàng chứng được Sơ quả (quả Dự lưu)
và xin được xuất gia. Ðức Phật chấp nhận và nàng được
các Tỷ-kheo-ni cho thọ giới. Sau đó, không bao lâu nàng nghiên
cứu về nguyên nhân của sự vật và khiến thiền quán tăng
trưởng. Rồi bậc Ðạo Sư nói lên bài kệ:
Người
sống một trăm năm,
Không
thấy pháp sanh diệt,
Tốt
hơn sống một ngày,
Thấy
được pháp sanh diệt.
(Pháp
Cú 113)
Khi
đức Phật nói xong, nàng chứng quả A-la-hán. Vì nàng đặc
biệt tu hạnh khắc khổ nên nàng mặc thô y, và đức Phật
ngồi tại tinh xá Kỳ Viên đặt nàng vào hạnh mặc thô y
đệ nhứt. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên
những bài kệ này trước mặt Thế Tôn, những bài kệ tán
thán sự thân cận với các bậc Hiền Thánh:
213.
Bạn lành được ẩn sĩ,
Khắp
thế giới, ngợi khen,
Thân
cận với bạn lành,
Kẻ
ngu thành người trí.
214.
Hãy thân bậc chân nhân,
Thân
vậy, trí tăng trưởng,
Thân
cận bậc chân nhân,
Mọi
khổ đau được thoát.
215.
Hãy biết, Bốn thánh đế,
Khổ
và khổ tập khởi,
Biết
về đau khổ diệt,
Và
đoạn Thánh tám ngành.
216.
Khổ thay phận nữ nhân,
Chính
Ngài đã nói lên,
Bậc
đánh xe điều ngự,
Những
ai đáng điều ngự,
Khổ
thay phận chồng chung,
Nhiều
người một lần sanh.
217.
Trong đau khổ đâm họng,
Mẹ
yếu uống thuốc độc,
Trường
hợp gặp bào thai,
Bị
chết khi đang sanh,
Cả
hai mẹ và con,
Ðều
cùng gặp tai nạn.
218.
Khi mang thai đi về,
Ta
thấy chồng chết đường,
Và
khi ta sanh đẻ,
Ta
không về đến nhà.
219.
Hai con đều bị chết,
Chồng
nữ nhân khốn khổ,
Lại
bị chết giữa đường;
Mẹ,
cha và cả anh,
Ðều
cùng bị thiêu đốt,
Dồn
chung trên đống lửa.
220.
Ôi, nữ nhân khốn khổ,
Sanh
gia cảnh khốn cùng,
Người
phải chịu khổ đau,
Vô
lượng, không kể xiết.
Nước
mắt người đã khóc,
Trải
nhiều ngàn lần sanh.
221.
Ta thấy giữa nghĩa trang,
Thịt
con ta bị ăn,
Gia
đình bị tàn hại,
Bị
mọi người khinh bỉ,
Tuy
vậy, người chết chồng.
Ðạt
được sự bất tử.
222.
Ta tu tập Thánh đạo,
Ðường
tám ngành, bất tử,
Ta
chứng được Niết-bàn,
Thấy
được gương Chánh pháp.
223.
Trên ta, mũi tên đâm,
Ðã
được rút ra khỏi,
Gánh
nặng đã đặt xuống,
Việc
nên làm đã làm,
Ta
là Trưởng lão Ni,
Kisà-Gotamì,
Với
tâm khéo giải thoát,
Ta
nói lên đời này.
Phẩm
XI
Tập
Mười Hai Kệ
(LXIV)
Uppalavanna
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, con
gái của vị trưởng kho bạc. Vì da nàng màu tim của sen xanh,
nàng được gọi là Uppalavannà. Khi nàng đến tuổi trưởng
thành, vua và thường dân dành nhau đến cưới nàng. Vị trưởng
kho bạc, không thể làm cho mọi người bằng lòng, nghĩ đến
một kế để giải quyết. Ông cho gọi Uppalavannà và yêu cầu
nàng xuất gia. Và vì căn cơ đã thuần thục, nàng nhận lời
ngay, và được đưa đến tinh xá Tỷ-kheo-ni để xuất gia.
Sau
một thời gian, khi nàng phụ trách công việc dọn dẹp phòng
làm lễ Bố-tát, nàng thắp ngọn đèn quét phòng. Rồi lấy
ngọn đèn làm tướng để thiền quán, không bao lâu nàng chứng
được quả A-la-hán. Nàng trở thành vị thần thông đệ nhất.
Và
bậc Ðạo Sư, ngồi giữa đại chúng ở Jetavana ấn chứng
cho nàng là thần thông đệ nhất. Nàng suy tư trên quả an
lạc của thiền và thánh quả, nói lên một số bài kệ. Ðây
là những lời thốt ra tà miệng một bà mẹ trở thành tình
địch với con gái của mình, đối với một người mà sau
này trở thành vị Tỷ-kheo tên là Tỷ-kheo ở trên bờ sông
Hằng. Những bài kệ này nói lên sự nguy hiểm, sự hạ liệt
và sự uế nhiễm của các dục:
I
224.
Hai, mẹ và con gái,
Chúng
tôi sống một chồng,
Lời
nàng đã nói lên
Làm
ta xúc động mạnh,
Cảnh
ngộ thật hy hữu,
Làm
tóc lông dựng ngược.
225.
Ðáng ngán thay các dục,
Bất
tịnh, hôi, nhiều gai,
Ở
đây, mẹ, con gái,
Chúng
tôi lấy một chồng.
226.
Thấy nguy hiểm trong dục,
Viễn
ly an ổn vững
Nàng
xuất gia Vương Xá,
Bỏ
nhà, sống không nhà.
II
Sung
sướng nàng nói lên quả chứng của mình.
227.
Ta biết các đời trước,
Thiên
nhãn được thanh tịnh,
Trí
biết được tâm người,
Nhĩ
giới được trong sạch.
228.
Ta chứng được thần thông,
Lậu
tận ta đạt được,
Ta
chứng sáu thắng trí,
Lời
Phật dạy, làm xong.
III
Nàng
hiện lên một thần thông với sự chấp thuận của bậc Ðạo
Sư và ghi như sau:
229.
Do hiện hóa thần thông,
Ta
đến xe bốn ngựa,
Ta
đảnh lễ chân Phật,
Thế
giới chủ, quang vinh.
IV
Nàng
bị Ác ma đến quấy phá, tại rừng cây Sàla và trách móc
Ác ma.
Ác
ma:
230.
Nàng đi đến gốc cây,
Ðang
nở hoa tuyệt đẹp,
Nàng
đến, đứng một mình,
Dưới
gốc cây có hoa!
Nàng
đến chỉ một mình;
Này
kẻ dại khờ kia,
Sao
nàng lại không sợ,
Có
kẻ cám dỗ nàng!
Nàng:
231.
Trăm ngàn người cám dỗ,
Có
đến đây như ngươi,
Mảy
lông ta không động,
Ta
không gì hoảng hốt,
Ác
ma, làm gì ta,
Khi
ngươi đến một mình.
232.
Ta có thể biến mất,
Hay
vào bụng nhà ngươi,
Ta
đứng giữa hàng mi,
Ngươi
không thấy ta đứng.
233.
Với tâm khéo nhiếp phục,
Thần
túc khéo tu trì,
Sáu
thắng trí, ta chứng,
Lời
Phật dạy, làm xong.
234.
Các dục giống gươm giáo,
Chém
nát các uẩn ta,
Những
dục mà ngươi gọi,
Là
lạc thú cuộc đời.
Ngày
nay, dục lạc ấy.
Với
ta, không hấp dẫn.
235.
Ở tất cả mọi nơi,
Hỷ
lạc được đoạn tận,
Khối
tối tăm mù ám,
Ðã
bị làm tan nát,
Hỡi
này kẻ Ác ma,
Ngươi
hãy biết như vậy,
Ngươi
chính là Ác ma,
Ngươi
đã bị bại trận.
Phẩm
XII
Tập
Mười Sáu Kệ
(LXV)
Punnà hay Punnikà (Therì. 146)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, trong
gia đình ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc) con gái của một
người nô lệ. Nàng chứng được quả Dự lưu khi nghe kinh
Sư tử hống (Trung Bộ Kinh, kinh số 11 hay 12). Về sau, sau khi
nàng hóa độ được một Bà-la-môn tin tưởng nhờ nước
làm cho thanh tịnh và được cảm tình của ông chủ, nàng
được thoát ly khỏi giới nô lệ, và với sự bằng lòng
của ông chủ, nàng được xuất gia. Và nhờ triển khai thiền
quán, nàng chứng quả A-la-hán với hiểu pháp và hiểu nghĩa.
Suy tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên những bài kệ
như sau:
236.
Mùa đông ta mang nước,
Luôn
luôn xuống dòng nước,
Ta
sợ các hình phạt,
Lời
trách móc các bà.
237.
Hỡi này Bà-la-môn,
Ngươi
sợ hãi vì ai?
Luôn
luôn xuống dòng nước,
Tay
chân run cầm cập.
Ngươi
phải chịu cảm thọ,
Rét
lạnh quá độ vậy?
238.
Và nàng có biết chăng
Hỡi
này Punnikà?
Sao
nàng lại đến hỏi
Vị
làm các nghiệp lành,
Vị
đã chận đứng lại,
Các
nghiệp ác bất thiện.
239.
Vị ấy già hay trẻ,
Làm
các nghiệp ác độc,
Người
ấy nhờ rảy nước,
Ðược
giải thoát ác nghiệp.
240.
Ai nói với ngươi vậy,
Kẻ
ngu với kẻ ngu,
Người
tin nhờ rảy nước,
Ðược
giải thoát ác nghiệp.
241.
Tất cả những ếch, rùa,
Sẽ
được lên cõi trời,
Cùng
các rắn cá sấu,
Và
các thủy vậy khác.
242.
Kẻ giết bò giết heo,
Kẻ
đánh cá sanh thú,
Các
kẻ cướp giết người,
Các
người làm ác khác,
Họ
nhờ có rảy nước,
Có
thể thoát ác nghiệp.
243.
Nếu những con sông này,
Có
thể làm trôi mất,
Ác
nghiệp xưa ngươi làm,
Chúng
cũng làm trôi luôn,
Các
thiện nghiệp ngươi làm,
Khiến
ngươi thành rỗng không.
244.
Phạm chí vì cái gì,
Ngươi
sợ phải xuống nước,
Cái
ấy chớ có làm,
Chớ
để lạnh hại da.
245.
Ta đi theo tà đạo,
Nàng
hướng ta Thánh đạo,
Thưa
nàng ta cho nàng,
Cái
áo thấm nước này.
246.
Ngươi giữ cái áo lại,
Ta
không muốn cái áo!
Nếu
ngươi sợ đau khổ,
Nếu
ngươi không thích khổ.
247.
Chớ làm các điều ác,
Công
khai hay kín đáo,
Nếu
ngươi làm sẽ làm,
Làm
các điều ác nghiệp.
248.
Ngươi không thoát đau khổ,
Dầu
thấy đến, ngươi chạy,
Nếu
ngươi sợ đau khổ,
Không
ưa thích đau khổ.
249.
Hãy đến quy y Phật,
Quy
y Pháp và Tăng,
Hãy
chấp nhận Giới luật,
Ngươi
sẽ được lợi ích.
250.
Ta đến quy y Phật,
Quy
y Pháp và Tăng,
Ta
chấp nhận Giới luật,
Ta
sẽ được lợi ích,
251.
Trước ta là bà con,
Với
tộc họ Phạm thiên,
Nay
ta là Phạm chí,
Chân
thật là như vậy,
Ta
chứng ngộ Ba minh,
Ðầy
đủ trí Vệ-đà,
An
ổn đến với ta,
Tâm
tư được gột sạch.
Vị
Bà-la-môn quy y và thọ năm giới. Về sau được nghe bậc Ðạo
Sư thuyết pháp trở thành một thiện nam và xuất gia. Nhờ
tinh cần tu tập không bao lâu chứng được Ba minh, và nghĩ
đến quả chứng của mình, nói lên bài kệ này. Và vị Tỷ-kheo-ni,
lập lại bài kệ ấy trở thành bài kệ của mình.
Phẩm
XIII
Tập
Hai Mươi Kệ
(LXVI)
Ambapàlì (Therì. 147)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh dưới một gốc
cây xoài trong vườn vua Vesàli và được gọi là Ambapàli.
Nàng rất đẹp nên đến khi lớn lên nhiều vương tôn công
tử cạnh tranh để chiếm đoạt nàng. Về sau để tránh những
cạnh tranh ấy và cũng do nghiệp lực của nàng, nàng trở
thành một kỹ nữ. Vì lòng tin đối với bậc Bổn Sư, nàng
xây dựng một tinh xá trong ngôi vườn của nàng và cúng cho
đức Phật và chúng Tăng. Khi nàng nghe con nàng, tức là Trưởng
lão Vimalakondanna thuyết pháp, nàng triển khai thiền quán về
lý vô thường, như thân nàng, chứng Tam minh và nàng nói lên
những bài kệ sau đây:
252.
Ðen như sắc con ong,
Tóc
dài ta khéo uốn,
Nay
biến đổi vì già,
Như
vải gai, vỏ cây,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
253.
Thơm như hộp ướp hương,
Ðầu
ta đầy những hoa,
Nay
biến đổi vì già,
Hôi
như lông con thỏ,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
254.
Như rừng khéo vun trồng,
Lược
kim tu chói sáng,
Nay
biến đổi vì già,
Tóc
lơ thơ rơi rụng,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật
255.
Trang điểm với bện tóc,
Sáng
chói nữ trang vàng,
Tóc
mềm mại êm dịu,
Thơm
ngát với mùi hương,
Nay
biến đổi vì già,
Rơi
rụng đầu sói trọc,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
256.
Trước lông mày của ta,
Chói
sáng khéo tô vẽ,
Nay
biến đổi vì già,
Nhăn
nheo, rơi suy sụp,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
257.
Mắt ta xanh và dài,
Sáng
đẹp như châu báu,
Nay
biến đổi vì già,
Hư
hại không chói sáng,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
258.
Lỗ mũi mềm và thon,
Sáng
chói và trẻ măng,
Nay
biến đổi vì già,
Héo
khô và tàn tạ,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
259.
Trước tai ta sáng chói,
Như
vàng vòng khéo làm,
Nay
biến đổi vì già,
Nhăn
nhiu chảy xệ xuống,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
260.
Trước răng ta sáng chói,
Như
búp nụ chuối hoa,
Nay
biến đổi vì già,
Bể
gãy vàng như lúa,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
261.
Ngọt là giọng nói ta,
Như
chim cu hót rừng,
Nay
biến đổi vì già,
Tiếng
bể bị đứt đoạn,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
262.
Trước cổ ta chói sáng,
Mềm
đầy đặn nhu nhuyến,
Nay
biến đổi vì già,
Nhiều
ngấn và khô cằn,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
263.
Trước cánh tay của ta,
Sáng
như hai cột tròn,
Nay
biến đổi vì già,
Như
hoa kèn yết ớt,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
264.
Trước bàn tay của ta,
Mềm
mại như cành hoa,
Sáng
như nữ trang vàng,
Nay
biến đổi vì già,
Như
rễ cây khô cằn,
Nhăn
nhiu và thô nhám,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
265.
Trước vú ta sáng chói,
Căng
thẳng và tròn đầy,
Nay
biến đổi vì già,
Trống
rỗng treo lủng lẳng,
Như
da không có nước,
Trống
không, không căng tròn,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
266.
Trước thân ta chói sáng,
Như
giáp vàng đánh bóng,
Nay
biến đổi vì già,
Ðầy
vết nhăn nhỏ xíu,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
267.
Trước bắp vế của ta,
Sáng
chói như vòi voi,
Nay
biến đổi vì già,
Giống
như những ống tre,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
268.
Trước ống chân của ta,
Mềm
mại như vòng vàng,
Nay
biến đổi vì già,
Chẳng
khác gậy cây mè,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
269.
Trước chân ta chói sáng,
Với
lông mềm như bông,
Nay
biến đổi vì già,
Nứt
nẻ đầy đường nhăn,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
270.
Thân này là như vậy,
Nay
già chứa nhiều khổ,
Ngôi
nhà đã cũ kỹ,
Vôi
trét tường rơi xuống,
Ðúng
như lời giảng dạy,
Của
bậc nói sự thật.
Và
vị trưởng lão Ni, thấy được những hình tướng vô thường
trên thân của mình, nhận thức được tánh vô thường của
ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, tâm tư quán
triệt tánh Vô thường, Khổ, Vô ngã, và phát triển tuệ quán
trên con đường tu tập chứng được quả A-la-hán.
(LXVII)
Rohinì (Therì. 150)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Vesali trong nhà một
phú gia Bà-la-môn và được đặt tên là Rohinì (con bò đỏ,
nâu). Ðến tuổi trưởng thành, khi đức Phật còn ở Vesali,
nàng đến nghe pháp, chứng được quả Dự lưu. Rồi nàng
giảng pháp cho cha mẹ, cha mẹ chấp nhận pháp và cho phép
nàng xuất gia. Nàng khai triển thiền quán và không bao lâu
chứng quả A-la-hán với hiểu biết về nghĩa và về pháp.
Suy
tư đến một cuộc đàm thoại về pháp với phụ thân, khi
nàng mới chứng quả Dự lưu, nàng nói lên sự phấn khởi
của nàng với những bài kệ sau đây về nội dung cuộc đàm
thoại:
271.
Nàng chỉ cho ta thấy,
Ðây
là một Sa-môn,
Nàng
thức ta tỉnh dậy,
Ðây
là một Sa-môn,
Nàng
khen tặng Sa-môn,
Muốn
thành nữ Sa-môn.
272.
Nàng tìm cho Sa-môn
Rất
nhiều đồ ăn uống,
Này
hỡi, Rô-hi-ni,
Sao
nàng quý Sa-môn?
273.
Họ nhác không thích làm,
Sống
với đồ người cho,
Họ
ham lợi thích ngọt,
Sao
nàng quý Sa-môn?
274.
Cha thân đã lâu rồi,
Cha
hỏi về Sa-môn,
Con
sẽ tán thán họ
Tuệ
giới hạnh tinh cần.
275.
Họ thích làm không nhác,
Họ
làm việc tối thắng,
Họ
trừ bỏ tham sân,
Vì
vậy con quý họ.
276.
Ba cội gốc điều ác,
Họ
quét sạch thanh tịnh,
Mọi
điều ác đoạn tận,
Vì
vậy con quý họ.
277.
Thân nghiệp họ trong sạch,
Khẩu
nghiệp họ cũng vậy,
Ý
nghiệp họ trong sạch,
Do
vậy con quý họ.
278.
Không cấu uế giải thoát,
Như
vỏ ốc trong sạch,
Trong
sạch cả bên trong,
Trong
sạch cả bên ngoài,
Công
đức họ trắng tinh,
Do
vậy con quý họ.
279.
Nghe nhiều thọ trì pháp,
Mạng
sống đúng Chánh pháp,
Họ
thuyết nghĩa thuyết pháp,
Do
vậy con quý họ.
280-281.
Nghe nhiều thọ trì pháp,
Mạng
sống đúng Chánh pháp,
Nhứt
tâm giữ chánh niệm,
Lời
sáng suốt khiêm nhường
Họ
chấm dứt đau khổ,
Do
vậy con quý họ.
282.
Từ làng họ ra đi,
Không
nhìn ngó vật gì,
Họ
đi không mong chờ,
Do
vậy con quý họ.
283.
Không tìm cầu kho tàng,
Không
kho chứa, kho cất,
Họ
tầm cầu cứu cánh,
Do
vậy con quý họ.
284.
Họ không nắm giữ tiền,
Không
nắm vàng, nắm bạc,
Họ
sống với hiện tại,
Do
vậy con quý họ.
285.
Từ gia đình quốc độ,
Họ
xuất gia khác nhau,
Nhưng
họ thương kính nhau,
Do
vậy con quý họ.
286.
Hỡi này Rô-hi-ni,
Nàng
sanh trong gia đình,
Nàng
đem lại hạnh phúc,
Cho
gia đình chúng tôi,
Nàng
tin Phật, Pháp, Tăng,
Lòng
tín kính sắc bén.
287.
Nàng biết rõ cái này,
Là
ruộng phước vô thượng,
Chúng
tôi cùng tín kính,
Các
vị Sa-môn này,
Tế
đàn thiết lập đây,
Ðối
với tôi rất lớn.
288.
Nếu cha sợ đau khổ,
Nếu
cha không thích khổ,
Hãy
quy y Phật-đà,
Quy
y Pháp và Tăng,
Hãy
chấp nhận giới đức,
Cha
sẽ được hạnh phúc.
289.
Tôi quy y Phật-đà,
Quy
y Pháp và Tăng,
Tôi
chấp nhận giới luật,
Tôi
sẽ được hạnh phúc.
290.
Lúc trước ta chỉ là,
Bà
con của Phạm thiên,
Nay
ta thật chính là,
Một
vị Bà-la-môn,
Ta
chứng đạt Ba minh,
Ðược
an toàn yên ổn,
Ba
Vệ-đà chứng ngộ,
Ta
tắm rửa thật sạch.
Và
vị Bà-la-môn sau khi thọ quy y và các giới, xin xuất gia và
chứng quả A-la-hán. Nghĩ đến sự chứng quả của mình, vị
này nói lên những câu kệ cuối cùng để tỏ lộ sung sướng
của mình.
(LXVIII)
Càpà (Therì. 151)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở xứ Vankahàra,
trong làng những người thợ săn đặt bẫy mồi, con người
chủ thợ săn và được đặt tên là Càpà. Trong lúc ấy,
Upaka một ẩn sĩ khổ hạnh, gặp đức Bổn Sư khi Ngài đi
từ Bồ đề đạo tràng đến Ba-la-nại để chuyển pháp luân
và hỏi ngài: 'Này Ngài, hình như Ngài được dồi dào sức
khỏe. Da của Ngài thật trong sáng. Này Ngài, Ngài từ ai xuất
gia? Vị Ðạo Sư của Ngài là ai? Hay ngài tin tưởng giáo lý
gì?' Và bậc Ðạo Sư trả lời như sau:
Ta
chinh phục tất cả,
Mọi
sự việc, Ta biết,
Sống
giữa vật không nhiễm,
Ta
từ bỏ tất cả,
Mệnh
chung, ác đoạn tận
Kiến
thâm sâu, Ta chứng,
Ta
chỉ ai cho ông,
Ta
không có Bổn Sư,
Trên
đời đứng một mình,
Không
ai sánh bằng Ta.
Nay
Ta đang đi đến,
Thành
phố Ba-la-nại,
Ðể
vận chuyển Pháp luân,
Quay
bánh xe Chánh pháp
Thức
tỉnh và hướng dẫn,
Quần
chúng đang mê muội,
Ðánh
tiếng trống bất tử,
Rưới
cam lồ giải thoát.
Vị
ẩn sĩ, biết được sự giác ngộ và sứ mệnh của Ngài
nên nói: 'Này Ngài, mong rằng sự việc sẽ như Ngài nói, Ngài
xứng đáng là bậc chiến thắng bất diệt'. Rồi Upaka đi
con đường tắt đến Vankahara, và sống gần chỗ các người
thợ săn. Người chủ thợ săn lo cung phụng cho Upaka. Một
hôm, người chủ đoàn thợ săn đi bắn xa với các con trai
và anh em, bảo Càpà lo cúng dường cho Upaka. Nhưng Càpà rất
đẹp và khi Upaka đến tại nhà để khất thực, Upaka mê say
sắc đẹp của nàng, đến nỗi ăn không được, phải đem
thức ăn về nhà và nguyện thà chịu chết nếu không lấy
được Càpà. Sau bảy ngày, người chủ thợ săn trở về
hỏi vị A-la-hán của mình ở đâu, và được biết Upaka chỉ
đến nhà mình một lần đầu rồi thôi không đến nữa. Người
thợ săn tìm kiếm đến Upaka và Upaka than khóc thú nhận sự
đắm say của mình. Người thợ săn hỏi Upaka có biết nghề
gì không, Upaka trả lời là không và chịu đi lượm các loài
chim thú bị bắt được và đem bán. Người thợ săn bằng
lòng cho Upaka một cái áo khoác ngoài đưa về nhà và gả Càpà
cho. Sau một thời gian Càpà sanh được một người con trai
và đặt tên là Subhadda. Khi đứa con khóc, Càpà liền hát
lên như sau để chế nhạo chồng mình; 'Con của Upaka! Con của
vị ẩn sĩ! Con kẻ bán đồ săn! Chớ khóc, chớ khóc này
con'. Cuối cùng Upaka tức quá trả lời: 'Này Càpà, đừng
nghĩ rằng không có ai che chở cho ta! Ta có một người bạn,
một vị chiến thắng bất diệt, ta sẽ đến với người
bạn ấy'. Càpà biết chồng mình tức giận, nhưng vẫn trêu
chọc chồng mình, cho đến một hôm Upaka cương quyết ra đi.
Nàng cố cản ngăn nhưng không được và cuối cùng Upaka ra
đi để gặp Thế Tôn ở Sàvatthi. Thế Tôn dặn các Tỷ-kheo
khi nào có ai đến hỏi: 'Vị chiến thắng bất diệt ở đâu?'
thời đưa người ấy vào gặp đức Phật. Khi Upaka đến tịnh
xá và hỏi: 'Vị chiến thắng bất diệt ấy ở đâu?' Các
Tỷ-kheo đưa Upaka đến gặp đức Phật. Ðức Phật cho Upaka
xuất gia và cuối cùng Upaka chứng được quả Bất lai. Sau
khi mạng chung Upaka được sanh lên cõi Trời Aviha, và khi tái
sanh, Upaka chứng được quả A-la-hán.
Còn
Càpà, đau buồn vì chồng bỏ đi, giao con lại cho ông ngoại
đi theo Upaka, xin được xuất gia và chứng được quả A-la-hán
và lấy bài kệ của Upaka, hợp chung với bài kệ của mình,
nàng nói lên sự phấn khởi của mình:
Upaka
nói:
291.
Ta trước tay cầm gậy,
Nay
ta thành thợ săn,
Sa
lầy đầm khốn cùng,
Ta
không đến bờ kia.
292.
Càpà chọc đứa con,
Mỉa
mai ta say đắm,
Chặt
trói buộc Càpà,
Ta
nay đã xuất gia.
Càpà
nói:
293.
Chớ có tức giận em,
Hỡi
bậc đại chiến thắng,
Chớ
có tức giận em,
Hỡi
bậc đại ẩn sĩ,
Kẻ
bị giận chi phối,
Khổ
hạnh khó thanh tịnh.
294.
Ta sẽ rời Nàlà!
Ai
ở lại Nàlà,
Khi
nếp sống đúng pháp,
Tại
đấy vị Sa-môn,
Bị
sắc đẹp nữ nhân,
Trói
buộc vào quyến rũ.
295.
Hãy trở lui thưa chàng,
Chàng
mắt đen của thiếp,
Hãy
hưởng thọ dục lạc,
Như
trước chàng đã hưởng,
Thiếp
xin phục tùng chàng,
Lại
còn bà con thiếp.
296.
Này Càpà phần tư,
Ðiều
nàng đã nói lên,
Ðôi
kẻ say mê nàng,
Có
thể thành lớn mạnh.
297.
Chàng mắt đen của thiếp,
Thiếp
chẳng đẹp hay sao,
Như
cây lựu nẩy mầm,
Nở
hoa trên đầu núi,
Như
giây leo giăng hoa,
Hay
như bông thổi kèn,
Trong
nội địa hoang đảo,
Hãy
nhìn sắc đẹp thiếp.
298.
Ướp thơm với mùi hương,
Hương
chiên đàn đỏ thắm,
Thiếp
mang lụa Kàsi,
Lụa
Kàsi tối thượng,
Thiếp
đẹp như thế này,
Sao
chàng bỏ rơi thiếp.
299.
Như thợ săn bắt chim,
Muốn
dùng mồi bắt chim,
Dầu
bủa giăng sắc đẹp,
Nàng
không trí ta được!
300.
Còn quả con trai này,
Do
chàng sanh ra thiếp,
Chàng
mắt đen của thiếp,
Sao
chàng lại từ bỏ,
Ðứa
con trai của thiếp,
Ðứa
con trai của chàng.
301.
Bậc trí bỏ con trai,
Bỏ
bà con, tài sản,
Bậc
đại hùng xuất gia,
Như
voi biết trói buộc.
302.
Con trai này của chàng,
Nay
thiếp dùng gậy dao,
Ðánh
ngã nó trên đất,
Hãy
tự cứu cho chàng,
Vì
sầu muộn đứa con,
Chàng
không thể bỏ đi.
303.
Nếu nàng quăng con trai
Cho
chó sói, loài chó,
Kẻ
sanh con trai ta,
Không
động lòng trắc ẩn,
Nàng
sẽ không làm được,
Khiến
ta trở lui lại.
304.
Nay mong chàng tốt lành,
Chàng
mắt đen của thiếp!
Chàng
sẽ đi đến đâu?
Làng
nào, thị trấn nào,
Chàng
đi thành phố nào?
Chàng
đi kinh đô nào?
305.
Xưa đời sống chúng tôi,
Tổ
chức thành đồ chúng!
Không
phải là Sa-môn,
Chúng
tôi tưởng Sa-môn!
Chúng
tôi sống bộ hành,
Làng
này qua làng khác,
Sống
trong những thành phố,
Cũng
như tại thủ đô.
306.
Nay thật Thế Tôn này,
Dọc
bờ sông Ni-liên,
Ngài
thuyết giảng Chánh pháp,
Cho
các loài hữu tình,
Ðoạn
tận mọi khổ đau,
Ta
nay đi đến Ngài,
Ngài
sẽ là Ðạo Sư,
Ðạo
Sư của chúng ta.
307.
Nay chàng đi đảnh lễ,
Bậc
Thế Tôn vô thượng!
Ði
hữu nhiễu quanh Ngài!
Dâng
Ngài lòng cung kính.
308.
Càpà, như nàng nói!
Lợi
ích cả hai ta!
Nay
ta thay mặt nàng,
Lễ
Thế Tôn vô thượng,
Ði
hữu nhiễu quanh Ngài,
Ta
dâng lòng cung kính.
309.
Rời Kàla ra đi,
Dọc
sông Ni-liên-thiền,
Thấy
bậc Chánh Ðẳng giác,
Thuyết
pháp đạo bất tử.
310.
Thuyết khổ, khổ tập khởi!
Vượt
qua sự dau khổ,
Thuyết
đường Thánh tám ngành,
Ðưa
đến khổ tịnh chỉ.
311.
Ðảnh lễ chân Ngài xong,
Hữu
nhiễu quanh Ngài xong,
Trình
lên lời ước nguyện,
Của
Càpà vợ chàng!
Rồi
chàng xin xuất gia,
Sống
đời không gia đình,
Chứng
đạt được Ba minh,
Làm
xong lời Phật dạy.
(LXIX)
Sundàrì (Therì. 153)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Benares (Ba-la-nại),
con cái của Sujata, một Bà-la-môn. Vì thân nàng đẹp đẽ,
nàng được gọi là Sundarì, khi nàng lớn, em trai nàng chết.
Cha nàng quá đau khổ đi lang thang và gặp Trưởng lão Ni Vasitthi.
Khi Trưởng lão Ni hỏi cha nàng bị đau khổ gì, cha nàng trả
lời bằng hai câu kệ đầu. Ðể làm nhẹ bớt đau khổ, Trưởng
lão Ni nói hai câu kệ tiếp, và nói lên tâm trạng giải thoát
khỏi đau khổ của nàng. Vị Bà-la-môn hỏi làm sao Trưởng
lão Ni lại được giải thoát khỏi đau khổ như vậy. Vị
Trưởng lão Ni trả lời về Ba ngôi báu và quy y. Khi được
biết bậc Ðạo Sư nay ở Mithilà, vị Bà-la-môn đánh xe đến
Mithilà, yết kiến đức Phật. Ðức Phật thuyết pháp, vị
Bà-la-môn khởi lòng tin, xin xuất gia, vào ngày thứ ba chứng
quả A-la-hán, sau khi tinh tấn, tinh cần phát triển thiền quán.
Người
đánh xe, đánh xe về nhà Bà-la-môn và nói cho nữ Bà-la-môn
sự việc đã xảy ra. Sundarì nghe vậy, nàng xin mẹ xuất gia.
Bà mẹ nói nay toàn thể tài sản đều thuộc của nàng, hãy
thọ hưởng tài sản ấy. Sundarì nói tài sản không có nghĩa
gì đối với nàng, nàng chỉ muốn xuất gia. Sau khi được
bà mẹ bằng lòng, nàng bỏ cả tài sản như những vật vô
giá trị. Nhờ tinh cần tinh tấn, nhờ chủng tử tốt lành,
nhờ trí tuệ chín muồi, không bao lâu nàng chứng quả A-la-hán,
với hiểu biết về nghĩa và về pháp.
Sống
trong sự an lạc giải thoát, nàng nghĩ: 'Ta sẽ rống lên tiếng
rống con sư tử trước mặt bậc Ðạo Sư!'. Sau khi xin phép
bậc thầy của mình nàng rời khỏi Benares, với một số đông
Tỷ-kheo-ni, và cuối cùng đến Sàvatthi, yết kiến đức Phật,
đảnh lễ Ngài rồi đứng một bên. Nàng nói lên chánh trí
của nàng, xem nàng như là con gái sanh ra từ miệng đức Bổn
Sư. Và tất cả bà con nàng, bắt đầu từ mẹ nàng và các
người hầu cận đều xuất gia. Suy nghĩ đến quả chứng
của mình và dùng lời tuyên bố của người cha, nàng nói
lên sự phấn khởi của nàng như sau:
Sujàta:
312.
Hỡi nữ Bà-la-môn,
Những
con nàng đã chết,
Trong
thời gian quá khứ,
Thần
chết ăn nghiến chúng,
Cả
ngày và cả đêm
Khổ
đau nung nấu nàng.
313.
Nay có đến bảy con
Bị
thần chết vồ lấy,
Nhưng
này Vàsitthi
Chính
vì lý do gì?
Nàng
không bị đau khổ,
Não
hại và nung nấu?
Vàsitthi:
314.
Nhiều trăm con trai ta
Hàng
trăm chúng bà con,
Ðã
bị thần chết ăn,
Của
ta và của ngươi!
315.
Ta biết đường giải thoát,
Khỏi
sanh và khỏi chết,
Ta
không sầu, không khóc,
Ta
không bị nung nấu.
Sujàta:
316.
Hỡi nàng Vàsitthi
Vi
diệu thay, lời người!
Nàng
biết pháp của ai,
Nàng
nói được như vậy?
Vàsitthi:
317.
Hỡi này, Bà-la-môn,
Bậc
Chánh Ðẳng Giác này,
Ở
thành Mithìla,
Ngài
thuyết cho hữu tình,
Chánh
pháp thật vi diệu,
Ðoạn
tận mọi khổ đau!
318.
Hỡi này Bà-la-môn,
Ta
nghe La-hán ấy,
Thuyết
pháp không sanh y,
Ở
đây nhờ hiểu rõ
Ta
biết pháp vi diệu
Sầu
vì con quét sạch.
Sujàta:
319.
Con sẽ đi ngay đến
Thành
phố Mithìla!
Mong
bậc Thế Tôn ấy,
Giúp
con thoát mọi khổ,
Bà-la-môn
thấy Phật,
Bậc
giải thoát mọi khổ.
320.
Bà-la-môn thấy Phật,
Bậc
giải thoát vô sanh
Bậc
Mâu-ni, vượt khổ
Thuyết
pháp cho vị ấy.
321.
Thuyết khổ, khổ tập khởi,
Vượt
qua sự đau khổ,
Thuyết
Thánh đạo tám ngành,
Con
đường lắng dịu khổ.
322.
Ở đây, hiểu Diệu pháp,
Hoan
hỷ chọn xuất gia,
Sujàta
ba đêm,
Chứng
đạt được Ba minh.
323.
Hãy đi, người đánh xe,
Ðánh
xe này về nhà,
Chức
nữ Bà-la-môn,
Ðược
sức khỏe, không bệnh,
Và
nói vị Phạm chí
Nay
đã xuất gia rồi,
Sujàta
ba đêm,
Chứng
đạt được Ba minh.
324.
Người đánh xe lấy xe,
Cùng
với ngàn đồng tiền,
Chức
nữ Bà-la-môn,
Ðược
sức khỏe, không bệnh
Và
nói vị Phạm chí,
Nay
đã xuất gia rồi,
Sujàta
ba đêm
Chứng
đạt được Ba minh.
Mẹ
của Sundarì:
325.
Hỡi này người đánh xe,
Xe
ngựa, ngàn tiền này,
Khi
nghe vị Phạm chí
Ðã
đạt được Ba minh,
Ta
cho người đầy bát
Cả
xe và ngàn tiền.
326.
Hỡi nữ Bà-la-môn!
Hãy
giữ lại cho người,
Xe
ngựa và ngàn tiền,
Tôi
sẽ đi xuất gia,
Sống
thân cận gần gũi
Bậc
trí tuệ tối thắng.
327.
Voi, trâu bò và ngựa,
Châu
báu và vòng vàng,
Những
gì làm gia tài,
Trở
nên giàu có này,
Cha
con đã xuất gia,
Ðã
bỏ lại tất cả....
Này
con Sundarì,
Con
thừa tự gia đình,
Hãy
thọ hưởng tài sản,
Của
đại gia đình này,
328.
Voi, trâu bò và ngựa,
Châu
báu và vòng vàng,
Những
gì làm gia tài,
Trở
nên cám dỗ nàng;
Sầu
khổ vì đứa con,
Cha
con đã xuất gia,
Ðã
từ bỏ tất cả
Gia
sản sự nghiệp này,
Con
nay sẽ xuất gia,
Sầu
khổ vì anh con
329.
Hỡi này Sundarì
Nếu
đấy ước nguyện con,
Mong
rằng tâm tư ấy,
Ðược
thành tựu viên mãn;
Nuôi
sống bằng đồ ăn,
Tích
lũy nhờ khất thực,
Y
áo được tác thành,
Với
miếng vải lượm lặt,
Những
nếp sống như vậy,
Ðược
thành tựu viên mãn,
Khiến
lậu hoặc đoạn tận,
Trong
thế giới đời sau.
Sundarì:
330.
Kính thưa Trưởng lão Ni,
Con
đã học, tu tập,
Thiên
nhãn được thanh tịnh,
Con
biết các đời trước,
Tại
chỗ con được sống,
Trước
kia như thế nào.
331.
Nhờ Ni sư, con được
Ôi,
bạn lành của con!
Bậc
sáng chói tốt đẹp,
Trong
chúng Trưởng lão Ni!
Ba
minh đã chứng đạt,
Lời
Phật dạy, làm xong.
332.
Ni sư hãy cho phép
Con
đi đến Xá Vệ!
Con
sẽ rống vang lên,
Tiếng
rống con sư tử!
Trước
mặt bậc Giác ngộ,
Phật-đà,
bậc tối thượng.
333.
Hỡi này Sundarì,
Nàng
thấy bậc Ðạo Sư,
Màu
da, sắc màu vàng,
Như
vàng ròng sáng chói!
Bậc
Chánh Ðẳng, Chánh giác,
Không
điều gì sợ hãi,
Bậc
đã điều phục được,
Kẻ
chưa được điều phục.
334.
Ðang đi đến trước Ngài,
Ngài
thấy Sundarì!
Ly
tham không hệ lụy,
Giải
thoát, không sanh y,
Ðã
làm việc phải làm,
Không
còn các lậu hoặc.
335.Từ
thành Ba-la-nại!
Con
đã bước ra đi!
Con
đến bậc Ðại hùng.
Con
là Sundarì,
Con
chính đệ tử Ngài!
Con
đảnh lễ chân Ngài.
336.
Ngài là bậc Giác ngộ!
Ngài
là bậc Ðạo Sư!
Con
là con gái Ngài
Ôi
bậc Bà-la-môn!
Con
sanh từ miệng Ngài!
Ðã
làm việc phải làm,
Không
còn có lậu hoặc,
Con
là Sundarì
337.
Hiền nữ, Ta mừng con
Ðường
còn lại, không xa!
Như
vậy, bậc Tự điều,
Ðảnh
lễ chân Ðạo Sư!
Bậc
ly tham, ly hệ,
Không
hệ lụy trói buộc,
Ðã
làm việc phải làm,
Không
còn các lậu hoặc.
(LXX)
Subhà, Con Người Thợ Vàng (Therì. 156)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
con gái một người thợ vàng. Vì nàng rất đẹp, nên được
gọi là Subhà. Khi nàng đến tuổi trưởng thành, khi đức
Phật còn ở tại Ràjagaha, nàng đến yết kiến Ngài, khởi
lòng tin tưởng, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên.
Bậc Ðạo Sư biết được căn cơ tâm tư thuần thục của
nàng, tùy theo ý nguyện của nàng, Ngài thuyết pháp cho nàng
về ly Bốn sự thật và nàng chứng được quả Dự lưu. Về
sau, nàng nhận thấy sự khó khăn sống trong gia đình, xin xuất
gia dưới sự hướng dẫn của bà Mahàpajàpati Gotamì, hướng
tâm đến con đường siêu thoát. Thỉnh thoảng, các bà con
của nàng mời nàng trở lại với đời, nói lên sự hấp
dẫn của đời. Một hôm nàng thuyết pháp cho bà con của nàng,
nói lên những nguy hiểm của đời sống cư sĩ, và ở đời
thuyết pháp cho họ với hai mươi bốn bài kệ như sau và chữa
cho họ thoát khỏi bệnh tham vọng. Rồi nàng phát triển thiền
quán, gột sạch các căn cuối cùng nàng chứng được quả
A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, nàng nói như sau:
338.
Ta trước mặc áo trắng,
Ðược
nghe giảng Chánh pháp,
Do
ta không phóng dật,
Chứng
tri được chân lý.
339.
Nhờ vậy đối mọi dục,
Không
còn tham muốn lớn,
Thấy
sợ hãi thân kiến,
Ta
mong muốn viễn ly.
340.
Ta bỏ chúng bà con,
Bỏ
lao công, nô tỳ,
Làng
ruộng đất phì nhiêu,
Khiến
người thích hân hoan,
Từ
bỏ, ta xuất gia,
Gia
sản đâu có ít.
341.
Nhờ diệu pháp khéo thuyết,
Ra
đi, với lòng tin,
Ta
không thể hy cầu
Vật
gì thuận gia sản
Vàng
bạc ta đã bỏ,
Sao
lại đi đến chúng?
342.
Vàng bạc không giác ngộ,
Không
làm người an tịnh,
Không
hợp hạnh Sa-môn,
Không
phải tài sản thánh.
343.
Chính vàng hay bạc này
Làm
tham ái, đắm say,
Làm
con người ngu si,
Làm
tăng trưởng bụi trần,
Nguy
hiểm nhiều ưu não,
Ðây,
không gì trường cửu.
344.
Ðây, loài Người tham đắm,
Phóng
dật, tâm uế nhiễm,
Chống
đối thù địch nhau
Rộng
đường đấu tranh nhau.
345.
Giết hại, trói, tra tấn,
Hao
tài sầu, ưu tư
Những
ai chìm trong dục,
Gặp
phải nhiều tai họa.
346.
Vì sao bà con ta
Giống
như kẻ thù ta,
Lại
trói buộc ta vào,
Trong
vòng các dục lạc,
Hãy
biết ta xuất gia,
Vì
thấy dục đáng sợ.
347.
Bạc, vàng không có thể
Ðoạn
được các lậu hoặc,
Các
dục là thù địch,
Sát
nhân, chuyên giết hại,
Chúng
là kẻ oán thù,
Là
mũi tên, dây trói.
348.
Vì sao bà con ta
Giống
như kẻ thù ta,
Lại
trói buộc ta vào
Trong
vòng các dục lạc,
Hãy
biết ta xuất gia,
Cạo
tóc đắp đại y.
349.
Nuôi sống bằng đồ ăn,
Tích
lũy nhờ khất thực,
Y
áo được tác thành
Với
miếng vải lượm lặt
Sống
vậy, thích hợp ta,
Cơ
bản, sống không nhà.
350.
Dục đại sĩ từ bỏ
Dục
loài Trời, loài Người,
Trú
an ổn, giải thoát
Không
dao động an lạc.
351.
Chớ để ta đến dục,
Trong
dục, không an toàn,
Dục,
thù địch sát nhân
Gây
khổ, dụ đống lửa.
352.
Ðường hiểm, đầy sợ hãi,
Ðầy
khổ hoạn, gai góc,
Tham
ái đường gập ghềnh,
Hoang
si mê rộng lớn.
353.
Tai họa đầy hãi hùng,
Các
dục dụ đầu rắn,
Kẻ
ngu thích thú dục,
Kẻ
mù lòa phàm phu.
354.
Chúng sanh chìm bùn đục,
Những
kẻ không thấy đời,
Họ
không có rõ biết,
Sự
chấm dứt sanh tử.
355.
Loài Người vì nhân dục,
Con
đường đến ác thú,
Phần
nhiều đi đường ấy,
Khiến
tự ngã bệnh hoạn.
356.
Như vậy dục sanh thù,
Nung
nấu, làm uế nhiễm,
Dục
thuộc về thể vật,
Trói
người vào tử vong.
357.
Dục làm cho diên cuồng,
Loạn
ngôn tâm thác loạn,
Làm
uế nhiễm chúng sanh,
Sắp
rơi bẫy Ác ma.
358.
Dục nguy hiểm không cùng,
Nhiều
khổ, thuốc độc lớn,
Ngọt
ít, tạo đấu tranh,
Héo
tàn ngày tươi sáng.