Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
Mười Bảy - Phẩm Ba Mươi Kệ
258.
Phussa
259.
Sàriputta
260.
Ananda
Chương
Mười Tám - Phẩm Bốn Mươi Kệ
261.
Mahà-Kassapa
Chương
XVII
Phẩm
Ba Mươi Kệ
(CCLVIII)
Phussa (Thera. 87)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị vua trị
vì một tỉnh, được đặt tên là Phussa, và được giáo dục
trong mọi tài năng của thanh niên hoàng tộc. Nhưng ngài có
tâm hướng khác thường, không thiên về thế tục, nên khi
nghe một vị Trưởng lão thuyết pháp, ngài khởi lòng tin và
xuất gia. Tu tập thiền định, ngài phát triển thiền quán
và sau một thời gian, chứng được sáu thắng trí.
Một
hôm, một ẩn sĩ tên Pandara-gotta nghe ngài thuyết pháp, thấy
xung quanh có một số Tỷ-kheo giới đức nghiêm minh, tu tập,
chế ngự thân và tâm, vị ẩn sĩ suy nghĩ: 'Hệ thống này
thật đáng tin tưởng, mong rằng hệ thống này được tồn
tại!'. Rồi vị ấy hỏi ngài về tương lai sự tiến bộ
các Tỷ-kheo như thế nào? Ngài trả lời với những bài kệ
như sau, riêng bài kệ 949 do các nhà kiết tập đặt thêm vào:
949.
ẩn sĩ Pan-đa-ra,
Thấy
nhiều vị thành tín,
Tự
ngã có tu tập,
Khéo
hộ trì chế ngự
Ngài
mới đặt câu hỏi,
Với
vị tên Phussa.
950.
Trong thời gian tương lai,
Sẽ
có ước muốn gì?
Sẽ
có chí nguyện gì?
Sẽ
có cử chỉ gì?
Mong
ngài hãy trả lời,
Câu
hỏi của chúng tôi.
951.
ẩn sĩ Pan-đa-ra,
Hãy
nghe lời ta nói,
Hãy
thọ trì cẩn thận,
Ta
sẽ nói tương lai.
952.
Phẫn nộ và hiềm hận,
Che
đậy và cứng đầu,
Nhiều
lừa đảo ganh tị,
Tương
lai nhiều loại vậy,
953.
Họ tự cho có trí,
Pháp
sâu, chỉ đến bờ,
Họ
khinh nhờn Chánh pháp,
Họ
không kính trọng nhau.
954.
Nhiều nguy hiểm ở đời,
Sẽ
xảy ra tương lai,
Pháp
được khéo giảng này,
Kẻ
ngu làm uế nhiễm.
955.
Trong Tăng chúng, những vị,
Có
đức hạnh hạ liệt,
Họ
thường hay tuyên bố,
Có
tự tín, không sợ,
Kẻ
không học, lắm lời,
Sẽ
đứng vào thế mạnh.
956.
Trong Tăng chúng, những vị,
Có
giới hạnh tốt đẹp,
Khi
họ có tuyên bố,
Tuyên
bố đúng sự thật,
Họ
thường ở thể yếu,
Hổ
thẹn thiếu nhiệt thành.
957.
Bạc, vàng và đồng ruộng,,
Ðất
đai, dê và cừu,
Nô
tỳ nữ và trai,
Kẻ
ngu si vô trí,
Sẽ
thâu nhận tất cả,
Trong
tương lai là vậy.
958.
Kẻ ngu dễ nóng giận,
Không
định tĩnh trong giới,
Kiêu
ngạo, đi đó đây,
Như
thú ưa đánh nhau.
959.
Họ trở thành tháo động,
Thường
đắp y màu xanh,
Lừa
đảo và ngoan cố,
Lắm
mồm, ăn nói giả,
Họ
bắt chước giả bộ,
Như
bậc Thánh thời xưa.
960.
Với tóc bôi dầu láng,
Dao
động, mắt vẽ xanh,
Ðắp
y màu trắng ngà,
Họ
qua lại trên đường.
961.
Y vàng được khéo nhuộm,
Lá
cờ bậc La-hán,
Ðược
các bậc giải thoát,
Ðắp
mang không nhàm chán,
Còn
họ chán y vàng,
Ái
luyến đắp màu trắng.
962.
Họ trở thành tham lợi,
Biếng
nhác, ít tinh cần,
Khó
sống rừng hoang vu,
Thích
sống gần xóm làng.
963.
Những ai sợ được lợi,
Luôn
luôn ưa tà mạng,
Họ
học đòi người ấy,
Thân
cận, không tự chế.
964.
Những ai không được lợi,
Họ
không trọng không kính,
Bậc
khả kính, Hiền trí,
Họ
không có thân cận.
965.
Khinh cờ hiệu của mình,
Ưa
thích màu ngoại sắc,
Có
kẻ mang y trắng,
Lá
cờ hiệu ngoại đạo.
966.
Không kính y màu vàng,
Thời
ấy họ là vậy,
Chờ
đợi màu y vàng,
Không
phải của Tỷ-kheo.
967.
Bị đau khổ chinh phục,
Bị
quặn đau tên đâm,
Chờ
đợi đại khủng bố.
Voi
ta không nghĩ nghì.
968.
Khi bậc sáu ngà thấy,
Cờ
La-hán khéo nhuộm,
Voi
nói lên những kệ,
Liên
hệ đến mục đích.
969.
Ai sẽ mặc cà-sa,
Tâm
chưa rời uế trược,
Không
tự chế, không thực,
Không
xứng áo cà-sa.
970.
Ai rời bỏ uế trược,
Khéo
định trong giới luật,
Tự
nhiếp phục chơn thực,
Thật
xứng áo cà-sa.
971.
Phá giới, trí hạ liệt,
Không
tự chế, tham dục,
Tâm
loạn, thiếu phấn chấn,
Không
xứng áo cà-sa.
972.
Ai đầy đủ giới hạnh,
Ly
tham, có định tĩnh,
Tâm
tư thật trinh bạch,
Vị
ấy xứng áo cà-sa.
973.
Ai kiêu ngạo phóng đãng,
Ngu
si, không giới hạnh,
Xứng
đáng mặc áo trắng,
Làm
gì có cà-sa.
974.
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,
Tâm
uế, không tin kính,
Tương
lai sẽ ức hiếp,
Ðối
vị có tâm từ.
975.
Kẻ ngu mang y áo,
Dầu
được Trưởng lão dạy,
Liệt
trí sẽ không nghe,
Không
tự chế, tham dục.
976.
Kẻ ngu dầu dạy vậy,
Không
có kính trọng nhau,
Sẽ
không có vâng lời,
Lời
dạy giáo thọ sư,
Giống
như ngựa bất kham,
Ðối
với người đánh xe.
977.
Như vậy, thời tương lai,
Hành
tung sẽ là vậy.
Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ni,
Khi
thời tối hậu đến,
Hãy
ôn hòa thân ái,
Hãy
cung kính lẫn nhau.
978.
Ðại nạn ấy chưa đến,
Trước
khi đại nạn đến,
Hãy
ôn hòa thân ái,
Hãy
cung kính lẫn nhau.
979.
Hãy có tâm từ bi,
Khéo
chế ngự trong giới,
Chuyên
tinh tấn nỗ lực,
Thường
kiên trì phấn chấn.
980.
Thấy nguy hiểm phóng dật,
Không
phóng dật an ổn,
Hãy
tu Tám Thánh đạo,
Giác
chứng đạo bất tử.
Như
vậy vị Trưởng lão nói với Tăng chúng của mình. Các bài
kệ này là lời nói chánh trí của ngài.
(CCLIX)
Sàriputta (Thera. 89)
Ðời
của ngài và đời của Moggallàna gắn liền với nhau. Trong
thời đức Phật tại thế, Sàriputta sanh tại thành Upatissa,
không xa Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Rùpasàri; còn
Moggallàna sanh ở thành Kolita, không xa thành Vương Xá (Ràjagaha)
bao nhiêu, mẹ là Moggali. Vì cả hai là con của vị gia trưởng
nên được đặt tên là Upatissa và Kolita. Cả hai đứa trẻ
được nuôi dưỡng trong giàu sang và thiện xảo mọi khả
năng.Trong một hội chợ lớn ở Vương Xá (Ràjagaha) vì tâm
tư thuần thục, cả hai đều thấy tất cả quần chúng hội
một trăm năm sau, sẽ bị thần chết mang đi, nên cả hai lo
âu đi tìm con đường giải thoát. Cả hai xuất gia dưới sự
chỉ đạo của Sanjaya, hẹn nhau ai chứng quả bất tử trước,
sẽ nói cho người kia biết.
Dưới
sự chỉ đạo của Sanjaya, cả hai không tìm được đạo giải
thoát, và sau khi tìm hỏi các Sa-môn, Bà-la-môn gặp được
Assajì và nhờ Assajì, gặp được Thế Tôn, cả hai đều xin
xuất gia và được đức Phật độ cho làm Tỷ-kheo với câu:
'Thiện lai Tỷ-kheo'.
Chứng
được quả Dự lưu nhờ Assajì tóm tắt câu kệ, Moggallàna,
bảy ngày sau khi xuất gia, tại làng Kallavàla ở Magadha, sau
khi nhiếp phục được hôn trầm thụy miên, nhờ lời Thế
Tôn khích lệ, sau khi nghe lời dạy về tu các giới, chứng
được quả A-la-hán. Còn Sàriputta, nửa tháng sau khi xuất
gia khi ở cùng đức Bổn Sư tại hang Sukarakhata ở Vương Xá
(Ràjagaha) cũng được chứng quả A-la-hán. Về sau, tại Jetavana
Thế Tôn xác chứng Sàriputta là đệ tử đệ nhất về trí
tuệ và thiền quán, và Sàriputta sau khi được tôn làm nguyên
soái Chánh pháp, một hôm nói lên chánh trí của mình, trước
các đệ tử:
981.
Ai tùy theo năng lực,
Có
giới, tịnh, chánh niệm
Không
phóng dật hành trì,
Sở
hành đúng tư duy,
Thích
hướng nội, khéo định,
Ðơn
độc, biết tri túc,
Với
sở hành như vậy,
Vị
ấy gọi Tỷ-kheo.
982.
Ăn đồ ướt hay khô,
Không
ăn quá thỏa mãn,
Bụng
trống, ăn tiết độ,
Tỷ-kheo
trú chánh niệm.
983.
Ăn bốn, năm miếng xong,
Rồi
hãy uống nước uống,
Thật
đủ trú thoải mái,
Với
Tỷ-kheo tinh cần.
984.
Nhận lấy đồ hợp pháp,
Y
áo đáp nhu cầu,
Thật
đủ trú thoải mái,
Với
Tỷ-kheo tinh cần.
985.
Khi ngồi thế kiết-già,
Ðầu
gối phải mưa ướt,
Thật
đủ trú thoải mái,
Với
Tỷ-kheo tinh cần.
986.
Ai xem lạc là khổ,
Ai
xem khổ như tên,
Ðứng
chặng giữa cả hai,
Do
đâu, đời nắm được?
987.
Không cho ta ác dục,
Biếng
nhác tinh cần kém,
Ít
nghe, không tín kính,
Do
đâu, đời nắm được?
988.
Nghe nhiều, có hiền trí,
Khéo
định tĩnh trong giới,
Chuyên
chú an chỉ tâm,
Hãy
đứng lên trên đầu.
989.
Ai chuyên tâm hý luận,
Như
thú ưa hý luận,
Rơi
khỏi, trật Niết-bàn,
Vô
thượng, thoát khổ ách.
990.
Ai từ bỏ hý luận,
Thích
đạo phi hý luận,
Ði
đến được Niết-bàn,
Vô
thượng, thoát khổ ách.
Rồi
vị Trưởng lão, một hôm thấy được chỗ ở của người
em Revata (XLII, CCXLIV) đang ở, một khu rừng không nước đầy
gai góc, ngài tán thán người em và nói:
991.
Tại làng hay trong rừng,
Thung
lũng hay đồi cao,
Chỗ
nào La-hán trú,
Ðất
ấy thật khả ái.
992.
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ
người phàm không ưa,
Vị
ly tham sẽ thích,
Vì
không tìm dục lạc.
Rồi
vị Trưởng lão,với lòng từ mẫn đối với Ràdha một Bà-la-môn
bất hạnh, giúp Ràdha xuất gia tu hành. Về sau, khi đang du
hành, ngài khích lệ Ràdha, bằng lòng với cử chỉ khiêm tốn
của Ràdha:
993.
Như người chỉ của chôn,
Cũng
vậy, người thấy lỗi,
Nói
điều người trí trách,
Hãy
gần người trí vậy.
Thân
cận người như vậy,
Chỉ
tốt hơn, không xấu.
Một
hôm, bậc Ðạo Sư không đi đến để giải tán nhóm Tăng
chúng của Assaji-Runabbasu được tổ chức ở đồi Kità, Sàriputta
được cử đi cùng với Moggallàna và các đệ tử của mình.
Khi lời khuyên của Sàriputta không được nghe theo, ngài nói
như sau:
994.
Cần phải khuyên, phải dạy,
Phải
ngăn chặn bất thiện,
Làm
vậy, người thiện thương,
Người
bất thiện không ưa.
Khi
các Tỷ-kheo nói rằng chính du sĩ Dìghanakha, được Thế Tôn
giảng dạy, được sửa soạn bởi hành động quá khứ, có
thể làm nhiệm vụ ấy, Sàriputta can thiệp, nói rằng không
phải:
995.
Thế Tôn, bậc có mắt,
Thuyết
pháp cho người khác,
Khi
pháp được thuyết giảng,
Ta
lắng tai nhiệt tình.
996.
Ta nghe, không uổng phí,
Giải
thoát không lậu hoặc,
Không
cần biết đời trước,
Không
cần được thiên nhãn.
997.
Ta không có phát nguyện,
Chứng
được tha tâm thông,
Biết
chúng sanh sống chết,
Hay
nhĩ giới thanh tịnh.
Ba
câu kệ tiếp được nói lên về ngài, khi Sàriputta trú ở
tinh xá hang bồ câu, không có bị thương khi bị quỷ Dạ-xoa
đánh:
998.
Ngồi dưới một gốc cây,
Ðầu
trọc, đắp đại y,
Trưởng
lão tuệ đệ nhất,
U-pa-tis
tu thiền.
999.
Ðầy đủ thiền vô tầm
Ðệ
tử bậc Chánh giác,
Với
im lặng bậc Thánh,
Ngay
lúc ấy, đạt được
1000.
Giống như ngọn núi đá,
Không
động, khéo vững trú,
Cũng
vậy, vị Tỷ-kheo,
Ðã
đoạn diệt si ám,
Vị
ấy như ngọn núi,
Không
có bị dao động.
Một
hôm, bậc Trưởng lão không chú tâm, để tấm y rơi xuống.
Một Sa-di nói: 'Thưa Tôn giả y cần phải đắp xung quanh thân
mình'. Tôn giả tán thán lời nói của người Sa-di và đắp
lại tấm y trên thân. Và nói lên điều lỗi của mình, ngài
nói bài kệ:
1001.
Người không có uế nhiễm,
Luôn
tầm cầu thanh tịnh,
Ác
nhẹ như đầu lông,
Xem
nặng như mây trời.
Rồi
ngài nêu rõ sự xả ly của ngài đối với vấn đề sống
chết.
1002.
Ta không hoan hỷ chết,
Ta
không hoan hỷ sống,
Ta
sẽ bỏ thân này,
Tỉnh
giác và chánh niệm.
1003.
Ta không hoan hỷ chết,
Ta
không hoan hỷ sống,
Ta
sẽ bỏ thân này,
Như
thợ làm việc xong.
Rồi
khi thuyết pháp, ngài nói lên những bài kệ:
1004.
Cả hai chết, không chết,
Sau
đời hay trước đời,
Hãy
dấn thân tiến bước,
Chớ
để hư, uổng phí,
Dầu
một khắc, sát-na,
Chớ
để uổng phí qua.
1005.
Như ngôi thành biên địa,
Ðược
bảo vệ trong ngoài,
Như
vậy, hộ tự ngã,
Chớ
để phí sát-na,
Sát-na
qua, sầu muộn,
Chịu
khổ trong địa ngục.
Rồi
một hôm, thấy Tôn giả MahaKotthita, ngài nói lên ba câu kệ,
tán thán khả năng tốt đẹp của MahàKotthita.
1006.
Ðạt tịch tịnh, chỉ tức,
Ðọc
chú, không cống cao,
Quét
sạch các ác pháp,
Như
gió quét lá cây.
1007.
Ðạt tịch tịnh, chỉ tức,
Ðọc
chú, không cống cao,
Gạt
ngoài các ác pháp,
Như
gió quét lá cây.
1008.
Ðạt tịch tịnh an lặng,
Ý
trong sáng không nhiễm,
Bậc
trì giới trọn lành,
Có
thể dứt đau khổ.
Câu
kệ tiếp nói về các Tỷ-kheo xứ Vajjì tin tưởng ở Devadatta
và chấp nhận giáo lý của Devadatta:
1009.
Có người không ai tin,
Tại
gia hay xuất gia,
Những
ai trước là tốt,
Về
sau trở thành xấu,
Hoặc
trước là người xấu.
Sau
trở thành người tốt.
1010.
Hạng Tỷ-kheo tham dục,
Sống
hôn trầm thụy miên,
Trạo
cử và nghi ngờ,
Tâm
đủ năm phiền não.
1011.Với
ai, đối cả hai,
Ðược
trọng, không được trọng,
Thiền
định, không dao động,
An
trú không phóng dật.
1012.
Thiền tư luôn kiên trì,
Tuệ
quán, kiến tế nhị,
Ưa
thích chấp thủ diệt,
Vị
ấy gọi chân nhân.
Ðể
phân biệt sự sai khác, lấy Bổn Sư và mình làm thí dụ,
ngài nói lên những bài kệ như sau:
1013.
Biển lớn và đất lớn,
Núi
và các phương trời,
Không
ví dụ sánh được,
Phật,
giải thoát thù thắng.
1014.
Trưởng lão chuyển pháp luân,
Bậc
đại trí, thiền định,
Như
đất, nước và lửa,
Không
tham không ghét bỏ.
1015.
Ðạt được tuệ tối thắng,
Ðại
giác, đại Mâu-ni,
Không
chậm, tỏ chậm chạp
Thường
sống thật thanh lương.
Ðể
nêu rõ bổn phận của ngài đã làm xong, ngài nói:
1016.
Ta hầu hạ Bổn Sư,
Lời
Phật dạy làm xong,
Gánh
nặng đã đặt xuống,
Gốc
sanh hữu nhổ sạch.
Và
khi ngài sắp nhận Niết-bàn, ngài giảng dạy các Tỷ-kheo
đang họp xung quanh ngài như sau:
1017.
Tinh cần, chớ phóng dật,
Ðây
lời giáo huấn ta!
Ta
sẽ nhập Niết-bàn,
Ta
thoát mọi sanh y.
(XXLX)
Ananda (Thera. 91)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh trong gia đình Thích-ca
Amitedana. Vì các bà con nói ngài sanh đem hoan hỷ cho gia đình,
nên được đặt tên là Ananda (Khánh Hỷ). Khi lớn lên, các
sự kiện xuất gia, giác ngộ, chuyển Pháp luân được diễn
ra, và sau khi Thế Tôn viếng thăm Kapilavatthu, ngài xuất gia
với Bhaddiya và các người khác và được Thế Tôn thế độ
cho. Sau khi nghe bài thuyết pháp của Punna Mantàni, ngài chứng
được Sơ quả.
Trong
hai mươi năm đầu, Thế Tôn không có thị giả riêng, khi thì
Nàgasamàla, khi thì Nàgita, khi thì Upavàna, Sunakkhatta, Sa-di Cunda,
Sàgata, Meghiya. Thế Tôn không có lựa chọn ai làm thị giả
đặc biệt. Sau Thế Tôn khi đã năm mươi sáu tuổi, gợi ý
muốn có một thị giả thường trực, có Tỷ-kheo đề nghị
Ananda và Ananda chỉ nhận lời nếu Thế Tôn chịu từ chối
bốn việc và chấp nhận bốn việc. Từ chối không cho Ananda,
y, đồ ăn, một phòng riêng và mời ăn, vì nếu không từ
chối thời Ananda bị hiểu lầm là hầu hạ Thế Tôn để
được y, đồ ăn khất thực, phòng xá và mời ăn. Chấp nhận
cho Ananda bốn việc là nếu Ananda được mời ăn, Thế Tôn
bằng lòng đi dự; Thế Tôn bằng lòng gặp những người từ
xa đi đến và do Ananda giới thiệu; Thế Tôn chấp nhận cho
Ananda yết kiến nếu Ananda gặp phân vân khó xử; Thế Tôn
sẽ giảng lại những giáo lý ngài dạy khi Ananda vắng mặt.
Nếu Thế Tôn không chấp nhận bốn điều này, thời sự hầu
hạ của Ananda không đem lại thiện quả gì. Thế Tôn chấp
nhận điều Ananda yêu cầu.
Từ
hôm ấy, Ananda hầu hạ Thế Tôn, đem nước, đem tăm xỉa
răng, rửa chân, đi theo Thế Tôn, quét phòng cho Thế Tôn. Ban
ngày, Ananda ở một bên đức Phật, nhắc nhở những điều
cần làm; ban đêm cầm đèn và gậy. Ananda đi xung quanh phòng
đức Phật sẵn sàng đáp ứng nếu Thế Tôn có gọi. Thế
Tôn tại Jetavana, xác chứng Ananda là vị Tỷ-kheo đệ nhất
về năm phương diện: Ða văn, tâm tư cảnh giác, sức mạnh
đi bộ, lòng kiên trì và sự hầu hạ chu đáo. Như vậy, Ananda
sau khi Thế Tôn nhập diệt vẫn chưa chứng quả A-la-hán, và
đêm trước khi kỳ kiết tập thứ nhất được tổ chức,
ngài phát tâm tinh cần tinh tấn, thiền quán suốt đêm, trong
mái hiên nhưng chưa có hiệu quả. Rồi ngài vào phòng ngồi
trên giường, muốn nằm xuống và khi đầu chưa đụng chiếc
gối, chân chưa rời khỏi đất, trong khoảng thời gian ấy,
ngài chứng được quả A-la-hán. Rồi ngài bước vào phòng
kiết tập.
Các
câu kệ của ngài được góp thâu lại và để vào trong tập
Trưởng lão Tăng Kệ, khi Khuddaka Nikàya (Tiểu bộ kinh) được
tụng đọc.
Những
bài kệ đầu được nói lên, khi ngài khuyên các Tỷ-kheo thường
thân cận với kẻ theo Devadatta:
1018.
Hai lưỡi và phẫn nộ,
Xan
tham, thích phá hoại,
Bậc
trí không giao du,
Kẻ
ác bạn kẻ xấu.
1019.
Với bậc tin, dễ thương,
Vói
bậc trí, nghe nhiều,
Bậc
Hiền trí, giao du,
Kẻ
thiện bạn chân nhân.
Các
bài kệ sau được nói lên khi nữ cư sĩ Uttarà, vì nàng đẹp
nên thiên về dục vọng và được nói lên để nàng thấy
sự mỏng manh của thân nàng. Có người nói các bài kệ này
nói lên cho những ai đắm say Ambapàli:
1020.
Hãy xem bóng trang sức,
Nhóm
vết thương tích tụ,
Bệnh
hoạn nhiều tham tưởng,
Nhưng
không gì trường cửu.
1021.
Hãy nhìn sắc trang sức,
Với
châu báu vòng tai,
Bộ
xương, da bao phủ
Sáng
chói nhờ y phục.
Hai
câu kệ tiếp được vị Trưởng lão nói lên khi chứng quả
A-la-hán, đêm ấy trên giường của mình:
1022.
Nghe nhiều, diễn thuyết giỏi,
Thị
giả bậc Giác giả,
Gánh
nặng đã đặt xuống,
Ràng
buộc được thoát ly,
Bậc
họ Gotama,
Ðặt
lưng nằm xuống nghỉ.
1023.
Các lậu hoặc đoạn tận,
Ràng
buộc được thoát ly,
Mọi
chấp trước vượt qua,
Khéo
đạt được thanh lương,
Gánh
vác thân cuối cùng,
Ðến
bờ kia sanh tử.
1024.
Pháp an trú trong ấy,
Phật
bà con mặt trời,
Trên
đường đến Niết-bàn
Gotama
an trú.
Một
hôm Moggallàna người chăn bò, hỏi ngài lời dạy của đức
Phật là gì, có bao nhiêu giáo lý tất cả. Vị Trưởng lão
trả lời:
1025.
Ta nhận từ đức Phật,
Tám
mươi hai ngàn pháp,
Còn
nhận từ Tỷ-kheo,
Thêm
hai ngàn pháp nữa,
Tổng
cộng tám tư ngàn,
Là
pháp ta chuyển vận.
Một
hôm, vị Trưởng lão nói cho một người sống bê tha phóng
đãng sự nguy hiểm của một đời sống không giáo dục văn
hóa:
1026.
Người ít nghe ít học,
Lớn
già như con bò,
Những
thịt nó lớn lên,
Trí
tuệ nó không lớn.
Những
bài kệ tiếp nói cho vị Tỷ-kheo khinh khi những người ít
học thua mình:
1027.
Người học nhiều khinh miệt,
Kẻ
học ít về học,
Như
người mù mang đèn,
Ta
có ý là vậy.
1028.
Hãy kính người nghe nhiều,
Chớ
hại điều sở học,
Ðấy
cội gốc Phạm hạnh,
Do
vậy, hãy trì pháp.
1029.
Biết câu trước câu sau,
Biết
nghĩa, giỏi từ cú,
Nắm
giữ điều khéo nắm,
Suy
tìm trên nghĩa lý.
1030.
Chính nhờ đức kham nhẫn,
Sở
nguyện được tác thành,
Sau
khi đã tinh tấn,
Vị
ấy lại cân nhắc,
Ðúng
thời, ra nỗ lực,
Nội
tâm khéo định tĩnh.
1031.
Nghe nhiều, thọ trì pháp
Có
tuệ, đệ tử Phật,
Chờ
đợi thức tri pháp,
Nên
thân cận vị ấy.
1032.
Nghe nhiều thọ trì pháp,
Hộ
tạng Ðại ẩn sĩ,
Cặp
mắt, toàn thế giới,
Hãy
lễ vị nghe nhiều.
1033.
Ưa pháp, vui thích pháp,
Luôn
suy tư Chánh pháp,
Tỷ-kheo
nhớ niệm pháp,
Diệu
pháp không tổn giảm.
Một
hôm, ngài đốc thúc vị Tỷ-kheo dao động, biếng nhác như
sau:
1034.
Thân ích kỷ nặng chăng,
Không
có ưa hoạt động,
Thời
gian mòn mỏi qua,
Không
thể đứng dậy sao?
Tham
đắm theo thân lạc,
Từ
đâu, Sa-môn lạc?
Những
câu kệ sau, Trưởng lão Ananda đọc lên khi nghe tin Sàriputta
mệnh chung:
1035.
Mọi phương đều mờ mịt,
Pháp
không khỏi nơi ta,
Người
bạn tốt đã đi,
Tối
tăm lan tràn khắp.
1036.
Người bạn đã đi qua,
Ðạo
Sư đã đi qua,
Bạn
như vậy không còn,
Như
quán thân hành niệm.
1037.
Các vị xưa đã qua,
Vị
mới ta không hạp,
Nay
một mình ta thiền,
Như
chim, khi mưa đến.
Câu
kệ tiếp là của bậc Ðạo Sư. Câu tiếp là của Ananda, hoan
hỷ làm theo lời vị Ðạo Sư:
1038.
Từ các địa phương khác,
Nhiều
người yết kiến Ta,
Chớ
ngăn họ nghe pháp,
Nay
thời họ gặp Ta.
1039.
Từ các địa phương khác,
Quần
chúng đến yết kiến,
Bổn
Sư cho họ dịp,
Ðể
được yết kiến Ngài;
Bậc
có mắt không có,
Từ
chối ngăn chận ai.
Năm
câu kệ tiếp nêu rõ ngài là bậc thị giả đệ nhất:
1040.
Trải hai mươi lăm năm
Ta
chỉ là hữu học,
Dục
tưởng không khởi lên,
Hãy
xem pháp, pháp tánh.
1041.
Trải hai mươi lăm năm,
Ta
chỉ là hữu học,
Sân
tưởng không khởi lên,
Hãy
xem pháp, pháp tánh.
1042.
Trải hai mươi lăm năm,
Ta
hầu hạ Thế Tôn,
Với
thân nghiệp từ hòa,
Như
bóng không rời hình.
1043.
Trải hai mươi lăm năm
Ta
hầu hạ Thế Tôn,
Với
khẩu nghiệp từ hòa,
Như
bóng không rời hình.
1044.
Trải hai mươi lăm năm,
Ta
hầu hạ Thế Tôn,
Với
ý nghiệp từ hòa,
Như
bóng không rời hình.
1045.
Khi đức Phật kinh hành,
Ta
đi theo sau lưng,
Khi
pháp được thuyết giảng,
Trí
khởi lên nơi ta.
1046.
Ta vẫn còn là người,
Có
việc cần phải làm,
Ta
chỉ là hữu học,
Tâm
ý chưa chứng đạt,
Ðạo
Sư nhập Niết-bàn,
Ai
sẽ từ mẫn ta.
1047.
Như vậy thật khủng khiếp
Như
vậy thật kinh hoàng,
Khi
bậc toàn tuyệt hảo,
Bậc
Giác ngộ Niết-bàn.
Ba
câu kệ tiếp, do các vị dự kỳ kiết tập thêm vào để
tán thán Trưởng lão Ananda:
1048.
Nghe nhiều, thọ trì pháp,
Hộ
tạng Ðại ẩn sĩ,
Cặp
mắt toàn thế giới,
Anan
nhập Niết-bàn.
1049.
Nghe nhiều, thọ trì pháp,
Hộ
tạng Ðại ẩn sĩ,
Cặp
mắt toàn thế giới
Ðoạn
ám chỗ tối tăm.
1050.
Ngài là bậc ẩn sĩ,
Với
hành vị tuyệt hảo,
Với
chánh niệm tuyệt hảo,
Với
kiên trì tuyệt hảo,
Thọ
trì chân diệu pháp,
Là
Trưởng lão A-nan,
Là
kho tàng sống động,
Ðầy
châu báu ngọc ngà.
Câu
kệ này được Ananda nói lên khi nằm trên giường, trong giờ
phút cuối cùng:
1051.
Ta hầu hạ Bổn Sư,
Lời
Phật dạy làm xong,
Gánh
nặng đã đặt xuống,
Gốc
sanh hữu nhổ sạch.
Chương
XVIII
Phẩm
Bốn Mươi Kệ
(CCLXI)
Mahà-Kassapa (Thera. 94)
Bậc
Ðạo Sư đã ra đời, đang chuyển pháp luân và ở tại Ràjagaha
(Vương Xá), khi ấy tại làng Bà-la-môn Mahàtittha ở Ràjagaha,
ngài ra đời tên Pippali-mànava, con bà vợ chính của Bà-la-môn
Kapila. Pippali-mànava, không chịu lập gia đình, xin ở nhà để
hầu hạ cha mẹ, sau khi cha mẹ chết, sẽ xuất gia. Ðể làm
cho bà mẹ bằng lòng, ngài cho làm tượng một thiếu nữ trẻ
đẹp, mặc áo đỏ và đeo đồng trang sức, và nói với bà
mẹ rằng nếu bà tìm cho được một thiếu nữ như vậy,
ngài sẽ chịu lập gia đình. Bà mẹ sai các người Bà-la-môn
đem theo tượng ấy và tìm cho được một thiếu nữ giống
như vậy. Họ đến Sàgala, đặt tượng trên bờ sông và ngồi
xuống xa bức tượng. Người vú của Bhaddà, sau khi tắm cho
Bhaddà lại xuống sông tắm cho mình, thấy bức tượng, tưởng
là Bhaddà và nói Bhaddà sao lại thiếu giáo dục như vậy,
đánh nàng nơi má và biết được đó không phải là Bhaddà
mà chỉ là một bức tượng bằng vàng. Các Bà-la-môn được
đưa về nhà, được thấy Bhaddà, nhận Bhaddà giống như bức
tượng và đưa tin về Kapila. Nhưng cả hai Pippali-mànava và
Bhaddà đều không muốn lập gia đình, nên cả hai viết thư
cho nhau nói rõ quyết định của mình. Hai người đưa thư
gặp nhau giữa đường, đưa thư cho nhau coi, đánh tráo hai
bức thư khác, và do vậy đám cưới được cử hành. Nhưng
đêm tân hôn, hai người nằm cách nhau với một giấy hoa.
Khi cha mẹ mệnh chung, cả hai quyết định cùng nhau xuất gia.
Hai
người cùng mặc áo vàng, cắt tóc, mang bình bát, trước cùng
đi với nhau, sau thấy bất tiện nên từ giã nhau, Pippali-mànava
đi phía mặt, Bhaddà đi phía đường bên phía trái. Trước
giới đức như vậy, quả đất rung động, và Thế Tôn biết
được nguyên nhân nên ra ngồi giữa đường từ Nalandà đến
Ràjagaha. Gặp Thế Tôn Mahà Kassapa đảnh lễ Thế Tôn, tôn
Thế Tôn là bậc Thầy, tự nhận mình làm đệ tử. Cả hai
về lại Magadha và Mahà Kassapa tu tập mười ba hạnh đầu
đà. Ðến ngày thứ tám, ngài chứng quả A-la-hán. Bậc Ðạo
Sư tuyên dương ngài là đầu đà thứ nhất. Và ngài nói lên
kinh nghiệm của mình để giáo huấn các vị Tỷ-kheo.
Thấy
các Tỷ-kheo ưa sống với quần chúng, và hay đến các nhà
cư sĩ, ngài nói:
1052.
Chớ du hành đi đầu,
Do
quần chúng tôn xưng,
Tâm
ý bị loạn động
Thiền
định khó tu chứng,
Quần
chúng tụ là khổ,
Thấy
vậy, tránh quần chúng.
1053.
Bậc ẩn sĩ không đi,
Ði
đến các gia đình,
Tâm
ý bị loạn động,
Thiền
định khó tu chứng,
Ai
hăng say tham vị,
Bỏ
đích đem an lạc.
1054.
Ðảnh lễ cúng dường này,
Xuất
phát từ gia đình
Nên
biết họ thực sự,
Là
đám bùn sa lầy.
Như
mũi tên tế nhị
Rất
khó rút ra khỏi,
Kẻ
xấu rất khó lòng.
Từ
bỏ sự cung kính.
II
Một
lời khuyên các Tỷ-kheo hãy biết đủ với bốn vật dụng
cần thiết:
1055.
Từ trú xứ bước xuống,
Ta
vào thành khất thực,
Ta
cẩn thận đến gần,
Một
người cùi đang ăn.
1056.
Với bàn tay lở loét,
Nó
bỏ vào một muỗng,
Khi
bỏ vào muỗng ấy,
Ngón
tay rời rơi vào.
1057.
Dựa vào một chân tường,
Ta
ăn miếng ăn ấy,
Ðang
ăn và ăn xong,
Ta
không cảm ghê tởm.
1058.
Miếng ăn đứng nhận được
Xem
như thuốc tiêu hôi,
Chỗ
nằm dưới gốc cây,
Và
y từ đống rác,
Ai
thọ dụng chúng được,
Ðược
gọi người bốn phương.
III
Về
sau, khi được hỏi, sao ngài già như vậy, lại có thể hằng
ngày leo lên đồi núi, ngài trả lời:
1059.
Khi họ leo núi đá,
Một
số bị mạng chung,
Thừa
tự bậc Giác ngộ
Tỉnh
giác và chánh niệm,
Dựa
trên sức thần lực
Kassapa
leo núi.
1060.
Ði khất thực trở về
Ca-diếp
leo tảng đá,
Ngồi
thiền, không chấp thủ,
Ðoạn
sợ hãi kinh hoàng.
1061.
Ði khất thực trở về,
Ca-diếp
leo tảng đá,
Ngồi
thiền, không chấp thủ,
Ðã
đốt cháy, thanh lương.
1062.
Ði khất thực trở về
Ca-diếp
leo tảng đá
Ngồi
thiền, không chấp thủ,
Xong
việc, không lậu hoặc.
IV
Sau
khi được hỏi thêm, vì sao khi lớn tuổi ngài vẫn ở trên
núi rừng? Trúc Lâm hay các tịnh xá không làm cho ngài thích
ý chăng? Ngài trả lời:
1063.
Khu đất thật khả ái,
Với
những vòng tràng hoa,
Hoa
tên Ka-rê-ri,
Trải
rộng ra cùng khắp,
Với
voi rú khả ý,
Ðồi
núi ấy ta thích
1064.
Những hồ nước trong mát,
Tuyệt
đẹp, màu mây xanh,
Che
kín bởi loài bọ,
Tên
'kẻ chăn In-đa'
Những
ngọn núi đá ấy,
Làm
tâm ta thích thú.
1065.
Giống đồi mây xanh biếc,
Ví
tháp đẹp lâu đài,
Với
vượn hú khả ý,
Ðồi
núi ấy, ta thích.
1066.
Ðất bằng thật khả ái,
Ðược
mưa ướt thấm nhuần,
Ðồi
núi được ẩn sĩ,
Làm
thành nơi trú xứ.
Vang
lên tiếng chim công,
Ðồi
núi ấy ta thích.
1067.
Vừa đủ ta chánh niệm,
Hăng
hái muốn tu thiền,
Vừa
đủ ta Tỷ-kheo
Hăng
hái muốn phước lợi.
1068.
Vừa đủ ta Tỷ-kheo,
Hăng
hái muốn an lạc,
Vừa
đủ ta Tỷ-kheo,
Hăng
hái tu Du-già.
1069.
Tràn đầy hoa cây gai,
Như
trời phủ làn mây,
Ðầy
mọi loài chim chóc,
Ðồi
núi ấy ta thích.
1070.
Không đông chúng gia chủ
Chỗ
trú xứ đoàn thú,
Ðầy
mọi loài chim chóc,
Ðồi
núi ấy ta thích.
1071.
Dưới tảng đá, băng đá,
Có
nước suối trong chảy,
Có
khỉ và có nai,
Lai
vãng sống gần bên,
Cỏ
cây bao trùm nước,
Ðồi
núi ấy ta thích.
1072.
Người vậy không ưa thích,
Cả
năm loại nhạc khí,
Khi
đã được nhất tâm,
Chơn
chán thiền quán pháp.
V
Khi
khuyên bảo các Tỷ-kheo thích thú các tục sự, và tham các
vật cúng dường cần thiết cho sự sống, ngài nói:
1073.
Chớ làm quá nhiều việc,
Tránh
quần chúng đua tranh,
Người
siêng tham đắm vị,
Bỏ
đích đem an lạc.
1074.
Chớ làm nhiều công việc,
Tránh
việc không lợi này,
Thân
cực nhọc mệt mỏi,
Người
khổ không an chỉ.
VI
Các
câu kệ sau được nói lên để khuyên bảo trong một vài trường
hợp:
1075.
Chỉ lắp bắp cái môi,
Không
thấy được tự ngã,
Cổ
cứng đờ nó đi,
Nó
nghĩ: ta tốt hơn.
1076.
Không hơn nghĩ tốt hơn,
Kẻ
ngu nghĩ tự ngã,
Bậc
trí không tán thán,
Người
có trí cứng đờ.
1077.
Ta tốt hơn, hay là
Ta
không được tốt hơn,
Hay
ta là dở hơn,
Ta
cũng tốt như vậy,
Ai
không có dao động
Trong
các loại mạn này.
1078.
Có tuệ, nói như thật,
Khéo
định tĩnh trong giới,
Ðạt
được tâm an chỉ,
Người
ấy kẻ trí khen.
1079.
Ai giữa đồng Phạm hạnh
Không
được có kính trọng,
Vị
ấy xa diệu pháp,
Như
đất xa bầu trời.
1080.
Những ai có tàm quý,
Thường
chơn chánh an trú,
Phạm
hạnh được tăng trưởng,
Họ
đoạn được tái sanh.
1081.
Tỷ-kheo cống cao động
Dầu
đắp y đống rác,
Như
con khỉ đội lốt,
Với
da con sư tử,
Người
vậy không có thể,
Chói
sáng nhờ y ấy.
1082.
Không cống cao, không động,
Thận
trọng, căn chế ngự,
Chói
sáng với tấm y
Ðược
lượm từ đống rác,
Chẳng
khác con sư tử,
Trong
hang động núi rừng.
VII
Khi
thấy chư Phạm thiên đảnh lễ ngài Sàriputta, và thấy Trưởng
lão Kappina mỉm cười, ngài nói:
1083.
Rất nhiều chư Thiên này
Có
thần thông, lừng danh,
Cả
mười ngàn chư Thiên,
Tất
cả Phạm hạnh chúng thiên.
1084.
Ðứng đảnh lễ, chấp tay
Ðối
ngài Xá-lợi-phất,
Vị
tướng quân Chánh pháp
Sáng
suốt, đại thiền định.
Ðảnh
lễ bậc Thượng sanh,
Ðảnh
lễ bậc Tối thượng.
1085.
Dựa vào gì, thiền tu,
Chúng
tôi không thắng trí.
1086.
Kỳ diệu thay chư Phật,
Hành
xứ ngài thâm sâu,
Chúng
con không nghĩ được
Dầu
chúng con hội đủ
Tài
nghệ người bắn cung,
Có
thể chẻ sợi tóc.
1087.
Khi thấy Xá-lợi-phất
Xứng
đáng được đảnh lễ,
Ðược
Phạm thiên chúng ấy,
Ðảnh
lễ, kính như vậy,
Tôn
giả Kappina,
Liền
mỉm cười vui vẻ.
VIII
Trưởng
lão Kassapa rống lên tiếng rống sư tử của mình:
1088.
Trong đám ruộng đệ tử
Những
vị theo đức Phật,
Ngoại
trừ bậc Tối tôn,
Ðại
ẩn sĩ Mâu-ni,
Ta
ưu việt Ðầu đà.
Không
ai bằng ta được.
1089.
Ta hầu hạ Bổn Sư,
Lời
Phật dạy làm xong,
Gánh
nặng đã đặt xuống,
Gốc
sanh hữu nhổ sạch.
1090.
Không nhiễm dính y phục
Chỗ
nằm và đồ ăn,
Không
thể trắc lường được
Là
con bậc Gotama!
Như
hoa sen trong sạch,
Không
thể dính nước vào,
Ý
thiên về xuất ly,
Thoát
ly cả ba giới.
1091.
Với bậc Ðại ẩn sĩ,
Cổ
dựng trên niệm xứ,
Tay
dựa trên đức tin,
Với
đầu là Trí tuệ
Bậc
Ðại trí luôn luôn,
Hành
trì thật thanh lương.