Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
Mười Sáu - Phẩm Hai Mươi Kệ
248.
Adhimutta
249.
Pàràpariya
250.
Kelakàni
251.
Ratthapàla
252.
Màlunkyàputta
253.
Sela
254.
Bhađhiya- Kàligodhàyaputta
255.
Angulimàla
256.
Anuruddha
257.
Pàràpariya
Chương
XVI
Phẩm
Hai Mươi Kệ
(CCXLVIII)
Adhimutta (Thera. 71)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh là con người chị của
Trưởng lão Sankicca. Ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của
cậu ngài, và khi còn là Sa-di, đã chứng quả A-la-hán. Sống
hưởng an lạc giải thoát, ngài muốn thọ Ðại giới và đi
về nhà để xin phép bà mẹ. Khi ngài đi, ngài bị các kẻ
cướp bắt ngài và muốn dâng ngài để tế thần. Các tên
cướp tấn công ngài nhưng ngài đứng, không khuất phục.
Tên tướng cướp lấy làm ngạc nhiên, tán thán ngài và nói:
705.
Vì mục đích tế đàn,
Hoặc
vì đích tài sản,
Những
người chúng tôi giết,
Từ
trước cho đến nay,
Không
ai không sợ hãi,
Họ
run sợ, rên xiết.
706.
Nhưng ngài không khiếp sợ,
Dung
sắc càng hòa duyệt,
Vì
sao ngài không than,
Trong
đại nạn như vậy.
Adhimutta
trả lời:
707.
Chủ cướp! Tâm không khổ,
Với
người không kỳ vọng,
Mọi
sợ hãi vượt qua,
Với
người kiết sử đoạn.
708.
Nhờ đoạn nhân sanh hữu,
Pháp
được thấy như thật,
Ðối
chết, không sợ hãi,
Nhờ
gánh nặng đặt xuống.
709.
Phạm hạnh ta khéo hành,
Con
đường khéo tu tập,
Ta
không có sợ chết,
Khi
bệnh hoạn được diệt.
710.
Phạm hạnh ta khéo hành,
Con
đường khéo tu tập,
Hũu
được thấy không ngọt,
Như
bỏ độc dược uống.
711.
Bờ kia đến, không thủ,
Việc
làm xong, vô lậu,
Bằng
lòng, thọ mạng diệt,
Như
thoát lò sát sinh.
712.
Pháp tánh đạt, tối thượng,
Ở
đời, tuyệt sở hữu.
Như
thoát ngôi nhà cháy,
Trong
chết không sầu muộn.
713.
Phàm có vật tụ họp,
Ðược
sanh hữu chỗ nào,
Tuyệt
đường mọi xuất ly,
Ðại
ẩn sĩ nói vậy.
714.
Ai hiểu rõ như vậy,
Như
đức Phật đã thuyết,
Không
còn nắm sanh hữu,
Như
hòn sắt cháy đỏ.
715.
Quá khứ ta không có,
Tương
lai, hiện tại không,
Các
hành không thực hữu,
Ở
đây, than khóc gì?
716.
Thanh tịnh pháp sanh khởi,
Thanh
tịnh hành tiếp tục,
Bậc
thấy được như thật,
Không
sợ hãi, thưa ngài.
717.
Với tuệ, thấy thế giới,
Giống
như cỏ, thân cây,
Không
có tánh ngã sở,
Không
sầu muộn, không ngã.
718.
Ta nhàm chán thân sắc,
Không
ham có sanh hữu,
Khi
thân này hoại diệt,
Sẽ
không có thân khác.
719.
Với thân ta, ngươi làm,
Hãy
làm như ý muốn,
Ta
không vì duyên ấy,
Sẽ
khởi lên sân, ái.
720.
Kẻ ấy nghe nói vậy,
Hy
hữu, lông dựng ngược,
Quăng
bỏ cả đao kiếm,
Thanh
niên nói với ta.
721.
Tôn giả hành hạnh gì,
Ai
Ðạo Sư Tôn giả,
Ngài
theo lời ai dạy,
Ðược
tánh không sầu não?
Adhimutta:
722.
Bậc toàn trí, toàn kiến,
Thắng
giả, giáo sư ta,
Ðại
từ bi Ðạo Sư,
Y
vương toàn thế giới.
723.
Pháp này vị ấy giảng,
Ðưa
đến đạt vô thượng,
Theo
lời dạy vị ấy,
Ðược
tánh không sầu não.
724.
Kẻ cướp nghe đại sĩ,
Khéo
thuyết giảng như vậy,
Chúng
liền quăng vất bỏ,
Ðao
gươm và vũ khí,
Một
số bỏ nghề chúng,
Một
số xin xuất gia.
725.
Sau khi chúng xuất gia,
Trong
giáo pháp Thiện Thệ,
Họ
tu tập Giác Chi,
Năm
lực, thành bậc trí.
Tâm
hân hoan, ý mãn,
Các
căn cảm xúc được,
Niết-bàn
đạo, vô vi.
(CCXLIX)
Pàràpariya (Thera. 72)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi, làm một
con Bà-la-môn nổi tiếng, và khi lớn lên ngài được gọi
theo tên gia tộc Pàrapara là Pàràpariya. Ðược khéo giáo dục
về văn hệ Bà-la-môn, một hôm ngài đi đến tịnh xá Jetavana
trong khi Thế Tôn đang thuyết pháp, và đến ngồi nghe, gần
phía bên ngoài hội chúng. Bậc Ðạo Sư, nhận xét tâm tánh
ngài, dạy kinh 'Căn tu tập Indriyabhàvanà', nghe xong, ngài khởi
lòng tin, xin xuất gia. Sau khi học kinh này thuộc lòng, ngài
suy tư trên ý nghĩa, nghĩ rằng: 'Trong những bài kệ, ý nghĩa
được xuất hiện như thế này, thế này'. Sau khi suy tư về
vấn đề các căn cảm thọ, ngài phát triển thiền quán và
sau một thời gian, ngài chứng quả A-la-hán. Về sau, ngài nói
lên thiền định của ngài với những bài kệ như sau:
726.
Khi Tỷ-kheo tên là,
Pàràpariya,
Ngồi
độc cư một mình,
Viễn
ly, tu thiền định,
Những
tâm tư như sau,
Ðược
khởi lên nơi ngài:
727.
Có gì là thứ lớp,
Là
giới cấm, động tác?
Con
người làm phận mình,
Không
làm hại một ai?
728.
Các căn của loài Người,
Làm
lợi ích, làm hại,
Không
hộ trì, làm hại,
Có
hộ trì, làm lợi.
729.
Người chế ngự các căn,
Nguời
phòng hộ các căn,
Người
làm bổn phận mình,
Không
làm hại một ai.
730.
Con mắt đi đến sắc,
Không
chế ngự ngăn chận,
Không
thấy các nguy hiểm,
Vị
ấy không thoát khổ.
731.
Lỗ tai đi đến tiếng,
Không
chế ngự ngăn chặn,
Không
thấy sự nguy hiểm,
Vị
ấy không thoát khổ.
732.
Không thấy sự xuất ly,
Thọ
hưởng các mùi hương,
Vị
ấy không thoát khổ,
Vì
tham đắm các hương.
733.
Nhớ chua ngọt tối thượng,
Nhớ
vị đắng tối thượng,
Bị
ái vị nô lệ,
Tâm
không thể giác tỉnh.
734.
Tưởng nhớ các cảm xúc,
Ðẹp
đẽ và khoái cảm,
Ðam
mê, duyên tham ái,
Gặp
nhiều loại đau khổ.
735.
Ý đối các pháp này
Tất
cả là năm pháp,
Không
có thể phòng hộ,
Khổ
đi theo vị ấy.
736.
Phần lớn các thân xác,
Ðầy
tràn mủ và máu,
Do
người thù thắng làm,
Thành
hộp đẹp tô màu.
737.
Cay đắng như vị ngọt,
Khổ
do khả ái buộc,
Như
dao bén dính mật,
Kẻ
tham đâu có biết.
738.
Ai tham đắm nữ sắc,
Nữ
vị, nữ xúc chạm,
Ai
mê say nữ hương,
Gặp
nhiều loại đau khổ.
739.
Mọi dòng từ nữ nhân,
Năm
loại tràn năm xứ,
Người
có tinh tấn lực,
Có
thể ngăn chận chúng.
740.
Người có đích, trú pháp,
Người
thiện xảo, sáng suốt,
Hoan
hỷ làm nghĩa vụ,
Liên
hệ đến pháp, nghĩa.
741.
Chìm trong việc lợi tạm,
Hãy
bỏ việc không lợi,
Nếu
nó nghĩ việc ấy,
Không
phải việc nên làm,
Vị
ấy không phóng dật,
Sáng
suốt thấy rõ vậy.
742.
Nếu là việc làm tốt,
Hân
hoan hành đúng pháp,
Hãy
nắm việc làm ngay,
Ðấy
thật lạc tối thượng.
743.
Với phương tiện cao thấp,
Lừa
dối các người khác,
Ðánh
giết, làm sầu khổ,
Hung
bạo, áp đảo người.
743.
Như người mạnh đẽo gỗ,
Dùng
nêm đánh bật nêm,
Cũng
vậy là kẻ thiện,
Dùng
căn đánh bật căn.
745.
Tu tập tín, tấn, định,
Huấn
luyện niệm, trí tuệ,
Dùng
năm đánh đổ năm,
Không
tỳ vết bước tới.
746.
Là vị Bà-la-môn,
Người
có đích, trú pháp,
Làm
theo giáo huấn Phật,
Làm
toàn diện, toàn lực,
Người
ấy hưởng an lạc.
(CCL)
Kelakàni (Thera. 298)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trước đức Phật ở
Sàvatthi trong một gia đình Bà-la-môn và đặt tên là Kelakàni.
Quá kinh nghiệm về những vấn đề quá khứ, ngài chán nản
dục vọng và xuất gia làm người du sĩ ngoại đạo.Tìm sự
giải thoát tinh thần, ngài giao du nhiều chỗ, nghĩ rằng ai
ở đời này đã đến được bờ bên kia. Ngài hỏi rất nhiều
Sa-môn và Bà-la-môn nhưng không được trả lời thỏa đáng.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đã ra đời, đang chuyển Pháp Luân,
đem lại hạnh phúc cho chúng sanh. Một hôm, Kelakàni nghe đức
Phật thuyết pháp, khởi lòng tin, được xuất gia và không
bao lâu chứng quả A-la-hán. Một hôm, ngồi với các Tỷ-kheo,
nhớ đến sự khó nhọc tìm đạo và chứng đạo của mình,
ngài tuyên bố với chúng Tỷ-kheo như sau:
747.
Lâu ngày, đầy nhiệt tình,
Ta
suy tư Chánh pháp,
Hỏi
Sa-môn, Phạm chí,
Nhưng
tâm không an tịnh.
748.
Ở đời, ai đã đến,
Ðến
được bờ bên kia,
Ai
đã chứng đạt được,
Lặn
sâu vào bất tử,
Pháp
ai ta chấp nhận,
Pháp
thông đệ nhất nghĩa.
749.
Mắc lưỡi câu bên trong,
Như
cá ăn mồi tục,
Ta
bị bắt, bị trói,
Chẳng
khác A-tu-la,
Tên
Vê-pa-xi-li,
Bị
lưới Ðế Thích trói.
750.
Ta kéo lê xiềng xích,
Không
sao thoát sầu bi,
Ai
cởi trói cho ta,
Giúp
ta chứng Chánh giác.
751.
Sa-môn, Phạm chí nào,
Nói
cách hủy hoại chúng,
Pháp
ai ta chấp nhận,
Giúp
từ bỏ già chết,
752.
Bị nghi hoặc trói buộc,
Bị
hăng say chi phối,
Khiến
tánh tình phẫn nộ,
Khiến
tâm tư cứng rắn,
Bị
xâu xé cắt đứt,
Bởi
lòng tham mạnh mẽ.
753.
Bị cung ái bắn trúng,
Ba
mươi kiến trói buộc,
Xem
sức mạnh ngực ta,
Bị
áp đè, vẫn vững,
754.
Các tùy kiến không đoạn,
Các
tư niệm dao động,
Bị
chúng đâm, ta run,
Như
lá bị gió thổi,
755.
Khởi lên từ nội tâm,
Ðốt
cháy nhanh ngã sở,
Thân
với sáu xúc xứ,
Ngã
hữu từ đấy sanh.
756.
Ta không thấy lương y,
Rút
mũi tên cho ta,
Dùng
cách khác dò tìm,
Không
dùng dao thăm dò.
757.
Có vị lương y nào,
Không
dao, không vết thương,
Không
hại đến tay chân,
Rút
mũi tên cho ta,
Mũi
tên đã đâm vào,
Trong
nội tâm của ta,
578.
Bậc Pháp chủ tối tôn,
Loại
trừ thuốc độc hại,
Khi
ta rơi vực sâu,
Ðưa
tay giúp đỡ ta,
Tới
đất liền an toàn.
759.
Ta lặn sâu trong hồ,
Ðầy
bụi bùn không thoát,
Ðầy
man trá, tật đố,
Căng
thẳng và hôn ám.
760.
Sấm trạo cử nổ vang,
Mây
kiết sử bao phủ,
Thác
nước tà tư duy,
Liên
hệ đến tham dục,
Chúng
lôi cuốn trôi ta,
Vào
đại dương tà kiến.
761.
Khắp nơi, dòng suối chảy,
Cây
leo đứng, đâm chồi,
Ai
chận đứng dòng ấy?
Ai
chặt đứt cây leo?
762.
Tôn giả hãy làm đê,
Ngăn
chận những dòng suối,
Chớ
có để dòng nước,
Do
ý sanh cuốn ngài,
Như
dòng nước cuốn gấp,
Trôi
cây chảy theo dòng.
763.
Cũng vậy ta sợ hãi,
Bờ
này tìm bờ kia,
Khi
ấy bậc Ðạo Sư,
Có
Thánh chúng hầu hạ,
Với
binh khí trí tuệ,
Chờ
y chỉ cho người.
764.
Ðưa ta, đang chìm đắm,
Chiếc
cầu thang, khéo làm,
Phật
thanh tịnh, vững chắc,
Làm
bằng lõi Chánh pháp,
Rồi
ngài nói với ta,
Chớ
có sợ hãi gì!.
765.
Leo lên lầu niệm xứ,
Từ
đấy ta quán sát,
Loài
Người ưa thân kiến,
Trước
đây, ta tự hào.
766.
Khi ta thấy con đường,
Con
thuyền cần leo lên,
Ta
không trú tự ngã,
Vì
thấy bến tối thượng.
767.
Mũi tên khởi tự ngã,
Sanh
do nhân sanh hữu
Ngài
dạy đường tối thượng,
Chấm
dứt các pháp ấy.
768.
Cột gút đã lâu ngày,
ẩn
nằm, trú trong da,
Ðức
Phật cởi, quăng đi,
Loại
bỏ mọi độc hại.
(CCLI)
Ratthapàla (Thera. 75)
Trong
thời Ðức Phật hiện tại, ngài sanh ra ở nước Kuru, trong
thành phố Thullakotthita, con của một hội viên hội đồng
thành phố tên Ratthapàla và được gọi theo tên gia tộc, ngài
được sống trong nhung lụa, lớn lên được gả vợ và sống
như một thiên thần. Khi đức Phật đến thuyết pháp ở Thullakotthila,
Ratthapàla đến nghe giảng, khởi lòng tin, xin cha mẹ được
xuất gia rất khó khăn. Ði đến bậc Ðạo Sư, ngài được
thọ giới với một Tỷ-kheo theo lời giới thiệu của đức
Phật, tu học rất tinh tấn, phát triển thiền quán và chứng
quả A-la-hán. Rồi ngài được phép về thăm cha mẹ, đi đến
Thullakotthita và đi khất thực từng nhà. Ðến nhà cha mẹ,
ngài nhận được cơm chua đã lâu ngày nhưng ngài vẫn ăn
như là đồ ăn bất tử. Ngày sau, theo lời mời của người
cha, ngài đến thăm nhà và các người vợ trước của ngài,
ăn mặc rất đẹp đẽ, hỏi ngài, vì những thiên nữ nào,
ngài đã xuất gia. Ngài thuyết pháp cho họ về vô thường
v.v... từ khước những hành vi cám dỗ của họ:
769.
Hãy xem bóng trang sức,
Nhóm
vết thương tích tụ,
Bệnh
hoạn, nhiều tham tưởng,
Nhưng
không gì trường cửu.
770.
Hãy nhìn sắc trang sức,
Với
châu báu, vòng tai,
Bộ
xương, da bảo phủ,
Sáng
chói nhờ y phục.
771.
Chân sơn với son, sáp,
Mặt
thoa với phấn bột,
Chỉ
mê hoặc kẻ ngu,
Không
mẹ bậc cầu giác.
772.
Tóc được uốn tám vòng,
Mắt
xoa với thuốc son,
Chỉ
mê hoặc kẻ ngu,
Không
mê bậc cầu giác.
773.
Như hộp thuốc mới sơn,
Uế
thân được trang điểm,
Chỉ
mê hoặc kẻ ngu,
Không
mẹ bậc cầu giác.
774.
Thợ săn bày lưới sập,
Nai
khôn không chạm lưới,
Ăn
mồi xong, ta đi,
Mặc
kẻ bắt nai khóc.
775.
Bẫy thợ săn bị cắt,
Nai
khôn không chạm lưới,
Ăn
mồi xong, ta đi,
Mặc
kẻ săn nai sầu.
Rồi
Ratthapàla đi ngang qua hư không đến vườn nai của vua Koravya
và ngồi trên một phiến đá. Người cha của ngài cho đóng
chốt then cài cả bảy cái cửa, và cắt người giữ ngài
không cho đi, lại lấy chiếc y vàng của ngài và choàng vào
ngài y trắng của người cư sĩ. Do vậy ngài phải đi ngang
qua hư không. Rồi vua Koravya, nghe ngài đã đến vườn nai,
liền chào ngài và hỏi: 'Thưa Tôn giả, ở đời người ta
xuất gia vì một vài tai họa, như bệnh hoạn, như tai họa
từ nhà vua, về tài sản, về gia đình. Ngài không có một
tai họa gì, sao ngài lại xuất gia?'. Vị trưởng lão trả
lời: 'Thế giới là vô thường, không có gì trường cửu.
Thế giới không có nơi nương tựa, thiếu thốn, không có
thỏa mãn, làm nô lệ cho khát ái'. Rồi ngài nói lên những
bài kệ như sau:
776.
Ta thấy người đời giàu,
Ðược
tiền, si không cho,
Vì
tham, cất chứa tiền,
Chạy
theo dục càng nhiều.
777.
Vua dùng lực chiếm đất,
Chiếm
ở đến bờ biên,
Biên
bên này chưa thỏa,
Còn
muốn biên bờ kia.
778.
Vua và rất nhiều người,
Ai
chưa chết, đã chết,
Tái
sanh, bị thiếu thốn,
Chúng
từ bỏ thân này,
Nhưng
ở đời lòng dục,
Không
bao giờ thỏa mãn.
779.
Bà con than khóc nó,
Tóc
xõa, rối tơ vò,
Chúng
nói: Ôi chúng ta,
Không
có được bất tử,
Thân
trùm vải, chúng mang,
Dựng
giàn hỏa, chúng thiêu.
780.
Bị cây đâm, cây thọc,
Nó
bị thiêu bị cháy,
Chỉ
với một tấm vải,
Từ
bỏ mọi tài sản,
Kẻ
chết không nương tựa,
Bà
con, bạn láng giềng.
781.
Kẻ thừa tự mang đi,
Tài
sản gia nghiệp nó.
Riêng
con người phải đi,
Theo
chỗ, nghiệp nó tạo,
Tài
sản không có đi,
Ði
theo người đã chết,
Không
con trai, không vợ,
Không
tài sản, quốc độ.
782.
Tài sản không làm sao,
Mua
được tuổi trường thọ;
Phú
quý nào có thể,
Tránh
khỏi được già suy.
Bậc
có trí nói rằng:
Mạng
sống này ít ỏi,
Thật
sự là vô thường,
Luôn
luôn bị biến hoại.
783.
Giàu, nghèo đều cảm xúc,
Ngu,
trí đồng cảm thọ,
Kẻ
ngu bị ngu đánh,
Ngã
quỵ, nằm dài xuống.
Còn
bậc trí không sợ,
Ðối
với mọi cảm xúc.
784.
Do vậy tuệ thắng tài,
Nhờ
tuệ đạt viên mãn,
Chưa
đạt được cứu cánh,
Ðối
với hữu, phi hữu,
Kẻ
ngu làm các nghiệp,
Ác
độc và bất thiện.
785.
Nhập thai, sanh đời khác,
Luân
hồi, tiếp tục sanh,
Kẻ
ít trí, tin tưởng,
Nhập
thai, sanh đời khác.
786.
Như kẻ trộm bị bắt,
Quả
tang, khi ăn trộm,
Do
nghiệp tự chính nó,
Bị
hại theo ác tội,
Cũng
vậy sau khi chết,
Quần
chúng trong đời sau,
Do
nghiệp tự chính nó,
Bị
hại theo ác tội.
787.
Các dục thật đẹp đẽ,
Vị
ngọt và khả ái,
Chúng
làm tâm đắm say,
Với
sắc và phi sắc,
Do
thấy sự nguy hiểm,
Trong
các dục công đức,
Do
vậy tôi xuất gia,
Như
vậy thưa Ðại vương,
788.
Như trái cây rụng xuống,
Cũng
vậy tuổi thanh niên,
Lớn
lên và già yếu,
Rồi
thân hoại mạng chung,
Thấy
vậy tôi xuất gia,
Như
vậy thưa Ðại vương,
Ðời
sống Sa-môn hạnh,
Chơn
thật, tốt đẹp hơn.
789.
Tín tâm tôi xuất gia,
Vào
giáo hội bậc thánh,
Tôi
xuất gia không tội,
Không
nợ, tôi thọ thực.
790.
Thấy dục như lửa hừng,
Thấy
vàng như dao đâm,
Xem
nhập thai là khổ,
Họa
lớn trong địa ngục.
791.
Thấy nguy hiểm như vậy,
Ta
cảm thấy hoảng sợ,
Khi
bị đâm, bị thương,
Ta
đạt được tịch tịnh,
Và
ta tận diệt được,
Cả
ba loại lậu hoặc.
792.
Ðạo Sư, ta hầu hạ,
Lời
Phật dạy, làm xong,
Gánh
nặng, đặt xuống thấp,
Gốc
sanh hữu, nhổ sạch.
793.
Vì đích gì xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Mục
đích ấy ta đạt,
Mọi
kiết sử tận diệt.
(CCLII)
Màlunkyaputta (Thera. 77).
Ðời
sống của ngài được ghi trong chương VI (CCXIV) khi bậc Trưởng
lão đã chứng quả A-la-hán, nói lên bài kệ để dạy cho
các bà con về con đường. Nhưng trong những bài kệ này, bậc
Trưởng lão chưa chứng quả A-la-hán, hỏi Thế Tôn về giáo
lý vắn tắt, và được Thế Tôn trả lời:
- Này
Màlunkyaputta, Ông nghĩ thế nào? Những pháp mà Ông chưa bao
giờ thấy nghe, ngửi, nếm, cảm xúc, và nhận thức, hiện
tại Ông không có lãnh thọ và đối với chúng, Ông cũng không
muốn có cảm thọ và suy tưởng, vậy Ông có ước muốn,
tha thiết được chúng hay không?'.
- Thưa
không, bạch Thế Tôn.
- Ở
đây, này Màlunkyaputta, khi Ông không có cảm thọ, cảm tưởng
chúng,Ông chỉ có thọ và tưởng thuần túy. Nếu là như vậy,
thời Ông không có tham, sân, si. Do vậy, ở đây hay tại chỗ
nào, hay đời sau chính như vậy, như vậy là sự chấm dứt
đau khổ. Rồi Màlunkyaputta, nêu rõ ngài đã thâu nhận giáo
lý được giảng dạy này, ngài nói lên trong những bài kệ
như sau:
794.
Thấy sắc, niệm say mê,
Nếu
tác ý ái tưởng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Tâm
nhập và an trú.
795.
Thọ người ấy tăng trưởng,
Nhiều
loại, do sắc sanh,
Tham,
hại tâm lớn mạnh,
Chúng
gia hại tâm nó,
Khổ
chất chứa như vậy,
Rất
xa vời Niết-bàn.
796.
Nghe tiếng, niệm say mê,
Nếu
tác ý ái tưởng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Xâm
nhập và an trú.
797.
Thọ người ấy tăng trưởng,
Nhiều
loại, do tiếng sanh,
Tham,
hại tâm lớn mạnh,
Chúng
gia hại tâm nó,
Khổ
chất chứa như vậy,
Rất
xa vời Niết-bàn.
798.
Ngửi hương, niệm say mê,
Nếu
tác ý ái tưởng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Xâm
nhập và an trú.
799.
Thọ người ấy tăng trưởng,
Nhiều
loại do hương sanh,
Tham,
hại tâm lớn mạnh,
Chúng
gia hại tâm nó.
Khổ
chất chứa như vậy,
Rất
xa vời Niết-bàn.
800.
Nếm vị, niệm say mê,
Nếu
tác ý ái tưởng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Xâm
nhập và an trú.
801.
Thọ người ấy tăng trưởng,
Nhiều
loại do vị sanh,
Tham,
hại tâm lớn mạnh,
Chúng
gia hại tâm nó,
Khổ
chất chứa như vậy,
Rất
xa vời Niết-bàn.
802.
Cảm xúc, niệm say mê,
Nếu
tác ý ái tưởng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Xâm
nhập và an trú.
803.
Thọ người ấy tăng trưởng,
Nhiều
loại, do xúc sanh,
Tham,
hại tâm lớn mạnh,
Chúng
gia hại tâm nó,
Khổ
chất chứa như vậy,
Rất
xa vời Niết-bàn.
804.
Biết pháp, niệm say mê,
Nếu
tác ý ái tưởng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Xâm
nhập và an trú.
805.
Thọ người ấy tăng trưởng,
Nhiều
loại do ý sanh,
Tham,
hại tâm lớn mạnh,
Chúng
gia hại tâm nó,
Khổ
chất chứa như vậy,
Rất
xa vời Niết-bàn.
806.
Không tham nhiễm các sắc,
Thấy
sắc, giữ chánh niệm,
Tâm
không tham cảm thọ,
Không
xâm nhập, an trú.
807.
Thấy sắc như thế nào,
Như
vậy có cảm thọ,
Từ
bỏ không tích lũy,
Chánh
niệm, hành trì vậy.
808.
Như vậy, không chứa khổ,
Ðược
gọi gần Niết-bàn,
Không
tham nhiễm các tiếng,
Nghe
tiếng, giữ chánh niệm,
Tâm
không tham cảm thọ,
Không
xâm nhập an trú.
809.
Nghe tiếng như thế nào,
Như
vậy có cảm thọ,
Từ
bỏ không tích lũy,
Chánh
niệm, hành trì vậy.
Như
vậy không chứa khổ,
Ðược
gọi gần Niết-bàn.
810.
Không tham nhiễm các hương,
Ngửi
hương, giữ chánh niệm,
Tâm
không tham cảm thọ,
Không
xâm nhập an trú.
811.
Ngửi hương như thế nào,
Như
vậy, có cảm thọ,
Từ
bỏ, không tích lũy,
Chánh
niệm, hành trì vậy,
Như
vậy, không chứa khổ,
Ðược
gọi, gần Niết-bàn.
812.
Không tham nhiễm các vị,
Nếm
vị, giữ chánh niệm,
Tâm
không tham cảm thọ,
Không
xâm nhập, an trú.
813.
Nếm vị như thế nào,
Như
vậy, có cảm thọ,
Từ
bỏ, không tích lũy,
Chánh
niệm, hành trì vậy.
Như
vậy không chứa khổ,
Ðược
gọi, gần Niết-bàn.
814.
Không tham nhiễm các xúc,
Cảm
xúc giữ chánh niệm,
Tâm
không tham cảm thọ,
Không
xâm nhập, an trú.
815.
Cảm xúc như thế nào,
Như
vậy, có cảm thọ,
Từ
bỏ, không tích lũy,
Chánh
niệm, hành trì vậy.
Như
vậy không chứa khổ,
Ðược
gọi, gần Niết-bàn.
816.
Không tham nhiễm các pháp,
Biết
pháp, giữ chánh niệm,
Tâm
không tham cảm thọ,
Không
xâm nhập, an trú.
817.
Cảm xúc như thế nào,
Như
vậy, có cảm thọ,
Từ
bỏ, không tích lũy,
Chánh
niệm, hành trì vậy.
Như
vậy, không chứa khổ,
Ðược
gọi, gần Niết-bàn.
Rồi
vị Trưởng lão đứng dậy, đảnh lễ bậc Ðạo Sư, rồi
ra đi không bao lâu sau đó, phát triển thiền quán, ngài chứng
quả A-la-hán.
(CCLIII)
Sela (Thera. 78)
Ðược
sanh trong thời đức Phật hiện tại ở Anguttaràpa, trong một
gia đình Bà-la-môn, tại một làng Bà-la-môn ở Apana, ngài
được đặt tên là Sela. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài
sống ở đấy, rất giỏi về ba tập Vệ-đà và về nghệ
thuật Bà-la-môn, dạy các Mantrà (thần chú) cho ba trăm thanh
niên Bà-la-môn. Trong khi ấy Thế Tôn rời bỏ Sàvatthi, đang
du hành ở Anguttaràpa với một ngàn hai trăm năm mươi vị
Tỷ-kheo. Biết được tám tánh thuần thục của Sela và các
đệ tử của ngài, đức Phật dừng lại tại một khu rừng.
Rồi ẩn sĩ Keniya, sau khi mời bậc Ðạo Sư với chúng Tỷ-kheo
dùng cơm vào ngày sau, đang sửa soạn rất nhiều món đồ
ăn. Rồi Sela với ba trăm đệ tử đến thăm am thất và hỏi
có phải Keniya đang sửa soạn để đón mừng vị Ðại thần
của vua. Khi Keniya trả lời là sửa soạn thức ăn để mời
đức Phật, Sela cảm thấy hết sức xúc cảm với chữ đức
Phật, đi đến gặp ngay đức Phật với các thanh niên đệ
tử của mình. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm,
ngài chiêm ngưỡng các tướng tốt đức Phật và nghĩ rằng:
'Một vị có những tướng tốt như vậy, một là sẽ thành
vị Chuyển luân Thánh vương, hai là sẽ thành Phật'. Một
vị Phật khi nghe tán thán về mình sẽ lộ rõ chân tướng
Phật của mình. Còn nếu chưa thành Phật, khi nghe tán thán
về đức Phật sẽ cảm thấy khó chịu và bất mãn. Ngài
quyết định nói lên lời tán thán đức Phật như sau:
818.
Thân trọn đủ, chói sáng,
Khéo
sanh và đẹp đẽ,
Thế
Tôn sắc vàng chói,
Răng
trơn láng, tinh cần.
819.
Ðối với người khéo sanh,
Những
tướng tốt trang trọng,
Ðều
có trên thân Ngài,
Tất
cả Ðại nhân tướng.
820.
Mắt sáng, mặt tràn đầy,
Cân
đối, thẳng, hoàn mỹ,
Giữa
chúng Sa-môn Tăng,
Ngài
chói như mặt trời.
821.
Vị Tỷ-kheo đẹp mắt,
Da
sáng như vàng chói,
Với
hạnh Sa-môn Ngài,
Cần
gì sắc tối thượng.
822.
Ngài xứng bậc Ðại vương,
Chuyển
luân, xa luân chủ,
Chiến
thắng khắp bốn phương,
Bậc
chúa tể Diêm phù.
823.
Vương tộc, hào phú vương,
Là
chư hầu của Ngài,
Là
vua giữa các vua,
Là
giáo chủ loài Người,
Hãy
trị vì quốc độ,
Tôn
giả Gotama!
Thế
Tôn vâng theo ý muốn của Sela, trả lời:
824.
Sela, Ta là vua!
Bậc
Pháp vương, Vô thượng,
Ta
chuyển bánh xe pháp,
Bánh
xe chưa từng chuyển.
Phạm
chí Sela nói:
825.
Ngài tự nhận giác ngộ.
Bậc
Pháp vương, Vô thượng,
Ta
chuyển bánh xe pháp,
Gotama
nói vậy.
826.
Ai sẽ là tướng quân?
Là
đệ tử Tôn giả?
Ai
theo giữ truyền thống,
Xứng
đáng bậc Ðạo Sư?
Sau
Ngài ai sẽ chuyển,
Pháp
luân Ngài đã chuyển?
Tôn
giả Sàriputta đang ngồi bên phải Thế Tôn, đầu chói sáng
đẹp đẽ như một đống vàng. Thế Tôn chỉ Sàriputta và
nói:
827.
Thế Tôn: Này Sela,
Ta
chuyển bánh xe pháp,
Bánh
xe pháp vô thượng,
Chính
Sàriputta,
Chuyển
bánh xe Chánh pháp,
Thừa
tự Như Lai vị.
828.
Cần biết, Ta đã biết,
Cần
tu, Ta đã tu,
Cần
đoạn, Ta đã đoạn,
Do
vậy, Ta là Phật,
Hỡi
này Bà-la-môn.
829.
Còn gì nghi ở Ta,
Hãy
gác bỏ một bên,
Hãy
giải thoát khỏi chúng.,
Hỡi
này Bà-la-môn.
830.
Thấy được bậc Chánh Giác,
Thật
thiên nan vạn nan,
Bậc
Chánh Giác ra đời,
Thật
thiên nan vạn nan,
Ta
là bậc Chánh Giác,
Bậc
Y vương Vô thượng,
Hỡi
này Bà-la-môn.
831.
Là Phạm thiên khó sánh,
Nhiếp
phục các Ma quân,
Hàng
phục mọi đối nghịch,
Ta
hân hoan không sợ.
Bà-la-môn
Sela hoàn toàn tin tưởng vào Thế Tôn, muốn xuất gia và thưa
rằng:
832.
Chư Tôn giả hãy nghe!
Như
bậc có mắt giảng,
Bậc
Y
vương Ðại hùng,
Sư
rử rống trong rừng!
833.
Thấy Phạm thiên vô tỷ,
Nhiếp
phục các Ma quân,
Ai
lại không tín thành,
Cho
đến kẻ hạ tiện.
834.
Ai muốn, hãy theo ta,
Không
muốn hãy đi ra,
Ở
đây ta xuất gia,
Với
bậc Tuệ tối thượng.
Các
thanh niên Bà-la-môn, vì đã đạt được những điều kiện
cần thiết, trả lời:
835.
Nếu Tôn giả tín thành,
Giáo
pháp bậc Chánh Giác,
Chúng
con cũng xuất gia,
Với
bậc Tuệ tối thắng!
Sela
hoan hỷ thấy các thanh niên Bà-la-môn san sẻ chí nguyện của
mình, đưa chúng đến trước mặt Thế Tôn và xin được xuất
gia:
836.
Ba trăm Phạm chí ấy,
Chấp
tay xin được phép,
Chúng
con sống Phạm hạnh,
Do
Thế Tôn lãnh đạo.
Rồi
Thế Tôn, thấy được Sela trong các đời quá khứ, Sela cũng
đã dạy cho ba trăm đệ tử này trông các giống phước và
nay trong đời cuối cùng, đã tạo được tuệ quán cho mình
và cho các đệ tử, thấy rằng chúng đã thuần thục để
xuất gia:
837.
Thế Tôn đáp: Sela,
Phạm
hạnh được khéo giảng,
Thiết
thực ngay hiện tại,
Vượt
khỏi thời gian tính,
Ở
đây sự xuất gia,
Không
uổng công, hoang phí,
Với
ai không phóng dật,
Tinh
tấn chuyên tu học.
Thế
Tôn nói: 'Hãy đến, Tỷ-kheo!' Rồi với thần lực của Bổn
sư, tất cả đều có y và bình bát, đảnh lễ đức Phật,
bắt đầu học thiền quán và chứng quả A-la-hán vào ngày
thứ bảy.
Rồi
các vị ấy đến đức Phật, nói lên trí giác của mình,
và Sela thưa:
838.
Kính bạch bậc Pháp nhãn,
Cách
đây trước tám ngày,
Chúng
con đã đến Ngài,
Xin
phát nguyện quy y,
Thế
Tôn trong bảy đêm,
Ðã
nhiếp phục chúng con,
Ðã
chế ngự chúng con,
Trong
giáo lý của Ngài.
839.
Ngài là bậc Giác giả,
Ngài
là bậc Ðạo Sư,
Ngài
là bậc Mâu-ni,
Ðã
chiến thắng quân ma,
Sau
khi đã đoạn trừ,
Vượt
qua biển sanh tử,
Ngài
giúp quần sanh này,
Cùng
vượt qua bể khổ.
840
Sanh y Ngài vượt qua,
Lậu
hoặc Ngài nghiền nát,
Ngài
là sư tử chúa,
Không
chấp, không sợ hãi.
841.
Ba trăm Tỷ-kheo này,
Ðồng
chấp tay đứng thẳng,
Ôi
anh hùng chiến thắng,
Hãy
duỗi chân bước tới,
Hãy
để các đại nhân,
Ðảnh
lễ bậc Ðạo Sư.
(CCLIV)
Bhaddiya kàligodhàyaputta (Thera. 80)
Sanh
trong thời đức Phật hiện tại, ở Kapilavatthu, trong một
dòng họ Sàkya, ngài được đặt tên là Bhaddiya. Khi đã trưởng
thành, ngài từ bỏ gia đình, cùng với Anuruddha và bốn vị
hoàng tộc khác, khi bậc Ðạo Sư đang ở trong vườn xoài,
tại Anupiy. Khi xuất gia, ngài chứng được quả A-la-hán. Ngài
được đức Phật xác chứng là đệ nhất trong những Tỷ-kheo
thuộc về hoàng tộc. Mỗi khi ngài hưởng lạc giải thoát,
lạc Niết-bàn trong lúc ở trong rừng, dưới một gốc cây,
trong cảnh rừng tịch tịnh, ngài thường thốt ra lời: 'Ôi
hạnh phúc làm sao! Ôi, hạnh phúc làm sao!' Ðược đức Phật
hỏi vì sao ngài thốt ra lời ấy, ngài trả lời khi ngài trị
vì quốc độ của ngài, dầu ngài được bảo vệ chặt chẽ,
ngài vẫn cảm thấy sợ hãi, hoảng hốt. Nhưng nay ngài đã
từ bỏ tất cả, ngài không còn trong trạng thái sợ hãi nữa.
Rồi trước mặt Thế Tôn, ngài rống lên tiếng rống con sư
tử:
842.
Khi ta ngồi cổ voi,
Mang
đồ mặc tế nhị,
Ăn
gạo thật ngon thơm,
Với
món thịt khéo nấu.
843.
Nay hiền thiện, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
844.
Áo lượm rác, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
845.
Thường khất thực, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
846.
Mặc ba y, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
847.
Ði từng nhà, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
848.
Ăn một bữa kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
849.
Ăn trong bát, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
850.
Không ăn thêm, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
851.
Sống trong rừng, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
852.
Ngồi gốc cây, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
853.
Sống ngoài trời, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
854.
Trú nghĩa địa, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
855.
Tùy xứ trú, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
856.
Sống thường ngồi, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
857.
Ham muốn ít, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
858.
Sống biết đủ, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
859.
Hạnh viễn ly, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
860.
Không giao du, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
861.
Sống tinh cần, kiên trì,
Vui
đồ ăn đặt bát,
Thiền
tư, không chấp trước,
Là
con của Gô-dha.
862.
Từ bỏ bát quý giá,
Bằng
vàng, bằng nhựa quý,
Ta
lấy bát bằng đất,
Ðây
quán đảnh thứ hai.
863.
Vòng thành cao bảo vệ,
Vọng
lâu, cửa kiên cố,
Với
lính tay cầm gươm,
Ta
đã sống sợ hãi.
864.
Nay hiền thiện, không sợ,
Bỏ
run sợ kinh hãi,
Thiền
tư, vào rừng sâu,
Là
con của Gô-dha.
865.
An trú trên giới uẩn,
Chánh
niệm, tu tuệ quán,
Thứ
lớp ta đạt được,
Mọi
kiết sử đoạn diệt.
(CCLV)
Angulimàlà (Thera. 80)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một Bà-la-môn
tên Bhaggava, giữ chức cố vấn tôn giáo cho vua nước Kosala.
Trong đêm ngài sanh, các binh khí trong thành phố rực sáng,
các binh giáp của vua cũng rực sáng, thành thử khi vua nằm
trên giường thấy như vậy nên không thể ngủ được, thao
thức và sợ hãi. Vị cố vấn nghi lễ tìm hiểu các vì sao
và kết luận con mình đã sanh trúng đám sao ăn trộm. Sáng
sớm, ông đến chầu vua và hỏi vua ngủ có an giấc không?
Vua trả lời vua ngủ không an giấc được, vì cả đêm thấy
áo giáp chói sáng và hỏi điềm ấy là điềm gì? Vị cố
vấn trả lời là do mình sanh đứa con, áo giáp cả thành phố
đều chói sáng, và khi được biết đứa con sau này có thể
trở thành tên tướng cướp độc thân có thể chế ngự được,
nên vua tha cho khỏi bị giết.
Vì
ngài sanh, làm tâm vua phiền muộn nên được gọi là Himsaka,
và sau không thấy ngài làm hại ai nên được gọi là Ahimasaka.
Do nghiệp đời trước, ngài có sức mạnh của bảy con voi.
Khi ngài học với vị giáo sư đầu tiên ở Takhasilà, ngài
hầu hạ rất thành kính vị giáo sư và bà vợ, nên thường
được thấy ngài bên cạnh vị giáo sư và bà vợ trong những
bữa ăn, vì vậy khiến các thanh niên Bà-la-môn khác ganh ghét,
và xúi vị giáo sư chống lại Ahimsaka. Vì học trò mình có
sức mạnh phi thường, vị giáo sự tìm một kế để ám hại
học trò mình bằng cách bảo Ahimsaka trả tiền học phí cho
mình bằng một ngàn ngón tay phải, nghĩ rằng nếu Ahimsaka
đem lại một ngón tay thời cũng đủ làm hại đệ tử mình
rồi. Lòng hung ác đè nén của Ahimsaka được nổi dậy, ngài
mặc áo giáp, đi vào rừng Jàlinì ở Kosalu núp trên một đồi
núi, theo dõi người đi đường, và khi nào thấy người đi
qua, liền chạy xuống, chặt ngón tay họ, treo trên một cây
cho đến khi các loài diều hâu rứt ăn hết thịt. Rồi dùng
các ngón tay làm một vòng hoa, ngài đeo nơi cổ và từ đó
được gọi là Angulimàlà (kẻ đeo vòng hoa bằng ngón tay).
Khi vì hành động ấy, đường sá trở thành vắng người,
ngài đi vào trong làng và làng trở thành trống không. Vua bèn
sai một lực lượng quân đội đi bắt Angulimàlà. Mẹ của
Angulimàlà khuyên chồng nên đi để bảo Angulimàlà hãy chấm
dứt hành động như vậy, nhưng người chồng từ chối, không
muốn liên hệ với một người con như vậy nên để mặc
nhà vua làm. Bà mẹ vì thương con, khi thấy chồng từ chối
liền soạn đồ lương thực và đi tìm Angulimàlà để ngăn
chận không cho làm điều ác.
Rồi
Thế Tôn suy nghĩ rằng, nếu Angulimàlà gặp mẹ, sẽ giết
mẹ cho đủ một ngàn ngón tay; nay là đời sống cuối cùng
của Angulimàlà, nếu đức Phật không can thiệp thời sẽ
có thiệt hại lớn. Sau bữa ăn đức Phật đi trên con đường
dẫn đến rừng Jàlinì dầu có nhiều người ngăn cản. Khi
Angulimàlà thấy mẹ, ngài tính lấy ngón tay của mẹ cho đủ
số một ngàn ngón tay, thời đức Phật đến và đi giữa
Angulimàlà và người mẹ, Angulimàlà liền bỏ ý định giết
mẹ và quyết định giết vị Sa-môn cho đủ túc số. Angulimàlà
liền rút gươm đuổi theo đức Phật, nhưng dầu ngài cố
gắng thế nào cũng không làm sao đuổi kịp, dầu đức Phật
vẫn đi khoan thai nhẹ nhàng. Angulimàlà yêu cầu đức Phật
đứng lại, đức Phật trả lời đức Phật đã đứng rồi,
chính Angulimàlà cần phải đứng lại. Câu trả lời làm Angulimàlà
khó hiểu, tin rằng các Sa-môn bao giờ cũng nói thật nên ngài
hỏi đức Phật:
866.
Này Sa-môn, Ngài đi,
Lại
nói: 'Ta đứng rồi'.
Ta
đứng, Ngài lại nói:
'Sao
nhà ngươi chưa đứng?'
Sa-môn,
ta hỏi Ngài,
Về
ý nghĩa việc này,
Sao
Ngài đã đứng lại,
Còn
ta lại còn đi.
Thế
Tôn trả lời:
867.
Angulimàlà,
Ta
luôn luôn đã đứng,
Với
tất cả chúng sanh,
Ta
từ bỏ gậy trượng,
Còn
ông đối hữu tình,
Chưa
có tự chế ngự,
Do
vậy Ta đã đứng,
Còn
Ông thời chưa đứng.
Trong
khi đức Phật đứng như vậy, chói sáng đức hạnh của mình,
Angulimàlà nhớ lại những gì mình được nghe về đức Phật,
tuệ quán đạt đến mức thuần thục, hoan hỷ thấm nhuần
toàn thân, như một làn nước dâng trào toàn thế giới. Tự
nói với mình: 'Thật lớn thay, tiếng rống sư tử này. Chắc
đây là Sa-môn Gotama đã đến đây để cứu độ ta'. Ngài
nói:
868.
Ðã lâu con tôn kính,
Bậc
vĩ đại Tiên nhân,
Nay
bậc Sa-môn này,
Ðã
bước vào Ðại lâm,
Con
nay sẽ sẵn sàng,
Từ
bỏ ngàn điều ác,
Sau
khi nghe kệ Ngài,
Liên
hệ đến Chánh pháp.
869.
Nói xong, tên tướng cướp,
Liền
quăng bỏ cây kiếm,
Quăng
bỏ cả khí giới,
Xuống
vực núi thâm sâu.
Tên
tướng cướp đảnh lễ,
Dưới
chân bậc Thiện Thệ,
Chính
ngay tại chỗ ấy,
Xin
đức Phật xuất gia.
870.
Ðức Phật đại từ bi,
Là
bậc đại Tiên nhân,
Ðạo
Sư cả nhân giới,
Cùng
với cả thiên giới,
Nói
lên những lời này:
Hãy
đến, thiện Tỷ-kheo,
Như
vậy, đối vị ấy,
Thành
tựu Tỷ-kheo tánh.
Angulimàlà
sau khi xuất gia tu hành, chứng quả rồi nói lên quả chứng
của mình:
871.
Ai trước sống phóng dật,
Sau
sống không phóng dật,
Chói
sáng thế giới này,
Như
trăng thoát mây che.
872.
Ai trước làm nghiệp ác,
Nay
lấy thiện chận lại,
Chói
sáng thế giới này,
Như
trăng thoát mây che.
873.
Ai Tỷ-kheo còn trẻ,
Chuyên
tâm hành Phật dạy,
Chói
sáng thế giới này,
Như
trăng thoát mây che.
Như
vậy, sống trong hạnh phúc giải thoát, ngài đi vào thành khất
thực. Có người ném đá vào ngài, có người lấy gậy đánh
vào đầu ngài, và ngài về tịnh xá với bình bát bị bể.
Ðức Phật khuyên ngài nên nhẫn nại chịu khổ, vì nghiệp
quả của ngài đáng phải thiêu sống ở địa ngục, nay chỉ
chịu khổ như vậy thôi. Rồi ngài phát tâm từ bi đối với
tất cả chúng sanh.
874.
Mong rằng kẻ thù ta
Ðược
nghe lời Chánh pháp,
Mong
rằng kẻ thù ta
Chuyên
tâm lời Phật dạy,
Mong
rằng kẻ thù ta
Thân
cận với những người
Ðã
đạt được an tịnh,
Sống
thọ trì Chánh pháp.
875.
Mong rằng kẻ thù ta,
Thời
thời được nghe pháp,
Thuyết
giảng về nhẫn nhục,
Tán
thán về nhu hòa,
Và
sở hành của họ,
Phù
hợp với Chánh pháp.
876.
Vị chúng sanh như vậy,
Không
có ám hại ta,
Hay
cũng không ám hại,
Một
người khác nào hết.
Người
ấy sẽ đạt được,
Sự
an tịnh tối thượng,
Sẽ
bảo vệ hộ trì,
Người
mạnh và kẻ yếu.
877.
Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ
làm tên nắn tên,
Người
thợ mộc uốn gỗ,
Bậc
trí nhiếp tự thân.
878.
Có kẻ được điều phục,
Bởi
gậy, móc và roi,
Vị
ấy điều phục ta,
Không
dùng gậy, dùng kiếm.
879.
Ta được tên Vô Hại,
Trước
có tên Làm Hại,
<