Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
Ba - Phẩm Ba Kệ
170.
Anganika-Bhàradvàja
171.
Paccaya
172.
Bàkula
173.
Dhaniya
174.
Màtanga-Putta
175.
Khujja-Sobhita
176.
Vàrana
177.
Passika
178.
Yasoja
179.
Sàtimattiya
180.
Upàli
181.
Uttarapàla
182.
Abhibhùta
183.
Gotama
184.
Hàrita
185.
Vimala |
Chương
III
Phẩm
Ba Kệ
(CLXX)
Anganika Bhàradvàja (Thera. 29)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh gần núi Hy-mã-lạp-sơn,
trong thành phố Ukkattha, trong gia đình một Bà-la-môn phú cường
và được đặt tên là Anganika Bhàradvàja. Khi ngài được
học xong giáo điển và nghệ thuật Vệ-đà, ngài hướng về
giải thoát. Trong khi bộ hành chỗ này chỗ khác, ngài gặp
bậc Ðạo Sư khi bậc Ðạo Sư đang du hành ở vùng quê, và
với tâm tư tín thành, ngài nghe bậc Ðạo Sư thuyết giảng.
Từ bỏ tà khổ hạnh, ngài xuất gia, tu tập thiền quán, và
sau một thời gian chứng được sáu thắng trí.
Sau
khi sống tận hưởng vị ngọt giải thoát, ngài với lòng
thương đối với bà con, đến thăm và dạy họ về quy y và
giới luật. Rồi từ giã các bà con, ngài sống trong một ngôi
rừng gần làng Kundiya của dân tộc Kuru. Khi có việc đi đến
Uggàyàman, một số Bà-la-môn quen biết đến hỏi: 'Thưa Tôn
giả Bhàradvàja, do ngài thấy gì mà ngài từ bỏ giáo hội
Bà-la-môn, và chấp nhận giáo hội này?' Ngài nêu rõ, ngoài
giáo hội đức Phật, không có giới thanh tịnh, ngài nói:
219.
Trong rừng ta thờ lửa,
Truyền
thống không chơn chánh,
Không
biết đường thanh tịnh,
Theo
khổ hạnh bất tử.
220.
Với lạc, ta được lạc,
Hãy
xem pháp, tùy pháp,
Ba
minh chứng đạt được,
Lời
Phật dạy, làm xong.
221.
Trước bà con Phạm chí,
Nay
ta chính Phạm chí,
Ba
minh, ta quán đảnh,
An
ổn ta đạt được,
Thông
hiểu đúng Chánh pháp,
Thuần
thục lời Phật dạy.
Khi
các Bà-la-môn ấy nghe ngài nói, các vị ấy chấp nhận và
từ bỏ rất là phấn khởi.
(CLXXI)
Paccaya (Thera. 29)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở thành Rohi trong một
gia đình hoàng tộc, và được đặt tên là Paccaya. Thọ hưởng
gia tài khi phụ thân mệnh chung, ngài tuyên bố tổ chức một
đàn bố thí rất lớn và một số đông người tụ họp.
Trong cuộc tụ họp này, bậc Ðạo Sư ngồi trên một ngai
vàng trong một ngôi nhà trang hoàng châu báu. Ðức Phật thuyết
pháp, trong khi mọi người ngắm, chiêm ngưỡng ngài. Phần
lớn dân chúng hiểu lời đức Bổn Sư dạy, nhưng ngài Paccaya
đi xa hơn. Thúc đẩy bởi nghiệp duyên đời trước, ngài
từ bỏ tài sản và xuất gia như trước kia ngài đã phát
nguyện dưới thời đức Phật Kassapa, nay ngài đã phát nguyện,
khi đã vào am tranh tu hành, nếu chưa giải thoát thời không
ra khỏi am này và cuối cùng thiền quán được phát triển,
trí tuệ được thuần thục, ngài chứng quả A-la-hán. Ðể
kỷ niệm thành quả này, ngài nói lên quả chứng của ngài,
ngang qua những bài kệ như sau:
222.
Năm ngày ta xuất gia,
Hữu
học, ý chưa đạt,
Ta
trú hạnh viễn ly,
Tâm
phát nguyện như sau:
223.
Ta sẽ không ăn uống,
Không
ra ngoài tinh xá,
Ta
sẽ không nằm xuống,
Không
nằm một bên hông,
Nếu
mũi tên tham ái,
Chưa
rút nhổ lên được.
224.
Hạnh ta sống như vậy,
Hãy
nhìn ta tinh cần,
Ba
minh ta đạt được,
Lời
Phật dạy làm xong.
(CLXXII)
Bàkula (Thera. 29)
Ngài
sanh ở Kosambi, trong một gia đình có chức vụ, trước khi
bậc Ðạo Sư sanh ra, và ngài được đem đi tắm ở sông Yamunà
để được sức khỏe, và một con cá nuốt ngài trong tay người
vú. Con cá bị người câu cá bắt được và đem bán cho vợ
một vị chức sắc khác ở Ba-la-nại. Khi con cá bị mổ ra,
đứa con nít nhờ phước nghiệp đời trước, nên còn sống
không bị thương tích. Vợ vị chức sắc thương ngài như
con đẻ, và khi bà nghe được câu chuyện của ngài, và hỏi
về cha mẹ. Vua trong nước quyết định cho ngài thuộc quyền
sở hữu của hai gia đình, và do vậy ngài được tên là Bàkula
(hai gia đình).
Sau
một đời sống giàu sang, ngài nghe đức Bổn Sư thuyết pháp,
xuất gia khi tám mươi tuổi. Trong bảy ngày, ngài chưa được
giác ngộ, nhưng ngày thứ tám, ngài chứng được quả A-la-hán,
thông hiểu nghĩa, thông hiểu pháp.
Một
hôm, khi ấn chứng vị trí tu hành cho các vị đệ tử, bậc
Ðạo Sư ấn chứng cho ngài là vị đệ tử có sức khỏe
đệ nhất. Về sau, khi sắp sửa mệnh chung ngài nói lên chánh
trí của ngài giữa hội chúng Tỷ-kheo như sau:
225.
Với ai những công việc
Cần
phải làm từ trước,
Về
sau, vị ấy mới
Có
ý định muốn làm.
Vị
ấy tự phá hoại
Căn
cứ địa an lạc,
Về
sau, chịu khổ đau
Trong
nung nấu hối tiếc.
226.
Hãy nói điều có làm,
Không
nói điều không làm,
Bậc
Hiền trí rõ biết,
Người
chỉ nói, không làm.
227.
Niết-bàn nhiệm màu lạc,
Bậc
Chánh Giác thuyết giảng,
Không
sầu muộn là tham,
Thật
sự là an ổn,
Tại
đấy, sự đau khổ,
Ðược
đoạn diệt hoàn toàn.
(CLXXIII)
Dhaniya (Thera. 29)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá)
trong một gia đình thợ làm đồ gốm, được đặt tên là
Dhaniya, và tiếp tục làm nghề của ông cha. Chính trong nhà
của ngài, bậc Ðạo Sư giảng cho Pakkusati kinh Dhàtuvibhangasutta.
Dhaniya nghe tin Pukkasati (đã thành bậc A-la-hán) mệnh chung đêm
ấy. Ngài nghĩ: 'Lời Phật dạy thật là sức mạnh lãnh đạo,
chỉ có một đêm đã đủ giải thoát một người khỏi sự
đau khổ tái sanh'. Rồi ngài xuất gia. Tuy vậy ngài vẫn tiếp
tục nghề làm ngói lợp nhà. Bị đức Phật quở vì đã là
am tranh bằng gạch, ngài quyết định sống giữa các Tỷ-kheo,
và tại đấy chứng quả A-la-hán.
Về
sau, nhân dịp giáo giới các Tỷ-kheo tu tập khổ hạnh và
xem hạnh mình cao hơn các người khác, ngài tuyên bố chánh
trí ngài như sau:
228.
Nếu muốn mong đợi lạc
Trong
đời sống Sa-môn,
Chớ
khinh y chúng Tăng,
Chớ
khinh Tăng ẩm thực.
Nếu
muốn mong đợi lạc
Trong
đời sống Sa-môn,
Hãy
sử dụng trú xứ,
Như
rắn và như chuột.
229.
Nếu muốn mong đợi lạc
Trong
đời sống Sa-môn,
Hãy
biết tự bằng lòng
Với
bất cứ việc gì,
Và
hãy cương quyết tu,
Tu
tập hạnh nhất pháp.
(CLXXIV)
Con Của Màtanga (Thera. 30)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kosala, con một điền
chủ tên Màtanga, và được gọi là con của Màtanga. Ngài lớn
lên trong biếng nhác, và khi ngài bị quần chúng la rầy, ngài
làm quen với các Tỷ-kheo, nhận thấy các Tỷ-kheo sống thật
hạnh phúc. Nhưng khi nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài khởi
lòng tin và xin xuất gia. Thấy các Tỷ-kheo sử dụng thần
thông, ngài muốn chứng đạt thần thông. Và thực hành các
thiền quán, ngài chứng được sáu thắng trí.
Từ
đấy, ngài chỉ trích biếng nhác, tán thành sự tinh cần của
ngài với những bài kệ như sau:
230.
Ôi quá lạnh, quá nóng!
Ôi,
đã quá trễ rồi!
Ðây
là lời kêu than,
Như
vậy bỏ việc làm,
Thời
sát-na quý báu
Lặng
lẽ vượt trôi qua.
231.
Ai nghĩ đến lạnh nóng,
Không
hơn loài cỏ rác,
Làm
bổn phận con người,
Không
hại đến an lạc.
232.
Cỏ dabba, ku-sa,
Loại
cỏ gai đâm ngực,
Ta
dùng ngực đẩy chúng,
Sống
tăng trưởng viễn ly.
(CLXXV)
Khujja Sobhita (Thera. 30)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Pàtaliputta trong một
gia đình Bà-la-môn và được gọi là Sobhita. Vì ngài hơi còm,
ngài được gọi là Khujja Sobhita (còm lưng). Khi đến tuổi
trưởng thành, đức Bổn Sư vừa diệt độ, ngài được Tôn
giả Ananda độ cho xuất gia và chứng được sáu thắng trí.
Trong
kỳ kiết tập thứ nhất, ngài được bảo mời Tôn giả Ananda
đến dự đại hội. Lúc ấy, các thiên nhân cử một thiên
nhân đứng ở cửa hang để chận đứng các hành vi thù nghịch
của Ác ma, và khuyên Sobhita tuyên bố sự có mặt của mình
cho thiên nhân ấy, với những bài kệ như sau:
233.
Giữa các vị Sa-môn,
Sống
Pàtaliputta,
Những
vị luận thuyết giỏi,
Những
vị có nghe nhiều,
Có
một vị tuổi lớn
Ðứng
ở tại cửa vào,
Tên
là Sobhita,
Có
tật, bị còm lưng.
Rồi
vị thiên nhân tuyên bố cho chúng Tỷ-kheo biết sự có mặt
của Khujja Sobhita:
234.
Giữa các vị Sa-môn,
Sống
Pataliputta,
Những
vị luận thuyết giỏi,
Những
vị có nghe nhiều,
Có
một vị tuổi lớn,
Ðứng
ở tại cửa vào,
Vị
ấy đã đến đây,
Theo
ngọn gió đưa đến.
Rồi
chúng Tăng cho phép, vị Trưởng lão đến trước chúng Tăng
và nói lên chánh trí của mình.
235.
Vị ấy khéo chiến đấu,
Vị
ấy khéo tế tự,
Trên
chiến trường chiến đấu,
Vị
ấy đã chiến thắng,
Với
Phạm hạnh tích lũy,
Vị
ấy đạt an lạc.
(CLXXVI)
Vàrana (Thera. 30)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kosala, trong gia đình
Bà-la-môn, được đặt tên là Vàrana. Khi đến tuổi trưởng
thành, vị ấy nghe một vị Trưởng lão thuyết pháp trong một
ngôi rừng, và với lòng tin, xuất gia. Một ngày kia đi đến
hầu hạ đức Phật, ngài chứng kiến một cuộc ấu đả
trong gia đình và có nhiều người bị giết. Hốt hoảng, bị
dao động, ngài đi gấp đến Thế Tôn và tường thuật sự
việc. Thế Tôn thấy sự tiến bộ trong tâm tư của ngài,
nên nói lên bài kệ khích lệ ngài:
236.
Ai ở đời, giữa người,
Làm
hại chúng sanh khác,
Vị
ấy tự hại mình
Ðời
này và đời sau.
237.
Ai với tâm từ bi,
Thương
tưởng mọi hữu tình,
Một
người làm như vậy,
Gặt
phước đức thật nhiều.
238.
Hãy học tập khéo nói,
Hãy
hầu hạ Sa-môn,
Sống
một mình kín đáo,
Với
tâm tư tịnh chỉ.
(CLXXVII)
Passsika (Thera. 30)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Kosala, thấy Thế Tôn thực hiện thần thông song hành, khởi
lòng tin, xuất gia. Ngài bị bệnh trong khi học tập đời sống
một ẩn sĩ, bà con săn sóc cho ngài và chữa ngài lành bệnh,
khi được lành bệnh, ngài phấn khởi nên tu học siêng năng
hơn và chứng được sáu thắng trí. Ngài bay trên hư không,
đến thăm bà con và quy y, thọ giới cho họ. Một số bà con
nhờ ngài quy y và thọ giới, khi mạng chung và được sanh
lên các cõi trời. Khi Passika hầu hạ bậc Ðạo Sư, bậc Ðạo
Sư hỏi về sức khỏe bà con của ngài, Passika trả lời như
sau:
239.
Ðầu chỉ một mình ta,
Có
lòng tin, sáng suốt,
Giữa
các bà con ta,
Những
người không lòng tin,
Thông
hiểu được Chánh pháp,
Ðầy
đủ những giới đức,
Vì
lợi ích hạnh phúc,
Cho
các bà con ta.
240.
Những bà con bị ta,
Vì
thương họ trách móc,
Do
bà con ái mộ,
Làm
tốt đối Tỷ-kheo.
241.
Khi họ bị mệnh chung,
Họ
được lạc chư Thiên,
Các
anh và mẹ ta,
Hoan
hỷ điều họ muốn.
(CLXXVIII)
Yasoja (Thera. 30)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại cửa thành ở Sàvatthi,
trong một làng người đánh cá, con vị chủ hộ năm trăm gia
đình đánh cá và được gọi là Yasoja. Ðến tuổi trưởng
thành, một hôm ngài đánh cá với những người con các người
đánh cá trên sông Aciravati, quăng lưới, ngài bắt được
con cá lớn có màu sắc vàng. Họ dâng con cá lên vua Pasenadi
và vua nói chỉ có đức Phật mới biết nguyên nhân, màu sắc
của con cá. Ðức Phật dạy, tiền thân con cá là một ác
Tỷ-kheo trong thời đức Phật Ca-diếp, nay vẫn đang sống
trong cõi địa ngục. Các chị của nó vẫn sống trong địa
ngục, Chỉ có anh nó là vị Trưởng lão, sống đời sống
tốt đẹp, và Thế Tôn thuyết pháp về kinh Kapila. Nghe xong,
Yasoja cảm thấy xúc động và xin xuất gia, và các bạn cũng
xin xuất gia theo; họ đi đến tinh xá Jetavana (Kỳ Viên) để
yết kiến đức Phật, nhưng khi đến họ làm quá ồn ào nên
bị Thế Tôn đuổi đi. Bị đuổi, và sống trên sông Vaggumudà,
Yasoja như con người thuần thục, quyết tâm quyết chí tu trì,
không bao lâu chứng được sáu thắng trí. Rồi Thế Tôn cho
gọi Yasoja, và ngài vì tu khổ hạnh đặc biệt, nên ốm yếu,
xấu xí. Thế Tôn tán thán hạnh tu khắc khổ của ngài với
những bài kệ như sau:
242.
Một người đen, gầy mòn,
Yếu
ốm đầy đường gân,
Tiết
độ trong ăn uống,
Tâm
tư không ưu não.
Yasoja
được tán thán như vậy, đề cao hạnh cô độc và dạy như
sau:
243.
Trong rừng núi rộng lớn,
Bị
muỗi ruồi đốt cắn,
Như
con voi lâm trận,
Ta
chánh niệm chịu đựng.
244.
Sống một, như Phạm thiên,
Sống
hai, như chư Thiên,
Sống
ba, như làng mạc,
Nhiều
hơn, như ở chợ.
(CLXXIX)
Satimattya (Thera. 31)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở nước Magadha (Ma-kiệt-đà)
làm con một Bà-la-môn, ngài hội đủ những điều kiện nhân
duyên, xuất gia, sống với các Tỷ-kheo ở rừng, và trải
qua học hỏi tu hành, chứng được sáu thắng trí. Rồi ngài
giảng dạy các Tỷ-kheo, thuyết pháp cho nhiều tín đồ về
quy y và các giới điều. Có một gia đình, đặc biệt ngài
giáo hóa và nuôi dưỡng lòng tin. Trong gia đình này, ngài đặc
biệt được chào đón, người con gái nhà này đẹp, và thường
cung kính cúng dường ngài ăn uống.
Một
hôm, Màra muốn phá ngài và làm ngài mất uy tín, giả dạng
ngài và đi đến nắm tay cô con gái, nhưng cô con gái biết
là không phải nắm tay của loài Người, liền bỏ tay ra. Nhưng
người nhà thấy được và không còn tin tưởng ở ngài. Ngài
không biết gì, cảm thấy có sự đổi khác trong thái độ
của gia đình ấy. Biết rằng Màra đã ám hại, ngài nguyện
sẽ làm tỏ rõ sự tình, người gia chủ nghe ngài giải thích
liền xin lỗi ngài và tự mình xin phục vụ cho ngài. Ngài
nói lên sự việc, trong những bài kệ sau đây:
245.
Lòng tin trước ông có,
Nay
không
còn nơi ông,
Của
ông vẫn của ông,
Ta
không có ác hạnh.
246.
Vô thường và dao động,
Là
lòng tin của ông,
Sự
thấy là như vậy,
Là
sự thấy của ta,
Có
khi ông thương mến,
Rồi
ông lại không ưa,
Vì
sao bậc ẩn sĩ,
Chịu
héo mòn ở đây?
247.
Cơm nấu cho ẩn sĩ,
Ít
ít từng gia đình,
Ta
sẽ đi khất thực,
Ống
chân ta còn mạnh.
(CLXXX)
Upàli (Thera. 31)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh trong gia đình
một người cạo tóc tên là Upàli. Khi đến tuổi trưởng
thành, ngài xuất gia, theo gương của Anuruddha và năm vị con
cháu hoàng tộc, khi đức Phật ở tại rừng Anupiyà. Khi ngài
nhận một đề tài để thiền quán, ngài yêu cầu đức Phật
đừng đưa ngài đi sống ra ngoài khu rừng. Ðức Phật dạy:
'Nếu Thầy sống trong rừng, Thầy chỉ phát triển được
một vấn đề, nhưng nếu Thầy sống với Ta, Thầy sẽ trở
thành thuần thục cả về kinh học và thiền quán'. Ngài vâng
theo lời bậc Ðạo Sư khuyên tu thiền quán và sau một thời
gian chứng quả A-la-hán.
Tuy
vậy, bậc Ðạo Sư dạy cho ngài cả Luật tạng. Về sau, khi
Upàli được Thế Tôn khen vì Upàli đã phán quyết trong ba
trường hợp về Ajjuka, về Tỷ-kheo Kurukacchaka và Kumàra-Kacapa,
ngài được xem là vị hiểu biết Luật tạng.
Trong
một ngày trai giới, khi ngài đang đọc giới bổn Pàtimokkha,
ngài giáo giới các Tỷ-kheo như sau:
248.
Vì lòng tin ra đi,
Mới
xuất gia, tân học,
Hãy
sống với bạn lành,
Mạng
thanh tịnh, không nhác.
249.
Vì lòng tin, ra đi,
Mới
xuất gia, tân học,
Tỷ-kheo
trú giữa chúng,
Sáng
suốt, học Luật tạng.
250.
Vì lòng tin, ra đi,
Mới
xuất gia, tân học,
Khéo
biết việc nên làm,
Và
việc không nên làm,
Hãy
để vị ấy sống,
Không
để cao tôn xưng.
(CLXXXI)
Uttarapàla (Thera. 31)
Sanh
trong thời đức Phật hiện tại, ở Sàvatthi, trong một gia
đình Bà-la-môn, ngài được đặt tên là Uttarapàla. Ngài thấy
Thế Tôn thực hiện thần thông song hành, khởi lòng tin, xuất
gia và chăm lo tu học. Một hôm, do nhớ nghĩ chuyện này chuyện
khác, dục vọng tấn công ngài, và sau một thời chiến đấu
tư tưởng mãnh liệt, ngài chận đứng các phiền não, và
triển khai thiền quán, ngài chứng được quả A-la-hán.
Suy
tư đến chiến thắng, ngài rống lên tiếng rống con sư tử:
251.
Ta thật là hiền thiện,
Suy
tư mục đích tốt,
Bỏ
năm dục trưởng dưỡng,
Là
thế giới si mê.
252.
Sanh trong giới vức ma,
Bị
tên mạnh xung kích,
Nhưng
ta giải thoát được,
Cạm
bẫy của Ma vương.
253.
Mọi dục, ta đoạn tận,
Mọi
sanh hữu, hủy hoại,
Ðường
sanh tử chấm dứt,
Nay
không còn tái sanh.
(CLXXXII)
Abhibhùta (Thera. 31)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Vetthapura, đặt tên là Abhibhùta, và khi phụ thân mất,
ngài thừa hưởng tài sản đất đai. Khi đức Phật đến
tại thành phố, trong dịp Thế Tôn du hành, Abhibhùta đến
nghe Thế Tôn thuyết pháp, và mai sáng mời Thế Tôn đến nhà.
Thế Tôn cảm ơn và dạy cho ngài Chánh pháp với nhiều chi
tiết. Ngài khởi lòng tin, từ bỏ gia sản, xuất gia và chứng
quả A-la-hán.
Trong
khi thọ hưởng vị ngọt giải thoát, các bà con, thân tín,
quen biết đến than van với ngài và ngài đã từ bỏ họ,
không để lại một vị lãnh đạo. Và ngài thuyết pháp cho
họ nói lên lý do xuất gia của ngài:
254.
Hãy nghe mọi bà con,
Những
ai đã đến đây,
Ta
thuyết pháp cho ông,
Tái
sanh là đau khổ.
255.
Hãy tinh cần, ra đi,
Chú
tâm lời Phật dạy,
Ðánh
bại quân lực ma,
Như
voi, nhà cỏ lau.
256.
Ai trong Pháp Luật này,
Sẽ
sống không phóng dật,
Từ
bỏ dòng tái sanh,
Sẽ
chấm dứt khổ đau.
(CLXXXIII)
Gotama (Thera. 32)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong dòng họ Thích-ca
và chỉ được biết tên là Gotama, ngài khởi lòng tin khi đức
Phật thăm viếng bà con, xuất gia, tu học thiền quán và chứng
được sáu thắng trí. Khi ngài đang hưởng lạc giải thoát,
bà con ngài hỏi ngài vì sao lại từ bỏ bà con đi xuất gia,
ngài liền giải thích những khổ đau, ngài gặp khi phải sanh
tử liên tục và hạnh phúc Niết-bàn ngài đã chứng được
. Ngài nói:
257.
Ta tái sanh địa ngục,
Liên
tục đến ngạ quỷ,
Ta
sống trải nhiều ngày,
Trong
đau khổ bàng sanh.
258.
Và sống vui làm Người,
Thỉnh
thoảng sanh cõi Trời,
Trú
Giới sắc, Vô sắc,
Phi
tưởng, Phi phi tưởng.
259.
Ta khéo biết sanh hữu,
Không
cốt tủy, duyên thành,
Dao
động thường biến chuyển,
Tác
thành tự ngã ta,
Ta
đạt được tịnh tịch,
Chánh
niệm tâm an trú.
(CLXXXIV)
Harita (Thera. 32)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình Bà-la-môn. Vì tự kiêu sanh trong giai cấp cao, ngài
quen gọi các người khác là hạ sanh. Khi khởi lòng tin xuất
gia, vì thói quen, ngài vẫn giữ tật xấu ấy. Nhưng một ngày
kia, sau khi nghe bậc Ðạo Sư thuyết giảng, ngài ôn lại tâm
tư của mình và ngài thấy lo ngại vì lòng tự kiêu của mình.
Ðoạn tận kiêu mạn ấy, ngài phát triển thiền quán và chứng
quả A-la-hán. Sau đó sống trong an lạc giải thoát, ngài chứng
minh chánh trí của mình trong những bài kệ giảng dạy các
Tỷ-kheo:
260.
Với ai, những công việc,
Cần
phải làm từ trước,
Về
sau, vị ấy mới
Có
ý định muốn làm.
Vị
ấy, tự phá hoại,
Căn
cứ địa an lạc,
Về
sau chịu khổ đau
Trong
nung nấu hối tiếc.
261.
Hãy nói điều có làm,
Không
nói điều không làm,
Bậc
Hiền trí rõ biết,
Người
chỉ nói, không làm.
262.
Niết-bàn khéo an lạc,
Bậc
Chánh giác thuyết giảng,
Không
sầu muộn, ly tham,
Thật
sự, là an ổn,
Tại
đấy, nỗi đau khổ,
Ðược
đoạn diệt hoàn toàn.
(CLXXXV)
Vimala (Thera. 32)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Ba-la-nại
trong một gia đình Bà-la-môn. Ngài xuất gia dưới sự hướng
dẫn của Trưởng lão Amitta, và nhờ sự hướng dẫn này,
ngài phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài
giảng dạy cho một Tỷ-kheo là bạn của ngài như sau:
263.
Hãy tránh xa bạn ác,
Giao
thiệp bậc thượng nhân,
Vâng
theo lời khuyến giáo,
Hướng
đến lạc bất động.
264.
Như leo trên ván nhỏ,
Giữa
biển lớn bị chìm,
(Xem
kệ 147 - 148)
265.
Cũng vậy đến kẻ nhác,
Người
hạnh tốt cũng chìm,
Do
vậy, hãy bỏ nó,
Kẻ
làm biếng, làm nhác.
266.
Hãy sống gần bậc Thánh,
Bậc
viễn ly tinh cần,
Thiền
định, thường tinh tấn,
Bậc
Hiền trí sáng suốt.