Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
Bốn - Phẩm Bốn Kệ
186.
Nàgasamàla
187.
Bhagu
188.
Sabhiya
189.
Nandaka
190.
Jambuka
191.
Senaka
192.
Sambhùta
193.
Ràhula
194.
Candana
195.
Dhammika
196.
Sabbaka
197.
Mudita |
Chương
Năm - Phẩm Năm Kệ
198.
Ràjadatta
199.
Subhùta
200.
Girimànanda
201.
Sumana
202.
Vaddha
203.
Nadikassapa
204.
Kassapa Ở Gayà
205.
Vakkali
206.
Vifgitasena
207.
Yasadatta
208.
Sona-Kutikanna
209.
Kosiya |
Chương
IV
Phẩm
Bốn Kệ
(CLXXXVI)
Nàgasamàla (Thera. 33)
Sanh
trong thời đức Phật hiện tại, trong gia đình hoàng tộc
Thích-ca, ngài quán sát tánh vô thường của sự vật và triển
khai thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán. Ngài chứng minh chánh
trí của ngài dựa trên kinh nghiệm riêng của ngài trong những
bài kệ này:
267.
Trang điểm, mặc áo đẹp,
Ðeo
vòng hoa, thơm nức,
Mùi
thơm gỗ chiên đàn,
Giữa
đám đông, đường lớn,
Một
vũ nữ đang múa,
Múa
lượn theo nhạc khí.
268.
Ta vào thành, khất thực,
Ði
ngang, ta thấy nàng
Trang
điểm, mặc áo đẹp,
Gieo
bẫy mồi thần chết.
269.
Rồi ta tự tác ý,
Như
lý khởi tư duy,
Các
hiểm nguy hiển lộ,
Nhàm
chán, ta an trú.
270.
Và tâm ta giải thoát,
Thấy
pháp nhĩ là vậy,
Ba
minh chứng đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
(CLXXXVII)
Bhagu (Thera. 33)
Sanh
trong thời đức Phật hiện tại, trong một gia đình dòng họ
Sakya (Thích Ca), ngài xuất gia với Anuruddha và Kimbila, và sống
gần làng Bàlakalona. Một ngày kia, khi ngài từ tinh xá ra ngoài
để đối trị bịnh buồn ngủ, ngài té khi ngài bước lên
đường kinh hành. Xem đấy để tự khích lệ, ngài tự chế
ngự và phát triển thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán. Từ
đấy, sống thọ hưởng an lạc giải thoát Niết-bàn. Thế
Tôn đến, tán thán cô độc của ngài và hỏi: 'Này Tỷ-kheo,
sao cho đến nay, Thầy vẫn còn tinh tấn?'. Ngài trả lời,
với những bài kệ như sau:
271.
Bị buồn ngủ chi phối,
Ta
ra khỏi tinh xá,
Lại
lên đường kinh hành,
Tại
đấy té xuống đất.
272.
Xoa bóp cả chân tay,
Lại
lên đường kinh hành,
Qua
lại đường kinh hành,
Nội
tâm ta định tỉnh.
Rồi
ta tự tác ý,
Như
lý khởi tư duy,
Các
hiểm nguy hiển lộ,
Nhàm
chán ta an trú.
273.
Và tâm ta giải thoát
Thấy
pháp nhĩ là vậy,
Ba
minh chứng đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
(CLXXXVIII)
Sabhiya (Thera. 33)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong gia đình con gái
một hoàng tộc, người con gái này được cha mẹ giao cho một
vị du sĩ hướng dẫn để nàng có thể học giáo lý và nếp
sống tu hành. Sabhiya khi lớn lên cũng trở thành một du sĩ,
học hỏi nhiều kinh kệ tụng, trở thành một nhà lý luận
sắc bén, không ai sánh nổi. Dựng am bên cửa thành, ngài dạy
học cho con cháu các hoàng tộc, ngài nghĩ ra hai mươi câu hỏi
để ngài hỏi các vị tu sĩ và Bà-la-môn. Trong khi Sabhiyasutta,
có ghi là một Bà-la-môn, từ cõi Tịnh cư thiên, đã nghĩ
ra các câu hỏi ấy. Thế Tôn khi đi đến Vương Xá, tinh xá
Trúc Lâm, đã trả lời các câu hỏi và Sabhiya khởi lòng tin,
xuất gia và chứng quả A-la-hán.
Khi
ngài khuyên dạy các Tỷ-kheo đã theo phe Devadatta, ngài nói
lên những bài kệ như sau:
274.
Người khác không rõ biết,
Ta
ở đây một thời,
Tại
đây, bậc có trí,
Biết
vậy sống tịnh chỉ.
275.
Khi họ không rõ biết,
Họ
làm như bất tử;
Khi
họ rõ biết pháp,
Giữa
bệnh, họ không bệnh.
276.
Ai sở hành phóng đãng,
Cấm
giới bị uế nhiễm,
Phạm
hạnh đáng nghi ngờ,
Vị
ấy chứng quả lớn,
277.
Sống giữa đồng Phạm hạnh,
Không
được trọng, tôn kính,
Vị
ấy xa Diệu pháp,
Như
trời xa đất liền.
(CLXXXIX)
Nandaka (Thera. 33)
Trong
thời Ðức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình có gia tộc, và được gọi là Nandaka. Ngài xuất
gia, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, và phát triển thiền
quán, ngài chứng quả A-la-hán. Sau đó khi đang sống trong an
lạc giải thoát, ngài được bậc Ðạo Sư dạy thuyết pháp
cho các Tỷ-kheo-ni và khiến cho năm trăm vị chứng quả A-la-hán.
Ðức Phật ấn chứng cho ngài là vị khuyến giáo Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo-ni đệ nhất.
Rồi
một ngày kia, khi đi khất thực ở Sàvatthi, một nữ nhân
trước kia lập gia đình với ngài, thấy ngài và cười lớn
tiếng với một tâm bất chánh. Vị Trưởng lão thấy hành
động của nàng liền dạy cho nàng về thân thể bất tịnh,
với những bài kệ sau:
278.
Gớm thay, vật hôi thối!
Ðầy
sắc mùi hôi tanh,
Vật
sở hữu của ma,
?
chảy nhiều dòng nước,
Thân
này có chín dòng,
Luôn
luôn được tuôn chảy.
279.
Chớ khinh miệt cổ nhân!
Chớ
xúc phạm Như Lai,
Họ
không tham thiên giới,
Còn
nói gì cõi người.
280.
Kẻ ngu, thiếu trí tuệ,
Tà
ý, si bao phủ,
Kẻ
ấy đầy tham đắm,
Bị
ma quăng dây trói.
281.
Những ai đã thoát ly,
Tham,
sân và vô minh,
Ðây
họ không tham đắm,
Dây
cắt, không trói buộc.
(CXC)
Jambuka (Thera. 34)
Trong
thời Ðức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình rất
nghèo. Như trong đời trước, ngài dùng phân làm đồ ăn, và
rời bỏ gia đình, làm vị tu khổ hạnh. Thực hành nhiều
khổ hạnh, ăn từng hạt đậu một, được chấm trên đầu
ngọn rơm. Ngài đã năm lăm tuổi khi đức Phật thấy ngài
căn cơ thuần thục, như ngọn đèn đặt trong cài ghè, đi
đến ngài, thuyết pháp và hóa độ cho ngài. Rồi Thế Tôn
gọi: 'Hãy đến, này Tỷ-kheo' và cho ngài xuất gia. Rồi Jambuka
phát triển thiền quán và Thế Tôn ấn chứng ngài chứng quả
A-la-hán. Ðây chỉ là sơ lược, trong đoạn sớ giải các
câu kệ của Dhammapàda, câu chuyện được giải thích rộng
rãi từ nơi câu; 'Ăn từng hạt đậu một, với ngọn rơm
chấm đậu. Khi đến giờ mệnh chung, ngài nói lên rằng: dầu
một lần sống theo tà hạnh, nhưng nếu dựa vào đức Phật
tối thượng, ngài cũng có thể chứng quả như các đệ tử
khác. Ngài nói lên những bài kệ:
282.
Trải năm mươi lăm năm,
Thân
đầy những bụi bặm,
Ăn
cơm tháng một lần,
Tóc
râu ta nhổ sạch.
283.
Ta đứng chỉ một chân,
Ta
không dùng giường nằm,
Ta
ăn phân phơi khô,
Ta
không nhận lời mời.
284.
Sở hành ta nhiều vậy,
Dẫn
ta đến ác thú,
Bị
nước lớn cuốn trôi,
Cho
đến khi quy Phật.
285.
Hãy nhìn Phật ta quy
Hãy
nhìn Pháp, pháp nhĩ
Ba
minh ta đạt được
Lời
Phật dạy làm xong
(CXCI)
Senaka (Thera. 34)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình, con
trai người chị của Trưởng lão Kassapa ở Uruvela, và được
đặt tên là Senaka. Khi học về văn hóa Vệ-đà Bà-la-môn,
ngài ở với gia đình. Trong thời ấy dân chúng tổ chức hàng
năm vào tháng Thaggumà (tháng ba) một lễ quán đảnh một bến
nước, lễ ấy được gọi là Gayà melà (hay ngày trai giới
Gayà).
Thế
Tôn vì lòng thương tưởng đến những người có thể giáo
hóa, ở lại gần bờ sông. Và khi quần chúng tụ họp lại,
Senaka cũng đến, nghe bậc Ðạo Sư thuyết giảng được cảm
hóa xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Sau đó,
suy tuởng đến sự thắng trận của mình, ngài cảm thấy
hân hoan, và ứng khẩu nói lên những bài kệ này
286.
Thật tốt lành cho ta,
Khi
ở thành Gayà,
Trong
tháng lễ mùa xuân,
Tháng
tên Phagguna,
Ta
thấy bậc Chánh Giác,
Thuyết
Chánh pháp tối thượng.
287.
Bậc có hào quang lớn,
Là
Ðạo Sư hội chúng,
Ðạt
được vị tối thắng,
Bậc
lãnh đạo nhiếp chúng,
Chiến
thắng giới Trời, Người,
Bậc
thấy khó cân lường.
288.
Ðại long tượng, đại hùng,
Ðại
quang minh, vô lậu,
Mọi
lậu hoặc đoạn tận,
Ðạo
Sư, không sợ hãi.
289.
Lâu nay ta uế nhiễm,
Bị
tà kiến trói buộc,
Nay
chính Thế Tôn ấy,
Giải
thoát Senaka,
Thoát
khỏi mọi buộc ràng,
Ðược
tự tại , giải thoát.
(CXCII)
Sambhùta (Thera. 34)
Trong
thời Ðức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình có
giai cấp, và sau khi bậc Ðạo Sư tịch diệt, ngài được
Ananda giáo hóa, xuất gia và chứng quả A-la-hán. Ngài sống
trong an lạc giải thoát, cho đến khi một trăm năm sau khi đức
Phật nhập diệt, các Tỷ-kheo Vajjì đề xướng mười tà
pháp bị Trưởng lão Niyasa và các Tỷ-kheo Kàlanndaka chống
lại và một kỳ kiết tập được tổ chức với bảy trăm
vị A-la-hán. Ngài Sambhùta, bị xúc động bởi hành động
xuyên tạc Pháp và Luật, nói lên những bài kệ này và tuyên
bố chánh trí của ngài:
290.
Ai khi phải từ từ
Lại
lội qua gấp gấp,
Ai
khi phải lội gấp,
Lại
từ từ lội qua,
Kẻ
ngu thiếu chánh lý,
Ði
đến cảnh khổ đau.
291.
Lợi ích bị tổn giảm,
Như
trăng vào thời đen,
Gặp
phải sự ô nhục,
Chống
đối các bạn bè.
292.
Ai khi phải từ từ,
Lội
qua rất từ từ,
Ai
khi phải lội gấp,
Lội
qua thật gấp gáp,
Kẻ
trí có chánh lý,
Ði
đến cảnh an lạc.
293.
Lợi ích được viên mãn,
Như
trăng vào thời sáng,
Ðược
danh tiếng vinh dự,
Không
chống đối bạn bè.
(CXCIII)
Ràhula (Thera. 35)
Ngài
là con của đức Phật và công chúa Yasodhàra, và được nuôi
dưỡng với các hoàng tử khác. Trường hợp ngài xuất gia
đã được ghi trong tập Khandhaka. Nhờ những lời dạy trong
nhiều bài kinh, trí tuệ ngài thuần thục và phát triển thiền
quán, ngài chứng quả A-la-hán. Suy tư đến sự thắng trận
của mình, ngài nói lên chánh trí:
294.
Nhờ ta được đầy đủ,
Hai
đức tánh tốt đẹp,
Ðược
bạn có trí gọi,
'Ra-hu-la
may mắn'
Ta
là con đức Phật,
Ta
lại được Pháp nhãn.
295.
Các lậu hoặc ta đoạn,
Không
còn có tái sanh,
Ta
là bậc La-hán,
Ðáng
được sự cúng dường.
Ba
minh ta đạt được,
Thấy
đuợc giới bất tử.
296.
Bị dục làm mù quáng,
Bị
lưới tà bao trùm,
Khát
ái làm màn che,
Bao
trùm che phủ kín.
Do
phóng dật trói buộc,
Như
cá mắc mắt lưới.
297.
Ta vượt qua dục ấy,
Cắt
đứt ma trói buộc,
Nhổ
lên gốc khát ái,
Ta
mát lạnh tịch tịnh.
(CXCIV)
Candana (Thera. 35)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài tái sanh trong một gia đình
giàu có và đặt tên là Candana, ngài sống một đời sống
gia đình cho đến khi ngài được nghe bậc Ðạo Sư thuyết
pháp. Và chứng quả Dự Lưu. Khi ngài sanh được một người
con, ngài xuất gia, chọn lựa một đề tài thiền quán và
sống ở trong rừng. Ði đến Sàvatthi để yết kiến bậc
Ðạo Sư, ngài ở trong một bãi tha ma, vợ ngài nghe tin ngài
đến, liền trang điểm, đem con theo, nghĩ rằng: 'Với nhan
sắc nàng có thể khiến ngài từ bỏ xuất gia'. Ngài thấy
nàng từ xa đi đến nghĩ cách để thoát khỏi bị nàng cám
dỗ, phát triển thiền quán và chứng được sáu thắng trí.
Ngài thuyết giảng cho nàng, khiến nàng qui y và thọ các giới.
Rồi ngài trở lui ở chỗ cũ của ngài. Khi các Tỷ-kheo bạn
hỏi ngài: 'Các căn của bạn chói sáng, bạn đã chứng sự
thực gì?'. Ngài nói lên quả chứng của mình, và với những
bài kệ này, chứng minh chánh trí của mình.
298.
Với vàng che phủ kín,
Chúng
nữ tỳ vây quanh,
Mang
theo đứa con thơ,
Người
vợ đến với ta.
299.
Thấy mẹ của con ta,
Từ
xa đang đi đến,
Khéo
trang điểm đẹp đẽ,
Như
ma gieo bẫy mồi.
300.
Rồi ta tự tác ý,
Như
lý khởi tư duy,
Các
hiểm nguy hiển lộ,
Nhàm
chán, ta an trú.
301.
Và tâm ta giải thoát,
Thấy
pháp nhĩ là vậy,
Ba
minh chứng đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
(CXCV)
Dhammika (Thera. 35)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Kosala, tên là Dhammika. Khi Jetavana (Kỳ Viên) được dâng
cúng, ngài khởi lòng tin, và xuất gia. Sống tại một tinh
xá ở làng, ngài cảm thấy bất mãn và khó chịu đối với
các công việc các Tỷ-kheo đến tinh xá. Do vậy các Tỷ-kheo
đều bỏ đi và ngài làm chủ một mình một ngôi tinh xá.
Một cư sĩ báo cáo sự việc lên bậc Ðạo Su, bậc Ðạo
Sư cho gọi ngài lên để giải thích. Theo lời các Tỷ-kheo
yêu cầu, ngài nói lên những bài kệ như sau:
302.
Pháp che chở hộ trì,
Người
hành trì Chánh pháp,
Pháp
đem lại an lạc,
Cho
người khéo hành pháp,
Ðây
là những lợi ích,
Khi
pháp khéo hành trì,
Người
hành trì Chánh pháp,
Không
đi xuống ác thú.
303.
Cả hai pháp, phi pháp,
Kết
quả không giống nhau;
Phi
pháp, dẫn địa ngục,
Pháp
đưa đến cõi lành.
304.
Do vậy, đối Chánh pháp,
Khởi
ý muốn hành trì,
Tâm
tư sanh hoan hỷ,
Khéo
thiện lai như vậy.
Vững
trú trên Chánh pháp,
Ðệ
tử bậc Thiện Thệ,
Sáng
suốt tiến bước lên,
Quy
y bậc tối thượng.
305.
Phá vỡ cội ung nhọt,
Nhổ
lên lưới ái triền,
Luân
hồi được đoạn tận,
Không
còn có sanh y,
Như
trăng vào ngày rằm,
Trong
đêm thanh trong sáng.
Khi
Thế Tôn dạy ba bài kệ trên, Dhammika trên chỗ ngồi phát
triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Ðể nói lên quả
chứng của mình cho bậc Ðạo Sư rõ, ngài nói lên bài kệ
cuối cùng để nói lên chánh trí của ngài.
(CXCVI)
Sabbaka (Thera. 35)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi trong một
gia đình Bà-la-môn, ngài nghe Thế Tôn thuyết pháp, khởi lòng
tin và xuất gia. Lựa chọn một đề tài để thiền quán,
ngài đi đến tinh xá Lonagiri, trên bờ sông Ajakaranì và tại
đấy, sau một thời gian chứng quả A-la-hán. Ði đến Sàvatthi
để yết kiến bậc Ðạo Sư, ngài ở lại một thời gian
và được bà con đón tiếp. Sau khi khuyên các bà con quy y và
giữ giới, ngài muốn trở về chỗ cũ. Các bà con yêu cầu
ngài ở lại để được bà con cúng dường, nhưng ngài nói
cho họ rõ vì sao ngài đến đây, và sự ưa thích đời sống
độc cư. Ngài nói lên bài kệ tán thán trú xứ của ngài:
306.
Khi ta thấy con cò,
Trương
đôi cánh trắng tinh,
Sợ
hãi đám mây đen,
Tìm
chỗ kín ẩn nấp;
Khi
ấy chính con sông,
Ajakaranì,
Ðem
hoan hỷ cho ta.
307.
Khi ta thấy con cò,
Trương
đôi cánh trắng sạch,
Sợ
hãi đám mây đen,
Tìm
hang để ẩn nấp,
Nhưng
tìm không có thấy.
Khi
ấy chính con sông,
Ajakaranì,
Ðem
hoan hỷ cho ta.
308.
Ai lại không thích thú,
Khi
thấy ở tại đây,
Trên
cả hai dãy bờ,
Có
hàng cây Jambu,
Làm
chói sáng bờ sông,
Sau
lưng cái hang lớn.
309.
Hãy nghe những con nhái,
Khéo
thoát những đàn rắn,
Kêu
lên niềm hoan hỷ,
Với
tiếng kêu nhẹ nhàng:
Nay
không phải là thời,
Buông
thả với suối rừng,
Thật
an ổn con sông
Ajakaranì,
Thoải
mái và yên lành,
Thật
an vui thích thú!
Rồi
các bà con thuận để ngài đi. Vì ngài thích sống nhàn tịnh,
đây trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài.
(CXVII)
Mudita (Thera 36)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình thường
dân và được đặt tên là Mudita. Khi ngài đến tuổi trưởng
thành , dòng họ ngài vì một vài nguyên nhân, bị vua chống
đối Mudita, quá sợ vua nên bỏ chạy, đi vào rừng và sống
gần trú xứ của một Trưởng lão đã chứng quả A-la-hán.
Vị này thấy ngài quá sợ hãi, bảo ngài chớ có sợ. Ngài
hỏi cần phải bao nhiêu thời gian mới khỏi tai nạn, vị
A-la-hán nói cần phải bảy hay tám tháng, ngài nói ngài không
thể đợi lâu như thế nên xin xuất gia. Vị Trưởng lão cho
phép ngài được xuất gia. Ngài xuất gia, học đạo, khởi
lòng tin, không còn sợ hãi nữa, và tu tập thiền quán. Chưa
chứng được quả A-la-hán, ngài nguyện không rời khỏi tinh
xá cho đến khi chứng quả và cuối cùng ngài đã thành công.
Sau đó, ngài sống trong an lạc giải thoát, các Tỷ-kheo đồng
Phạm hạnh hỏi ngài làm sao ngài thành đạt được chí nguyện,
ngài nói lên kinh nghiệm của ngài trong những bài kệ như
sau:
310.
Ðể cứu mạng sống ta,
Ta
xuất gia tu hành,
Ta
được thọ đại giới,
Nhờ
vậy được lòng tin,
Ta
kiên trì tinh tấn,
Hăng
hái ta tiến bước.
311.
Dầu thân này hủy hoại,
Từng
miếng thịt tiêu mòn,
Ðầu
khớp xương hai gối,
Ống
chân làm ta ngã.
312.
Ta sẽ không ăn uống,
Không
ra ngoài tinh xá,
Ta
sẽ không nằm xuống,
Không
nằm một bên hông,
Nếu
mũi tên tham ái,
Chưa
được rút nhổ lên.
313.
Hạnh ta sống như vậy,;
Hãy
nhìn ta tinh cần,
Ba
minh ta đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
Chương
V
Phẩm
Năm Kệ
(CXCVIII)
Ràjadatta (Thera. 37)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình của
những người lữ hành, cha mẹ gọi ngài là Ràjadatta (Vua ban
cho), vì rằng sinh được ngài là nhờ cha mẹ cầu nguyện
Vesavana, một vị thiên thần hư không. Khi đến tuổi trưởng
thành, ngài một lần dẫn năm trăm cỗ xe hàng hóa đến Ràjagaha
(Vương Xá); tại đấy ngài tiêu tất cả tiền, tiêu một
ngàn đồng cho một kỹ nữ đẹp, đến nỗi ngài hết cả
tiền, không có đủ ăn, phải đi lang thang trong đói khổ.
Rồi ngài đến tinh xá Trúc Lâm (Veluvana) với các cư sĩ khác,
tại đấy bậc Ðạo Sư đang thuyết pháp với một thính chúng
rất lớn. Rồi Rajadatta, ngồi ở phía ngoài thính chúng nghe,
khởi lòng tin và xuất gia. Thực hành hạnh đầu đà, ngài
sống trong một nghĩa địa.
Rồi
một nhà lữ hành khác cũng tiêu hết một ngàn đồng cho người
kỳ nữ, nhưng trên tay người này có một chiếc nhẫn rất
có giá trị và người kỹ nữ thèm muốn lấy chiếc nhẫn.
Nàng cho người đánh cắp. Nhưng người hầu hạ của người
lữ hành tin cho cảnh sát biết, đến lục soát nhà nàng giết
nàng và quăng thân nàng trong nghĩa địa.
Trưỏng
lão Rajadatta, đang đi tìm một đối tượng để quán tưởng,
thấy được thi hài của người kỹ nữ. Ngài tập trung tư
tưởng, nhưng các phần thi hài nàng chưa bị chó hay chó rừng
ăn, làm ngài dao động và chi phối ngài. Ngài lấy làm ảo
não buồn phiền, lánh xa đi một lúc rồi lại bắt đầu tự
mình khích lệ, tu thiền, phát triển thiền quán và chứng
quả A-la-hán.
Rồi
suy tư trên thành công của mình, cảm thấy hoan hỷ phấn khởi,
ngài nói:
314.
Một Tỷ-kheo đi đến
Tại
một bãi tha ma,
Thấy
thân một đàn bà,
Bị
quăng tại chỗ ấy,
Vất
bỏ trong nghĩa địa,
Làm
mồi cho sâu ăn.
315.
Có kẻ sinh nhàm chán,
Thấy
thân chết khốn nạn,
Trong
ta, dục tham hiện,
Như
mù, ta bị trói.
316.
Mau hơn cơm sôi trào,
Chỗ
ấy, ta đi thoát,
Chánh
niệm, ta tỉnh giác,
Ta
đến, ngồi một bên.
317.
Rồi ta tự ý tác,
Như
lý khởi tư duy,
Các
hiểm nguy hiển lộ,
Nhàm
chán ta an trú.
318.
Và tâm ta giải thoát,
Thấy
Pháp nhĩ là vậy,
Ba
minh chứng đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
(CXCIX)
Subhùta (Thera. 37)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình thường
dân ở Magadha, tên là Subhùta, ngài không thể sống trong gia
đình, nên bỏ nhà làm nguời du sĩ. Không thấy trong bộ phái
của mình cái gì là chân lý và thấy Upatissa, Kolita, Sela sống
hạnh phúc hoan hỷ sau khi tu hành, ngài khởi lòng tin giáo lý
đức Phật và xin xuất gia. Sau khi lấy được cảm tình các
vị giáo thọ sư và truyền pháp sự, ngài vào nhập thất
với một đề tài thiền quán. Nhờ phát triển thiền quán,
ngài chứng quả A-la-hán.
Rồi
ngài tuyên bố chánh trí của ngài bằng cách ôn lại sự đau
khổ khi tu hành và sự hoan hỷ khi ngài được tu thiền, ngài
nói lên bài kệ:
319.
Ðặt mình vào tại chỗ,
Không
được cho thích đáng,
Một
người muốn làm việc,
Nhưng
không được thành tựu
Như
vậy công việc ấy,
Ðược
xem bị thất bại.
320.
Nếu từ bỏ phần thắng,
Gốc
khổ được rút lên,
Nó
giống kẻ đánh bạc,
Vận
rủi quăng con bài,
Nếu
nó quăng tất cả,
Nó
chẳng khác người mù,
Không
nhìn thấy con đường,
Bằng
phẳng, không bằng phẳng.
321.
Hãy nói điều có làm,
Không
nói điều không làm,
Bậc
Hiền trí rõ biết,
Người
chỉ nói không làm.
322.
Như bông hoa tươi đẹp,
Có
sắc nhưng không hương,
Cũng
vậy lời khéo nói,
Có
làm, có kết quả.
323.
Như bông hoa tươi đẹp,
Có
sắc lại không hương,
Cũng
vậy lời khéo nói
Không
làm không kết quả.
(CC)
Girimànanda (Thera. 38)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Ràjagaha (Vương
Xá) con trai của vị cố vấn nghi lễ cho vua Bimbisàra (Tần-bà-sa-la).
Ngài thấy uy lực và uy nghi của đức Phật khi đức Phật
dự hội ở Ràjagaha, và xin xuất gia. Trong thời kỳ học tập,
ngài sống trong một thời gian tại một ngôi làng rồi trở
lui lại thành phố để đảnh lễ Ðức Phật. Vua Bimbisàra
nghe tin ngài tới, đến yết kiến ngài và nói ngài hãy ở
lại đây, vua xin lo liệu tất cả. Vì vua nhiều việc nên
quên đi lời hứa, và ngài phải sống giữa trời. Và thần
mưa không mưa sợ làm ngài ướt. Rồi vua Bimbisàra, thấy trời
hạn hán nên xây dựng một am thất cho ngài. Và ngài sống
trong am thất ấy cố gắng tu hành tinh tấn, quyết tâm nỗ
lực, tu tập thiền định, thiền quán, chứng được quả
A-la-hán. Rồi hoan hỷ với sự kiện này, ngài nói lên lời
chánh trí của ngài trong khi trời bắt đầu đổ mưa.
324.
Trời mưa như bài ca,
Khéo
hát với nhạc điệu,
Ta
ngồi trong am thất,
An
lạc, được che chở,
Tại
đấy ta an trú,
Thoải
mái và an tịnh,
Thần
mưa, nếu ngươi muốn,
Hãy
mưa, hãy mưa đi.
325.
Trời mưa như bài ca
Khéo
hát với nhạc điệu,
Ta
ngồi trong am thất,
An
lạc, được che chở.
Tại
đấy ta an trú,
Tâm
tư thật tịnh chỉ,
Thần
mưa, nếu ngươi muốn,
Hãy
mưa, hãy mưa đi.
326.
Trời mưa như bài ca,
Khéo
hát với nhạc điệu,
Ta
ngồi trong am thất,
An
lạc, đuợc che chở.
Tại
đấy ta an trú,
Tâm
tư, ly tham ái,
Thần
mưa nếu ngươi muốn,
Hãy
mưa, hãy mưa đi.
327.
Trời mưa như bài ca,
Khéo
hát với nhạc điệu,
Ta
ngồi trong am thất,
An
lạc được che chở.
Tại
đấy ta an trú,
Tâm
tư ly sân hận,
Thần
mưa nếu ngươi muốn,
Hãy
mưa, hãy mưa đi.
328.
Trời mưa như bài ca,
Khéo
hát với nhạc điệu,
Ta
ngồi trong am thất,
An
lạc, được che chở.
Tại
đấy ta an trú,
Tâm
tư ly si mê,
Thần
mưa nếu ngươi muốn,
Hãy
mưa, hãy mưa đi.
(CCI)
Sumana (Thera. 38)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình thường
dân, ở Kosala, tên là Sumana, ngài lớn lên trong hoàn cảnh
may mắn. Anh mẹ ngài trở thành vị A-la-hán, sống ở trong
rừng, và khi Sumana đến tuổi trưởng thành, cậu ngài cho
ngài xuất gia và trao cho ngài đề tài để thiền quán về
phía giới hạnh. Cuối cùng, khi Bốn thiền và Năm thắng trí
đã chứng được, vị Trưởng lão chỉ cho ngài phương pháp
thiền quán, và nhờ vậy ngài chứng quả A-la-hán. Khi đi đến
người cậu của ngài, ngài được hỏi về sự thành công
và ngài nói lên chánh trí của ngài như sau:
329.
Ðiều giáo thọ sư muốn,
Tôi
biết trong chánh pháp,
Với
tôi mong bất tử,
Ðiều
phải làm, làm xong.
330.
Pháp tôi đạt, tự chứng,
Không
phải chỉ nghe suông,
Trí
tôi được thanh tịnh,
Không
còn có nghi ngờ,
Mong
tôi đứng gần ngài,
Nói
lên điều xác chứng.
331.
Tôi biết các đời trước,
Thiên
nhãn tôi thanh tịnh,
Mục
đích tôi đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
332.
Học tập, không phóng dật,
Khéo
nghe lời ngài dạy,
Mọi
lậu hoặc, tôi đoạn,
Nay
không còn tái sanh.
333.
Ngài giảng tôi thánh giới,
Từ
mẫn ngài hộ trì.
Ngài
dạy, không vô ích,
Tôi
đệ tử học ngài.
(CCII)
Vaddha (Thera. 38)
Sanh
trong đời đức Phật hiện tại, tại thành Dhamkaccha trong
một dòng họ thường dân, ngài được đặt tên là Vaddha.
Khi lớn lên, mẹ ngài cảm thấy âu lo vì vấn đề tái sanh
và chết, giao con lại cho bà con, rồi bà xuất gia giữa các
Tỷ-kheo-ni. Sau bà trở thành một vị A-ha-hán. Con bà, cũng
xuất gia dưới sự hướng dẫn của Veludanta, học lời dạy
đức Phật, trở thành một pháp sư giỏi có tiếng. Một hôm,
suy nghĩ đến trách nhiệm của mình, ngài nghĩ: 'Nay ta sẽ
đến thăm mẹ ta một mình và không đắp y ngoài'. Rồi ngài
đi đến trú xứ các Tỷ-kheo-ni. Mẹ ngài thấy ngài vậy,
chỉ trích ngài sao đi đến trú xứ Tỷ-kheo-ni một mình và
không đắp y ngoài. Ngài nhận thấy mình có lỗi, trở về
tinh xá, ngồi trong phòng thiền định và chứng quả A-la-hán.
Ngài nói lên chánh trí của ngài, nhờ lời chỉ trích của
mẹ ngài:
334.
Lành thay, bà mẹ ta,
Kích
thích, khích lệ ta,
Nghe
lời dạy của bà,
Ðược
dạy bởi bà mẹ,
Ta
tinh cần, tinh tấn,
Chứng
Bồ-đề vô thượng.
335.
Ta xứng được cúng dường,
Ba
minh, thấy bất tử.
Ta
chứng quả La-hán,
Xứng
đáng được cúng dường,
Ba
minh đã chứng đạt,
Thấy
được quả bất tử,
Chiến
thắng quân Ma vương,
Ta
sống, không lậu hoặc.
336.
Các lậu hoặc, nội, ngoại,
Trước
đã có trong ta,
Tất
cả bị nhổ sạch,
Không
còn khởi tên nữa.
337.
Bà chị tâm nhu thuận,
Nói
lên ý nghĩa này,
Trong
con và trong ta,
Cỏ
rừng không còn nữa.
338.
Khổ đã được chấm dứt,
Thân
này thân cuối cùng,
Ðường
sanh tử đứt đoạn,
Nay
không còn tái sanh.
(CCIII)
Nadikassapa (Thera. 39)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Magadha (Ma-kiệt-đà), là anh của Kassapa. Ngài thiên hẳn
đời sống xuất gia, không ưa thích đời sống gia đình, và
ngài trở thành một ẩn sĩ. Với ba trăm đồ chúng, ngài sống
một đời sống ẩn sĩ trên bờ sông Neranjarà (Ni-liên-thiền),
và do vậy ngài được biết và được gọi là Kassapa ở bên
sông (Nadi-Kassapa). Ngài được Thế Tôn giáo hóa cùng với
hai anh em, như đã được ghi trong Luật tạng. Sau khi Thế Tôn
thuyết kinh Lửa Bốc Cháy, ngài chứng quả A-la-hán. Sau đó,
suy tư trên thiền chứng, ngài nói lên chánh trí của mình,
bằng cách nhổ lên các sai lầm:
339.
Thật lợi ích cho ta
Ðức
Phật đến tại đây,
Ðến
con sông tên gọi
Sông
Nê-răn-ja-ra,
Ta
nghe pháp ngài giảng
Ðoạn
tận các tà kiến
340.
Ta hành lễ tế tự,
Ðọc
cao lời tế lễ,
Ta
đốt lên lửa thiêng,
Ðổ
cúng dường vào lửa,
Nghĩ
rằng ta thanh tịnh,
Ta
thật mù, phàm phu.
341.
Lang thang rừng tà kiến,
Bị
giới cấm, mờ mắt,
Không
tịnh, nghĩ thanh tịnh,
Mù
lòa, ta không thấy
342.
Ta đoạn tận tà kiến,
Mọi
sanh hữu phá tan,
Ta
đốt lên ngọn lửa,
Xứng
đáng được cúng dường,
Ta
cúi mình đảnh lễ,
Bậc
Như Lai Ðiều Ngự.
343.
Mọi si mê, ta đoạn,
Hữu
ái được phá hủy,
Ðường
sanh tử đoạn tận,
Nay
không còn tái sanh.
(CCIV)
Gayà-Kassapa (Thera. 39)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn,
câu chuyện ngài giống như câu chuyện của Nadì-Kassapa, chỉ
khác ngài chỉ có hai trăm đệ tử và sống ở Gayà, ngài
nói lên chánh trí bằng cách tán thán tẩy sạch các điều
ác như sau:
344.
Buổi sáng, trưa, buổi chiều,
Ba
lần trong một ngày,
Ta
xuống dòng Gà-yà,
Sông
Ga-ya-phay-gu.
345.
Các điều ác, ta làm
Trong
các đời sống trước,
Nay
đây ta rửa sạch,
Xưa
ta tin là vậy.
346.
Nghe lời nói khéo giảng,
Con
đường đủ pháp nghĩa,
Với
ý nghĩa chân thật,
Ta
như lý quán sát.
347.
Ta tắm sạch mọi ác,
Ta
không uế, trong sạch.
Ta
trong sạch thuần tịnh,
Thừa
tự bậc trong sạch,
Ta
chính là con trai,
Con
chính tông đức Phật.
348.
Lặn vào dòng Tám chánh,
Ta
gột sạch mọi ác,
Ba
minh ta đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
(CCV)
Vakkali (Thera. 39)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
dòng họ Bà-la-môn và được gọi tên Vakkali. Khi đến tuổi
trưởng thành, và học xong ba tập Vệ-đà, trở thành thuần
thục trong những thành tích Bà-la-môn, ngài thấy bậc Ðạo
Sư, ngài nhìn không chán thân hình tuyệt vời của đức Phật,
và ngài đi theo bậc Ðạo Sư. Khi ngài trở về nhà, ngài nghĩ
nếu ở lại nhà, ngài sẽ không có dịp luôn luôn thấy được
đức Phật. Do vậy, ngài xuất gia, và từ khi ăn uống và
tắm rửa, ngài để toàn thì giờ để chiêm ngưỡng đức
Phật. Bậc Ðạo Sư, chờ đợi thiền quán của ngài được
chín muồi, nên trong một thời gian dài, đức Phật không nói
gì. Một hôm đức Phật hỏi: 'Này Vakkali, thân bất tịnh
này mà Thầy thấy, đối với Thầy như thế nào? Ai thấy
Pháp người ấy tức thấy Ta. Vì rằng thấy Pháp tức là
thấy Ta, và thấy ta tức là thấy Pháp'. Nghe lời nói đức
Phật, ngài không chiêm ngưỡng thân đức Phật nữa, nhưng
ngài chưa bỏ đi xa được. Bậc Ðạo Sư nghĩ rằng: 'Tỷ-kheo
này, nếu không được xúc động mạnh, sẽ không thức tỉnh’,
nên vào cuối ngày an cư mùa mưa, đức Phật nói: 'Này Vakkali,
hãy đi đi'. Nghe bậc Ðạo Sư nói vậy, ngài tự nghĩ ngài
phải đi, nhưng nghĩ rằng đời ngài có ý nghĩa gì, nếu không
được gặp bậc Ðạo Sư, nên ngài có ý định leo lên núi
Linh Thứu để gieo mình xuống vực núi tự tử. Ðức Phật
biết được Vakkali có ý định như vậy, nên sợ ngài phá
hoại những điều kiện chứng được thánh quả, nên hiện
ra trước mặt ngài và đọc lên bài kệ:
Tỷ-kheo
nhiều hân hoan,
Tịnh
tín giáo pháp Phật,
Chứng
cảnh giới tịch tịnh,
Các
hạnh an tịnh lạc.
Ðức
Phật đưa tay và nói: 'Hãy đến, này Tỷ-kheo!' Vakkali rất
lấy làm sung sướng được nghe lời Phật dạy, thấy được
điều gì mình đang làm, đứng trên hư không suy tư đến lời
Phật dạy, chứng quả A-la-hán với sự hiểu biết về nghĩa
và về pháp. (Ðây là những tài liệu được tập sớ của
bộ Anguttara Nikàya và tập sớ của Dhammapaca ghi chép lại).
Theo
những tài liệu khác, Vakkali chưa chứng quả A-la-hán, sau khi
nghe lời dạy của bậc Ðạo Sư, ngài ở trên núi Linh Thứu,
phát triển thiền quán. Thế Tôn cho ngài một đề tài tu tập,
nhưng vì quá đói và bị tê liệt nên ngài không chứng quả
được. Biết vậy, Thế Tôn nói với ngài như sau:
349.
Bị bệnh gió chi phối,
Thầy
sống trong rừng sâu,
Chỗ
khất thực hạn chế,
Thân
gầy mòn ốm yếu,
Tỷ-kheo
sẽ làm gì?
Với
thân thể như vậy?
Vị
Trưởng lão nói lên sự hân hoan thường xuyên của mình, nhờ
được sự an lạc siêu nhân:
350.
Thân con được tràn ngập,
Với
hỷ lạc tỏa rộng,
Dầu
có bị gầy ốm,
Con
sẽ sống trong rừng.
351.
Tu tập Bốn niệm xứ,
Năm
căn và Năm lực,
Tu
tập các Giác chi,
Con
sẽ sống trong rừng.
352.
Con thấy bạn đồng tu,
Sống
hòa hiệp, dõng mãnh,
Luôn
kiên trì tinh tấn,
Con
sẽ sống trong rừng.
353.
Tùy niệm Phật thiền định,
Bậc
Tối thượng Ðiều Ngự,
Ngày
đêm không biếng nhác,
Con
sẽ sống trong rừng.
Khi
nói vậy, ngài phát triển thiền quán và ngay khi ấy chứng
quả A-la-hán.
(CCVI)
Vigitasena (Thera. 39)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ra trong một gia đình
huấn luyện voi ở nước Kosala, và được đặt tên là Vigitasena.
Những người cậu bên ngoại, Sena và Upasena cả hai đã xuất
gia và chứng quả A-la-hán. Vigitasena sau khi đã thuần thục
nghề của mình, thấy thần thông song hành của bậc Ðạo
Sư khởi lòng tin, và theo bản năng tự nhiên, xin xuất gia
dưới sự hướng dẫn của các người cậu. Nhờ các người
cậu giảng dạy, ngài đạt đến thiền quán, nhưng tâm trí
ngài thiên về lý luận chạy theo những vật bên ngoài, nên
ngài giảng dạy cho tâm trí ngài như sau:
354.
Ta sẽ chế ngự ngươi,
Như
cửa khóa ngăn voi,
Ta
sẽ không thúc ngươi,
Này
tâm trong điều ác,
Ngươi
chính là lưới dục,
Ngươi
do thân sanh ra.
355.
Chế ngự ngươi không đi,
Như
voi, không cửa mở,
Này
tâm, kẻ phù thủy,
Dầu
ngươi cố gắng mãi,
Ngươi
không còn lang thang,
Ưa
thích làm điều ác.
356.
Như người cầm câu móc,
Ngăn
mãi voi chưa thuần,
Như
người dùng sức mạnh,
Cải
hóa kẻ không muốn,
Cũng
vậy đối với ngươi,
Ta
sẽ cải hóa ngươi.
357.
Như bánh xe tuyệt hảo,
Khéo
huấn luyện ngựa hay,
Cũng
vậy ta điều ngươi,
Dựa
lên trên Năm lực.
358.
Ta sẽ cột chặt ngươi,
Với
chánh niệm vững chắc,
Tự
mình đã chế ngự,
Ta
sẽ chế ngự ngươi,
Nhờ
sức nặng tinh tấn,
Ngươi
được ta áp lực,
Do
vậy, hỡi này tâm,
Ngươi
sẽ không xa ta.
(CCVII)
Yasadatta (Thera. 40)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong dòng họ vua Malla,
được đặt tên là Yasadatta, ngài được học ở Takkasilà.
Sau khi đi du hành vói du sĩ Sabhiya, cả hai đến Sàvatthi, tại
đây hỏi Thế Tôn một số câu hỏi. Yasadatta ngồi nghe những
câu trả lời, ý muốn ưa chỉ trích: 'Ta sẽ nêu lên những
khuyết điểm trong những câu trả lời của Sa-môn Gotama'.
Thế Tôn hiểu tâm tư của Yasadatta, nên sau khi nói kinh Sabhiya,
Thế Tôn giáo huấn Yasadatta như sau:
359.
Với tâm, muốn chỉ trích,
Kẻ
ngu nghe lời dạy
Của
bậc đã thắng trận,
Người
ấy, thái độ vậy,
Rất
xa vời Chánh pháp,
Như
đất xa bầu trời.
360.
Với tâm muốn chỉ trích,
Kẻ
ngu nghe lời dạy
Của
bậc đã chiến thắng,
Người
ấy thái độ vậy,
Tổn
giảm xa Chánh pháp,
Như
trăng nửa tháng đen.
361.
Với tâm muốn chỉ trích,
Kẻ
ngu nghe lời dạy
Của
bậc đã chiến thắng,
Người
ấy thái độ vậy,
Khô
cạn trong diệu pháp,
Như
cá mắc nước cạn.
362.
Với tâm muốn chỉ trích,
Kẻ
ngu nghe lời dạy
Của
bậc đã chiến thắng,
Người
ấy thái độ vậy,
Không
lớn trong diệu pháp,
Như
giống thối trong ruộng.
363.
Ai tâm tư thỏa mãn,
Nghe
bậc Thánh giảng dạy,
Từ
bỏ mọi lậu hoặc,
Chứng
ngộ không dao động,
Ðạt
tịch tịnh tối thượng,
Chứng
Niết-bàn vô lậu.
(CCVIII)
Sonakutikanna (Thera. 40)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở xứ Avanti, trong một
gia đình rất giàu có, và được đặt tên là Sona. Vì đeo
một bông tai đắt giá, ngài cũng được gọi là Koti hay Kutikanna
(người có lỗ tai đắt giá). Lớn lên, ngài trở thành một
điền chủ, và khi Trưởng lão Mahà Kaccàna ở gần bên nhà,
ngài cung cấp các vật dụng nhu yếu, nghe Chánh pháp, cuối
cùng cảm thấy dao động, xin xuất gia với Trưởng lão Kaccàna.
Rủ thêm mười người một cách khó khăn, ngài xin phép vị
Trưởng lão đi đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Ðược
phép ngủ đêm trong chái phòng đức Phật, và buổi sáng được
mời tụng đọc, ngài được khen khi đọc mười sáu Athaka.
Khi đọc đến câu: 'Thấy sự nguy hiểm của một đời thế
tục', ngài phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán.
Khi
ngài được đức Bổn Sư bằng lòng về ba vấn đề mà vị
Trưởng lão Mahà Kaccàna giao cho ngài hỏi, ngài trở về chỗ
cũ và thưa lại với bậc giáo thọ sư của mình (Sự kiện
này được ghi chép đầy đủ trong tập Udàna và tập sớ
Anguttara, nhưng ở đây lại nói ngài chứng quả A-la-hán khi
còn học tập với vị giáo thọ sư của mình).
Rồi,
trong khi sống, thọ hưởng an lạc giải thoát, ngài ôn lại
sự thanh đạt của mình, và với tâm hoan hỷ, ngài nói lên
những bài kệ như sau:
364.
Ta thọ được đại giới,
Ta
giải thoát vô lậu,
Thế
Tôn, ta được thấy,
Ta
sống chung tinh xá.
365.
Thế Tôn, trải nhiều ngày
Sống
ngay ở ngoài trời,
Ðạo
Sư khéo an trú,
Rồi
mới vào tịnh xá.
366.
Trải y Tăng-già-lê
Gotama
nằm xuống,
Như
sư tử hang đá,
Ðoạn
tận mọi sợ hãi.
367.
Khéo lựa lời tốt lành,
Ðệ
tử bậc Chánh Giác,
Trước
đức Phật tuyệt hảo,
Sona
thuyết diệu pháp.
368.
Liễu Tri Năm thủ uẩn,
Tu
tập con đường Thánh
Ðạt
an tịnh tối thượng,
Chứng
Niết-bàn vô lậu.
(CCIX)
Kosiya (Thera. 41)
Trong
thời Ðức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Magadha và được đặt tên là Sona. Khi đến tuổi trưởng
thành, ngài hay đến nghe Trưởng lão Sàriputta thuyết pháp,
tin tưởng ở nơi giáo lý, xuất gia và không bao lâu chứng
quả A-la-hán. Rồi ôn lại quá trình giải thoát của mình,
ngài tán thán đức hạnh và sức mạnh quyết định hành thiện
của các bậc Thánh với những bài kệ sau đây:
369.
Ai hiểu những lời dạy
Của
các bậc Ðạo Sư,
Bậc
trí sống an trú,
Phát
sanh lòng ái niệm,
Bậc
trí có lòng tin,
Biết
thù thắng trong Pháp.
370.
Vị khi nạn lớn khởi,
Suy
tư không tê liệt,
Bậc
trí có kiên trì,
Biết
thù thắng trong Pháp.
371.
Ai vững trú như biển,
Không
dục, trí tuệ sâu,
Thấy
rõ chân nghĩa lý,
Tế
nhị và vi diệu,
Bậc
trí trú bất động,
Biết
thù thắng trong Pháp.
372.
Bậc nghe nhiều, trì Pháp,
Hành
pháp và Tùy pháp,
Bậc
trí gọi như thị,
Biết
thù thắng trong Pháp.
373.
Ai hiểu nghĩa lời nói,
Biết
nghĩa, hành như thật,
Bậc
trí gọi nội nghĩa,
Biết
thù thắng trong Pháp.