Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
Sáu - Phẩm Sáu Kệ
210.
Kassapa ở Uruvelà
211.
Tekicchakàri
212.
Mahànàga
213.
Kulla
214.
Malunkyaputta
215.
Sappadàsa
216.
Kàtiyàna
217.
Migajàla
218.
Jenta
219.
Saumana
220.
Nhàlaka-Muni
221.
Brahmadatta
222.
Sirimanda
223.
Sabbhakàma
Chương
Bảy - Phẩm Bảy Kệ
224.
Sundara-Samuđa
225.
Lakuntaka-Bhađiya
226.
Bhadda
227.
Sopàka
228.
Sarabhanga
Chương
Tám - Phẩm Tám Kệ
229.
Mahà-Kaccàyana
230.
Sirimitta
231.
Mahasa-Panthaka
Chương
Chín - Phẩm Chín Kệ
232.
Bhùta
Chương
VI
Phẩm
Sáu Kệ
(CCK)
Uruvelà Kassapa (Thera. 42)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm anh cả trong ba anh
em một gia đình Bà-la-môn tên Kassapa, và cả ba đều học
thông ba tập Vệ-đà. Ba anh em có đến năm trăm, ba trăm và
hai trăm thanh niên đệ tử vì không tìm được chân lý trong
kinh điển của họ, chỉ tìm thấy những vấn đề thế tục,
nên họ từ bỏ gia đình và trở thành những ẩn sĩ. Cả
ba được đặt tên tùy theo chỗ ở của mỗi vị, và ngài
được gọi là Uruvelà Kassapa vì ngài ở Uruvelà. Một số
sự kiện đã xảy ra, vị Bồ-tát xuất gia, chuyển Pháp luân,
năm vị Trưởng lão chứng quả A-la-hán, năm mươi bạn đứng
đầu là Yasa được hóa độ, sự xuất phát của vị A-la-hán
để thuyết pháp độ sanh, sự hóa độ ba mươi người bạn
giàu có, bậc Ðạo sư đi đến Uruvelà. Khi Thế Tôn hiện
ra nhiều thần thông bắt đầu với sự nhiếp phục con rắn,
Kassapa khởi lòng tin và xuất gia, hai người em cũng bắt chước
người anh cả. Thế Tôn giảng kinh AAdittapariyàya cho ba anh
em Kassapa với một ngàn đệ tử và khiến mọi người chứng
quả A-la-hán.
Uruvelà
Kassapa ôn lại sự thành quả của mình, nói lên chánh trí
với những bài kệ như sau:
375.
Thấy được các thần thông
Gotama
danh tiếng,
Nhưng
ta chưa thần phục,
Bị
ganh, mạn lừa dối.
376.
Bậc Ðiều Ngự loài Người,
Biết
được tâm tư ta,
Chất
vấn ta hốt hoảng,
Kỳ
diệu lông dựng ngược.
377.
Xưa ta thuộc bện tóc,
Thần
thông ta nhỏ mọn,
Ta
xem chúng vô dụng,
Ta
xuất gia đầu Phật,
378.
Xưa bằng lòng tế tự,
Xem
dục giới hàng đầu,
Sau
ta nhổ tận sạch
Cả
tham, sân và si.
379.
Ta biết các đời truóc,
Thiên
nhãn ta trong sạch,
Thần
thông biết tâm nguòi,
Thiên
nhĩ, ta đạt được.
380.
Do đích gì xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Ðích
ấy ta đạt được,
Mọi
kiết sử tận diệt.
(CCXI)
Tekicchakàrì (Thera. 42)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một Bà-la-môn
tên Subuddha. Ngài được các nhà giải phẫu cứu sống khi
ngài mới sanh, vì vậy ngài được đặt tên là Tekicchakàrì
(người được các bác sĩ cứu sống). Ngài lớn lên học
các nghệ thuật và học thuật của giai cấp mình. Phụ thân
ngài vì trí tuệ và chánh sách của mình, nên bị vua Candagotta,
vua Bà-la-nại ganh ghét và bỏ tù. Tekicchakàrì nghe vậy, sợ
hãi bỏ trốn, lánh mình tại tinh xá của một vị Trưởng
lão, và tường thuật cho vị ấy biết nỗi khó khăn của
mình. Vị Trưởng lão cho ngài xuất gia, chọn cho ngài một
đề tài tu tập và ngài trở thành một Tỷ-kheo sống ngoài
trời không kể gì lạnh nóng, hoàn toàn chú tâm vào tu tập
cho được thành quả. Ác ma sợ ngài thoát khỏi sự chi phối
của mình nên muốn phá rối vị Trưởng lão, đến gần dưới
hình thức một người mục đồng, khi gặt hái đã xong, muốn
cám dỗ ngài nên nói như sau:
381.
Lúa đã gặt thâu xong
Gạo
đã được đập, giã,
Nhưng
một miếng, không có,
Ta
sẽ làm gì đây?
Vị
Trưởng lão nghĩ rằng: 'Người này nói đến tình cảnh của
nó. Nhưng ta cần phải giáo huấn ta! Không phải phần việc
để ta thuyết giảng'. Như vậy, vị Trưởng lão khuyên mình
nên thiền quán trên ba quy y:
382.
Hãy niệm Phật vô lượng!
Tâm
hân hoan thoải mái,
Thân
thấm nhuần hỷ thọ,
Luôn
luôn cảm phấn chấn.
383.
Hãy niệm Pháp vô lượng!
Tâm
hân hoan thoải mái,
Thân
thấm nhuần hỷ thọ,
Luôn
luôn cảm phấn chấn.
384.
Hãy niệm Tăng vô lượng!
Tâm
hân hoan thoải mái,
Thân
thấm nhuần hỷ thọ,
Luôn
luôn cảm phấn chấn.
Rồi
Ác ma, muốn ngài không sống hạnh viễn ly, làm như muốn lo
cho ngài được hạnh phúc, nói rằng:
385.
Ngài sống giữa ngoài trời,
Những
đêm này giá lạnh
Chớ
để lạnh hại ngài!
Hãy
vào trong tịnh xá,
Có
cửa đóng then gài.
Vị
Trưởng lão, nêu rõ ở trong nhà là một trói buộc và ở
ngoài trời là giải thoát, nên trả lời:
Ta
sẽ cảm thọ được,
Với
bốn tâm vô lượng,
Ta
sẽ sống an lạc
Với
những tâm tư ấy,
Giá
lạnh không hại ta,
Ta
sống không dao động.
Nói
vậy, vị Trưởng lão phát triển thiền quán và chứng quả
A-la-hán.
Vì
rằng vị Trưởng lão sống trong thời vua Bindusàra, các bài
kệ này cần được hiểu là được tụng đọc vào kỳ kiết
tập thứ ba như là thuộc Kinh tạng.
(CCXII
) Mahà-Nàga (Thera. 43)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh tại Sàketa, con
trai một Bà-la-môn tên Madhu Vàsettha và được đặt tên là
Mahà-Nàga. Ngài thấy thần thông do Trưởng lão Gavampati thực
hiện trong khi Thế Tôn sống trong rừng Anjana, và khởi lòng
tin, ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của vị Trưởng
lão, và chứng quả A-la-hán nhờ vị này giáo huấn.
Ngay
khi ngài an trú trong an lạc giải thoát, Trưởng lão Mahà-Nàga
thấy sáu Tỷ-kheo thường hay không cung kính các vị đồng
Phạm hạnh, và ngài giáo huấn họ với những bài kệ như
sau, những bài kệ này trở thành lời tuyên bố chánh trí
của ngài:
387.
Ai đối đồng Phạm hạnh,
Không
có sự cung kính,
Chúng
thối giảm diệu pháp
Như
cá mắc nước cạn.
388.
Ai đối đồng Phạm hạnh,
Không
có sự cung kính,
Không
lớn trong diệu pháp,
Như
giống thối trong ruộng.
389.
Ai đối đồng Phạm hạnh,
Không
có sự cung kính,
Chúng
xa rời Niết-bàn,
Trong
lời dạy Pháp vương.
390.
Ai đối đồng Phạm hạnh,
Thật
có sự cung kính,
Không
thối giảm diệu pháp,
Như
cá được nước nhiều.
391.
Ai đối đồng Phạm hạnh,
Thật
có sự cung kính,
Lớn
mạnh trong diệu pháp,
Như
giống tốt trong ruộng.
392.
Ai đối đồng Phạm hạnh,
Thật
có sự cung kính,
Họ
đến gần Niết-bàn,
Trong
lời dạy Pháp vương.
(CCXIII)
Kulla (Thera. 43)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ)
trong gia đình một điền chủ tên là Kulla, ngài được cảm
hóa với lòng tin và được bậc Ðạo Sư độ cho xuất gia.
Nhưng ngài thường bị tham dục chi phối. Bậc Ðạo Sư biết
yếu điểm này của ngài, cho ngài một đề tài bất tịnh
và khuyên ngài thiền quán trong một nghĩa địa. Khi tu tập
này chưa được kết quả bậc Ðạo Sư đi với ngài và yêu
cầu ngài theo dõi tiến trình thối nát và tiêu diệt của
vật bất tịnh. Khi Kulla đã được tự tại thoát ly, Thế
Tôn phóng hào quang, khiến ngài nhớ lại bài học, chứng Sơ
thiền và từ đấy phát triển thiền quán, chứng được quả
A-la-hán.
Ôn
lại kinh nghiệm, ngài thốt ra những câu kệ sau đây, trước
nói về ngài, rồi nhắc lại lời dạy của bậc Ðạo Sư,
cuối cùng lại nói về ngài:
393.
Kulla đến nghĩa địa,
Thấy
bỏ một đàn bà,
Vất
ném trong nghĩa địa,
Làm
mồi cho sâu ăn.
394.
Kulla, hãy nhìn thân,
Bệnh
hoạn nhớp hôi thối,
Nước
ứ chảy, rỉ chảy,
Ðược
kẻ ngu thích thú.
395.
Sau khi nắm gương pháp,
Ðạt
được chánh tri kiến,
Ta
quán sát thân này,
Trống
rỗng cả trong ngoài.
396.
Ðây thế nào, kia vậy,
Kia
thế nào, đây vậy,
Dưới
thế nào, trên vậy,
Trên
thế nào, dưới vậy.
397.
Ngày thế nào, đêm vậy,
Ðêm
thế nào, ngày vậy,
Trước
thế nào, sau vậy,
Sau
thế nào, trước vậy.
398.
Người vậy không ưa thích,
Cả
năm loại nhạc khí,
Khi
đã được nhất tâm,
Chơn
chánh thiền quán pháp.
Những
kệ này là lời tuyên bố chánh trí của ngài.
(CCXIV)
Màlunkyaputta (Thera. 43)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con một
vị chuyên môn đánh giá cho vua Kosala, và mẹ là Màlunkyya,
nên ngài được gọi là Màlunkyaputta (con bà Màlunkyà). Khi
đến tuổi trưởng thành, tánh ưa thích đời sống xuất gia,
ngài trở thành một du sĩ ngoại đạo. Khi nghe Thế Tôn thuyết
pháp, ngài xin xuất gia trong Pháp và Luật của Thế Tôn, và
sau một thời gian, ngài chứng được sáu thắng trí. Khi ngài
về thăm nhà vì lòng từ mẫn đối với bà con, các bà con
chào đón ngài rất niềm nở và muốn kéo ngài trở về với
đời sống gia đình thế tục, nói rằng với tài sản của
ngài, ngài có thể lập gia đình và làm các thiện sự. Nhưng
ngài nói lên chí nguyện cuả ngài như sau:
399.
Có người sống phóng dật,
Ái
lớn như cây leo,
Sống
trôi nổi luân chuyển,
Ðời
này qua đời khác,
Như
con khỉ trong rừng,
Thèm
muốn các trái cây.
400.
Khát ái khốn nạn này
Thấm
độc cả thế giới,
Khi
đã chinh phục ai,
Khiến
sầu muộn tăng trưởng,
Chẳng
khác giống cỏ rừng,
Lan
tràn và lớn mạnh.
401.
Ai nhiếp phục được ái,
Khốn
nạn, khó chinh phục,
Sầu
rơi khỏi vị ấy,
Như
giọt nước trên sen.
402.
Các ông đã đến đây,
Ta
thuyết điều lành ấy,
Hãy
đào rễ khát ái,
Như
tìm rễ ngon ngọt,
Loại
cỏ u-sì-ra,
Chớ
để Ma, dòng nước,
Tàn
phá ông cây lau.
Liên
tục vậy mãi mãi.
403.
Hãy hành lời Phật dạy,
Chớ
để Sát-na qua,
Sát-na
qua, sầu khổ,
Thọ
quả trong địa ngục,
404.
Phóng dật như bụi bặm,
Bụi
nhơ, do phóng dật,
Không
phóng dật, minh trí,
Nhổ
mũi tên khỏi ta.
(CCXV)
Sappadàsa (Thera. 44)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ),
con của vị cố vấn tế lễ của vua Suddhodhana, và được
đặt tên là Sappadàsa. Khi đức Phật viếng thăm bà con, ngài
khởi lòng tin và xuất gia. Bị chi phối bởi những tập tục
xấu, những tánh tình tâm lý không tốt đẹp, ngài không sao
được thiền định và nhất tâm. Sự kiện này khiến ngài
quá sầu não đến nỗi ngài gần tự tử, nhưng bỗng ánh
sáng nội tâm chói sáng lan rộng thình lình, ngài chứng quả
A-la-hán, nói lên chánh trí của mình, ngài nói:
405.
Ðã được hăm lăm năm,
Từ
khi ta xuất gia,
Nhưng
đến một búng tay,
Ta
không đạt tâm tịnh.
406.
Nhứt tâm không đạt được,
Bị
dục tham chi phối,
Khoa
tay, ta than khóc,
Bỏ
tịnh xá, ta đi.
407.
Ta sẽ đem dao lại,
Sự
sống ta, nghĩa gì?
Học
tập bị tước bỏ,
Như
ta, chết tốt hơn.
408.
Rồi ta cầm con dao
Ta
vào chỗ giường nằm,
Con
dao được rút ra,
Ðể
cắt cổ của ta.
409.
Rồi ta tự tác ý,
Như
lý, khởi tư duy,
Các
hiểm nguy hiển lộ
Nhàm
chán, ta an trú
410.
Và tâm ta giải thoát,
Thấy
Pháp nhĩ là vậy,
Ba
minh chứng đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
(CCXVI)
Kàtiyàna (Thera. 45)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Sàvatthi, con
của một Bà-la-môn thuộc dòng họ Kosiya, nhưng được gọi
là Kàtiyàna, theo gia đình của bà mẹ. Thấy bạn của mình
là Sàmannakàni trở thành một Trưởng lão, ngài cũng xuất
gia. Khi ngài học tập, ngài cương quyết đối trị nằm ngủ
ban đêm. Trong khi đi qua lại trên con đường kinh hành, ngài
quá buồn ngủ nên té xuống. Bậc Ðạo Sư thấy vậy, đi
đến đứng truớc ngài và gọi: 'Này Kàtiyàna!'. Ngài liền
đứng dậy, đảnh lễ, và đứng một bên, bị dao động mạnh,
rồi Thế Tôn thuyết pháp cho ngài như sau:
411.
Này Ka-tiya-na,
Hãy
thức dậy, ngồi lên,
Chớ
có ngủ quá nhiều,
Hãy
tự mình thức tỉnh,
Này
bà con phóng dật,
Kẻ
thụ động biếng nhác
Chớ
để cho thần chết,
Lường
gạt, chiến thắng ông.
412.
Như sóng tràn biển lớn,
Cũng
vậy sanh và già,
Tràn
ngập chôn lấp ông,
Hãy
tự làm cho ông,
Một
hòn đảo an toàn,
Vì
rằng không ai khác,
Phục
vụ giúp đỡ ông,
Như
là chỗ nương tựa.
413.
Ðạo Sư lập con đường,
Ðường
vượt qua trói buộc,
Vượt
qua sự sợ hãi,
Của
sanh và của già,
Trước
đêm và sau đêm,
Hãy
sống không phóng dật,
Chú
tâm cố kiên trì,
Trong
nỗ lực chuyên tâm.
414.
Từ bỏ triền phược trước,
Mặc
áo Tăng-già-lê,
Ðầu
cạo trọc trơn láng,
Ăn
đồ ăn khất thực,
Chớ
có ưa chơi giỡn,
Chớ
đam mê ngủ nghỉ,
Hãy
nỗ lực thiền định,
Hỡi
Ka-ti-ya-na!
415.
Hãy thiền tu, chiến thắng,
Hỡi
Ka-ti-ya-na!
Hãy
thiện xảo con đường,
An
ổn các khổ ách;
Hãy
đạt cho kỳ được,
Sự
thanh tịnh tối thượng.
Ông
sẽ chứng Niết-bàn,
Như
nước làm tắt lửa.
416.
Ánh sáng được tạo ra,
Hào
quang còn yếu ớt,
Chẳng
khác như cây lau,
Gió
thổi nằm rạp xuống,
Hỡi
bà con Tu-đa,
Như
vậy, chớ chấp thủ,
Hãy
tẩn xuất Ác-ma,
Ly
tham mọi cảm thọ,
Chờ
đợi thời của ông!
Tại
đây ông mát lạnh.
(CCXII
) Migajàla (Thera. 45)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con của
nữ cư sĩ nổi tiếng Visàkhà, và hay đi đến tinh xá để
nghe pháp. Cuối cùng, ngài xuất gia, và sau một thời gian chứng
quả A-la-hán, khi nói lên chánh trí của mình, ngài nói:
417.
Khéo giảng bậc có mắt,
Hào
quang còn yếu ớt,
Mọi
kiết sử vượt qua,
Mọi
luân chuyển hoạt diệt.
418.
Pháp hướng dẫn, hướng thượng,
Làm
khô héo ác căn,
Chặt
đứt gốc nọc độc,
Diệt
ác, đạt tịch tịnh.
419.
Phá vỡ gốc vô trí,
Chấm
dứt nghiệp sanh hữu,
Trí
kim cang đánh nát,
Mọi
chấp trì của thức.
420.
Cảm thọ được phơi bày,
Chấp
thủ được giải thoát,
Hữu
như hố than hừng,
Ðược
tùy quán bởi trí.
421.
Vị lớn, khéo thâm sâu,
Chận
đứng già và chết,
Con
đường Thánh tám ngành,
Tịnh
chỉ khổ, vận tốt.
422.
Biết được nghiệp là nghiệp,
Biết
nghiệp quả là quả,
Như
thực soi, quán chiếu,
Các
pháp do duyên sanh,
Ðưa
đến đại an ổn,
Tịch
tịnh, cứu cánh thiện.
(CCXVIII)
Jenta (Thera. 45)
Trong
thời đức Phật hiện tại , ngài sanh ra làm con của vị cố
vấn tế tự cho vua Kosala và được đặt tên là Jenta. Khi
lớn lên, ngài trở thành kiêu mạn với những quyền lợi
về sanh, tài sản, địa vị, khinh bỉ những gì đáng phải
kính trọng và cứng cỏi trong kiêu hãnh. Một hôm, ngài đến
gần bậc Ðạo Sư đang thuyết pháp cho một số đông, nghĩ
rằng: 'Nếu Sa-môn Gotama nói với ta trước, ta sẽ nói, ta
không tự ý nói với Sa-môn Gotama!'. Thế Tôn không nói với
Jenta, và Jenta vì lòng kiêu mạn cũng không nói. Sau cùng ngài
nêu rõ lý do vì sao ngài đến và Thế Tôn nói với ngài như
sau:
An
trú triền kiêu mạn,
Thật
sự là không tốt,
Hỡi
này Bà-la-môn,
Nên
an trú lợi ích.
Ðiều
thiện ông tầm cầu,
Khi
ông đến tại đây,
Chỉ
trên đấy mà thôi,
Ông
hãy nên an trú.
Jenta
nghĩ rằng: 'Thế Tôn đã biết tư tưởng của ta, cảm thấy
xúc động mạnh và đảnh lễ chân Thế Tôn'. Rồi ngài thưa
với bậc Ðạo Sư:
Với
ai, không nên kiêu?
Với
ai, cần cung kính?
Với
ai, phải tôn trọng?
Cung
kính ai là thiện?
Thế
Tôn trả lời:
Với
cha và với mẹ,
Với
anh cả, với thầy,
Với
các Bà-la-môn,
Với
Sa-môn áo vàng,
Với
những vị như vậy,
Nên
cung kính tôn trọng,
Cung
kính các vị ấy,
Là
việc làm tốt lành.
Với
các bậc La-hán,
Tịch
tịnh và hữu học,
An
tịnh, không cấu uế,
Mọi
kiêu mạn chấm dứt,
Khi
đạt đến mục tiêu,
Hãy
tôn trọng vị ấy.
Với
lời dạy này, Jenta chứng được quả Dự Lưu, xuất gia và
sau một thời gian, chứng quả A-la-hán. Nói lên sự thành công,
ngài tuyên bố chánh trí của ngài:
423.
Ta say đắm tự kiêu,
Với
sanh chủng, tài sản,
Kể
cả với quyền lực,
Ðịa
vị và dung sắc,
Ta
sống kiêu mạn vậy.
Tham
dắm và mê say.
424.
Ta quá sức kiêu hãnh.
Xem
không ai bằng ta,
Si
mê, quá tự hào,
Kiêu
căng và cống cao.
425.
Mẹ cha và người khác,
Ðược
cung kính tôn trọng,
Ta
không lễ một ai,
Kiêu
hãnh, không lễ phép.
426.
Thấy lãnh đạo đệ nhất,
Tối
ưu Ðiều Ngự Sư,
Như
mặt trời sáng chói,
Cầm
đầu chúng Tỷ-kheo.
427.
Gạt bỏ mạn, kiêu hãnh,
Với
tâm thật an lành,
Với
đầu ta đảnh lễ,
Bậc
tối thượng chúng sanh.
428.
Quá mạn, ty liệt mạn,
Từ
bỏ, nhổ tận gốc,
Ngã
mạn được chặt đứt,
Mọi
loại mạn tận diệt.
(CCXIX)
Sumana (Thera. 46)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong gia đình một cư
sĩ, làm vị hộ trì cho Tôn giả Anuruddha. Từ trước, con cháu
của người cư sĩ này chết trẻ. Khi sắp đẻ đứa con, người
cha nghĩ nếu là con trai thời sẽ cho xuất gia với vị Trưởng
lão. Sau mười tháng, đẻ được đứa con trai, vị cư sĩ
này cho xuất gia khi đứa trẻ lên bảy tuổi. Do căn tánh thuần
phục, không bao lâu ngài chứng được sáu thắng trí trong
khi đang hầu hạ bậc Truởng lão. Cầm được cái bình để
xách nước, Sumana với thần thông, đi đến hồ Anotatta, một
con xà vương ác độc, phồng mang ngưỡng đầu lên không cho
ngài lấy nước. Rồi Sumana hóa thành con chim Garuda (Kim xí
điểu) nhiếp phục con rắn và mang nước bay về vị Trưởng
lão. Rồi bậc Ðạo Sư, ngồi tại vườn Jetavana, thấy ngài
bay về, liền gọi Sàriputta cùng xem, và tán thán ngài với
bốn câu kệ. Sunmana để nêu lên chánh trí của mình cộng
thêm những bài kệ của mình như sau:
429.
Khi người mới xuất gia,
Từ
sanh, mới bảy tuổi,
Với
thần thông ta điều,
Con
xà vương thần lực.
430.
Từ hồ nước to lớn,
Tên
A-no-tat-ta
Ta
đem nước hồ về,
Cho
bậc giáo thọ sư,
Thấy
vậy bậc Ðạo Sư,
Nói
về ta như sau:
431.
Này Sà-ri-put-ta!
Xem
đứa trẻ này đến,
Tự
bưng cầm ghè nước,
Nội
tâm khéo định tĩnh.
Với
nhiệm vụ khả ái,
Cử
chỉ rất thuần thiện.
432.
Người đệ tử Sa-di,
Của
Anuruddha,
Có
thần thông uy lực,
Thuần
thục và điêu luyện.
433.
Thuần lương nhờ giáo dục,
Do
vị đại thuần lương,
Thiện
hạnh nhờ giáo dục,
Bởi
bậc khéo thiện hạnh.
Nhờ
Anuruddha,
Khéo
huấn luyện điều phục,
Ðược
học tập giảng dạy,
Làm
xong việc phải làm.
434.
Ðạt được tịnh tối thắng,
Chứng
đắc, không dao động,
Sa-di
Sumana,
Muốn:
'Không ai biết ta'.
(CCXX)
Nhàlaka - Muni (Thera. 46)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
trong gia tộc Bà-la-môn, được giáo dục trong văn chương Vệ-đà,
ngài được biết là vị đã đậu cấp bực Nhàlaka (cấp
bực tắm rửa). Trở thành một ẩn sĩ, ngài sống trong một
khu rừng cách xa Vương Xá khoảng ba do-tuần, sống với lúa
hoang và thờ lửa.
Ðức
Thế Tôn, thấy được điều kiện trở thành một vị A-la-hán
chói sáng trong tâm ngài, như ánh sáng trong một cái ghè. Thế
Tôn đến tại am thất của ngài, ngài vui vẻ đón tiếp đức
Phật, thỉnh đức Phật dùng cơm ngài nấu và như vậy ba
ngày trôi qua. Ngày thứ tư, Thế Tôn nói: 'Ông hết sức yếu
ớt, làm sao ông sống với đồ ăn như thế này?'. Rồi đức
Phật giảng về hạnh biết đủ và thuyết pháp cho ngài. Và
từ quả Dự Lưu ngài chứng quả A-la-hán. Thế Tôn xác chứng
quả vị cuả ngài và ra đi, ngài vẫn ở tại chỗ cũ, nhưng
rồi bị đau vì tê liệt. Bậc Ðạo Sư lại đến thăm và
hỏi ngài về sức khỏe:
435.
Bị bịnh gió chi phối,
Ông
sống trong rừng sâu,
Chỗ
khất thực hạn chế,
Thân
gầy mòn ốm yếu.
Tỷ-kheo
sẽ làm gì,
Với
thân thể như vậy.
436.
Thân con được tràn ngập,
Với
hỷ lạc tỏa rộng,
Dầu
có bị gầy ốm,
Con
sẽ sống trong rừng.
437.
Tu tập Bảy giác chi,
Năm
căn và Năm lực,
Ðầy
đủ thiền tế nhị,
Con
sống, không lậu hoặc.
438.
Thoát khỏi các kết sử,
Tâm
tịnh, không uế nhiễm,
Thường
hằng, khéo quán sát,
Con
sống không lậu hoặc.
439.
Mọi lậu hoặc nội ngoại,
Trước
có mặt trong con,
Tất
cả bị chặt đứt,
Thông
dư, không khởi nữa.
440.
Năm uẩn được liễu tri,
Chúng
đứng, rễ chặt đứt,
Khổ
diệt đã đạt được,
Nay
không còn tái sanh.
(CCXXI)
Brahmadatta (Thera. 46)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con vua nước
Kosala, tên là Brahmadatta, ngài chứng kiến uy nghi của đức
Phật nhân ngày lễ dâng cúng Jetavana, khởi lòng tin, xuất
gia và sau một thời gian chứng sáu thắng trí với lòng tin
và hiểu biết về nghĩa, bởi lòng tin và hiểu biết về Pháp.
Một
hôm ngài đi khất thực, một Bà-la-môn nhiếc mắng ngài, ngài
im lặng nghe và tìếp tục đi, Bà-la-môn ấy lại chửi mắng
ngài, và dân chúng phê bình sự im lặng của ngài; ngài giảng
dạy cho dân chúng như sau:
441.
Từ đâu phẫn nộ khởi,
Với
người không phẫn nộ,
Với
người được nhiếp phục,
Sống
nếp sống thăng bằng.
Với
vị trí giải thoát,
Phật
an tịnh như vậy.
442.
Với ai bị chửi mắng,
Lên
tiếng chửi mắng lại,
Người
ấy tệ ác hơn,
Người
đã chửi mắng trước.
Với
ai bị chửi mắng,
Nhưng
không chửi mắng lại,
Người
ấy được chiến thắng,
Trên
cả hai mặt trận.
443.
Sở hành của người ấy,
Vừa
lợi mình lợi người,
Biết
người khác phẫn nộ,
Chánh
niệm, tự lắng dịu.
444.
Là thầy thuốc cả hai,
Cho
mình và cho người,
Quần
chúng nghĩ là ngu,
Không
khéo hiểu Chánh Pháp.
Rồi
Bà-la-môn chửi mắng ấy nghe những lời này, cảm thấy ưu
não và hoan hỷ rồi xin lỗi ngài. Ðược xuất gia với sự
hướng dẫn của ngài, được dạy đề tài quán từ bi, như
vậy ngài dạy cho phương pháp để đối trị phẫn nộ:
445.
Nếu phẫn nộ nổi lên,
Hãy
nghĩ dụ cái cưa,
Nếu
tham vị khởi lên,
Hãy
nghĩ dụ thịt con.
446.
Nếu tâm ngươi chạy theo,
Theo
dục, theo sanh hữu,
Hãy
gấp nắm với niệm,
Như
nắm con vật ác,
Ði
vào trong ruộng lúa.
(CCXXII)
Sirimanda (Thera. 47)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sunsumàragira trong
một gia đình Bà-la-môn. Khi được nghe Thế Tôn thuyết pháp
ở rừng Bhesakalà, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Một hôm,
nhân ngày lễ trai giới, trong khi giới bổn Pàtimokkhà đang
được đọc, đến phần cuối phần giới thiệu nói về một
lỗi bị phạm được nhẹ đi nếu phát lộ sám hối, ngài
nghĩ đến lợi ích phát lộ sám hối các lỗi đã được
giấu đi, và do vậy ngài phấn khởi hoan hỷ nói lớn tiếng:
'Ôi, thật là hoàn toàn trong sạch, giới luật của bậc Ðạo
Sư!'. Rồi phát triển thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán.
Ôn lại con đường đã trải qua, với tâm phấn khởi, ngài
dạy các vị đồng Phạm hạnh:
447.
Mưa rất là nặng hạt,
Trên
tội được che giấu.
Mưa
không có nặng nề,
Trên
tội được phát lộ,
Ðâu
có phát lộ tội,
Như
vậy, mưa không nặng.
448.
Ðời bị chết áp đảo,
Bị
giải tỏa, bao vây,
Bị
mũi tên ái đâm,
Thường
bị dục huân tập.
449.
Ðời bị chết ấp đảo,
Và
bị già bao vây,
Thường
bị hại, không yên,
Như
cướp với gậy dao.
450.
Chúng đến như đống lửa,
Cả
ba, chết bệnh già,
Không
sức nào địch nổi,
Không
nhanh nào chạy thoát.
451.
Chớ để ngày trống rỗng,
Hãy
làm ít hoặc nhiều,
Ðêm
càng bị bỏ phí,
Mạng
sống càng rút ngắn.
452.
Vậy hoặc đi hay đứng,
Hoặc
ngồi hay nằm xuống,
Ðêm
cuối đi đến gần,
Ngươi
không thời phóng dật.
(CCXXIII)
Sabbhakàma (Thera. 47)
Trong
thời đức Phật hiện tại, sau khi đức Phật nhập diệt,
ngài sanh ở Vesàli, thuộc gia đình quý tộc và được đặt
tên là Sabbhakàma. Khi đến tuổi trưởng thành, thuận theo
chí hướng xuất ly, ngài xuất gia dưới sự hướng dẫn của
Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất). Trong khi đi học tập, ngài
trở về Vesàli với bậc y chỉ sư của mình và về thăm gia
đình. Vợ ngài lúc trước, buồn khổ, gầy mòn, áo xiêm không
săn sóc, nước mắt chạy quanh, chào ngài và đứng một bên.
Thấy vợ cứ như vậy, lòng thương hại khởi lên, và quên
mất chí hướng xuất trần, ngài để cho dục vọng nổi lên.
Như con ngựa khéo luyện tập bị roi đánh, ưu não khởi lên
và ngài đi đến nghĩa địa để quán bất tịnh. Thiền định
được chứng đạt, thiền quán được triển khai, ngài chứng
quả A-la-hán. Rồi nhạc phụ của ngài dắt vợ cũ của ngài
đến, trang điểm thật đẹp mắt, và với một số tùy tùng
đông đảo, đi đến tinh xá để gặp ngài và kéo ngài trở
lui với đời sống gia đình; nhưng ngài tuyên bố với mọi
người là ngài đã từ bỏ các dục vọng như vậy, với những
bài kệ như sau:
453.
Con vật hai chân này,
Bất
tịnh và hôi thối,
Ðầy
các loại tử thi,
Từ
đấy, nước rỉ chảy.
454.
Nai trốn, dùng bẫy sập,
Với
cá dùng câu móc,
Với
khỉ, dùng hầm hố,
Phàm
phu bị bắt vậy.
455.
Sắc, tiếng, vị, hương, xúc,
Khả
ái và thích ý,
Năm
dục trưởng dưỡng này,
Ðược
tiếng trong nữ sắc.
456.
Phàm phu tâm say đắm,
Chạy
theo hưởng nữ sắc,
Tăng
nghĩa địa hãi hùng,
Chất
chứa sự tái sanh.
457.
Ai tránh né nữ sắc,
Như
chân tránh đầu rắn,
Chánh
niệm, vượt qua được,
Kẻ
đầu độc thế giới.
458.
Thấy nguy hiểm trong dục,
An
ổn trong viễn ly,
Thoát
khỏi tất cả dục,
Ta
đạt lậu hoặc tận.
Chương
VII
Phẩm
Bảy Kệ
(CCXXIV)
Sundara-Samudda (Thera. 49)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một người trong
hội đồng thành phố giàu có, ở Ràjagaha (Vương Xá) và được
đặt tên là Samudda. Vì ngài rất đẹp trai nên được gọi
là Sundara-Samudda, khi ngài còn trẻ, ngài thấy được uy nghi
đức Phật, khi có cuộc lễ đón rước đức Phật đến Ràjagaha,
với lòng tin và với thiên tánh tự nhiên, ngài xuất gia. Ðược
giao cho một đề tài thiền quán, ngài đi từ Ràjagaha đến
Sàvatthi, ở với một người bạn và tu tập thiền quán. Mẹ
ngài ở Vương Xá, thấy các người con của các đại biểu
hội đồng thành phố khác với những người vợ trang sức
thật lộng lẫy vui chơi trong những ngày lễ, bà mẹ buồn,
nhớ con và khóc; một kỹ nữ thấy vậy liền dỗ bà và tự
nguyện đi đến Sàvatthi để đem con bà về. Bà mẹ hứa rằng,
nếu con bà chịu cưới nàng, bà sẽ cho nàng làm chủ gia đình
và tặng nhiều tặng phẩm. Với một số tùy tùng, nàng đi
đến Sàvatthi và dừng lại ngôi nhà ngài thường hay đến
hằng ngày để khất thực; nàng hết sức săn sóc cho ngài.
Nàng ăn mặc lộng lẫy và mang dép vàng; một hôm nàng để
đôi dép nàng tại ngưỡng cửa, đảnh lễ ngài với hai tay
chấp lại, khi ngài đi qua với cử chỉ muốn cám dỗ ngài.
Và ngài một tư tưởng thế tục thoáng qua, ngài cương quyết
nỗ lực cuối cùng đứng tại đấy thiền định, thiền quán
và chứng được sáu thắng trí. Ngài diễn đạt quả chứng
của ngài như sau:
459.
Trang sức mặc áo đẹp,
Ðeo
vòng hoa trang điểm,
Chân
bôi sơn màu đỏ,
Một
kỹ nữ đi dép.
460.
Chân rút ra khỏi dép,
Chấp
tay, hướng phía trước,
Nàng
với giọng nhẹ dịu,
Mở
đầu nói với ta;
461.
Chàng trẻ tuổi xuất gia,
Hãy
dừng, lãnh vực em,
Thọ
hưởng năm dục vọng,
Em
cho chàng phương tiện,
Em
hứa chàng sự thật,
Em
đem chàng lửa thề.
462.
Khi chàng em đều già,
Cả
hai đều chống gậy,
Cả
hai cùng xuất gia,
Hai
phần được vận may.
463.
Thấy người kỹ nữ ấy,
Chấp
tay lời van xin,
Trang
sức, mặc áo đẹp,
Như
thần chết gieo mồi.
464.
Rồi ta tự tác ý,
Như
lý khởi tư duy,
Các
hiểm nguy hiển lộ,
Nhàm
chán ta an trú.
465.
Và tâm ta giải thoát,
Thấy
Pháp nhĩ là vậy,
Ba
minh chứng đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
(CCXXV)
Lakuntaka-Bhaddiya (Thera. 49)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình giàu có, được đặt tên là Bhaddiya, nhưng vì ngài
rất thấp, nên được biết với tên là Lakuntaka Bhaddhiya (Bhaddiya
người lùn). Nghe bậc Ðạo Sư giảng, ngài xuất gia, trở
thành một nhà học giả và biện tài, ngài dạy cho các người
khác với một giọng nói rất dịu ngọt. Một hôm, nhân ngài
đang lễ, một phụ nữ đi xe với một Bà-la-môn, thấy ngài
và cười lên, để lộ hàm răng của nàng. Vị Trưởng lão,
lấy hàm răng ấy như một đề tài để thiền quán, khởi
lên thiền định và trên căn cứ ấy, phát triển thiền quán
và trở thành một vị Bất Lai. Về sau nhờ Tôn giả Sàriputta
dạy tu thân hành niệm, ngài chứng quả A-la-hán, ngài nói
lên chánh trí của ngài:
466.
Ra ngoài các khu vườn,
Tên
Ambàtaka,
Trong
rừng với lùm cây,
Ái,
ái căn từ bỏ,
Bhaddiya
ngồi thiền,
Bậc
may mắn hạnh phúc.
467.
Một số người ưa thích,
Trống,
sáo và trống nhỏ,
Còn
ta, dưới gốc cây,
Ta
thích lời Phật dạy.
468.
Nếu Phật ban ân huệ,
Ta
được ân huệ ấy,
Ta
trì thân hành niệm,
Thường
hằng ở mọi giới.
469.
Cười chê, ta vì thân,
Ai
theo ta vì tiếng,
Chúng
không biết được ta,
Vì
dục tham chi phối.
470.
Không biết được phần trong,
Không
thấy được phía ngoài,
Chận
bốn phía, người ngu,
Bị
tiếng nói lôi cuốn.
471.
Không biết được phần trong,
Quán
thấy được phía ngoài,
Chỉ
thấy quả phía ngoài,
Cũng
bị tiếng lôi cuốn.
472.
Quán trí được phần trong,
Quán
thấy được phía ngoài,
Thấy
không bị chướng ngại,
Không
bị tiếng lôi cuốn.
(CCXXVI)
Bhadda (Thera. 50)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong gia
đình một vị lớn trong hội đồng thành phố, làm con một
gia đình cha mẹ trước đây không có con, dầu đã có cầu
khẩn thần linh nhiều lần vẫn chưa có con. Họ đi đến bậc
Ðạo Sư và nói: 'Nếu chúng con có được đứa con, chúng
con sẽ dâng lên cho ngài để làm thị giả!'. Khi được sinh
Bhadda, chúng mặc áo đẹp nhất cho ngài, đưa ngài đến bậc
Ðạo Sư và nói: 'Bạch Thế Tôn, đây là đứa con chúng con
sanh ra, sau khi yết kiến Thế Tôn, chúng con xin dâng hiến cho
Thế Tôn'. Thế Tôn bảo Ananda cho Bhadda xuất gia và đi vào
hương phòng. Ananda giảng dạy cho ngài và căn cơ ngài quá
thuần thục đến nỗi trong khi đang học, vừa lúc mặt trời
mọc, ngài phát triển thiền quán và chứng được sáu thắng
trí.
Thế
Tôn biết được những gì xảy ra và gọi: 'Hãy đến này
Bhadda!' Ngài đến, chấp tay đảnh lễ bậc Ðạo Sư. Ðó là
lễ xuất gia của ngài, đó là lễ xuất gia do đức Phật
chủ trì. Và bậc Trưởng lão nói lên chánh trí của ngài:
473.
Ta là con độc nhất
Ðược
cha thương mẹ thương,
Do
nhiều hạnh giới cấm,
Van
vái mới được ta.
474.
Vì lòng thương xót ta,
Muốn
ta được hạnh phúc,
Cả
cha và mẹ ta,
Dẫn
ta đến đức Phật
475.
Ðược đứa con trai này,
Thật
trải nhiều khó khăn,
Nuôi
dưỡng rất tế nhị,
Ðược
nuông chiều săn sóc,
Chúng
con kính dâng Ngài,
Kính
thưa bậc cứu độ,
Ðể
làm người thị giả,
Hầu
hạ bậc chiến thắng.
476.
Bậc Ðạo Sư nhận ta,
Nói
A-nan như sau:
Hãy
cho nó xuất gia,
Nó
sẽ thành thuần lương.
477.
Sau khi bậc Ðạo Sư,
Bảo
xuất gia cho ta,
Xong
rồi bậc chiến thắng,
Bước
vào trong tinh xá,
Khi
mặt trời chưa mọc,
Tâm
ta được giải thoát.
478.
Rồi bậc Ðạo Sư ta,
Ðể
chấm dứt công việc,
Từ
yên lặng thiền tịnh,
Ngài
đứng dậy gọi ta:
Này
Bhadda hãy đến,
Ta
thọ Ðại giới vậy.
479.
Từ sanh, đến bảy năm,
Ta
được thọ Ðại giới,
Ba
minh ta đạt được,
Ôi
pháp, thiện pháp tánh!
(CCXXVII)
Sopàka (Thera. 50)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh từ vợ một người
cùng đinh, và do thọ sanh, ngài được gọi là Sopàka (người
cùng đinh). Có người nói ngài là con một thương gia. Sự
kiện này không được tập Apadàna chấp nhận:
Khi
ta chứng được,
Tái
sanh cuối cùng,
Ta
vào bào thai,
Của
Sopàka.
Bốn
tháng sau khi sanh, cha ngài mệnh chung, và được người cậu
nuôi dưỡng. Người cậu, do người con hay nóng giận của
mình xúi giục, muốn giết ngài. Nó đem ngài đến bãi tha
ma, trói hai tay ngài cột vào cổ một thây ma, nghĩ rằng các
con chó rừng sẽ ăn thịt ngài. Nó không thể giết ngài vì
ngài tái sanh lần cuối cùng. Ban đêm các con chó rừng và
các con thú khác đến, và đứa con nít kêu khóc:
Thế
nào là định mệnh,
Ðược
để dành cho ta.
Ai
là người bà con,
Của
đứa trẻ mồ côi!
Giữa
nghĩa địa kinh hoàng,
Ta
bị cột, trói chặt!
Ta
sẽ tìm được ai,
Là
người bạn của ta!
Bậc
Ðạo Sư trong lúc ấy đang nhìn xem ai là người đáng cứu
độ, thấy trong đứa trẻ, những nhân duyên chứng quả A-la-hán
được chói sáng trong tâm của đứa trẻ, liền chiếu sáng
hào quang và nói:
Hãy
đến, Sopaka,
Người
đừng có sợ hãi,
Hãy
nhìn đến Như Lai,
Chính
Ta sẽ cứu con!
Như
mặt trăng thoát khỏi,
Hàm
răng của Ràhu.
Với
sức mạnh của đức Phật, đứa trẻ bứt đứt dây trói,
và cuối bài kệ đứng dậy, trở thành một bậc Dự lưu
và đứng trước hương phòng của đức Phật! Mẹ ngài tìm
ngài hỏi người cậu, nhưng người cậu im lặng không nói
gì. Mẹ ngài đi đến đức Phật, nghĩ rằng đức Phật biết
tất cả, quá khứ, hiện tại, vị lai. Bậc Ðạo Sư, dùng
thần thông giấu đứa con. Bà thưa với Thế Tôn: 'Bạch Thế
Tôn, con không thể tìm thấy đứa con. Nhưng Thế Tôn biết
được con tôi đang làm gì?'. Thế Tôn trả lời:
Các
người con không phải,
Là
chỗ y, nương tựa,
Cả
cha cũng là vậy,
Kể
cả các bà con.
Với
kẻ bị mệnh chung,
Dầu
bà con huyết thống,
Cũng
không thể nương tựa!
Và
như vậy, Thế Tôn thuyết pháp cho bà, bà nghe xong chứng quả
Dự lưu, nhưng đứa trẻ chứng quả A-la-hán. Rồi Thế Tôn
rút lại thần thông và bà mẹ sung sướng thấy được người
con. Ðược biết con mình đã chứng quả A-la-hán, bà bằng
lòng để con xuất gia và bà ra về.
Rồi
ngài đến đảnh lễ bậc Ðạo Sư, khi bậc Ðạo Sư đang
đi dưới bóng mát của hương phòng và đi theo Thế Tôn. Thế
Tôn muốn thế độ cho ngài liền hỏi ngài mười câu hỏi,
bắt đầu bằng câu: 'Thế nào là một pháp?'. Ngài hiểu được
ý Thế Tôn liền trả lời: 'Các chúng sanh được nuôi dưỡng
bằng thức ăn...', với trí sáng suốt của mình. Bậc Ðạo
Sư thỏa mãn với những câu trả lời của đứa trẻ, thọ
giới cho ngài. Do vậy ngài có được tên là: 'Ðặt trẻ với
những câu hỏi'. Ngài nói lên chánh trí của mình, thuật lại
những sự việc đã xảy ra, với bài kệ như sau:
480.
Thấy bậc Tối thượng nhân,
Kinh
hành dưới bóng lầu,
Tại
đấy, ta đi tới,
Ðảnh
lễ bậc Tối thượng.
481.
Ðắp y một bên vai,
Chấp
hai tay đưa lên,
Ði
theo bậc Vô cấu,
Tối
thượng trên mọi loài.
482.
Ngài hỏi ta câu hỏi,
Khéo
biết đặt câu hỏi,
Ta
trả lời Ðạo Sư,
Không
run, không sợ hãi.
483.
Ðức Như Lai tùy hỷ,
Câu
trả lời câu hỏi,
Nhìn
chúng Tỷ-kheo Tăng,
Ngài
nói ý nghĩa này:
484.
Lợi ích thay, dân chúng,
Ăng-ga,
Magadha,
Cúng
dường cho vị ấy,
Y
dược thuốc sàng tọa,
Biết
cung kính thích nghi,
Thật
lợi ích cho chúng,
Bậc
Ðạo Sư nói vậy,
485.
Bắt đầu từ hôm nay,
Hỡi
này Sopaka,
Hãy
đến yết kiến Ta,
Như
vậy, Sopaka,
Ông
thành tựu Ðại giới,
Ðược
an lành tốt đẹp.
486.
Bảy năm từ khi sanh,
Ta
được thọ Ðại giới,
Ta
mang thân cuối cùng!
Ôi
pháp, thiện pháp tánh.
(CCXXVIII)
Sarabhanga (Thera. 50)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại Ràjagaha (Vương
Xá), con của một Bà-la-môn, ngài có thể được đặt tên,
độc lập hay không độc lập với truyền thống gia đình,
ngài không có đặc điểm gì để đặt tên. Khi đến tuổi
trưởng thành, ngài trở thành một ẩn sĩ, tự dựng một
thảo am, làm bằng cọng cây lau mà tự ngài bẻ gãy, và từ
đấy ngài được biết với tên là Sara-Bhanga, (người bẻ
gãy cọng cây lau). Thế Tôn với Phật nhãn nhìn quanh thế
giới, thấy được nơi ngài những điều kiện để thành
vị A-la-hán. Thế Tôn đi đến thuyết pháp cho ngài. Và ngài
khởi lòng tin, trở thành một vị xuất gia, sau một thời
gian trở thành vị A-la-hán, ngài vẫn tiếp tục ở thảo am.
Thảo am dần dần hư nát và sụp đổ xuống, dân chúng hỏi
ngài sao không dựng thảo am lại, ngài trả lời, khi thảo
am được dựng lên, ngài còn ẩn sĩ. Nhưng nay ngài không thể
làm được như vậy nữa. Rồi ngài nói lên toàn bộ vấn
đề như sau:
487.
Tay bẻ những cây lau,
Ta
làm am ta ở,
Do
vậy, được tên tục:
'Người
bẻ gãy cây lau'.
488.
Nay không còn thích hợp,
Tự
tay bẻ cây lau,
Theo
học giới giảng dạy,
Gotama
danh xưng.
489.
Chính Sara-bhanga,
Từ
trước chưa từng thấy,
Thấy
chứng bệnh toàn diện,
Một
cách thật đầy đủ.
Bệnh
ấy nay được thấy,
Do
lời bậc siêu thiên.
490.
Chính đường ấy đã đi,
Vibassì,
Sikhi,
Kể
cả Vessabhu,
Với
Kakusandha,
Konàgamana.
Chính
với con đường ấy,
Gotama
đã đến.
491.
Ly ái, không chấp thủ,
Bảy
Phật chứng Niết-bàn,
Pháp
này được thuyết giảng,
Bởi
các vị chứng Pháp.
492.
Vì từ mẫn chúng sanh,
Bốn
sự thật được giảng,
Khổ,
khổ tập, con đường,
Diệt,
chấm dứt khổ đau.
493.
Trong đời sống liên tục,
Khổ
luân chuyển không dứt,
Khi
thân này bị hoại,
Khi
mạng sống cáo chung,
Tái
sanh khác không còn,;
Ta
thật, khéo giải thoát,
Giải
thoát mọi sanh y.
Chương
VIII
Phẩm
Tám Kệ
(CCXXLX)
Mahà-Kaccàyana (Thera. 52)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại Ujienì trong gia đình
của vị cố vấn nghi lễ cho vua Candapajjota. Ngài học ba tập
Vệ-đà, khi ngài lớn và khi phụ thân mất ngài kế tiếp
chức vụ của cha. Ngài được biết với tên là Kaccàna theo
dòng họ. Nhà vua được nghe tin đức Phật xuất hiện, ngài
đi mời đức Phật, ngài đi với bảy người, được bậc
Ðạo Sư thuyết pháp, sau buổi thuyết giảng, cả ngài với
bảy người đều chứng quả A-la-hán, với hiểu biết về
nghĩa và về pháp. Rồi Thế Tôn đưa tay nói: 'Hãy đến các
Tỷ-kheo!', cả tám vị được cắt tóc, đầy đủ với bát
và y.
Khi
ngài đã được giải thoát, ngài mời đức Phật đến Ujjenì
để thuyết pháp cho vua. Ðức Phật nói Kaccàna tự mình đi
về, thực hiện sứ mệnh ấy. Kaccàna theo lời khuyên, đi
với cả bảy vị, thuyết pháp cho vua, khiến vua khởi lòng
tin rồi trở lại với bậc Ðạo Sư.
Một
hôm, nhiều Tỷ-kheo sau khi bỏ một bên các bổn phận của
mình, tìm thú vui trong các vui thế tục và xã hội, đang sống
một đời sống phóng dật. Vị Trưởng lão trong hai câu kệ,
khuyên răn các vị ấy, và với sáu bài kệ tiếp, giảng dạy
cho vua:
494.
Chớ làm quá nhiều việc,
Tránh
quần chúng đua tranh,
Người
siêng tham đắm vị,
Bỏ
đích đem an lạc.
495.
Ta cảm là 'đống bùn',
Cung
kính các gia đình,
Là
mũi tên nhỏ nhiệm,
Thật
khó được rút ra,
Tôn
trọng khó từ bỏ,
Ðối
với kẻ không tốt.
Lời
cho vua:
496.
Hành động của con người,
Không
phải là độc ác,
Tùy
thuộc vào người khác,
Người
khác nói hay làm,
Tự
mình chớ có làm,
Vì
người, bà con nghiệp.
497.
Không vì người khác nói,
Con
người thành ăn trộm,
Không
vì người khác nói,
Con
người thành bậc Thánh.
Như
mình tự biết mình,
Chư
Thiên biết mình vậy.
498.
Người khác không biết được,
Ðây
ta sống một thời,
Những
ai biết được vậy,
Bậc
trí sống lắng dịu.
499.
Chỉ bậc trí sống mạnh,
Dầu
tài sản đoạn tận,
Nếu
không được trí tuệ,
Có
tiền như không sống,
Với
vua hỏi về cơn mộng:
500.
Với tai nghe tất cả,
Với
mắt thấy tất cả,
Kẻ
trí bỏ tất cả,
Như
không thấy không nghe,
501.
Có mắt, như kẻ mù,
Có
tai như kẻ điếc,
Có
trí, như kẻ ngu,
Có
sức, như kẻ yếu,
Ðể
việc lành khởi lên,
Nằm
như kẻ chết nằm.
(CCXXX)
Sirimitta (Thera. 52)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
con của một điền chủ giàu có, được đặt tên là Sirimitta;
mẹ ngài là chị của Sirigutta. Nay Sirimitta, cháu của Sirigutta
tìm được lòng tin đối với bậc Ðạo Sư nhiếp phục con
voi Dhanapàla. Rồi ngài xuất gia và sau một thời gian chứng
quả A-la-hán.
Một
hôm, từ chỗ ngồi đứng dậy để tụng học giới bổn Pàtimokkha,
ngài cầm một cái quạt có sơn màu, rồi ngồi xuống, ngài
thuyết pháp cho các Tỷ-kheo, và làm như vậy, ngài làm nổi
bật những đức tánh khác như sau:
502.
Không phẫn nộ, không hận,
Không
gian, không hai lưỡi,
Vị
Tỷ-kheo như vậy,
Ðời
sau, không ưu sầu.
503.
Không phẫn nộ, không hận,
Không
gian, không hai lưỡi,
Tỷ-kheo
thường hộ căn,
Ðời
sau không ưu sầu.
504.
Không phẫn nộ, không hận,
Không
gian, không hai lưỡi,
Tỷ-kheo
giữ thiện giới,
Ðời
sau, không ưu sầu.
505.
Không phẫn nộ, không hận,
Không
gian, không hai lưỡi,
Tỷ-kheo
thiện bằng hữu,
Ðời
sau không ưu sầu
506.
Không phẫn nộ, không hận,
Không
gian, không hai lưỡi,
Tỷ-kheo
thiện trí tuệ,
Ðời
sau, không ưu sầu.
Sau
khi thuyết giảng về phẫn nộ, hận... ngài nói đến con đường
siêu thoát, diễn tả thái độ chơn chánh của từng cá nhân,
như vậy chứng nhận chánh trí của mình:
507.
Với ai tin Như Lai,
Không
dao động, thiện trú,
Với
ai, nếp giới hạnh,
Ðược
thiện nhân tán thán,
Ðược
bậc Thánh tùy hỷ.
508.
Với ai, có tín thành,
Ðối
với chúng Tăng già,
Có
tri kiến chánh trực,
Họ
nói về người ấy:
Vị
ấy không nghèo đói,
Ðời
sống không trống rỗng.
509.
Vậy nên bậc Hiền trí,
Hãy
chú tâm tín, giới,
Tịnh,
tín, thấy đúng pháp;
Vào
cốt tủy lời Phật.
(CCXXXI)
Mahà-Panthaka (Thera. 53)
Khi
bậc Ðạo Sư đi đến Ràjagaha, chuyển bánh xe pháp, Panthaka,
con đầu lòng của con gái một nhân viên giàu có trong Ủy
ban thành phố, và một trong những người nô tỳ của phụ
thân của người con gái, cả hai thường đi đến ông ngoại
để nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, khởi lòng tin với thiền
quán. Sau khi xuất gia, ngài trở thành thiện xảo trong lời
dạy của bậc Ðạo Sư và trong bốn thiền, và sau một thời
gian, chứng quả A-la-hán. An trú trong an lạc thiền quán và
quả chứng, ngài hồi tưởng lại sự thành công của mình,
và sung sướng rống tiếng rống con sư tử như sau:
510.
Khi đầu tiên ta thấy,
Bậc
Ðạo Sư vô úy,
Xúc
động khởi nơi ta,
Thấy
được người Tối thượng.
511.
Ai cả tay cả chân,
Cầu
khẩn thần may đến,
Với
cử chỉ như vậy,
Khiến
Ðạo Sư hoan hỷ,
Vị
ấy không thể đạt,
Như
sở nguyện của mình.
512.
Còn ta đã từ bỏ,
Vợ
con, tiền, lúa, gạo,
Sau
khi cạo râu tóc,
Ta
xuất gia không nhà.
513.
Học, sinh hoạt đầy đủ,
Các
căn khéo chế ngự,