Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
Mười Chín - Phẩm Năm Mươi Kệ
262.
Tàlaputta
Chương
Hai Mươi - Phẩm Sáu Mươi Kệ
263.
Mahà Moggallàna
Chương
XIX
Phẩm
Năm Mươi Kệ
(CCLXII)
Tàlaputta (Thera. 97)
Trong
thời gian đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình
kịch sĩ, trở thành thiện xảo trong nghề diễn kịch thích
hợp với người trong gia tộc và trở thành lừng danh khắp
Ấn Ðộ, như nhà lãnh đạo một ban hát với năm trăm nữ
nhân, với sự huy hoàng của nghề kịch, ngài dự các lễ
ở làng, ở thị trấn, ở cung điện vua, và rất được sủng
ái và danh tiếng. Khi ngài trình diễn ở Ràjagaha với nhiều
thành công, ngài đến yết kiến đức Phật và hỏi có phải
một kịch sĩ khi trên sâu khấu giả danh sự thật, làm cho
khán giả ưa thích, vui cười, người ấy sau khi chêt được
sanh vào chư Thiên hay cười. Ðức Phật ban đầu không trả
lời. Ðến khi hỏi lần thứ tư, đức Phật trả lời những
ai khiến cho con người thiên về tình dục, tiêu cực tâm tư
hoang mang khiến người ta mất nhiệt tình, người như vậy
sau khi chết sẽ sinh vào địa ngục. Nhưng nếu có tà kiến
thời bị sanh vào địa ngục và súc sanh. Tàlaputta khóc không
phải vì đức Phật nói chỗ tái sanh, chỉ vì bị các kịch
sĩ xưa lừa dối nói rằng kịch sĩ sẽ được sanh trong một
đời sống hạnh phúc.
Rồi
Tàlaputta nghe lời đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin, xuất
gia và sau một thời tu tập, chứng quả A-la-hán. Rồi nêu
rõ với nhiều chi tiết, như thế nào ngài chế ngự và làm
cho trong sạch tâm tư, đi đến chỗ giác ngộ thâm sâu, ngài
nói lên những câu kệ như sau:
I
1092.
Khi nào ta sẽ đến,
Một
mình, không có hai,
Ở
trong những hang động,
Của
các loại núi rừng,
Ta
quán mọi sanh hữu,
Tất
cả là vô thường,
Nay
ta là như vậy,
Khi
nào ta sẽ vậy?
1093.
Khi nào ta sẽ là,
ẩn
sĩ mang y vá,
Mang
y vải màu vàng,
Không
của ta, không ái,
Ðoạn
trừ, diệt tham tâm,
Ðoạn
luôn cả sân, si,
Ta
đi đến khu rừng,
Sẽ
trú trong an lạc.
1094.
Khi nào ta thấy được
Thận
này là vô thường,
Bị
chết già áp bức,
Ổ
giết chóc, bệnh tật
Ta
sẽ trú trong rừng,
Một
mình, quán vô úy
Khi
nào sẽ là vậy?
1095.
Khi nào ta sẽ lấy
Gươm
sắc bén trí tuệ,
Chặt
dây leo khát ái,
Với
nhiều dây chằng chịt,
Sanh
khởi lên sợ hãi,
Mang
đến sự khổ đau.
Khi
nào sẽ là vậy?
1096.
Khi nào ta sẽ là,
Có
sức mạnh rút gươm,
Gươm
do tuệ tạo thành,
Là
lửa sáng ẩn sĩ;
Với
sức mạnh đập tan
Ác
ma với Ma quân
Trên
chỗ ngồi sư tử,
Khi
nào sẽ là vậy?
1097.
Khi nào ta sẽ được
Hội
tụ với bậc thiện,
Ðược
thấy giữa các vị,
Ðảm
nhận các trọng pháp,
Tinh
cần với các vị,
Thấy
sự vật như thật,
Chiến
thắng được các căn
Khi
nào sẽ là vậy?
1098.
Khi nào nhác đói khát
Gió,
nóng, trùng bò sát,
Sẽ
không não hại ta,
Ở
Gi-ri-bhaje,
Ðang
lo đến tự ngã,
Khi
nào sẽ là vậy?
1099.
Khi nào ta có thể
Chánh
niệm, gã định tĩnh
Hiểu
được với trí tuệ,
Bốn
sự thật khéo giảng,
Bởi
bậc Ðại ẩn sĩ,
Khi
nào sẽ là vậy?
1100.
Khi nào ta sẽ chuyên
Chú
tâm vào an chỉ,
Thấy
được với trí tuệ,
Sắc,
thanh, hương, vị, xúc,
Các
pháp vô thường này,
Như
lửa cháy hừng đỏ,
Khi
nào ta sẽ vậy?
1101.
Khi nào ta bị nói,
Với
lời nói thô ác,
Không
vì lý do ấy,
Tâm
trí bị thất vọng.
Khi
được lời tán thán,
Không
vì lý do ấy,
Tâm
tư được thỏa mãn.
Khi
nào ta sẽ vậy?
1102.
Khi nào nhiều như củi,
Cỏ,
cây leo, thân cây,
Ta
cân nhắc bình đẳng,
Những
pháp vô lượng này,
Nội
pháp và ngoại pháp,
Khi
nào ta sẽ vậy?
1103.
Khi nào mây đem mưa,
Với
nước mới trong rừng,
Làm
ướt y áo ta,
Ta
đi trên đường ướt,
Con
đường ẩn sĩ đi.
Khi
nào sẽ là vậy?
1104.
Khi nào nghe trong rừng,
Tiếng
kêu của loài chim,
Chim
công, có mào đầu.
Trong
hang động núi rừng,
Ta
an trú suy tư,
Ðể
đạt quả bất tử,
Khi
nào ta sẽ vậy?
1105.
Khi nào với thần thông,
Ta
có thể vượt qua,
Không
chìm, không sợ hãi,
Sông
Hằng, Yamunà,
Sông
Sarasvati,
Với
cửa sông hãi hùng,
Với
nước ào vực sâu,
Khi
nào sẽ là vậy?
1106.
Khi nào, như con voi,
Trên
chiến trường tấn công,
Ta
sẽ phá tan tành,
Lòng
dục đối dục cảnh,
Chuyên
chú trong thiền định,
Từ
bỏ mọi tịnh tướng,
Khi
nào sẽ là vậy?
1107.
Khi nào như người nghèo
Mắc
nợ chưa trả được,
Bị
kẻ giàu thúc bách,
Tìm
ra được của chôn,
Ta
sẽ được thoải mái,
Họ
được lời giảng dạy,
Của
vị Ðại ẩn sĩ,
Khi
nào sẽ được vậy?
II
1108.
Nhiều năm ta được ngươi,
Yêu
cầu làm như sau:
Như
vậy là vừa rồi,
Ngươi
sống đời gia đình,
Nay
ta đã xuất gia,
Do
vậy, hỡi này tâm,
Do
vì lý do gì,
Ngươi
không có chuyên tâm?
1109.
Này tâm, phải chăng ngươi,
Yêu
cầu ta như sau:
Tại
Giribbaje
Loài
chim có lông sáng,
Ðón
chào với tiếng kêu,
Sấm
của Ðại In-da.
Hãy
làm vị ấy vui,
Ðang
tu thiền trong rừng.
1110.
Trong gia đình, bạn bè,
Người
yêu và bà con,
Các
du hí ở đời,
Các
đối tượng của dục,
Tất
cả đều từ bỏ,
Ta
chấp nhận thế này.
Hỡi
này tâm, ngươi không
Bằng
lòng với ta chăng?
1111.
Việc này chỉ vì ta,
Ðây
không vì người khác,
Khi
đến thời vũ trang,
Sao
lại còn than khóc?
Thế
giới này toàn động,
Chờ
đợi là như vậy.
Nên
ta đã ra đi,
Tìm
cầu đạo bất tử.
1112.
Vị nói điều khó nói,
Tối
thượng loài hai chân,
Bậc
Y vương vĩ đại,
Ðánh
xe điều ngự người,
Với
tâm không tham dục,
Ngài
khéo chế ngự được,
Người
khó lòng chế ngự,
Chế
ngự được tâm người,
Vọng
động như con vượn.
1113.
Các dục có nhiều vẻ.
Dịu
ngọt, rất khả ý,
Ở
đây, hàng phàm phu,
Vô
trí, bị trói buộc.
Họ
muốn chịu đau khổ,
Khi
họ tìm tái sanh,
Dắt
dẫn bởi tâm họ,
Họ
chết trong địa ngục.
1114.
Trong khu rừng vang lên,
Tiếng
chim công, chim cò,
Chỗ
trú xứ ưu tiên,
Của
loài beo, loài cọp,
Ngươi
sống tại chỗ ấy,
Chớ
chờ đợi về thân,
Chớ
có quá đam mê,
Này
tâm, hãy khích lệ,
Hãy
khuyên ta như trước,
1115.
Hãy tu thiền, căn, lực
Hãy
tu định giác chi,
Hãy
giác chứng ba minh,
Trong
lời dạy đức Phật,
Này
tâm, hãy khích lệ,
Hãy
khuyên ta như trước.
1116.
Hãy tu tập con đường
Ðể
đạt được bất tử,
Ðường
đưa đến thể nhập,
Chỗ
đoạn diệt mọi khổ.
Con
đường có tám ngành,
Rửa
sạch mọi uế nhiễm.
Này
tâm, hãy khích lệ,
Hãy
khuyên ta như trước.
1117.
Hãy như lý quán sát,
Các
uẩn là đau khổ,
Hãy
từ bỏ xa ngươi,
Những
nguyên nhân đau khổ.
Ngay
trong thời hiện tại,
Hãy
chấm dứt đau khổ,
Này
tâm, hãy khích lệ,
Hãy
khuyên ta như trước.
1118.
Hãy như lý tuệ quán,
Là
vô thường, là khổ,
Là
không, là vô ngã,
Là
tà ác, sát hại,
Hãy
chế ngự tâm ngươi,
Chớ
để nó chạy loạn.
Này
tâm, hãy khích lệ,
Hãy
khuyên ta như trước.
1119.
Trọc đầu và xấu sắc,
Ði
đến bị nguyền rủa,
Khi
khất thực gia đình,
Tay
cầm hình đầu lâu,
Nay
ngươi có chú tâm,
Vào
lời dạy Bổn Sư,
Vào
lời Ðại ẩn sĩ,
Này
tâm, hãy khích lệ
Hãy
khuyên ta như trước.
1120.
Hãy đi trên con đường,
Tự
ngã khéo chế ngự,
Giữa
các nhà, tâm ý
Không
ái luyến các dục,
Như
trăng vào tháng tròn,
Không
có bợn mây mù.
Này
tâm, hãy khích lệ,
Hãy
khuyên ta như trước.
1121.
Hãy sống trong rừng núi,
Ăn
đồ ăn khất thực,
Sống
tại chỗ nghĩa địa,
Mặc
y lượm đống rác.
Chỉ
có ngồi không nằm
Luôn
vui hạnh Ðầu-đà,
Này
tâm, hãy khích lệ,
Hãy
khuyên ta như trước.
1122.
Như người đã trồng cây,
Liền
tìm cho được trái,
Nay
ngươi ước muốn trái,
Há
chặt rễ cây sao?
Này
tâm, thật giống như,
Ví
dụ ngươi đã làm,
Khi
ngươi khích lệ ta,
Trong
vô thường dao động.
1123.
Ngươi, vô sắc, cô độc,
Kẻ
lữ hành từ xa,
Nay
ta sẽ không làm,
Theo
lời nói của ngươi.
Các
dục là khổ đau,
Cay
đắng, sợ hãi lớn,
Tâm
hướng vọng Niết-bàn,
Ta
sẽ bước, đi tới.
1124.
Ta đi tới xuất gia,
Không
phải vì bất hạnh,
Không
đùa vô liêm sỉ,
Không
vì duyên tâm hứng,
Không
bị đày đi xa,
Không
vì nhân mạng sống,
Khi
ta đã bằng lòng,
Này
tâm, đối với ngươi.
1125.
Ít dục được tán dương,
Bởi
những bậc chân nhân,
Kể
cả đoạn giả dối,
Và
an tịnh đau khổ.
Như
vậy, hỡi này tâm,
Khi
ngươi khích lệ ta,
Còn
nay ngươi đi ngược,
Ðiều
ngươi trước quen làm.
1126.
Khát ái và vô minh,
Ðáng
thương và đáng ghét,
Sắc
đẹp và lạc thọ,
Dục
trưởng dưỡng hấp dẫn,
Tất
cả đã quăng bỏ,
Ta
không có cố gắng,
Ði
đến một lần nữa,
Những
đồ đã quăng bỏ.
1127.
Này tâm, khắp mọi nơi,
Ta
làm theo lời ngươi,
Trải
qua nhiều đời sống,
Ngươi
không tức giận ta,
Và
thân nội sanh này,
Là
lòng ngươi biết ơn!
Trên
đường luân hồi dài,
Khổ
do chính ngươi tạo.
1128.
Này tâm, chính ngươi làm
Tác
thành con người ta,
Chính
ngươi làm, ta thành,
Thành
một Bà-la-môn,
Thành
vua chúa hoàng tộc,
Một
ngày là người buôn,
Ngày
kia thành nô tỳ,
Hoặc
thành loại chư Thiên.
Tất
cả đều do ngươi,
Chính
do ngươi tác thành.
1129.
Chính do nhân nhà ngươi,
Chúng
ta thành Tu-la,
Chính
do ngươi tác thành,
Ta
rơi đáy địa ngục;
Một
thời thành súc sanh,
Một
thời thành ngạ quỷ,
Tất
cả đều do ngươi,
Chính
do ngươi tác thành.
1130.
Ngươi sẽ không lừa ta,
Nhiều
lần, nhiều thời nữa,
Như
những người phù thủy,
Bày
các trò ảo thuật,
Ngươi
chơi lừa phỉnh ta,
Như
chơi với người điên,
Này
tâm, hãy nói ta,
Chỗ
nào ta lỗi lầm.
1131.
Trước tâm này lang thang,
Chạy
chỗ này chỗ khác,
Chạy
chỗ nó ưa thích,
Chạy
chỗ nó vui sướng,
Nay
ta chế ngự tâm,
Với
như lý tư duy,
Như
câu móc chế ngự,
Nhiếp
phục con voi rừng.
1132.
Với ta, bậc Ðạo Sư,
Xác
định đời vô thường,
Ðời
không có trường cửu,
Ðời
không có kiên thực.
Này
tâm, hãy đẩy ta,
Nhảy
vào lời Phật dạy,
Khiến
ta vượt bộc lưu,
Rất
khó được vượt qua.
1133.
Ta nay đã xuất gia,
Trong
pháp Ðại ẩn sĩ
Những
người giống như ta,
Không
chấp nhận tổn thất.
1134.
Rừng, biển, sông, đất liền,
Bốn
phương, phụ trên dưới,
Tất
cả là vô thường,
Ba
hữu là hoạn nạn,
Này
tâm, hãy đi đâu?
Ngươi
sẽ hưởng an lạc.
1135.
Kìa, kìa, hỡi này tâm,
Ðích
ta thật vững chắc,
Người
sẽ làm được gì,
Khiến
ta phải quay lại,
Này
tâm, ta đâu còn,
Tùy
thuộc thế lực ngươi,
Không
ai chịu xúc chạm,
Cái
bị có hai miệng,
Gớm
ghiếc thay cái vật,
Ðầy
chín dòng chảy nước.
1136.
Ôi, ngươi sẽ ưa sống,
Trên
đảnh sườn núi cao,
Chỗ
ở đàn heo nai,
Hay
cảnh đẹp thiên nhiên,
Hay
trong núi rừng sâu,
Thấm
mát mưa nước mới,
Tại
đấy ngươi sẽ thích,
Ngươi
lấy hang làm nhà.
1137.
Loài chim lông cổ đẹp,
Với
mào đẹp, cánh đẹp,
Với
lông nhiều màu sắc,
Ðón
chào tiếng sấm vang,
Với
tiếng kêu dịu ngọt,
Chúng
sẽ làm ngươi thích,
Ngươi
tu tập thiền định,
Trong
núi rừng thâm sâu.
1138.
Khi trời đổ mưa xuống,
Trên
đám cỏ bón phân,
Và
trong rừng nở hoa.
Với
đầu hoa như mây,
Giữa
rừng, ta sẽ nằm,
Chẳng
khác gì khúc cây,
Ðối
ta, rất mềm dịu,
Thật
giống như giường bông.
1139.
Như vậy, ta sẽ làm,
Giống
như người chủ nhà,
Những
gì ta nhận được,
Ta
xem là vừa đủ,
Như
thợ da không nhác,
Khéo
làm cho nhuần nhuyễn,
Cái
bị bằng da mèo.
1140.
Như vậy ta sẽ làm,
Giống
như người chủ nhà,
Những
gì ta nhận được,
Ta
xem là vừa đủ,
Tinh
tấn ta dẫn ngươi,
Rơi
vào thế lực ta.
Như
voi say bị nài,
Khéo
dùng móc chế ngự.
1141.
Với ngươi khéo nhiếp phục,
Khéo
an trú vững vàng,
Như
người huấn luyện ngựa,
Với
con ngựa thuần thục,
Ta
có thể dấn bước
Trên
con đường an lành,
Con
đường được những vị
Hộ
trì tâm thường dùng.
1142.
Ta sẽ trói chặt ngươi,
Vào
đối tượng cần thiết,
Như
con voi bị dây
Trói
chặt vào cây cột.
Ta
khéo hộ trì ngươi,
Khéo
luyện với chánh niệm.
Nhờ
vậy, ngươi sẽ thành,
Không
dựa mọi sanh hữu.
1143.
Với tuệ, chặt tà đạo,
Với
lực, chận, hướng chánh
Thấy
tập khởi, diệt sanh,
Ngươi
sẽ là thừa tự
Bậc
phát ngôn tối thượng.
1144.
Này tâm, ngươi dẫn ta,
Ðến
ngôi làng thô lỗ,
Khiến
trú vào thế lực
Của
bốn tưởng điên đảo,
Hãy
đến, theo vị ấy
Vị
chặt đứt kiết sử,
Bậc
có tâm đại bi,
Bậc
Mâu-ni vĩ đại.
1145.
Như loài thú tự do,
Trong
ngôi rừng đẹp đẽ.
Ngươi
vào núi xinh đẹp
Có
mây làm vòng hoa,
Tại
đấy, không có người,
Trong
rừng ngươi sẽ thích,
Nay
tâm, chắc chắn vậy
Ngươi
sẽ đến bờ kia.
1146.
Những ai còn rơi vào,
Thế
lực ý muốn ngươi,
Nam
nhân và nữ nhân,
Hưởng
an lạc ngươi cho
Không
trí, bị rơi vào
Trong
thế lực Ác-ma,
Ai
ưa thích sanh hữu,
Sẽ
là thuộc hạ ngươi,
Hỡi
này tâm của ta.
Chương
XX
Phẩm
Sáu Mươi Kệ
(CCLXIII)
Mahà-Moggallàna (Thera. 104)
Ðời
ngài được kể với đời ngài Sàriputta (CCLIX). Sau khi xuất
gia một tuần, ở gần làng Kallavàla tại Magadha, trong khi du
hành ngài bị hôn trầm thụy miên và được Thế Tôn dạy:
'Này Moggallàna, biếng nhác không giống với im lặng của bậc
Thánh'. Ngài liền tinh tấn chế ngự sự yếu đuối của mình.
Khi chỉ nghe đề tài về các giới do đức Phật giảng dạy,
ngài chứng được quả A-la-hán. Một thời, Thế Tôn ở tại
Jetavana, xác chứng ngài là bậc thần thông đệ nhất. Các
bài kệ của ngài được kiết tập thứ nhất.
I
Khích
lệ các Tỷ-kheo:
1147.
Chúng ta người ở rừng,
Sống
đồ ăn khất thực,
Bằng
lòng với miếng ăn
Ðược
bỏ rơi trong bát,
Phá
nát ma, ma quân,
Nếu
nội tâm khéo định.
1148.
Chúng ta người ở rừng,
Sống
đồ ăn khất thực,
Bằng
lòng với miếng ăn,
Ðược
bỏ rơi trong bát,
Dẹp
sạch ma, ma quân,
Như
voi, nhà bằng lau.
1149.
Chúng ta ở gốc cây,
Nhẫn
nại, tâm kiên trì,
Bằng
lòng với miếng ăn,
Ðược
bỏ rơi trong bát,
Phá
nát ma, ma quân,
Nếu
nội tâm khéo định
1150.
Chúng ta ở gốc cây,
Nhẫn
nại, tâm kiên trì,
Bằng
lòng với miếng ăn,
Ðược
bỏ rơi trong bát,
Dẹp
sạch ma, ma quân,
Như
voi, nhà bằng lau.
II
Với
một kỹ nữ muốn cám dỗ ngài:
1151.
Với am, sườn bằng xương,
May
dính với gân thịt,
Gớm
thay, đầy hơi thối!
Mang
tay chân người khác,
Làm
thân thể của mình!
1152.
Cái bị đựng đầy phân,
Ðược
da bao bọc lại,
Ôi
con Quỷ cái kia!
Với
vú bị ung nhọt,
Thân
Ngươi, chín dòng nước
Luôn
luôn được tuôn chảy.
1153.
Thân Ngươi chín dòng nước
Hôi
thối, tạo trói buộc,
Tỷ-kheo
tránh thân ấy,
Như
kẻ sạch tránh phân.
1154.
Nếu người khác biết Ngươi
Như
ta biết được Ngươi,
Người
ấy tránh xa Ngươi,
Như
khi mưa tránh phân.
Người
đàn bà ấy cảm thấy hổ thẹn, đảnh lễ vị Truởng lão
rồi thưa:
1155.
Thật là vậy, Ðại hùng,
Như
Sa-môn, ngài nói:
Ở
đây, có kẻ đắm,
Như
bò già trong bùn.
Bậc
Trưởng lão:
1156.
Ai nghĩ có thể nhuộm,
Bầu
trời với màu nghệ,
Hoặc
với màu sắc khác
Kẻ
ấy chỉ thất bại.
1157.
Tâm ta giống trời ấy,
Nội
tâm khéo định tĩnh,
Chớ
đem ác tâm đến
Như
chim rơi đống lửa.
1158.
Hãy xem bóng trang sức
Nhóm
vết thương tích tụ,
Bệnh
hoạn nhiều tham tưởng
Nhưng
không gì trường cửu.
III
Khi
được tin Trưởng lão Sàriputta viên tịch:
1159.
Ôi, thật hãi hùng thay!
Ôi!
Lông tóc dựng ngược,
Bậc
đủ nhiều đức tánh,
Xá-lợi-phất
nhập diệt.
1160.
Các hành là vô thường
Có
sanh phải có diệt,
Sau
khi sanh, chúng diệt,
Nhiếp
chúng là an lạc.
IV
Nói
về Trưởng lão Tissa:
1161.
Những ai thấy năm uẩn,
Là
khác, không phải ngã,
Quán
thấu vật tế nhị,
Như
tên đâm mũi tóc.
1162.
Những ai thấy các hành,
Là
khác, không phải ngã,
Chúng
thấu triệt tế nhị,
Như
têm đâm mũi tóc.
V
Nói
về Trưởng lão Vaddhamàna
1163.
Như bị kiếm chém xuống,
Như
bị lửa cháy đầu,
Vị
Tỷ-kheo xuất gia,
Chánh
niệm, đoạn tham dục.
1164.
Như bị kiếm chém xuống,
Như
bị lửa cháy đầu,
Vị
Tỷ-kheo xuất gia,
Chánh
niệm, đoạn tham hữu.
VI
Tuyên
bố liên hệ đến kinh Pàsàdakamma:
1165.
Ðược khuyên bảo bởi vị,
Ðã
tu tập tự ngã,
Mang
thân này tối hậu,
Với
ngón chân ta làm,
Rung
chuyển cả lâu đài,
Migàramàtu.
VII
Nói
liên hệ với một Tỷ-kheo:
1166.
Không với nhu nhược này,
Không
với ít lực này
Có
thể chứng Niết-bàn,
Giải
thoát mọi buộc ràng.
1167.
Vị Tỷ-kheo trẻ này,
Con
người tối thượng này,
Chiến
thắng ma, ma quân,
Mang
thân này tối hậu.
VIII
Về
đời sống viễn ly của mình:
1168.
Giữa đồi Vebhàra,
Giữa
đồi Pandava,
Sét
đánh vào hang động,
Con
bậc Vô tỷ ấy,
Ðã
đi vào hang núi,
Ðang
ngồi nhập thiền định.
IX
Ði
vào Ràjagaha (Vương Xá) để khất thực, ngài khuyến giáo
người cháu của Sàriputta, một Bà-la-môn có tà kiến, người
này thấy ngài Ðại-ca-diếp, cảm thấy ghê tởm, như thấy
được một nữ thần bất hạnh.
An
tịnh và thoải mái,
Ẩn
sĩ trú vùng xa,
Thừa
tự Phật tối thắng,
Ðược
Phạm thiên tán thán.
1169.
Hỡi này Bà-la-môn,
Hãy
đảnh lễ Ca-diếp,
Ngài
là con thừa tự,
Bậc
Giác Ngộ tối thắng,
Ẩn
sĩ trú vùng xa
An
tịnh và thoải mái.
1170.
Vị trải trăm đời sống,
Ðều
thuộc dòng Phạm chí,
Học
giả, giỏi Vệ-đà,
Sanh
tiếp tục làm người.
1171.
Dầu là bậc giáo sư,
Thấu
triệt ba Vệ-đà,
Ðảnh
lễ vị như vậy,
Chỉ
giá một mười sáu.
1172.
Vị ấy trước bữa ăn,
Thấy
được tám giải thoát.
Thuận
hướng và nghịch hướng.
Rồi
mới đi khất thực.
1173.
Chớ có đến tấn công
Một
Tỷ-kheo như vậy,
Hỡi
này Bà-la-môn,
Chớ
có đào tự ngã,
Hãy
khởi ý tín nhiệm
Vị
La hán như vậy,
Chấp
tay đảnh lễ gấp,
Chớ
để đầu ông hỏng.
X
Khi
khuyến giáo một Tỷ-kheo tên Potthila:
1174.
Người không thấy diệu pháp,
Dẫn
đầu về luân hồi,
Chạy
theo hướng tà đạo,
Ðường
cong không nên đi.
1175.
Như con sâu dính phân,
Say
mê theo các hành,
Ðắm
sâu vào lợi danh,
Trống
rỗng, hỡi Pôt-thi.
XI
Tán
thán Tôn giả Sàriputta:
1176.
Hãy xem Tôn giả này
Xá-lợi-phất
đẹp sắc,
Giải
thoát cả hai phần,
Nội
tâm khéo định tĩnh.
1177.
Không bị tên khát ái,
Các
kiết sử đoạn tận,
Ba
minh đã đạt được,
Sát
hại xong thần chết,
Ðáng
được người cúng dường,
Là
ruộng phước vô thượng.
XII
Do
ngài Sàriputta nói lời tán thán Moggallàna:
1178.
Có nhiều chư Thiên này,
Có
thần lực danh xưng,
Ðến
mười ngàn chư Thiên
Tất
cả Phạm phụ Thiên.
Họ
đứng chấp hai tay
Ðảnh
lễ Mục-kiền-liên.
1179.
Ðảnh lễ thượng sanh nhân!
Ðảnh
lễ vô thượng nhân!
Lậu
hoặc ngài đã đoạn,
Ngài
xứng được cúng dường.
1180.
Ðược trời người đảnh lễ,
Ðã
sanh, bậc thắng chết,
Như
sen không dính nước,
Ngài
không dính các hành.
1181.
Vị trong một sát-na,
Biết
đời, dưới ngàn cách,
Chẳng
khác Ðại Phạm Thiên,
Tỷ-kheo
ấy Thiên tử
Ðầy
đủ thần thông lực,
Thấy
được những thời cơ
Chết
sống của mọi loài.
XIII
Mahà-Moggàllàna
nói lên, xác nhận khả năng của mình:
1182.
Xá-lợi-phất với tuệ,
Giới
hạnh, an tịnh tâm,
Tỷ-kheo
đến bờ kia,
Vị
ấy thật tối thượng.
1183.
Nhưng ta ngay giây phút
Ðến
trăm ngàn triệu lần,
Biến
hóa tự thân được,
Ta
thiện xảo biến hóa,
Thuần
thục với thần thông.
1184.
Dòng họ Môg-gal-la,
Sống
thiền định trí tuệ
Ði
đến bờ bên kia,
Không
ái giáo pháp đạt.
Hiền
trí, các căn tịnh,
Chặt
đứt các trói buộc,
Như
voi bựt đứt ngang,
Dây
leo đã mục nát.
1185.
Ta hầu hạ Bổn Sư,
Lời
Phật dạy làm xong,
Gánh
nặng đã đặt xuống,
Gốc
sanh hữu nhổ sạch.
1186.
Sanh của ta đã tận,
Chiến
thắng dạy làm xong,
Lưới
danh được đoạn diệt,
Gốc
sanh hữu nhổ lên,
Mục
đích hạnh xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Ðích
ấy đã đạt được,
Mọi
kiết sử diệt xong.
La
mắng Màra đã vào và ra khỏi bụng ngài:
1187.
Ðịa ngục ấy thế nào,
Dù
si bị nấu sôi,
Vì
đánh Vidhura,
Ðệ
tử Kà-kùsandha.
1188.
Có trăm loại cọc sắt,
Tự
cảm thọ riêng biệt,
Ðịa
ngục là như vậy,
Dù
si bị nấu sôi,
Vì
đánh Vidhura,
Ðệ
tử Kakusandha.
1189.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu
biết rõ như vậy,
Vì
người đánh Tỷ-kheo,
Kanha
chịu khổ thọ.
1190.
Dựng lên giữa biển cả,
Cung
điện trải nhiều kiếp,
Bằng
ngọc chói lưu ly,
Huy
hoàng cùng chiếu diệu,
Tiên
nữ múa tại đây,
Trang
sức màu dị biệt.
1191.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu
biết rõ như vậy,
Vì
ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha
chịu khổ thọ.
1192.
Ai Thế Tôn khuyến khích,
Chúng
Tỷ-kheo chứng kiến,
Với
ngón chân rung chuyển
Lầu
mẹ Migàra.
1193.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu
biết rõ như vậy,
Vì
ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha
chịu khổ thọ.
1194.
Với ngón chân rung chuyển,
Lầu
Vi-ja-yan-ta,
Ðầy
đủ thần thông lực,
Chư
Thiên cũng hoảng sợ.
1195.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu
biết rõ như vậy,
Vì
ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha
chịu khổ thọ.
1196.
Ai hỏi vị Sakka,
Tại
lầu Vijayan,
Hiền
giả, ngươi có biết,
Ái
tận được giải thoát?
Sakka
đã chân thành,
Trả
lời câu được hỏi.
1197.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu
biết rõ như vậy,
Vì
ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha
chịu khổ thọ.
1198.
Ai từng hỏi Phạm thiên
Tại
hội chúng Thiện Pháp:
Hiền
giả nay vẫn chấp,
Các
tà kiến thuở xưa,
Có
thấy cảnh huy hoàng
Phạm
thiên cảnh thiên giới.
1199.
Brahmà đã chân thành,
Tiếp
tục đáp câu hỏi:
Tôn
giả tôi không chấp
Các
tà kiến thuở xưa.
1200.
Tôi thấy sự huy hoàng
Phạm
thiên cảnh thiên giới,
Sao
nay tôi nói được,
Tôi
thường hằng thường tại?
1201.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu
biết rõ như vậy,
Vì
ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha
chịu khổ thọ.
1202.
Ai với sự giải thoát,
Cảm
xúc Cao Sơn đảnh,
Rừng
đông Videha
Và
người nằm trên đất,
1203.
Tỷ-kheo đệ tử Phật,
Hiểu
biết rõ như vậy.
Vì
ngươi đánh Tỷ-kheo,
Kanha
chịu khổ thọ.
1204.
Thật sự lửa không nghĩ:
'Ta
đốt cháy kẻ ngu',
Kẻ
ngu đột kích lửa,
Tự
mình bị thiêu cháy.
1205.
Cũng vậy này Ác-ma,
Ngươi
đột kích Như Lai,
Tự
đốt mình cháy mình,
Như
kẻ ngu chạm lửa.
1206.
Ác ma tạo ác nghiệp,
Do
nhiễu hại Như Lai,
Ngươi
nghĩ chăng Ác-ma,
Ác
quả không đến ta.
1201.
Ðiều ác Ác ma làm,
Chất
chứa đã lâu rồi,
Ác-ma,
hãy tránh Phật,
Chớ
vọng tưởng Tỷ-kheo.
1208.
Tỷ-kheo chống Ác ma,
Tại
rừng Bhe-kalà,
Vị
Dạ-xoa thất vọng,
Biến
mất tại chỗ ấy.
Như
vậy, Tôn giả Mahà-Moggallàna nói lên những bài kệ.