Tập III - Trưởng
Lão Ni Kệ
Phẩm
Một - Tập Một Kệ
Phẩm
Một - Tập Một Kệ
1.
Vô Danh Ni
2.
Mutta
3.
Punna
4.
Tissa
5.
Một Tissa Khác
6.
Dhira
7.
Một Dhira Khác
8.
Mitta
9.
Bhadha
10.
Upasama
11.
Mutta
12.
Dahammadinnà
13.
Visàkhà
14.
Sumàna
15.
Uttara
16.
Sumànà
17.
Dahamima
18.
Sanjhà |
Phẩm
Hai - Tập Hai Kệ
19.
Abhirupa-Nanda
20.
Jenti
21.
Mẹ Của Sumangala
22.
Ađhakasi
23.
Citta
24.
Mettika
25.
Muttà
26.
Mẹ Của Abhayà
27.
Abhaya
28.
Sama
Phẩm
Ba - Tập Ba Kệ
29.
Một Sama Khác
30.
Uttama
31.
Một Uttama Khác
32.
Dantika
33.
Ubbiri
34.
Sukkà
35.
Siela
36.
Soma
Phẩm
Bốn - Tập Bốn Kệ
37.
Bhaddà |
Phẩm
I
Tập
Một Kệ
(I)
Bài Kệ Này Do Một Trưởng Lão Ni Không Biết Tên Nói Lên
(Therì. 123)
1.
Hãy ngủ trong an lạc
Hỡi
nàng thân đẫy đà,
Ðắp
phủ trong tấm y,
Chính
mình tự làm lấy,
Lòng
tham, nàng lắng dịu,
Như
ghè khô trong lò!
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia
đình ở Vesàli (Tỳ-xá-ly). Vì thân hình đẫy đà, nàng được
gọi là nàng đẫy đà. Nàng trở thành người vợ trung thành
của một người quý tộc. Khi bậc Ðạo Sư đến Vesàli, nàng
tin tưởng giáo pháp của đức Phật và trở thành một nữ
cư sĩ. Khi nàng nghe Trưởng lão Ni Mahàpajàpati thuyết pháp,
nàng muốn xuất gia và thưa với chồng ý nguyện của nàng.
Người chồng không cho, nên nàng tiếp tục làm tròn bổn phận
của nàng, suy tư đến những lời dạy dịu dàng của giáo
pháp và chú tâm đến thiền quán. Rồi một ngày kia, trong
khi đang ở trong bếp và nấu món ăn, một ngọn lửa mạnh
bừng cháy và thiêu tất cả món ăn với những tiếng cháy
xèo xèo, nàng lấy đó làm đề tài để thiền quán về tánh
vô thường của sự vật, và chứng được quả Bất Lai. Rồi
nàng không đeo các đồ trang sức nữa. Người chồng hỏi
duyên cớ, nàng trả lời nàng không thể sống trong gia đình
được nữa. Người chồng đưa nàng đến Trưởng lão Ni Mahàpajàpàti
Gotami, và bằng lòng để nàng xuất gia. Mahàpajàpàti làm lễ
xuất gia cho nàng và đưa nàng đến yết kiến đức Phật.
Bậc Ðạo Sư giải thích về đề tài thiền quán của nàng
và nói lên bài kệ này.
Khi
nàng chứng quả A-la-hán, nàng lập lại bài kệ này và bài
kệ trở thành bài kệ của nàng.
(II)
Muttà (Therì. 123)
(Bài
kệ này Thế Tôn thường nói lên để khích lệ Muttà khi nàng
còn đang học tập).
2.
Hỡi này, giải thoát Ni
Hãy
giải thoát các ách,
Như
mặt trăng thoát khỏi,
Miệng
hàm của Ràhu,
Với
tâm tư giải thoát,
Khỏi
nợ nần trói buộc,
Hãy
thọ hưởng món ăn,
Do
khất thực đem lại.
Ðây
là bài kệ của giới học nữ Muttà. Trong thời đức Phật
hiện tại, nàng được sanh làm con gái của một Bà-la-môn,
có danh vọng ỏ Sàvatthi. Ðến năm hai mươi tuổi, các điều
kiện chín muồi, nàng xuất gia dưới sự hướng dẫn của
Mahàpajàpati Gotami, và học tập thiền quán. Một hôm, sau khi
khất thực, sau khi làm các phận sự đối với các Trưởng
lão Ni xong, nàng tìm một chỗ thanh vắng để ngồi thiền,
tập trung tư tưởng vào nội tâm. Rồi bậc Ðạo Sư, ngồi
trong hương phòng ở tinh xá phóng ra hào quang, xuất hiện trước
mặt nàng và nói lên bài kệ trên. Còn nàng, vững tin với
lời giáo giới ấy, không bao lâu chứng được quả A-la-hán
và khi chứng quả nói lên lại bài kệ này. Sau khi tu hành
thành đạt, được đề nghị lên những hàng giáo phẩm, nàng
vẫn đọc bài kệ này, khi sắp sửa mệnh chung.
(III)
Punnà (Therì. 123)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm con một gia
đình trưởng giả ở Sàvatthi và tên là Punnà. Khi nàng đến
hai mươi tuổi và nghiệp duyên thành thục, nàng nghe Mahàpajàpati
thuyết pháp và xuất gia. Khi trở thành một giới học nữ,
nàng bắt đầu thiền quán, và bậc Ðạo Sư từ nơi hương
phòng của Ngài phóng hào quang và nói lên bài kệ này:
3.
Hỡi này, thành Mãn ni,
Hãy
tràn đầy Chánh pháp,
Như
mặt trăng tròn đầy,
Trong
ngày rằm trăng tròn,
Hãy
tràn đầy trí tuệ,
Phá
tan khối si ám.
Sau
khi nghe bài kệ này, thiền quán được tăng trưởng và nàng
chứng quả A-la-hán. Bài kệ này nói lên lòng phấn khởi và
xác chứng chánh trí của nàng.
(IV)
Tissà (Therì. 123)
Bài
kệ sau này là của Tissà, một giới học nữ trải qua nhiều
đức Phật, nàng tích lũy các công đức, và trong đời đức
Phật hiện tại, nàng được tái sanh ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ)
trong gia đình quý tộc Thích-ca, được tuyển vào nội cung
của vị Bồ-tát. Nàng cùng với Mahàpajàpati xuất gia và tu
tập thiền quán. Bậc Ðạo Sư hiện ra trước nàng và nói
lên bài kệ:
4.
Tissà hãy học tập,
Học
trong những học pháp,
Chớ
để cho các ách,
Vượt
khỏi chi phối nàng.
Hãy
sống không liên hệ,
Mọi
ách không trói buộc,
Sống
giữa thế giới này,
Không
có các lậu hoặc.
Và
nàng nghe bài kệ này, được tăng trưởng thiền quán và chứng
quả A-la-hán. Sau đó nàng thường đọc lên bài kệ này.
(V)
Một Tissà Khác (Therì. 123)
5.
Tissà, hãy cột tâm
Tập
trung trên các pháp,
Chớ
để từng sát-na
Uổng
phí vượt khỏi nàng!
Những
sát-na đã qua
Họ
sầu muộn, đau khổ,
Khi
họ bị rơi vào
Trong
cảnh giới địa ngục.
(VI)
Dhìra (Therì. 124)
6.
Dhìra, hãy cảm xúc,
Những
cảm chứng đoạn diệt,
Tịnh
chỉ các vọng tưởng,
Là
chân chánh an lạc,
Hãy
thuận hướng Niết-bàn,
Ách
an ổn, vô thường.
(VII)
Một Dhìra Khác (Therì. 124)
7.
Dhìra, hãy kiên trì,
Nắm
giữ các thiện pháp,
Hỡi
này Tỷ-kheo-ni,
Các
căn được tu tập,
Hãy
mang cái thân này,
Là
cái thân cuối cùng,
Sau
khi đã chiến thắng,
Ác
ma nữ quân lực,
Sau
khi đã chiến thắng,
Ác
ma với quân lực.
(VIII)
Mittà (Therì. 124)
8.
Hỡi này Mittà bạn!
Với
lòng tin xuất gia,
Hãy
tu tập rèn luyện,
Hân
hoan trong bạn lành,
Hãy
tu tập rèn luyện,
Trong
các pháp hiếu thiện,
Cố
gắng đạt cho được,
An
ổn khỏi ách nạn.
(IX)
Bhadhà (Therì. 124)
9.
Hỡi Bhàdha hiền thiện,
Với
lòng tin xuất gia,
Hãy
sống vui hoan hỷ,
Trong
các pháp hiền thiện,
Hãy
tu tập rèn luyện,
Trong
các pháp chí thiện,
Cố
gắng đạt cho được,
An
ổn khỏi ách nạn.
(X)
Upasanà (Therì. 124)
10.
Hỡi Upasanà
Hãy
vượt dòng nước mạnh,
Dòng
nước khó vượt qua,
Bị
thần chết chi phối,
Hãy
mang cái thân này,
Là
cái thân cuối cùng,
Sau
khi đã chiến thắng,
Ác
ma với quân lực.
Sáu
Tỷ-kheo-ni này, câu chuyện giống như Tissà (VI) trừ Dhirà,
được gọi là một Dhirà khác. Nàng không được bài kệ
nào đọc cho nàng, nhưng nàng cảm thấy dao động khi được
nghe lời Phật dạy. Dựa trên những lời này nàng tinh tấn
thiền nhất quán, và khi nàng chứng được quả A-la-hán, nàng
nói lên sự sung sướng của nàng. Các Tỷ-kheo-ni khác cũng
có thái độ tương tự.
(XI)
Muttà (Therì. 123)
Nhờ
tích lũy các thiện nghiệp dưới thời các đức Phật khác,
Muttà được sinh ở Kosalà, con gái của một Bà-la-môn nghèo
tên là Oghàtaka. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng phải làm
vợ một người Bà-la-môn còm, nhưng nàng thưa với chồng
rằng nàng không thể sống trong gia đình và được chồng
bằng lòng cho nàng xuất gia. Trong khi thiền quán, tâm tư vẫn
chạy theo các đối tượng ở ngoài. Do vậy, nàng kiên trì
tự chế ngự và đọc lên bài kệ của nàng. Nàng tinh tấn
thiền quán cho đến khi nàng chứng được quả A-la-hán. Rồi
hân hoan nàng lập lại bài kệ:
11.
Lành thay giải thoát Ni,
Ta
thật khéo giải thoát,
Giải
thoát ra khỏi được,
Ba
vật còm và cong,
Thoát
cối xay, cái chày,
Thoát
ông chồng lưng còm,
Hỡi
này giải thoát Ni!
Ta
thoát được sống chết,
Những
gì dẫn tái sanh,
Ðược
nhổ lên tận gốc.
(XII)
Dhammadinnà (Therì. 124)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia
đình ở Ràjagaha (Vương Xá) và trở thành vợ của Visàkha,
một người có địa vị trong xã hội. Một ngày kia, chồng
nàng đi nghe đức Phật thuyết pháp, chứng được quả Bất
lai. Khi Visàkha về, Dhammadinnà đưa tay ra đỡ chồng lên gác,
nhưng người chồng không nắm tay và không nói với nàng trong
bữa ăn chiều. Nàng hỏi chồng duyên cớ, người chồng nói
không phải vì lỗi gì của nàng, nhưng nay vì đã hiểu được
Chánh pháp nên không còn những cử chỉ như trước nữa. Người
chồng trả quyền tự do cho nàng, một là ở lại gia đình
người chồng, hai là lấy tiền bạc rồi về lại gia đình
cha mẹ, nhưng nàng không chịu, và xin được xuất gia.Visàkha
đưa nàng đến các Tỷ-kheo-ni trong một chiếc kiệu vàng.
Ðược cho phép xuất gia, nàng xin sống nhập thất, không muốn
sống chung đụng ồn ào và đi đến một tinh xá ở làng.
Tại đấy, nhờ những thiện nghiệp quá khứ, nàng chế ngự
thân, miệng, ý, chứng được quả A-la-hán, với Tứ vô ngại
giải: Nghĩa vô ngại giải, pháp vô ngại giải, từ vô ngại
giải, biện tài vô ngại giải. Rồi nàng đi về Ràjagaha (Vương
Xá), với các Tỷ-kheo-ni. Visàkha chồng cũ của nàng đến
hỏi pháp, nàng như đã được diễn tả trong kinh Tiểu Vedalla
(M.i. 299), nàng trả lời rất rõ ràng đúng đắn các câu hỏi
của Visàkha và được đức Phật tán thán. Nàng trở thành
thuyết pháp đệ nhất trong hàng các Tỷ-kheo-ni. Chính trong
khi nàng ở lại một tinh xá ở làng và nàng nói lên bài kệ
này:
12.
Trong ai, lòng ước muốn,
Ðạt
được quả vô sanh,
Ðược
sanh khởi tỏa rộng,
Ðầy
tràn cả tâm ý,
Tâm
không bị trói buộc,
Trong
các dục chi phối,
Vị
ấy được tên gọi
Là
bậc vào dòng trên.
(XIII)
Visàkhà (Therì. 124)
Câu
chuyện của Visàkhà cũng giống như câu chuyện của Dhìra.
Sau khi chứng quả A-la-hán, nàng suy tư trên lạc giải thoát
và nói lên chánh trí nàng đã chứng được, để khuyến khích
đồng bạn tu hành.
13.
Hãy làm, hãy thực hành
Ðúng
theo lời Phật dạy.
Và
sau khi làm xong,
Không
có lòng ăn năn,
Hãy
gấp rửa chân sạch,
Và
ngồi xuống một bên.
(XIV)
Sumànà (Therì. 124)
Câu
chuyện của nàng giống như chuyện của Tissà phóng hào quang,
đức Phật hiện ra ngồi trước mặt nàng và nói lên bài
kệ này:
14.
Sau khi thấy các giới,
Với
cái nhìn đau khổ,
Chớ
có đi trở lại,
Vào
con đường tái sanh,
Hãy
từ bỏ, xả ly
Lòng
dục trong sanh hữu,
Sống
đời sống hành trì,
Ta
mát lạnh tịch tịnh.
(XV)
Uttarà (Therì. 125)
Câu
chuyện của Uttarà cũng giống như câu chuyện của Tissà (IV).
Và khi nàng chứng quả A-la-hán, nàng nói lên bài kệ này:
15.
Ta đã chế ngự được,
Thân
miệng và tâm tư,
Ta
chinh phục khát ái,
Cho
đến tận gốc rễ,
Ta
sống được mát lạnh,
Trong
tịch tịnh, an lặng.
(XVI)
Sumànà Xuất Gia Khi Tuổi Già (Therì. 125)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sanh ở Sàvatthi làm chị
của vua Kosala. Sau khi nghe đức Phật thuyết pháp, bắt đầu
với bốn chữ: 'Có bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường...'
(S. I, 68), nàng khởi lên lòng tin, thọ tam quy và ngũ giới.Vì
mắc hầu hạ bà ngoại, nàng không xuất gia được. Sau khi
bà ngoại mất, nàng cùng đi với vua tới tịnh xá, đem theo
nhiều màn, nhiều vải cúng dường giáo hội. Nghe bậc Ðạo
Sư thuyết pháp, nàng chứng được quả Bất hoàn và xin được
xuất gia và Thế Tôn thấy được sự trưởng thành trong trí
tuệ của nàng nên nói lên bài kệ này:
16.
Hỡi này, lão Ni kia,
Hãy
an lạc nằm nghỉ,
Ðắp
phủ trong tấm y,
Chính
tự mình làm lấy,
Lòng
tham người an tịnh,
Người
mát lạnh tịch tịnh.
Khi
đức Phật nói xong, nàng chứng được quả A-la-hán, với
thấu triệt pháp, thấu triệt nghĩa. Trong sự sung sướng nội
tâm, nàng lập lại những câu kệ này và chúng trở thành
lời tuyên bố chánh trí của nàng. Rồi nàng được xuất
gia ngay.
(XVII)
Dhammà (Therì. 125)
Sau
khi chất chứa công đức trong nhiều đời, nàng được sanh
trong một gia đình quyền quý dưới thời đức Phật hiện
tại. Sau khi lấy chồng, nàng được cảm hóa theo đạo Phật,
xin xuất gia nhưng người chồng không bằng lòng. Nàng chờ
cho khi chồng mất, mới xuất gia. Một hôm, sau khi khất thực,
trên con đường về tinh xá, nàng mất thăng bằng bị ngã.
Dùng sự kiện ấy để thiền quán, nàng chứng được quả
A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Trong sự vui sướng,
nàng nói lên bài kệ;
17.
Sau khi khất thực xong,
Yếu
sức, chống trên gậy,
Với
chân tay run rẩy,
Ta
ngã trên mặt đất,
Thấy
nguy hiểm của thân,
Tâm
ta được giải thoát.
(XVIII)
Sanjhà (Therì. 125)
Ðời
nàng giống như đời của Tỷ-kheo-ni Dhìra, nhưng bài kệ của
nàng như sau:
18.
Bỏ gia đình, xuất gia,
Ta
từ bỏ con cái,
Từ
bỏ gia súc quý,
Từ
bỏ tham và sân,
Còn
đối với vô minh,
Ta
sống hạnh viễn ly,
Sau
khi chinh phục được,
Tận
gốc cả tham ái,
Ta
được sống mát lạnh,
Tịch
tịnh và an lặng.
Phẩm
Hai
Tập
Hai Kệ
(XIX)
Abhirùpa Nandà (Therì. 125)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Kapilavatthu,
con gái vợ chính của vua Khemaka, dòng họ Thích-ca (Sakya), tên
là Nandà. Vì nàng rất đẹp nên được tên là Abhirùpa Nandà
(Nandà đẹp). Ngày nàng lựa Carabhùta làm chồng, thời Carabhùta
mệnh chung và cha mẹ cưỡng bức nàng xuất gia. Sau khi đã
xuất gia, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của nàng, và
sợ bậc Ðạo Sư quở trách, nàng lẫn tránh Ngài. Thế Tôn
biết được hạnh nàng đã thuần thục nên bảo Mahàpajàpati
quy tụ mọi Tỷ-kheo-ni lại để Ngài dạy bảo, nàng nhờ
người khác đi thế. Ðức Phật không chấp nhận nên nàng
phải đến dự. Ðức Phật hóa sanh một nữ nhân rất đẹp,
nhưng dần dần bị già nua, yếu hèn và nàng bị xúc động
mạnh. Rồi đức Phật nói với nàng những bài kệ như sau:
19.
Này Nandà, hãy nhìn,
Tấm
thân chỗ quy tụ,
Nhiều
bệnh hoạn, bất tịnh,
Ðầy
hôi hám thối nát,
Tâm
nàng hãy tu tập,
Quán
tri tánh bất tịnh,
Ðạt
cho được nhất tâm,
Tâm
tư khéo thiền định.
20.
Hãy tu tập vô tướng,
Hãy
bỏ mạn tùy miên,
Do
thắng tri được mạn,
Nàng
sẽ sống an tịnh.
Khi
Thế Tôn nói xong, nàng chứng quả A-la-hán. Nói lại cho nàng
những bài kệ này, nàng xem các bài kệ là lời tuyên bố
chánh trí của nàng.
(XX)
Jentì (hay Jentà) (Therì. 125)
Câu
chuyện về đời sống quá khứ, về hiện tại của nàng giống
như câu chuyện của Nandà đẹp. Nhưng nàng sanh ở Vesàli,
tại một gia đình hoàng tộc Licchavi. Nàng chứng quả A-la-hán
khi nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp. Và khi suy nghĩ đến sự
biến đổi, trên tự thân, nàng sung sướng nói lên bài kệ
này:
21.
Chính Bảy giác chi này
Là
đường đạt Niết-bàn,
Tất
cả, ta tu tập,
Như
lời đức Phật dạy.
22.
Ta thấy được Thế Tôn,
Ðây
thân tụ cuối cùng
Vòng
sanh tử đoạn tận,
Nay
không còn tái sanh.
(XXI)
Mẹ Của Sumangala (Therì. 126)
Trong
đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình
nghèo và được gả lấy một người đan mây làm chồng. Nàng
sanh được một người con trai tên Sumangala, sau trở thành
bậc Trưởng lão và chứng quả A-la-hán. Nàng không được
biết tên và được gọi là một Trưởng lão Ni không có tên
hay mẹ của Sumangala. Nàng trở thành một Tỷ-kheo-ni và một
hôm nghĩ đến sự đau khổ khi còn là cư sĩ, nàng cảm thấy
xúc động và với thiền quán phát triển, nàng chứng quả
A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ, nàng nói lên bài
kệ như sau:
23.
Hỡi thiện giải thoát Ni,
Lành
thay khéo giải thoát,
Ta
được khéo giải thoát,
Khỏi
cái chày giã gạo,
Ta
không còn xấu hổ,
Với
ông chồng đan dù,
Với
soong chảo nấu ăn,
Với
nghèo đói tồi tàn.
24.
Chặt đứt được tham sân,
Ta
sống không tham sân,
Ta
đi đến gốc cây,
Ôi,
an lạc ta thiền.
(XXII)
Addhakasi (Therì. 126)
Trong
đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở xứ Kàsi con
của một công dân giàu có và có danh tiếng. Nhưng vì ảnh
hưởng của khẩu nghiệp của đời trước nàng trở thành
một kỹ nữ. Về sau nàng xuất gia và được làm lễ xuất
gia với một vị đại diện đặc biệt được ghi trong tập
Cùla vagga (Tiểu phẩm)
Nàng
muốn đi đến Sàvatthi để được xuất gia nhưng bị dân
làng ăn chơi ở Benerees chận đường không cho nàng đi. Nàng
cho người đến hỏi ý kiến Thế Tôn và Thế Tôn cho phép
nàng được xuất gia với một vị đại diện đặc biệt.
Rồi nàng nhứt tâm quán tưởng và không bao lâu chứng quả
A-la-hán với pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Rồi nàng nói lên
bài kệ như sau:
25.
Tiền lạc thú của ta,
Không
thua thuế Kàsi,
Sau
khi so sánh giá,
Thôn
trưởng định giá vậy.
26.
Nay ta lại nhàm chán,
Chính
sắc đẹp của ta,
Ta
chán ngấy sắc ấy,
Ta
không còn luyến tiếc.
Ta
chớ có liên tục,
Chạy
theo vòng luân hồi,
Ba
minh ta chứng được,
Thành
tựu lời Phật dạy.
(XXIII)
Città (Therì. 126)
Nàng
được sanh vào một gia đình ưu tú ở Ràjagaha (Vương Xá),
khi đến tuổi trưởng thành, nàng nghe bậc Ðạo Sư thuyết
pháp ở cửa thành Ràjagaha, trở thành một tín nữ và được
Mahàpajàpati cho xuất gia. Sau khi nàng về già, trong khi leo núi
Linh Thứu, với thiền quán được phát triển, nàng chứng
quả A-la-hán. Suy nghĩ đến kết quả này, nàng nói lên bài
kệ:
27.
Dầu ta có mỏi mệt,
Bệnh
hoạn quá yếu đuối,
Dựa
trên gậy ta đi,
Ta
leo lên đỉnh núi.
28.
Với đại y vắt ngang,
Với
bình bát lộn ngược,
Ta
dựa mình tảng đá,
Phá
tan khối si ám.
(XXIV)
Mettikà (Therì. 126)
Nàng
được sanh làm con một gia đình quyền quý Bà-la-môn ở Ràjagaha.
Ðời nàng cũng giống như đời của Città chỉ khác là nàng
leo một ngọn núi khác, đối diện với núi Linh Thứu. Suy
tư trên quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ:
29.
Dầu ta có đau đớn,
Sức
yếu, tuổi trẻ qua,
Dựa
trên gậy, ta đi,
Ta
leo lên đỉnh núi.
30.
Với đại y vắt ngang,
Với
bình bát lộn ngược,
Ta
ngồi trên tảng đá,
Tâm
ta được giải thoát.
Ba
minh chứng đạt được,
Thành
tựu lời Phật dạy.
(XXV)
Mittà (Therì. 127)
Nàng
được sinh ra trong gia đình công chúa Sakya (Thích-ca) ở Kapilavatthu,
từ bỏ gia đình xuất gia cùng với Mahàpajàpati, rồi sau những
năm tháng tu hành cần mẫn, nàng chứng được quả A-la-hán
nghĩ đến thành quả của mình, nàng vui vẻ nói lên những
bài kệ này:
31.
Ngày mười bốn, ngày rằm,
Ngày
mồng tám giữa tháng,
Ngày
thần túc nguyệt phần,
Ta
thọ trì tám giới.
32.
Ta gìn giữ trai giới,
Khiến
chư Thiên hoan hỷ,
Mỗi
ngày ăn một bữa,
Cạo
đầu đắp đại y,
Ta
đâu muốn thiên giới,
Ta
nhiếp phục tâm khổ.
(XXVI)
Mẹ Của Abhayà (Therì. 127)
Trong
đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh là một hoa khôi
ở Ujjenì, tên là Badumavati. Vua Bimbisàra ở Magadha nghe tiếng
và muốn gặp nàng. Với sự giúp đỡ của vị giáo sĩ của
vua, vua được gặp nàng và nàng có thai với vua. Vua bảo khi
nào nó lớn thì đưa vào cung. Nàng sinh được một đứa con
trai, đặt tên là Abhaya (Vô Úy). Khi được bảy tuổi, nàng
gửi con trai đến vua Bimbisàra và vua thương yêu nó và nuôi
dưỡng nó với các người con khác của vua. Sau này đứa trẻ
lớn lên tin theo đạo Phật, xuất gia, như đã được tường
trình trong Trưởng lão Tăng Kệ. Về sau, mẹ của Abhaya nghe
Abhaya thuyết pháp, cũng xin xuất gia và sau một thời gian tu
hành, chứng được quả A-la-hán, với pháp tín thọ, với
nghĩa tín thọ. Nàng nhớ lại những câu kệ do con nàng giảng
cho nàng và thêm vào những bài kệ của chính nàng:
33.
Hỡi thân mẫu thân yêu!
Từ
bàn chân trở lên,
Từ
đầu tóc trở xuống,
Hãy
quán sát thân này,
Thân
này thật bất tịnh,
Thật
hôi hám thối tha.
34.
Ta an trú như vậy,
Mọi
tham dục nhổ sạch,
Nhiệt
não được đoạn trừ,
Ta
mát lạnh, tịch tịnh.
(XXVII)
Abhaya (Therì. 127)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Ujenni, tại
một gia đình quyền quý và trở thành bạn thân với mẹ của
Abhaya. Khi nghe mẹ của Abhaya xuất gia, Abhaya vì thương mẹ
của nàng nên cùng xuất gia theo. Cùng ở tại Ràjagaha (Vương
Xá), một hôm nàng đi đến một khu vườn để quán bất tịnh.
Bậc Ðạo Sư tại hương phòng, Ngài hiện cho nàng thấy đối
tượng nàng muốn thiền quán. Thấy hình ảnh ấy, nàng hốt
hoảng. Bậc Ðạo Sư phóng hào quang hiện ra như ngồi trước
mặt nàng và nói lên bài kệ:
36.
Hỡi này vô úy Ni!
Thân
này thật mỏng manh,
Chính
ở đây phàm phu,
Ưa
thích, thường tham đắm.
Ta
sẽ bỏ thân này,
Tỉnh
giác và chánh niệm
Chú
tâm không phóng dật,
Ta
gắng thoát pháp khổ,
Ái
diệt, ta chứng đạt,
Thành
tựu lời Phật dạy.
Khi
bậc Ðạo Sư nói xong, nàng chứng quả A-la-hán, hoan hỷ, nàng
hướng các bài kệ về nội tâm như là những bài kệ nói
lên cho mình.
(XXVIII)
Sàmà (Therì. 127)
Do
làm các thiện sự trong các đời trước, trong đời đức
Phật hiện tại, nàng được sanh ở Kosambi, trong một gia đình
có danh vọng. Khi Samàvati, bạn thân của nàng chết, vì quá
đau khổ, nàng xuất gia. Nhưng vì không nhiếp phục được
đau khổ đối với bạn của nàng, nàng không nắm được
con đường Thánh đạo. Một thời, khi ngồi nghe Tôn giả Ananda
thuyết pháp, nàng chứng được Pháp nhãn và bảy ngày sau
nàng chứng quả A-la-hán, với pháp tín thọ, với nghĩa tín
thọ.
Suy
tư đến quả chứng của mình, nàng nói lên những bài kệ
này:
37.
Bốn lần và năm lần,
Ta
ra khỏi tinh xá,
Nhưng
tâm không an tịnh,
Không
nhiếp phục được tâm.
38.
Nhưng đến đêm mồng tám,
Ái
được ta nhổ sạch
Chú
tâm không phóng dật,
Ta
gắng thoát pháp khổ,
Ái
diệt, ta chứng đạt,
Thành
tựu lời Phật dạy.
Phẩm
Ba
Tập
Ba Kệ
(XXIX)
Một Sàmà Khác (Therì. 127)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia
đình quý tộc ở Kosambi, nàng cũng trở thành người bạn
của Sàmàvati, khi Sàmàvati chết đi, vì quá đau khổ, nàng
xuất gia. Trong hai mươi lăm năm nàng không nhiếp phục được
tâm nàng, cho đến khi trở về già, nàng nghe được một bài
thuyết pháp, tu tập thiền quán, chứng quả A-la-hán với nghĩa
tín thọ, pháp tín thọ. Suy tư đến quả chứng này, nàng
nói lên bài kệ:
39.
Ðã được hăm lăm năm,
Từ
khi ta xuất gia.
40.
Ta không thắng tri tâm,
Không
được tâm thăng bằng,
Tâm
không được an tịnh,
Không
nhiếp phục được tâm
Do
vậy ta dao động,
Nhớ
đến lời Phật dạy.
41.
Chú tâm không phóng dật
Ta
gắng thoát pháp khổ,
Ái
diệt, ta chứng đạt,
Thành
tựu lời Phật dạy
Hôm
nay đêm mồng bảy,
Khái
ái được khô cạn.
(XXX)
Uttama (Therì. 128)
Sau
nhiều đời làm việc lành, nàng được sanh trong nhà một
triệu phú ở Sàvatthi, trong thời đức Phật hiện tại. Khi
nàng lớn tuổi, nàng nghe Patàcàrà thuyết pháp và xin xuất
gia. Nhưng nàng chưa chứng được quả vị thiền quán. Patàcàrà
biết được tâm trạng của nàng, nên thuyết giảng cho nàng
và nhờ vậy nàng chứng quả A-la-hán với nghĩa tín thọ,
pháp tín thọ. Suy tư trên quả chứng, nàng nói lên sự sung
sướng của nàng.
42.
Bốn lần và năm lần,
Ta
ra khỏi tinh xá.
Nhưng
tâm không an tịnh,
Không
nhiếp phục được tâm.
43.
Ta đến Tỷ-kheo -ni,
Với
ta đồng tín nữ,
Nàng
thuyết pháp cho ta,
Với
uẩn, xứ và giới.
44.
Nghe xong pháp nàng thuyết,
Như
nàng đã dạy ta,
Bảy
ngày ngồi kiết-già,
Ta
thọ hưởng hỷ lạc,
Mồng
tám ta duỗi chân,
Phá
tan khối si ám.
Bài
kệ trở thành lời tuyên bố về chánh trí của nàng.
(XXXI)
Một Uttarà Khác
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào gia đình
Bà-la-môn có danh tiếng ở Kosala. Ðến tuổi trưởng thành
khi đang đi ở làng quê, nàng nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp,
nàng xuất gia, chứng được quả A-la-hán với pháp tín thọ,
nghĩa tín thọ. Suy tư trên quả chứng, nàng nói lên bài kệ:
45.
Bảy pháp giác chi này,
Con
đường đạt Niết-bàn,
Tất
cả ta tu tập,
Như
lời đức Phật dạy.
46.
Do quán không vô tướng
Ta
đạt quả mong muốn,
Ta
thành con gái Phật,
Sanh
ra từ miệng Ngài,
Luôn
luôn ta hoan hỷ.
47.
Trong an lạc Niết-bàn,
Mọi
dục được đoạn diệt,
Dục
trời và dục người,
Vòng
sanh hữu đoạn tận,
Nay
không còn tái sanh.
(XXXII)
Dantikà
Trong
đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi trong
gia đình vị giáo sĩ nhà vua. Khi đến tuổi trưởng thành,
nàng trở thành tín nữ ở Jetavana (Kỳ Viên) và về sau xuất
gia, dưới sự chỉ đạo của Mahàpajàpati. Một thời khi đang
ở Ràjagaha (Vương Xá), nàng leo lên núi Linh Thứu; và sau buổi
ăn, khi đang còn ngồi nghỉ, nàng thấy một người nài điều
khiển một con voi; và nhờ vậy nàng chứng quả A-la-hán; với
pháp tín thọ, nghĩa tín thọ. Về sau, vô cùng hân hoan với
quả chứng của mình, nàng nói lên bài kệ như sau:
48.
Ra khỏi ngôi tinh xá,
Ðể
nghỉ trưa ban ngày,
Trên
đỉnh núi Linh Thứu,
Ta
thấy một con voi,
Dầm
nước xong đi lên,
Trên
bờ một con sông.
49.
Một người cầm cái móc,
Yêu
cầu đưa chân lên,
Con
voi duỗi chân ra,
Và
người leo lên voi.
50.
Thấy kẻ chưa nhiếp phục,
Ði
đến được nhiếp phục,
Ta
thấy nó vâng chịu,
Theo
quyền lực của người.
Như
vậy, ta định tâm,
Ði
vào trong rừng ấy.
(XXXIII)
Ubirì
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Sàvatthi, trong
một gia đình khá giả quyền quí. Nàng rất đẹp và sanh được
người con gái rất đẹp, đặt tên là Jivà. Vua thấy đứa
con gái rất lấy làm hài lòng và đưa nàng lên làm hoàng hậu.
Nhưng rồi đứa con gái Jivà bị chết, và bà mẹ ngày nào
cũng đi đến nghĩa địa để than khóc. Một hôm nàng đi đến
yết kiến bậc Ðạo Sư, nhưng rồi nàng đi ra bên sông Aciravàti
và đứng than khóc. Bậc Ðạo Sư thấy vậy liền đến với
nàng và hỏi:
- Tại
sao nàng khóc?
Nàng
đáp:
- Bạch
Thế Tôn, con khóc đứa con gái của con.
Thế
Tôn nói:
- Tại
nghĩa địa này có đến tám vạn bốn ngàn con gái của nàng
bị thiêu. Vậy nàng khóc than cho ai!.
Rồi
chỉ cho nàng thấy chỗ đất các người bị chết, Thế Tôn
nói lên bài kệ:
51.
Hỡi nàng Ubirì,
Nàng
khóc trong rừng sâu,
Khóc
than ôi Jivà,
Con
gái thân của tôi,
Hãy
tự mình hồi tỉnh,
Hỡi
này Ubirì!
Trong
bãi đốt thân này
Tất
cả tám vạn tư,
Người
đồng tên Jivà
Nàng
khóc Jivà nào?
Nàng
suy tư với trí tuệ, trên pháp bậc Ðạo Sư dạy. Nhờ thiền
quán tác động, nhưng lời dạy tốt đẹp của bậc Ðạo
Sư, và với tự mình đạt được những điều kiện cần
thiết nàng chứng được quả cao nhất, cho đến quả A-la-hán,
và trình bày quả vị tối thượng nàng đạt được, nàng
nói lên nửa bài kệ sau:
52.
Mũi tên khó nhìn thấy,
Ðâm
dính nơi tâm ta,
Chắc
chắn đã được Ngài,
Nhổ
lên khỏi tâm ta,
Sầu
muộn vì con gái,
Ðã
được chấm dứt hẳn.
53.
Nay mũi tên được nhổ,
Mọi
ham muốn lắng dịu,
Ta
đi đến quy y
Bậc
Mâu-ni ẩn sĩ,
Quy
y Ba ngôi báu
Phật,
Pháp và chúng Tăng.
(XXXIV)
Sukkà (Therì. 129)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình
quyền quí ở Ràjagaha (Vương Xá) và được đặt tên là Sukkà
(Sáng Suốt). Khi đến tuổi trưởng thành, nàng phát tâm tin
Phật ở trong gia đình của nàng và trở thành một tín nữ.
Về sau nàng được nghe Dhammadinnà thuyết pháp và quá cảm
xúc bởi bài thuyết pháp, nàng xuất gia với Dhammadinnà. Sau
khi tu thiền quán, nàng chứng được quả A-la-hán với pháp
tín thọ, nghĩa tín thọ.
Ðược
năm trăm Tỷ-kheo-ni đoanh vây, nàng trở thành một vị thuyết
pháp giỏi. Một ngày kia, sau khi đi vào Vương Xá khất thực,
ăn xong, toàn thể Ni chúng trở về tinh xá của Tỷ-kheo-ni.
Tại đấy Sukkà thuyết pháp cho toàn thể Ni chúng, thuyết
hay cho đến nỗi các Tỷ-kheo-ni như cảm thấy được nhận
từ nàng, những đường mật ngọt ngào, thấm nhuần với
nước bất tử. Tất cả đều ngồi nghe, hoàn toàn im lặng
nhiệt tâm tín thành. Rồi một vị thần cây, đứng ở cuối
sân nghe pháp, quá xúc động bởi lời thuyết giảng, nên đi
ra khỏi Vương Xá, vừa đi vừa tán thán hạnh thuyết pháp
tuyệt diệu của nàng và nói như sau:
54.
Hỡi này người Vương Xá,
Các
người đã làm gì?
Giống
như người nằm mê,
Bị
say vì uống mật!
Các
người không hầu hạ,
Sukkà
thuyết lời Phật.
55.
Chúng tôi nghĩ bậc trí,
Uống
được nước cam lồ,
Dòng
nước thật thuần tinh,
Không
gì chướng ngại nổi
Chẳng
khác kẻ đi đường,
Ðón
nhận nước trời mưa.
Khi
nghe thần cây nói vậy, dân chúng rất lấy làm phấn khởi
và đi đến chăm chú nghe nàng thuyết pháp. Sau một thời gian,
vào cuối cuộc đời khi nàng đang sửa soạn để từ giã
cuộc đời. Nàng muốn nói lên pháp môn nàng dạy đưa đến
giải thoát như thế nào, nàng tuyên bố như sau về chánh trí
của nàng.
56.
Hỡi này nàng Sukkà!
Người
con của ánh sáng!
Ðược
ly tham định tĩnh,
Nhờ
ánh sáng Chánh pháp,
Hãy
mang thân cuối cùng,
Sau
khi thấy ma quân.
(XXXV)
Sielà
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh làm công chúa
con vua nước Alavì, tên là Sielà. Nàng cũng được biết với
tên là Alavika (người nước Alavì). Khi đến tuổi trưởng
thành, bậc Ðạo Sư cảm hóa được vua cha, làm lễ xuất
gia cho vua và cùng đi đến Alavì. Sielà chưa lập gia đình,
cùng đi với phụ vương nghe thuyết pháp và trở thành một
tín nữ. Về sau nàng xuất gia, chuyên tu thiền quán và cuối
cùng nhờ thiện duyên tốt đẹp, nhờ trí tuệ được triển
khai, nàng nhiếp phục được thân hành, khẩu hành, ý hành
và chứng được quả A-la-hán.
Về
sau trở thành một Trưởng lão Ni, nàng ở Sàvatthi. Một hôm,
nàng đi ra khỏi Sàvatthi để nghỉ ban ngày tại Andhavana và
ngồi dưới một gốc cây. Ác ma muốn phá sự an tịnh độc
cư của nàng, dưới hình thức là một người lạ mặt, đến
với nàng và nói như sau:
57.
Nàng sẽ không thoát khỏi,
Thoát
ly khỏi đời này,
Như
vậy hạnh viễn ly,
Nàng
dùng để làm gì?
Hãy
thọ hưởng dục lạc,
Chớ
bứt rứt về sau.
Rồi
nàng suy nghĩ: 'Ðây là Ác ma muốn ngăn chận ta không được
hưởng Niết-bàn. Nó không biết ta đã chứng quả A-la-hán.
Vậy nay ta hãy làm cho nó mở mắt và nàng nói lên bài kệ':
58.
Các dục giống gươm giáo,
Chém
nát các uẩn ta,
Những
dục mà ngươi gọi,
Là
lạc thú cuộc đời.
59.
Ngày nay dục lạc ấy,
Với
ta không hấp dẫn,
Ở
tất cả mọi nơi,
Hỷ
lạc được đoạn tận,
Khối
tối tăm mù ám,
Ðã
bị làm tan nát,
Hỡi
này kẻ Ác ma,
Ngươi
hãy biết như vậy,
Ngươi
chính là Ác ma
Ngươi
đã bị bại trận.
(XXXVI)
Somà (Therì. 129)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng sinh ra là con gái vị giáo
sĩ của vua Bimbisàra. (Bình Sa Vương) và được đặt tên là
Somà. Khi đến tuổi trưởng thành, nàng trở thành một tín
nữ, và về sau nàng xuất gia và nhờ triển khai thiền quán,
nàng chứng được quả A-la-hán với nghĩa tín thọ, pháp tín
thọ.
Ở
tại Sàvatthi, một ngày kia nàng đi vào rừng Andhavana để
nghỉ ban ngày và ngồi dưới một gốc cây. Ác ma đến và
muốn phá sự an tịnh cô độc của nàng tàng hình không cho
nàng thấy và nói lên như sau:
60.
Ðịa vị khó chứng đạt,
Chỉ
thánh nhân chứng đạt,
Trí
nữ nhân hai ngón,
Sao
hy vọng chứng đạt.
Rồi
nàng cự lại Ác ma:
61-62.
Nữ tánh chướng ngại gì,
Khi
tâm khéo thiền định,
Khi
trí tuệ triển khai,
Chánh
quán pháp vi diệu,
Ở
tất cả mọi nơi,
Hỷ
lạc được đoạn tận,
Khối
tối tăm mù mịt,
Ðã
bị làm tan nát.
Hỡi
này kẻ Ác ma,
Ngươi
hãy biết như vậy,
Ngươi
chính là Ác ma,
Ngươi
đã bị bại trận.
Phẩm
Bốn
Tập
Bốn Kệ
(XXXVII)
Bhaddà Thuộc Dòng Họ Kapllà. (Therì. 130)
Trong
thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh vào một gia đình
Bà-la-môn dòng họ Kosiya ở Sàgala. Ðược sống trong giàu
sang, nàng được gả làm vợ một nhà quý tộc tên là Pippali
ở làng Mahàtittha. Khi người chồng xuất gia, nàng giao lại
tài sản cho các người bà con để nàng được xuất gia. Nàng
sống năm năm tại Titthiyàràma, sau đó nàng được Mahàpajàpati
cho thọ đại giới, nhờ triển khai thiền quán, nàng chứng
được quả A-la-hán. Sau nàng trở thành một vị có biệt
tài về các đời quá khứ nhờ hạnh nguyện trong đời quá
khứ. Nàng được đức Phật xem là người biệt tài đệ
nhất về đời sống quá khứ, khi bậc Ðạo Sư ở Jetavana
(Kỳ Viên) ngồi phân loại các Tỷ-kheo-ni. Một ngày kia nàng
nói lên những bài kệ, nói đến những kinh nghiệm quá khứ
và tán thán hạnh của Trưởng lão Kassapa:
63.
Con được thừa tự Phật,
Ca-diếp
khéo thiền định.
Biết
được đời quá khứ,
Thấy
cõi trời đọa xứ.
64.
ẩn sĩ đoạt diệt sanh,
Thắng
trí được thành tựu
Cùng
với Ba minh này,
Là
Phạm chí Ba minh.
65.
Cũng vậy nàng Bhaddà
Người
xứ Kapila,
Nàng
là bậc Ba minh,
Ðã
đoạn được sự chết,
Mang
thân này cuối cùng,
Sau
khi thắng ma quân.
66.
Thấy nguy hại ở đời,
Hai
chúng tôi xuất gia.
Chúng
tôi được chế ngự,
Ðoạn
tận các lậu hoặc,
Cảm
xúc thành mát lạnh,
Ðược
tịch tịnh giải thoát.