Tập III -
Trưởng Lão Ni Kệ
Phẩm
Năm - Tập Năm Kệ
Phẩm
Năm - Tập Năm Kệ
38.
Một Tỷ Kheo Ni Vô Danh
39.
Vimalà, Xưa Là Một Kỹ Nữ
40.
Sihà
41.
Sundari Nandà
42.
Nanduttara
43.
Mittakali
44.
Sukulà
45.
Sonà
46.
Bhaddà Kundalakesà
47.
Patacara
48.
30 Tỷ Kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Ðạo
Cúa Patacara
49.
Canda |
Phẩm
Sáu - Tập Sáu Kệ
50.
Năm Trăm Patacara
51.
Vasitthi
52.
Khema
53.
Sujata
54.
Anopamà
55.
Mahapajapati Gotami
56.
Gutta
57.
Vijaya
Phẩm
Bảy - Tập Bảy Kệ
58.
Uttara
59.
Càlà
60.
Upacala
Phẩm
Tám - Tập Tám Kệ
61.
Sisupacala
Phẩm
Chín - Tập Chín Kệ
62.
Mẹ của Vaddha |
Phẩm
V
Tập
Năm Kệ
(XXXVIII)
Một Tỷ Kheo Ni Vô Danh (Therì. 130)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Devadaha và trở thành
người nữ điều dưỡng cho Mahàpajàpati. Nàng tên là Vàddhesi
nhưng tên gia tộc nàng không được biết đến khi chủ nàng
xuất gia, nàng cũng xin xuất gia theo. Nhưng trong hai mươi lăm
năm nàng bị các dục chi phối ám ảnh, không được thiền
định dầu cho đến một sát-na. Nàng than van tình trạng của
nàng cho đến khi nàng được nghe Dhammadinnà thưyết pháp.
Rồi tâm nàng xa lánh các dục, nàng tu tập thiền định và
cuối cùng nàng chứng được sáu thắng trí. Suy tư trên quả
chứng của mình, nàng nói lên bài kệ:
67.
Ðã được hai lăm năm,
Từ
khi ta xuất gia,
Cho
đến búng ngón tay,
Tâm
ta không lắng dịu.
68.
Tâm không được an tịnh,
Vì
đầy ứ dục tham,
Ta
giơ tay khóc than,
Ta
đi vào tinh xá.
69.
Ta đến vị Ni ấy,
Ðồng
tín nữ với ta,
Nàng
thuyết pháp cho ta,
Về
uẩn, xứ và giới.
70.
Nghe pháp nàng giảng dạy,
Ta
ngồi vào một bên,
Ta
hết đời quá khứ,
Thiên
nhãn được thanh tịnh,
Với
trí biết tâm người,
Lỗ
tai được thanh tịnh.
71.
Ta chứng thần túc thông,
Ta
đạt được lậu tận,
Sáu
thắng trí ta chứng,
Lời
Phật dạy đã làm.
(XXXIX)
Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ (Therì. 131)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli làm
con gái một người bán sắc đẹp sinh sống. Nàng được đặt
tên là Vimalà. Khi nàng lớn lên, và suy tư với những tư tưởng
uế nhiễm, nàng thấy Tôn giả Mahà Moggallàna đang đi khất
thực ở Vesàli, nàng cảm thấy thương yêu Tôn giả và đi
theo về tinh xá để cám dỗ. Có người nói nàng được các
ngoại đạo xúi dục nên làm như vậy. Tôn giả chỉ trích
hành động không tốt đẹp của nàng và thuyết pháp cho nàng,
như đã được ghi trong Trưởng lão Tăng Kệ. (Therà. 1150-57),
nàng cảm thấy xấu hổ và trở thành một tín nữ. Về sau
cùng nàng xuất gia, tinh tấn tu tập, và không bao lâu chứng
quả A-la-hán, nghĩ đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi
nói lên bài kệ:
72.
Say mê với giai cấp,
Với
dung sắc tuổi xuân,
Với
danh xưng, danh vọng,
Ta
ỷ lại tuổi trẻ,
Ðối
với những người khác,
Ta
khinh bỉ khinh thường.
73.
Thân này ta trang điểm,
Ta
khêu gợi kẻ ngu,
Ta
đứng trong khung cửa,
Tại
cửa hàng buôn sắc,
Như
thợ săn, ác độc,
Ðang
gieo đặt bẫy mồi.
74.
Ta khoa trương trang sức,
Phô
bày nhiều chỗ kín,
Ðể
châm biếm nhiều người,
Ta
làm nhiều ảo thuật,
Hôm
nay ta khất thực,
Ðầu
trọc, đắc đại y,
Ta
ngồi dưới gốc cây,
Ta
chứng định không tầm.
75.
Mọi khổ ách đoạn tận,
Cả
cõi trời, cõi người,
Quăng
bỏ mọi lậu hoặc,
Ta
mát lạnh tịch tịnh.
(VL)
Sìha (Therì. 131)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli, con
gái của một người chị võ tướng Sìha. Do vậy, nàng được
đặt tên là Sìha, như tên của người cậu của nàng. Khi
đến tuổi trưởng thành, nàng nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp
cho người cậu, Sìha trở thành một tín nữ và được phép
cha mẹ cho xuất gia. Khi nàng tu tập thiền quán, nàng không
thể chận đứng tâm tư nàng chạy theo những ngoại vật khả
ý. Bảy năm bị dày vò, nàng kết luận: 'Làm sao ta thoát khỏi
nếp sống uế nhiễm này. Ta hãy chết, tốt hơn'. Rồi nàng
cột sợi dây trên cây, đút cổ vào thòng lọng để thắt
cổ chết. Trong giây phút cuối cùng với sự cố gắng tinh
thần chất chứa từ trước cho đến nay, nàng cố gắng triển
khai thiền quán. Ðối với nàng đời sống hiện tại thật
sự là đời sống cuối cùng, trong giờ phút cuối cùng, trí
tuệ nàng được viên mãn, và với nội tâm thiền quán nàng
chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.
Mở thòng lọng ra nàng trở về lại tinh xá. Ðược thành
một vị A-la-hán, nàng sung sướng phấn khởi nói lên bài
kệ;
77.
Không như lý tác ý,
Bị
dục tham ám ảnh,
Ta
trước bị dao động
Không
chế ngự được tâm.
78.
Bị phiền não chi phối,
Lạc
tưởng ngự trị ta
Tâm
ta không thăng bằng,
Bị
tham tâm chi phối.
79.
Bảy năm sống ốm yếu,
Vàng
da, dung sắc xấu
Ðêm
ngày không an lạc
Ta
sống chịu khổ đau.
80.
Do vậy ta lấy dây,
Ði
vào giữa khu rừng,
Tốt
hơn ta treo cổ,
Còn
hơn sống hạ liệt.
81.
Làm chắc dây thòng lọng,
Ta
cột ở cành cây,
Quàng
thòng lọng quanh cổ,
Tâm
ta liền giải thoát.
(XLI)
Sundarì Nandà (Therì. 132)
Trong
đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia
đình quý tộc thuộc dòng họ Thích-ca. Ðược tên là Nandà.
Nàng có danh là Nandà hoa khôi. Khi bậc Thế Tôn giác ngộ,
đi đến Kapilavatthu và độ cho Nandà và Rahula xuất gia. Khi
vua Suddhodana (Tịnh Phạn) mệnh chung và bà Mahàpajàpati xuất
gia, nàng Nandà tự nghĩ: 'Anh trưởng của ta đã chối từ
không thừa tự quốc độ, xuất gia và trở thành đấng Thế
Tôn, một bậc siêu nhân. Con của Ngài là Rahula cũng xuất
gia, anh của ta vua Nandà cũng xuất gia. Mẹ của ta Mahàpajàpati,
chị của ta, mẹ Rahula cũng xuất gia. Vậy ta ở nhà làm gì?
Ta hãy xuất gia'. Như vậy nàng xuất gia không phải vì lòng
tin, mà chính vì lòng thương yêu bà con trong gia đình. Nàng
xuất gia như vậy sau khi từ bỏ gia đình, nàng vẫn tự kiêu
với sắc đẹp của mình và không chịu đến yết kiến đức
Phật, sợ đức Phật quở trách nàng. Nhưng trường hợp của
nàng cũng giống như trường hợp với Tỷ-kheo-ni Abhirùpa Nandà
(xem kệ XIX) với sự sai khác nhau: khi nàng thấy hóa thân của
một nữ nhân do đức Phật hiện ra, nữ nhân ấy dần dần
trở thành già xấu, tâm của nàng dựa trên tánh vô thường
và đau khổ, hướng đến thiền định.
Rồi
đức Phật thuyết pháp cho nàng như sau:
82.
Nandà, hãy nhìn thân,
Bệnh
bất tịnh, hôi thúi,
Hãy
tu tâm bất tịnh,
Nhứt
tâm khéo định tỉnh.
83.
Như thân này thân ấy,
Như
thân ấy thân này,
Hôi
thối và rữa nát,
Chỉ
kẻ ngu thích thú.
84.
Như vậy quán thân này,
Ngày
đêm không mệt mỏi,
Với
trí tuệ của con,
Do
vậy hãy thoát ly,
Với
trí tuệ của con,
Thoát
khỏi kiêu sắc đẹp,
Và
người si nhìn thấy,
Với
cái nhìn như thật.
Rồi
nàng nghe theo lời dạy, với trí tuệ an trú vững chắc trên
quả thứ nhất. Muốn giúp nàng đạt được những quả vị
cao hơn, Thế Tôn dạy thêm cho nàng: Này Nandà, trong cái thân
này không có một chút gì là tinh túy, chỉ là một đống
xương và thịt bị già, chết chi phối. Như đã được nói
trong tập Pháp cú:
85.
Thành này làm bằng xương,
Quét
tô bằng máu thịt,
Ở
đây già và chết,
Mạn,
lừa đảo chất chứa.
(Pháp
Cú. 150)
Khi
đức Phật nói xong, nàng liền chứng quả A-la-hán. Và nghĩ
đến sự chiến thắng của mình, nàng sung sướng với lời
dạy của đức Bổn Sư và nói thêm:
86.
Với tâm không phóng dật,
Như
lý, quán thân ấy,
Tánh
như thật thân này,
Ðược
thấy trong và ngoài.
Ta
nhàm chán thân thể,
Nội
tâm được ly tham,
Không
phóng dật ly hệ,
Ta
an bình tịch tịnh.
(XLII)
Manduttara (Therì. 132)
Trong
đời đức Phật hiện tại, nàng sanh trong một gia đình Bà-la-môn,
nước Kuru thành Kammàsadamma. Sau khi học hỏi ngoại đạo,
nàng xuất gia theo phái Ni-kiền-tử và vì nàng thuyết pháp
giỏi, nàng cầm cành cây diêm phù và đi khắp xứ Ấn Ðộ
như nàng Bhaddà (XLVI). Nàng gặp Tôn giả Mahà-Moggallàna và
bị ngài chiến thắng trong cuộc tranh luận. Nàng nghe theo lời
dạy của Tôn giả Moggallàna, xuất gia trong giáo pháp đức
Bổn Sư và không bao lâu chứng quả A-la-hán với nghĩa tín
thọ, pháp tín thọ. Suy tư trên chiến thắng của mình, nàng
sung sướng nói lên bài kệ:
87.
Trước ta đảnh lễ lửa,
Trăng,
mặt trời chư thiên
Ta
đi đến bến sông,
Ta
xuống nước, lê tắm.
88.
Chấp nhận nhiều giới cấm
Ta
chỉ cạo nửa đầu
Ta
nằm ngủ dưới đất,
Cơm
tối ta không ăn.
89.
Thích trang điểm trang sức,
Ưa
tắm rửa, xoa bóp,
Thân
này ta cung dưỡng,
Thỏa
mãn các dục tham,
90.
Từ khi được lòng tin
Không
nhà ta xuất gia,
Ta
thấy thân như Phật,
Nhờ
sạch các dục tham.
91.
Mọi sanh hữu chặt đứt,
Cả
ham muốn hy cầu,
Mọi
ách nạn giải tỏa,
Ta
đạt tâm an tịnh.
(XLIII)
Mittakali (Therì. 132)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia
đình Bà-la-môn, ở xứ dân chúng Kuru, tại thành Kammàsadamma.
Khi đến tuổi trưởng thành, nàng được nghe giảng về Bốn
niệm xứ và xuất gia làm Tỷ-kheo-ni. Trong bảy năm nàng ưa
thích được cúng dường, được trọng vọng và thường hay
gây lộn cãi vã về sau nàng biết như lý tác ý, triển khai
thiền quán và chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ,
nghĩa tín thọ. Nghĩ đến sự chiến thắng của mình, nàng
nói lên sự phấn khởi của nàng.
92.
Vì lòng tin, xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Ta
sống tâm hướng mạnh,
Theo
lợi dưỡng cung kính.
93.
Từ bỏ đích tối thượng,
Phục
vụ đích hạ liệt,
Bị
phiền não ngự trị,
Bỏ
đích Sa-môn hạnh.
94.
Ngồi trong phòng tinh xá,
Ta
cảm bị dao động
Ta
đi vào tà đạo,
Khát
ái ngự trị ta.
95.
Ngắn ngủi sinh mạng ta,
Già,
bệnh đang đè nặng,
Trước
khi thân hủy diệt,
Giờ
phóng dật không còn.
96.
Như thật ta quán sát,
Sinh
diệt của các uẩn,
Tâm
giải thoát, ta chứng,
Lời
Phật dạy làm xong.
(XLIV)
Sakulà (Therì. 133)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm Bà-la-môn,
ở Sàvatthi, tên là Sakulà. Khi đức Phật nhận tinh xá Jetavana,
nàng trở thành người tín nữ, và về sau được nghe một
vị A-la-hán thuyết pháp, nàng phát nguyện xuất gia, tinh cần
triển khai thiền quán và cuối cùng chứng quả A-la-hán. Về
sau tùy theo lời phát nguyện, nàng được Thế Tôn tán thán
là Thiên nhãn đệ nhất. Sau khi suy tư đến kết quả chứng
của mình, nàng phấn khởi hoan hỷ và nói lên bài kệ:
97.
Khi sống ở gia đình,
Nghe
Tỷ kheo thuyết pháp,
Ta
thấy pháp vô uế,
Ðạo
Niết-bàn bất tử.
98.
Từ bỏ con trai, gái,
Cả
tài sản lúa gạo,
Cạo
tóc ta xuất gia
Sống
đời sống không nhà.
99.
Ta làm người học nữ,
Tu
tập con đường chánh,
Ðoạn
tận tham và sân,
Ðoạn
từng lậu hoặc một.
100.
Thọ giới Tỷ-kheo-ni,
Ta
nhớ đời quá khứ,
Thiên
nhãn ta thanh tịnh,
Không
uế, khéo tu tập.
101.
Thấy các hàng ngoại diện,
Do
nhân sanh biến hoại,
Ta
đoạn mọi lậu hoặc,
Mát
lạnh ta tịch tịnh.
(XLV)
Sonà (Therì. 133)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia
đình quý tộc ở Sàvatthi. Sau khi lập gia đình, nàng sanh được
mười người con trai, con gái và được biệt danh là 'người
nhiều con'. Khi người chồng xuất gia nàng giao lại cho các
con trai, con gái cai quản gia đình và giao cả gia sản cho các
con trai, không giữ gì cho thân mình. Các con trai và con dâu
nuôi dưỡng nàng, không bao lâu trở mặt khinh rẻ nàng. Nàng
buồn cho thái độ các dâu con, xuất gia trở thành Tỷ-kheo-ni.
Nàng suy nghĩ, nàng đã lớn tuổi mới xuất gia, nên hết sức
tinh cần,tinh tấn. Trong khi hầu hạ các Trưởng lão Ni, nàng
thức đêm tu học, nàng kiên trì học tập, không biếng nhác,
không xao nhãng, như người chụp nắm các cột trong mái hiên,
hay chụp nắm cành cây trong đêm tối để tránh đầu khỏi
va chạm. Hạnh tinh tấn của nàng được mọi người biết,
và bậc Ðạo Sư biết được trí tuệ của nàng đã chín
muồi, nên phóng hào quang, hóa hiện trước mặt nàng và nói
lên bài kệ:
Ai
sống một trăm năm,
Không
thấy câu bất tử,
Tốt
hơn sống một ngày,
Thấy
được câu bất tử.
(Pháp
cú. 114)
Khi
đức Phật nói câu này xong, nàng chứng được quả A-la-hán.
Thế Tôn tán thán là 'Tỷ-kheo-ni tinh tấn đệ nhất'. Một
hôm, suy tư đến quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói
lên những bài kệ:
102.
Ta sanh được mười con,
Trong
thân chất chứa này,
Do
vậy ta già yếu,
Ta
đến Tỷ-kheo-ni.
103.
Nàng thuyết pháp cho ta,
Về
uẩn xứ và giới,
Nghe
pháp nàng thuyết giảng.
Cắt
tóc ta xuất gia.
104.
Ta học lời nàng dạy,
Thiên
nhãn ta thanh tịnh,
Ta
biết các đời trước,
Chỗ
ta sống đời trước.
105.
Ta tu pháp vô tướng,
Nhất
tâm khéo thiền tịnh,
Tức
thời ta giải thoát,
Không
chấp thủ tịch tịnh.
106.
Năm uẩn được liễu tri,
Ðứng
lại, gốc bị cắt,
Tham
dục, ta không có,
Căn
cứ địa kiên trì?
Từ
nay ta không còn
Vấn
đề phải tái sanh.
(XLVI)
Bhadda Kundalakess (Therì. 134)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ra ở Rajagaha (Vương
Xá), trong gia đình vị thủ khố của nhà vua, và được tên
là Bhaddà. Lớn lên và luôn luôn có người hầu hạ, nàng
thấy ngang qua khe cửa, Satthuka, con vị giáo sĩ của vua, một
kẻ cướp bị dẫn đi hành hình, theo lệnh của vua. Nàng bỗng
yêu Satthuka và nằm trên giường nàng nói: 'Nếu ta không được
chàng, ta sẽ chết'. Người cha vì thương nàng, nên hối lộ
cho những người lính và đưa Satthuka đến gặp nàng. Satthuka
khởi lòng tham đồ trang sức của nàng nên nói với nàng là
khi bị dẫn đến 'hòn núi của kẻ trộm', chàng có phát nguyện:
Nếu chàng được tha, chàng sẽ làm lễ cúng tạ ơn và nhờ
nàng sửa soạn lễ tạ. Muốn được chàng bằng lòng, nàng
vâng theo ý muốn của Satthuka, tự trang điểm với các đồ
trang sức, lên xe đi với chàng và cùng đi đến 'hòn núi của
kẻ trộm' Satthuka không cho người hầu hạ đi theo, lấy đồ
trang sức cúng dường, và leo lên núi một mình với nàng,
nhưng không nói lời thân ái với nàng. Do thái độ của chàng,
nàng tìm ra được mưu kế của chàng. Rồi Satthuka bảo nàng
cởi áo ngoài ra, dùng áo gói đồ trang sức nàng đang mang
theo, Nàng hỏi chàng nàng có làm điều gì sái quấy chăng,
và chàng trả lời: 'Nàng thật ngu si ta đến đây có phải
để làm lễ cúng dường đâu! Ta chỉ đến đây để lấy
đồ trang sức của nàng'. Nàng nói: 'Này chàng thân yêu, các
đồ trang sức này của ai, và đồ trang sức nào thuộc của
em'. Chàng nói: 'Ta không biết gì về sự phân chia này'. Nàng
nói: 'Thôi được, chàng thân yêu, nhưng chàng cho em một sở
nguyện, cho em mang đồ trang sức và được hôn chàng! Satthuka
bằng lòng và nàng ôm hôn chàng đàng trước, rồi ôm chàng
hôn đàng sau, và trong khi ấy xô chàng ngã xuống vực núi.
Một Thiên nhân ở trên núi, thấy nàng làm vậy liền khen
rằng:
Không
phải là lúc nào,
Ðàn
ông cũng khôn hơn!
Nữ
nhân khi lanh lẹ,
Cũng
tỏ khôn ngoan hơn,
Không
phải là lúc nào,
Ðàn
ông cũng khôn hơn!
Nữ
nhân cũng khôn ngoan,
Chỉ
nghĩ một phút giây!
Rồi
Bhaddà suy nghĩ: 'Nay ta không thể về nhà được khi sự việc
đã xảy ra như vậy. Vậy từ đây ta sẽ xuất gia'. Rồi nàng
xuất gia theo phái Ni-kiền Tử. Họ hỏi nàng: 'Nàng ưng xuất
gia đến mức độ nào?' Nàng trả lời: 'Tôi muốn xuất gia
vào hạng tối thượng!' Rồi họ nhổ tóc của nàng và khi
tóc nàng dài và quăn lại, nàng được gọi là Bhaddà tóc
quăn. Nhưng trong khi nàng tập sự học hỏi giáo lý của phái
Ni-kiền Tử, nàng biết rằng giáo lý ấy không có gì đặc
biệt. Nàng từ giã chúng Ni-kiền Tử, tìm học những bậc
minh sư có danh tiếng và cuối cùng không ai có thể tranh luận
với nàng. Nàng vun lên một đống cát gần cửa đi vào làng,
trồng lên một nhánh cây diêm phù, bảo mấy đứa con nít
xem ai nhổ lên nhánh cây ấy. Sau một tuần không có ai nhổ
lên cành cây, nàng liền đem cành cây ấy đi một nơi khác.
Thế
Tôn trong khi đi thuyết giảng, đến tinh xá Jetavana gần Sàvatthi,
đúng lúc Bhaddà tóc quăn trồng nhánh cây ấy tại cửa thành
Sàvatthi. Tôn giả Sàriputta vào thành, thấy cành cây ấy, muốn
nhiếp phục nàng, bảo các đứa con nít dẫm lên cành cây
ấy, để mở đầu cuộc tranh luận, nàng nghĩ rằng cuộc
tranh luận sẽ không có kết quả nếu không có quần chúng
đỡ đầu. Vì vậy nàng quy tụ một số đông quần chúng
đến chứng kiến cuộc tranh luận giữa nàng và Tôn giả Sàriputta.
Trước hết Tôn giả Sàriputta để cho nàng hỏi và Tôn giả
trả lời, cho đến khi nàng không còn gì để hỏi nữa và
ngồi im lặng.
Rồi
Tôn giả hỏi nàng: 'Thế nào gọi là một?' Nàng Bhaddà tóc
quăn thú nhận không thể trả lời được. Tôn giả nói, một
chút như vậy mà nàng không trả lời được, thì nàng có
thể biết thêm được gì? Rồi Tôn giả giáo giới cho nàng
và nàng xin quy y Tôn giả.Tôn giả Sàriputta khuyên nên quy y
Thế Tôn, bậc Ðạo Sư loài Người và Trời. Nàng vâng lời,
chiều lại đi đến yết kiến Thế Tôn khi ngài đang thuyết
pháp. Sau khi đảnh lễ nàng đứng một bên, Thế Tôn thấy
căn cơ nàng đã thuần thục liền nói:
Dầu
nói ngàn câu kệ,
Nhưng
không chút lợi ích,
Tốt
hơn nói một câu,
Nghe
xong được tịnh lạc.
(Pháp
cú 101)
Khi
đức Phật nói xong bài kệ này, nàng chứng được quả A-la-hán
với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ.
Nàng
xuất gia, thọ giới với quả A-la-hán và chính đức Phật
trao đại giới cho nàng. Rồi nàng đi đến tinh xá Tỷ-kheo-ni,
sống an lạc hạnh phúc. Nàng sung sướng phấn khởi nói lên
những bài kệ:
107.
Trước ta sống một y,
Tóc
cạo, thân mang bùn,
Không
lỗi xem có lỗi,
Có
lỗi xem là không.
108.
Ban ngày rời tinh xá,
Trên
ngọn núi Linh Thứu,
Ta
thấy Phật vô uế,
Dẫn
đầu chúng Tỷ-kheo.
109.
Quỳ gối ta đảnh lễ,
Ðối
diện ta chắp tay,
Hãy
đến này Bhaddà,
Ta
được thọ đại giới.
110.
Ta đi khắp Angà,
Mogadhà,
Vajjì,
Quốc
độ Kosala,
Mười
lăm năm không nợ,
Ăn
đồ ăn quốc độ.
111.
Làm được nhiều công đức,
Tín
nam này có tuệ,
Cho
Bhaddà chiếc y,
Thoát
khỏi mọi triền phược.
(XLVII)
Patàcàrà (Therì. 134)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh trong gia đình vị thủ
ngân khố nhà vua ở Sàvatthi. Khi đến tuổi trưởng thành
nàng giao du với một người đầy tớ trong nhà. Khi cha mẹ
nàng định ngày gả nàng cho một chàng trai xứng đôi, nàng
trốn đi với người tình nhân và sống tại một ngôi làng
nhỏ. Khi nàng sắp sanh, nàng bảo chồng đưa nàng về nhà
cha mẹ, vì ở đây không có ai săn sóc nàng, nhưng chồng nàng
cứ hẹn lần hẹn hồi cho đến khi nàng biết chồng nàng
không muốn đi về. Nàng liền chờ chồng đi vắng, sắp đặt
công việc, tin cho người láng giềng biết rồi nàng bỏ về
nhà cha mẹ. Khi người chồng về, người chồng liền đuổi
theo, sợ nàng không có người săn sóc. Chồng nàng bắt gặp
nàng và giữa đường nàng sinh được người con, rồi hai
vợ chồng lại đi trở về làng. Ðến kỳ sinh nở thứ hai,
sự việc xảy ra như lần trước, nhưng có điểm khác biệt
như sau: giữa đường mưa to gió lớn nổi lên, người chồng
tìm lá và cây làm cái chòi cho nàng tránh mưa, nhưng bị con
rắn từ gò mối bò ra cắn chồng nàng chết tại chỗ. Trong
cơn đau khổ chờ đợi chồng nàng, nàng bồng đứa con trên
ngực và giữa mưa to gió lớn nàng nằm phục xuống đất
để che chở cho hai đứa con trải qua một đêm như vậy cho
đến sáng. Ðến sáng, nàng đi tìm chồng và thấy chồng bị
rắn cắn chết rồi. Nàng khóc than suốt đêm. Vì mưa to, nước
sông dâng lên đến đầu gối, nàng lại quá yếu nên không
thể bồng hai đứa con lội qua sông. Nàng để đứa lớn ở
bờ bên này và bồng đứa nhỏ lội qua sông. Rồi nàng đặt
đứa nhỏ nằm trên khăn trùm đầu, dùng cành cây che lại
để nó trên bờ, còn nàng lội qua sông lại để đem đứa
lớn qua. Nhưng đến giữa dòng, quay mình trở lại thời thấy
một con diều hâu, tưởng đứa con nít là một miếng thịt,
nên bay xuống tha đứa nhỏ đi. Dầu cho người mẹ có xua
đuổi và la lên nhưng vì quá xa nên không làm gì được. Còn
đứa lớn bên bờ bên này, nghe tiếng mẹ la tưởng là mẹ
kêu liền lội xuống nước đi qua và bị nước cuốn trôi.
Thế là hai đứa con và cả người chồng bị chết. Nàng vừa
khóc vừa đi về thành Sàvatthi, lại được tin hồi hôm mưa
to gió lớn làm sụp đổ căn nhà của cha mẹ nàng, giết chết
cả cha mẹ và em nàng vừa làm lễ hỏa táng xong. Trong cơn
đau khổ khủng khiếp chồng chất, nàng hóa điên dại, ăn
mặc hở hang, nàng vừa khóc vừa than:
Hai
con ta đã chết,
Chồng
ta cũng chết luôn,
Rồi
trên giàn hỏa táng,
Cha
ta và mẹ ta,
Cùng
đứa em trai ta,
Vừa
làm lễ thiêu đốt.
Rồi
nàng đi lang thang đây đó, khóc than nỗi đau khổ của nàng,
và vì nàng mang xiêm áo tả tơi, nàng được gọi là Patacàra
(kẻ mang xiêm áo). Người đi đường thấy nàng gọi nàng
là người điên, có kẻ ném đá, có người thì quăng đồ
nhớp bụi bặm trên nàng. Bậc Ðạo Sư ở Jetavana đang thuyết
pháp, thấy nàng đi lang thang như vậy và biết căn cơ trí
tuệ của nàng đã chín muồi, ngăn cản không cho người ta
xua đuổi nàng và cho phép lại gần, khiến nàng hồi tỉnh
lại, và cảm thấy xấu hổ với cách ăn mặc của mình, nàng
nằm phục xuống đất. Một người quăng cho nàng một tấm
y, nàng quấn y vào mình và thỉnh Phật cứu độ cho nàng và
nàng kể lại thân phận của nàng: 'Thế Tôn hãy cứu độ
cho con. Một đứa con bị chim diều hâu mang đi; một đứa
con bị nước cuốn trôi; còn chồng con bị rắn cắn chết;
cha mẹ và em con bị căn nhà sụp đổ giết chết và bị hỏa
táng. Ðức Phật nói: 'Này Patacàra, đừng nghĩ rằng nàng
đến với một người có thể cứu độ cho nàng. Như nay nàng
than khóc vì con chết, vì chồng chết, cha mẹ chết. Cũng vậy,
nàng đã khóc than kiếp luân hồi của nàng vì rằng con, chồng
và cha mẹ bị chết của nàng còn nhiều hơn nước sông bốn
biển'.
Nước
bốn biển ít hơn,
Nước
mắt của loài Người,
Khóc
than vì đau khổ,
Vậy
sao nàng hủy hoại,
Sanh
mạng của chính mình,
Trong
khóc than sầu khổ!
Nghe
Thế Tôn dạy về con đường không thể diệt khổ, nỗi đau
khổ của nàng được nhẹ dần. Rồi đức Phật khuyên thêm:
'Ôi Patàcàrà, một người mệnh chung, thì con cháu, bà con
không có thể làm chỗ nương tựa. Cho đến hiện tại, họ
cũng không giúp đỡ được gì. Do vậy, người có trí sống
đời sống giới đức thanh tịnh, thành tựu con đường hướng
đến Niết-bàn. Rồi đức Phật dạy:
Các
con, cha, bà con,
Không
phải chỗ nương tựa,
Khi
thân hoại mạng chung,
Bà
con huyết thống nàng,
Không
thể che chở nàng!
Thấy
được sự thật này.
Kẻ
trí sống giới đức,
Và
mau chóng thành tựu,
Con
đường hướng Niết-bàn.
Khi
bậc Ðạo Sư nói xong, nàng chứng được quả Dự Lưu và
xin được xuất gia. Ðức Phật đưa nàng đến chúng Tỷ-kheo-ni
và cho phép nàng được xuất gia.
Rồi
nàng tinh tấn tu hành, cố gắng thành đạt những quả vị
cao hơn. Một hôm lấy nước trong bát rửa chân, khi nàng đổ
nước, thời nước chảy đến một khoảng đường ngắn rồi
biến mất. Nàng đổ thêm nước, và con đường nước chảy
dài hơn, và lần thứ ba, nàng lại đổ nuớc và con đường
nước chảy còn dài hơn trước khi biến mất. Dựa trên sự
kiện này làm nền tảng suy tư, nàng nghĩ: 'Cũng vậy là loài
Người, chết trẻ, chết nửa chừng và chết già'. Và đức
Phật ở tại hương phòng của Ngài phóng hào quang, hiện lên
trước mặt nàng và dạy rằng: 'Hỡi nàng Patàcàrà, như vậy
là cuộc sống của loài Người, cuối cùng cũng phải mạng
chung. Vậy tốt hơn là sống như thế nào để thấy sự sanh
diệt của năm uẩn, dầu cho chỉ thấy được một ngày, hay
chỉ một sát-na, còn hơn sống một trăm năm mà không thấy
được sự thật ấy:
Người
sống một trăm năm,
Không
thấy pháp sanh diệt,
Tốt
hơn sống một ngày,
Thấy
được pháp sanh diệt.
(Pháp
cú. 113)
Khi
Thế Tôn nói xong, Patàcàrà chứng được quả A-la-hán với
pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư đến quả chứng của
mình, khi còn là một học nữ, nàng tán thán sự kiện đã
giúp nàng chứng được quả vị cao hơn, và nàng nói lên bài
kệ:
112.
Với cây, cày ruộng đất,
Gieo
hột giống trên đất,
Loài
Người được tài sản,
Nuôi
dưỡng vợ và con.
113.
Sao ta, giới đầy đủ
Làm
theo Ðạo Sư dạy,
Lại
không chứng Niết-bàn,
Không
nhác, không dao động.
114.
Khi ta đang rửa chân,
Làm
cho dòng nước chảy,
Thấy
được nước rửa chân
Từ
cao chảy xuống thấp,
Nhờ
vậy, tâm được định,
Như
ngựa hiền khéo luyện.
115.
Rồi ta cầm cây đèn,
Bước
vào ngôi tinh xá,
Nằm
trên chiếc giường nhỏ,
Ta
nhìn quán ngọn đèn.
116.
Rồi lấy cây kim nhỏ,
Dìm
tim đèn xuống dần,
Thấy
cây đèn Niết-bàn,
Tâm
ta được giải thoát.
(XLVIII)
30 Tỷ Kheo Ni Tuyên Bố Về Chánh Trí Dưới Sự Lãnh Ðạo
Của Patàcàrà (Therì. 135)
Trong
thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong nhiều gia đình
sai khác, được nghe Patàcàrà thuyết pháp, trở thành tín
nữ và cuối cùng xuất gia. Trong khi họ làm trọn những phận
sự của mình, và sống đầy đủ giới hạnh, nàng thuyết
cho họ lời giáo huấn như sau:
117.
Loài Người trong tuổi trẻ,
Cầm
chày giã lúa gạo,
Loài
Người được tài sản,
Nuôi
dưỡng vợ và con.
118.
Hãy hành lời Phật dạy,
Không
làm gì nhiệt não,
Rửa
chân thật mau lẹ,
Hãy
ngồi xuống một bên,
Chú
tâm tu tâm chỉ,
Làm
theo lời Phật dạy.
Rồi
các Tỷ-kheo-ni ấy, nghe theo lời dạy của Patàcàrà, an trú
trên thiền quán, tu tập trí tuệ cho đến khi căn cơ thuần
thục, chứng được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, nghĩa
tín thọ. Rồi suy nghĩ trên quả chứng, họ phấn khởi sung
sướng và họ thêm vào các bài kệ của Patàcàrà với những
bài kệ của mình:
119.
Sau khi nghe lời dạy,
Lời
Patàcàrà,
Sau
khi rửa chân xong,
Họ
vào ngồi một bên,
Chú
tâm tu tâm chỉ,
Làm
theo lời Phật dạy.
120.
Trong đêm canh thứ nhất,
Họ
nhớ đời quá khứ
Trong
đêm canh chặng giữa,
Thiên
nhãn được thanh tịnh,
Trong
đêm canh cuối cùng,
Khối
si ám phá tan.
121.
Ðứng dậy họ lễ chân,
Vị
giáo giới cho họ,
Như
Chư Thiên ba mươi
Ðảnh
lễ vị Sakka,
Vị
không bị đánh bại,
Ở
lại chỗ chiến trường,
Ðặt
Patàcàrà,
Vào
hàng bậc lãnh đạo,
Chúng
tôi sẽ được sống,
Ba
minh, không lậu hoặc.
(XLIX)
Candà (Therì. 135)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng làm con một vị Bà-la-môn,
ít được người biết đến, tại một làng Bà-la-môn. Từ
lúc nhỏ, gia đình bị mất hết tài sản, và nàng lớn lên
trong điều kiện rất thiếu thốn.
Trong
gia đình, một bệnh thời khí phát ra giết hại cả nhà, và
nàng phải đi xin nhà này qua nhà khác với một cái bát vỡ.
Một ngày kia, nàng đến chỗ Tỷ-kheo-ni Patàcàrà khi vị này
vừa ăn xong. Các Tỷ-kheo-ni thấy nàng trong tình cảnh đáng
thương hại, tiếp nàng với lòng từ mẫn và cho nàng ăn.
Sung sướng được thấy hạnh phúc tốt đẹp của các Tỷ-kheo-ni,
nàng đến gần Patàcàrà, đảnh lễ, nàng ngồi xuống một
bên để nghe pháp. Nàng nghe với tâm hồn phấn khởi, và lo
lắng vì kiếp sống luân hồi, nàng xuất gia. Nàng theo lời
giáo giới của vị Tỷ-kheo-ni, nàng an trú thiền quán, nhiệt
tâm tinh cần. Rồi với nghị lực và lời phát nguyện và
sự chín muồi của trí tuệ, không bao lâu nàng chứng được
quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư đến
quả chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:
122.
Trước ta sống bất hạnh,
Không
chồng và không con,
Không
bè bạn, bà con,
Không
có cơm, có áo.
123.
Ta cầm gậy bình bát
Ði
ăn xin từng nhà,
Bị
lạnh nóng đày đọa,
Bảy
năm ta sống vậy.
124.
Thấy được Tỷ-kheo-ni,
Ta
nhận đồ ăn uống,
Sau
khi đến, ta xin,
Ðược
xuất gia không nhà.
125.
Nàng Patàcàarà,
Thương
ta, cho xuất gia,
Rồi
giảng dạy cho ta,
Hướng
dẫn đến chân đế.
126.
Nghe xong lời nàng giảng.
Ta
làm theo lời dạy,
Lời
giảng bậc tôn Ni,
Không
phải lời trống không,
Ta
chứng được Ba minh,
Ta
không còn lậu hoặc.
Phẩm
VI
Tập
Sáu Kệ
(L)
Năm Trăm Patàcàrà (Therì. 136)
Trong
thời đức Phật hiện tại, chúng sanh trong những gia đình
khá giả, tại nhiều chỗ khác nhau, lấy chồng, có con, sống
lo việc bếp nước trong gia đình. Họ đều chịu sự đau
khổ khi con của họ bị chết. Rồi họ đi tìm đến Patàcàrà,
đảnh lễ nàng, ngồi xuống một bên nàng và nói cho nàng
biết nỗi đau khổ của họ. Patàcàrà, làm cho họ vơi bớt
sự đau khổ, nói lên những bài kệ như sau:
137.
Ông không biết con đường
Nó
đến hay nó đi,
Từ
đâu con trai đến,
Ông
lại khóc: 'Con tôi'.
138.
Ông đâu biết con đường,
Nó
đến hay nó đi,
Ông
khóc nó làm gì?
Pháp
hữu tình là vậy.
129.
Không có ai yêu cầu,
Từ
chỗ kia, nó đến,
Không
có ai cho phép,
Từ
chỗ này, nó đi,
Từ
đâu, nó đến đây!
Ðược
sống bấy nhiêu ngày.
130.
Từ chỗ này nó đến,
Từ
chỗ kia, nó đi,
Nó
đến một con đường!
Nó
đi một con đường,
Mệnh
chung, hình sắc người,
Luân
hồi, nó sẽ đi!
Ðến
vậy, đi như kia,
Ở
đây, khóc than gì?
Sau
khi nghe nàng giảng, họ đều cảm thấy dao động và xin xuất
gia, dưới sự hướng dẫn của Patàcàrà. Sau khi tinh cần
triển khai thiền quán, chứng đạt được quả A-la-hán, với
pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng của
mình, các vị ấy lập lại bài kệ giáo hóa của Patàcàrà
và cộng thêm những bài kệ của chính mình như sau:
131.
Cây tên, khó thấy được,
Từ
tim ta, nhổ lên:
Nàng
diệt sầu vì con,
Sầu
ấy ám ảnh ta.
132.
Nay cây tên được nhổ
Không
dục cầu, tịch tịnh
Ta
quy y ẩn sĩ,
Phật,
Pháp và chúng Tăng.
Về
sau Tỷ-kheo-ni này rất giỏi về lời dạy của Patàcàrà,
nên chúng được gọi là: tùy thuộc của Patàcàrà.
(LI)
Vàsitthi (Therì. 136)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm con một nhà
quyền quý ở Vesàli. Khi nàng lớn, nàng được gả cho một
người chồng tương xứng và nàng sống vui vẻ với người
chồng. Khi có được đứa con, mới tập chạy, nó chết đi
và nàng quá đau khổ vì đứa con chết. Khi các người bà
con chữa bệnh cho chồng, nàng bỏ trốn và lang thang khắp
đó đây cho đến khi nàng đến Mithìlà. Tại đây, nàng thấy
đức Phật đang đi trên đường, tự tại, tự chế, làm chủ
các căn. Khi thấy bậc Ðạo Sư và nhờ Phật lực nàng lấy
lại được sự bình tĩnh. Rồi bậc Ðạo Sư thuyết pháp
vắn tắt cho nàng, và nàng xin được xuất gia và bậc Ðạo
Sư chấp nhận. Làm tất cả các bổn phận của mình, nàng
an trú vào thiền quán, và với sự cố gắng vượt bực, với
trí tuệ chín muồi, nàng chứng quả A-la-hán, vói pháp tín
thọ, nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng của mình, nàng
sung sướng nói lên niềm hân hoan của mình:
133.
Ta sầu muộn vì con
Khổ,
tâm cuồng tưởng loạn,
Lõa
thể, tóc rối ren,
Ðời
sống vậy, ta sống.
134.
Lang thang đường, đống rác,
Nghĩa
địa, đường xe đi,
Ba
năm ta đã sống,
Kham
khổ, chịu đói khát.
135.
Rồi ta thấy Thiện Thệ,
Ðến
thành Mi-thi-la,
Ðiều
ngự kẻ chưa điều,
Bậc
Giác Ngộ, vô úy.
136.
Lấy lui tâm bình tĩnh,
Ta
đảnh lễ đến gần.
Thương
ta, Gotama,
Ngài
thuyết pháp cho ta.
137.
Nghe Ngài thuyết pháp xong,
Ta
xuất gia, không nhà,
Tùy
hành lời Ðạo Sư,
Ta
chứng đạo an ổn.
138.
Mọi sầu muộn chặt đứt,
Ðoạn
tận, được chấm dứt,
Ta
liễu tri nền gốc,
Từ
đấy sầu muộn sanh.
(LII)
Khemà (Therì. 137)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh nước Magadha
(Ma-kiệt-đà) ở Sàgala, thuộc gia đình hoàng tộc, tên là
Khemà. Nhan sắc đẹp đẽ, với da như vàng, nàng trở thành
hoàng hậu Vua Bimbisàra. Khi Thế Tôn ở tại Veluvana (Trúc Lâm),
nàng không đi đến yết kiến đức Phật vì sợ Thế Tôn
chỉ trích lỗi của mình. Vua muốn nàng đi thăm Trúc Lâm,
nên nhờ người tán thán ngôi vườn này, và cuối cùng nàng
bằng lòng cùng vua đi đến tinh xá, không thấy Thế Tôn, nhưng
muốn nàng thấy cho được Thế Tôn, dầu phải bắt nàng ở
lại. Khi nàng sắp sửa từ giã tinh xá nhưng không gặp được
Thế Tôn, các người hầu cận giữ nàng ở lại và đưa nàng
đến gặp đức Thế Tôn một cách miễn cưỡng. Ðức Thế
Tôn dùng thần lực hóa hiện một tiên nữ rất đẹp đang
đứng quạt cho Ngài, sắc đẹp thắng xa sắc đẹp của nàng
rất nhiều. Rồi trước mắt nàng, như nhân được hóa hiện
ấy lớn lên trở thành già yếu răng rụng, tóc bạc, da nhăn
và ngồi ngã xuống đất với chiếc quạt. Khemà thấy vậy,
tự hỏi không biết thân mình có chịu hoàn cảnh tương tự
hay không. Thế Tôn biết được tâm trạng của nàng bèn nói
lên bài kệ:
Người
đắm say các dục,
Tự
lao mình xuống dòng,
Như
nhện sa lưới dệt,
Người
trí cắt trừ nó,
Bỏ
mọi kệ không màng.
(Pháp
cú, 347)
Tập
Sớ ghi chép, khi bậc Ðạo Sư nói xong, nàng chứng quả A-la-hán
với pháp tín thọ. Nhưng theo tập Apadàna, nàng chỉ mới chứng
quả, Dự lưu và sau khi được phép vua cho xuất gia, nàng xuất
gia và trở thành A-la-hán.
Sau
đó, nàng tu tập thiền quán, có danh tiếng về môn tu này,
và đức Phật khi ở Jetavana (Kỳ Viên) đã đặt nàng vào
hạng thiền quán đệ nhất.
Một
ngày kia, nàng ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây, Ác ma hiện
lên, dưới hình thức một thanh niên và cám dỗ nàng với
lòng dục như sau:
139.
Nàng vừa trẻ vừa đẹp,
Ta
vừa trẻ vừa xuân,
Với
cung đàn năm điệu,
Hãy
vui hưởng, Khemà.
Nàng
trả lời:
140.
Với thân hôi thối này,
Bệnh
hoạn và mong manh,
Ta
nhàm chán ghét bỏ,
Dục
ái đã nhổ lên.
141.
Dục ví như gươm giáo,
Các
uẩn đoạn đầu đài,
Ðiều
người nói dục lạc,
Nay
ta đã xa lìa.
142.
Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
Khối
si ám tan tành,
Hãy
biết vậy, Ác ma!
Ngươi
bị hại, Ma vương.
143.
Ngươi đánh lễ vầng sao!
Ngươi
thờ lửa rừng sâu,
Ngươi
không biết như thật,
Kẻ
ngu nghĩ rằng tịnh.
144.
Còn ta, ta đảnh lễ,
Bậc
Giác ngộ, Thượng nhân,
Giải
thoát mọi khổ đau,
Hành
lời Ðạo Sư dạy.
(LIII)
Sujàtà (Therì. 137)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàketa trong gia đình
thủ khố nhà vua. Ðược gả chồng với con vị thủ khố
tương xứng với gia đình, nàng sống hạnh phúc với chồng.
Một hôm, trong khi đi dự lễ các Sao (Nakkhatakìlam), nàng đi
về với những người hầu hạ, và nàng thấy bậc Ðạo Sư
ở vườn Anjana. Nàng cảm thấy bị hấp dẫn, đến gần đảnh
lễ ngài và nghe ngài thuyết pháp. Bậc Ðạo Sư biết căn
cơ nàng đã chín muồi, nên đặc biệt thuyết pháp cho nàng,
và thuyết pháp xong, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp
tín thọ, với nghĩa tín thọ. Ðảnh lễ bậc Ðạo Sư, về
nhà được chồng và cha mẹ chấp thuận và với sự đồng
ý của bậc Ðạo Sư, nàng được xuất gia làm Tỷ-kheo-ni.
Suy tư đến quả chứng của mình, nàng sung sướng nói lên
như sau:
145.
Trang sức, mặc áo đẹp
Vòng
hoa, xức chiên đàn,
Ðeo
mọi loại nữ trang
Cầm
đầu chúng nữ tỳ.
146.
Mang theo đồ ăn uống,
Nhiều
món ăn cứng mềm,
Từ
nhà ta đi ra,
Ði
đến vườn thưởng ngoạn.
147.
Tại đây ta vui chơi,
Rồi
ta đi về nhà,
Ta
thấy ngôi tinh xá,
Khi
ta bước vào rừng,
Rừng
tên Anjanà,
Tại
xứ Sàketa.
148.
Thấy hào quang thế giới,
Ðảnh
lễ, ta tới gần,
Thương
ta, bậc Pháp nhãn,
Ngài
thuyết pháp cho ta.
149.
Nghe xong bậc Ðại tiên,
Ta
thể nhập chân lý,
Tại
đấy ta chứng pháp,
Ly
trần tạo bất tử.
150.
Do liễu tri diệu pháp,
Ta
xuất gia, không nhà,
Ba
minh ta đạt được,
Không
trống rỗng lời Phật.
(LIV)
Anopanà (Therì. 138)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàketa, trong gia đình
vị thủ kho Majjha. Vì nàng rất đẹp, nàng được tên là
Anopanà (không ai sánh nổi). Khi nàng đến tuổi trưởng thành,
nhiều con nhà giàu, các quan chức nhà vua, các hoàng tử, cử
các sứ giả đến xin cưới nàng. Nghe tin vậy, nàng có tâm
nguyện khác, nàng muốn sống đời sống không có gì hết.
Nên nàng tìm đến bậc Ðạo Sư nghe ngài thuyết pháp, nhờ
trí tuệ chín muồi, nhờ nhớ đến lời dạy, nhờ nhiệt
tâm thiền quán, nàng chứng được quả thứ ba, quả Bất
lai. Xin phép bậc Ðạo Sư cho xuất gia, nàng được nhận làm
Tỷ-kheo-ni. Và đến ngày thứ bảy, nàng chứng được quả
A-la-hán. Suy tư trên quả chứng, nàng sung sướng nói lên sự
phấn khởi của mình:
151.
Sanh gia đình cao quý,
Nhiều
châu báu, tài sản,
Ðầy
đủ dung sắc đẹp,
Con
gái cưng Majjha.
152.
Ðược con vua cầu hôn,
Con
phú gia xin cưới,
Sứ
giả đến cha ta,
Cho
tôi Anopham.
153.
Công chúa con gái ngài,
Cân
nặng như thế nào
Tôi
sẽ tặng tám lần
Bằng
vàng ròng châu báu.
154.
Ta thấy đấng Giác ngộ,
Bậc
Thế Tôn vô thượng,
Ta
đảnh lễ chân Ngài,
Ðến
gần, ngồi một bên.
155.
Thương ta, Gotama,
Ngài
thuyết pháp cho ta.
Ngay
tại chỗ ngồi ấy,
Ta
chứng quả thứ ba.
156.
Rồi ta cạo bỏ tóc,
Xuất
gia, sống không nhà,
Hôm
nay, đêm thứ bảy,
Khát
ái được gột sạch.
(LV)
Mahàpajàpatì Gotamì (Therì. 138)
Trước
khi bậc Ðạo Sư ra đời, nàng được sanh ở Devadaha, trong
gia đình Mahà-Suppabuddha. Tên gia đình của nàng là Gotama, và
nàng là em gái của Mahàmàyà. Các thầy đoán tướng tiên
đoán rằng các người con của hai chị em sẽ là vị chuyển
luân vương. Vua Suddhodana, khi đến tuổi trưởng thành, cưới
cả hai chị em. Sau đó, bậc Ðạo Sư đản sanh, và trong khi
chuyển pháp luân, ngài đi đến Vesàli, và phụ vương được
quả A-la-hán mệnh chung.
Rồi
Mahàpajàpati muốn xuất gia, xin phép bậc Ðạo Sư nhưng không
được chấp nhận. Rồi nàng cắt tóc, đắp y, và sau thời
gỉảng kinh về tinh cần nỗ lực, nàng ra đi với năm trăm
Thích-ca nữ mà các người chồng đã xuất gia, đi đến Vesàli,
và xin bậc Ðạo Sư cho xuất gia, với sự can thiệp của Tôn
giả Ananda. Bậc Ðạo Sư chấp nhận và dạy Tám kỉnh pháp
cho các Tỷ-kheo-ni.
Sau
khi xuất gia, Mahàpajàpati đến yết kiến đức Phật và đứng
một bên Ngài thuyết pháp cho nàng, và nàng tinh cần tinh tấn
chứng được quả A-la-hán với trí tuệ trực giác và phân
tích năm trăm Tỷ-kheo-ni, sau khi nghe Nandaka giáo giới, chứng
được sáu thắng trí.
Một
ngày kia, khi bậc Ðạo Sư ngồi giữa thánh chúng tại tinh
xá Jetavana (Kỳ Viên), Ngài xác nhận Mahàpajàpati là vị có
kinh nghiệm đệ nhất, sống hưởng thọ hạnh phúc giải thoát,
Niết-bàn. Ðể nói lên lòng biết ơn của mình, Mahàpajàpati
tuyên bố chánh trí của mình trước mặt Thế Tôn, tán thán
hạnh đức của Ngài đã giúp đỡ hộ trì cho nàng mà trước
đây nàng không được gặp:
157.
Bậc Giác ngộ anh hùng!
Con
xin đảnh lễ Ngài,
Ngài
là bậc Tối thượng,
Giữa
mọi loài chúng sanh,
Ngài
giải khổ cho con,
Cùng
rất nhiều người khác.
158.
Liễu tri mọi đau khổ,
Gột
sạch nhân khát ái,
Con
đường Thánh tám ngành,
Ðoạn
diệt, ta chứng ngộ.
159.
Trước ta sống là mẹ,
Là
con, là cha, anh,
Là
ông nội, ông ngoại,
Ðời
sống trước là vậy,
Không
rõ biết như thật,
Luân
hồi, tìm không gặp.
160.
Nay ta thấy Thế Tôn,
Thân
này thân tối hậu,
Sanh
tử được đoạn tận,
Nay
không còn tái sanh.
Siêng,
tinh cần nỗ lực,
Thường,
kiên trì tinh tấn,
Hãy
thắng đệ tử Phật,
Hòa
hợp, đảnh lễ Ngài.
Vì
hạnh phúc nhiều người,
Ma-yà
sanh Cù-đàm,
Giải
tỏa nhóm khổ đau
Cho
người bị bệnh chết?
(LVI)
Guttà (Therì. 139)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi trong
một gia đình Bà-la-môn và tên là Guttà. Khi đến tuổi trưởng
thành, nàng nhàm chán đời sống gia đình và được phép gia
đình cho xuất gia, dưới sự lãnh đạo của Mahàpajàpati.
Sau đó dầu nàng hành trì với tín tâm, nhưng tâm của nàng
cứ chạy theo ngoại cảnh và do vậy nàng không thiền định
được. Rồi bậc Ðạo Sư muốn khích lệ nàng, phóng hào
quang và hiện ra trước mặt nàng và nói lên bài kệ như sau:
163.
Vì mục đích tối thượng,
Guttà,
người xuất gia,
Từ
bỏ cả con cái,
Cho
đến bản thân mình,
Hãy
nhiệt tâm hành trì,
Chớ
để tâm chi phối.
164.
Tâm lừa đảo chúng sanh,
Ưa
ác ma lãnh vực,
Luân
hồi nhiều đời sống,
Chúng
dong ruổi, si mê.
165.
Dục vọng và sân hận,
Kể
cả với thân kiến,
Cộng
thêm giới cấm thủ
Với
nghi hoặc thứ năm.
166.
Hỡi này, Tỷ-kheo-ni,
Từ
bỏ kiết sử này,
Là
hạ phần kiết sử,
Ngươi
hết lại đời này.
167.
Hãy tránh xa tham mạn,
Vô
minh và trạo cử,
Chặt
đứt kiến sử xong,
Ngươi
sẽ dứt đau khổ.
168.
Quảng bỏ vòng sanh tử,
Liễu
tri sự tái sanh,
Hiện
tại không ước vọng,
Ngươi
sẽ sống an tịnh.
(LVII)
Vijjayà (Therì. 139)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Ràjagaha (Vương Xá)
trong một gia đình thường dân, khi lớn lên nàng trở thành
bạn của Khemà, đưa nàng trở thành Trưởng lão Ni, khi ấy
còn là nữ cư sĩ. Khi nghe Khemà xuất gia, nàng nói: 'Khemà
là hoàng hậu còn xuất gia được, huống nữa là ta'. Nàng
đi đến Khemà, và Khemà biết tâm nguyện căn cơ của nàng
nên thuyết pháp, khiến nàng suy tư đến sanh lão bệnh tử
và tìm được an ổn trong đạo pháp. Rồi Khemà cho nàng xuất
gia, nàng hầu hạ, học hỏi làm tròn bổn phận của mình,
tu tập thiền quán và khi trí tuệ thuần, nàng chứng được
quả A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Rồi suy tư
trên quả chứng của mình nàng nói lên sự sung sướng phấn
khởi của nàng:
169.
Bốn lần và năm lần
Ta
ra khỏi tinh xá,
Tâm
không được an tịnh,
Không
chế ngự được tâm.
170.
Ta đến Tỷ-kheo-ni,
Ta
hỏi, đàm luận pháp,
Nàng
thuyết pháp cho ta,
Về
giới và về xứ.
171.
Bốn sự thật bậc Thánh
Về
các căn, các lực,
Giác
chi, tám đường chánh,
Ðạt
đạo tối thượng nghĩa.
172.
Nghe lời vị ấy dạy,
Ta
làm theo giáo huấn,
Trong
đêm canh thứ nhất,
Ta
nhớ đến đời trước.
173.
Trong đêm canh chặng giữa
Thiên
nhãn được thanh tịnh,
Trong
đêm canh cuối cùng,
Khối
si ám tan tành.
174.
Từ đấy ta được sống,
Biến
mãn thân hỷ lạc,
Ðêm
thứ bảy, duỗi chân,
Khối
si ám tan tành.
Phẩm
VII
Tập
Bảy Kệ
(LVIII)
Uttarà (Therì. 140)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình thường dân, tên là Uttarà. Khi đến tuổi trưởng
thành, nàng nghe Patàcàrà thuyết pháp, trở thành một tín
nữ, xuất gia và trở thành vị A-la-hán. Rồi suy tư trên quả
chứng của mình, nàng phấn khởi nói lên bài kệ:
175.
Loài Người trong tuổi trẻ,
Cầm
chày giã lúa gạo,
Tuổi
trẻ được tài sản,
Nuôi
dưỡng vợ và con.
176.
Hãy hành lời Phật dạy,
Không
làm gì nhiệt não,
Rửa
chân thật mau lẹ,
Hãy
ngồi xuống một bên.
177.
Sau khi an trú tâm,
Nhứt
tâm, khéo định tĩnh,
Hãy
quán sát các hành,
Thuộc
ngoại, không thuộc ngã.
178.
Ta nghe lời giáo huấn,
Lời
Patàcàrà;
Sau
khi ta rửa chân,
Bước
vào, ngồi một bên.
179.
Trong đêm canh thứ nhất,
Ta
nhớ đời quá khứ,
Trong
đêm canh chặng giữa
Thiên
nhãn được thanh tịnh.
180.
Trong đêm canh cuối cùng,
Khỏi
si ám tan tành,
Từ
ba minh, đứng dậy
Giáo
huấn Ngài, làm xong.
181.
Như Thiên chủ Sakka,
Ở
cõi trời Ba mươi,
Không
bao giờ bại trận,
Ở
tại các chiến trường,
Ta
sống, tôn xưng Ngài,
Là
bậc Thầy lãnh đạo,
Ta
chứng được ba minh,
Ta
không còn lậu hoặc.
Một
hôm nàng tu tập thiền quán dưới sự hướng dẫn của Patàcàrà,
ngồi trong phòng của nàng, nàng suy nghĩ: 'Ta sẽ không ngồi
dậy nếu tâm ta không giải thoát khỏi các lậu hoặc'. Quyết
định như vậy, nàng triển khai trí tuệ, thiền quán, chứng
được quả A-la-hán, với sức mạnh trực giác và triệt quán
Chánh pháp. Sau khi tiếp tục quán mười chín đề tài với
ý thức 'không biết ta có làm đủ những điều cần phải
làm chăng', nàng nói lên sự sung sướng của nàng với những
bài kệ ghi ở trên và nàng duỗi chân ra. Khi trời rạng đông
và đêm đã sáng, nàng tìm gặp vị Tỷ-kheo-ni và lập lại
những bài kệ của nàng.
(LIX)
Calà (Therì. 141)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Magadha, tại làng
Nàlaka, con của một nữ Bà-la-môn tên là Surùpasàrì. Khi đến
tuổi đặt tên, nàng được gọi là Càlà. Em gái nàng tên
là Upacàlà và em nhỏ nhất tên là Sìsùpacàlà và cả ba là
em của Tôn giả Sàriputta. Khi ba đứa em nghe người anh xuất
gia trở thành vị Tỷ-kheo chúng suy nghĩ: 'Ðây không phải
là một giáo pháp thường tình, một sự xuất gia thường
tình, vì một người anh như người anh chúng ta đã quyết
tâm tu hành theo; ba nàng cũng xuất gia, dầu gia đình than khóc.
Với sự tinh tấn, tinh cần, cả ba tu hành, chứng quả A-la-hán
và sống an lạc giải thoát.
Rồi
Tỷ-kheo-ni Càlà, sau khi đi khất thực, đi vào rừng Andho để
nghỉ trưa và tại đấy Ác ma hiện ra để cám dỗ nàng. Trong
kinh, có đề cập đến vấn đề này.
Tỷ-kheo-ni
Càlà, sau khi đi khất thực ở Sàvatthi, đi vào trong rừng
an lạc để nghỉ trưa. Ði vào rừng Andho, nàng ngồi xuống
một gốc cây, Ác ma đến để lung lạc nàng và hỏi nàng
những câu trong các bài kệ của nàng. Sau khi nàng nói lên
những đức hạnh của vị Ðạo Sư, và sức mạnh của Chánh
pháp, nàng làm cho Ác ma thấy rõ sự vô ích của mình muốn
cám dỗ nàng và Ác ma thất vọng biến mất. Rồi nàng nói
lên sự sung sướng phấn khởi của nàng và câu chuyện với
Ác ma như sau:
182.
Sau khi an trú niệm,
Tỷ-kheo-ni
luyện căn,
Thể
nhập đạo an tịnh,
An
lạc tịnh các hành.
Ác
ma:
183.
Vì ai, ngươi đầu trọc,
Hiện
tướng, Sa-môn ni?
Không
theo hệ phái nào,
Sao
sống si mê vậy?
Càlà:
184.
Các hệ phái ngoại đạo
Nương
tựa trên tà kiến,
Họ
không hiểu Chánh pháp
Họ
không thuần thục pháp.
185.
Sanh gia tộc Thích-ca,
Ðức
Phật, bậc vô tỷ
Ngài
thuyết pháp cho ta,
Vượt
qua các tà kiến.
186.
Ngài thuyết Tám thánh đạo,
Về
khổ, nguyên nhân khổ,
Về
vượt qua đau khổ
Và
con đường khổ diệt.
187.
Ta nghe lời Phật dạy,
Sống
vui thích giáo pháp,
Ba
minh đã đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
188.
Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
Khỏi
si ám tan tành!
Hãy
biết vậy, Ác ma!
Người
bị hại, Ma vương.
(LX)
Upacàlà (Therì. 141)
Câu
chuyện giống như Tỷ-kheo-ni Càlà. Như Càlà, nàng chứng quả
A-la-hán, và bị Ác ma cám dỗ nhưng Ác ma đã thất bại:
189.
Trú niệm có pháp nhãn
Tỷ-kheo-ni
luyện căn,
Thể
nhập đạo an tịnh,
Bậc
thượng nhân hành trì.
Ác
ma:
190.
Sao ngươi không thích sanh,
Có
sanh mới hưởng dục,
Hãy
hưởng thọ dục lạc,
Chớ
hối tiếc về sau.
Upacàlà:
191.
Ðã sanh, thời bị chết,
Tay
chân bị đứt đoạn,
Bị
giết, trói, phiền não.
Sau
đưa đến khổ đau.
192.
Sanh gia bậc Thích-ca
Ðức
Phật không chiến bại.
Ngài
thuyết pháp cho ta,
Vượt
qua khỏi sự sanh.
193.
Ngài thuyết Tám thánh đạo,
Về
khổ, nguyên nhân khổ,
Về
vượt qua đau khổ,
Và
con đường khổ diệt.
194.
Ta nghe lời Ngài dạy,
Sống
vui thích giáo pháp,
Ba
minh đã đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
195.
Mọi nơi, hỷ duyệt đoạn,
Khỏi
si ám tan tành,
Hãy
biết vậy, Ác ma!
Ngươi
bị hại, Ma vương.
Phẩm
VIII
Tập
Tám Kệ<