Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
Hai - Hai Kệ
Phẩm
Một
121.
Utara
122.
Pindola-Bhàradvàja
123.
Valliya
124.
Gangatìriya Datta
125.
Ajina
126.
Melajina
127.
Rhàdha
128.
Suràdha
129.
Gotama
130.
Vasabha
Phẩm
Hai
131.
Mahà Cunsa
132.
Jotidàra
133.
Herannakàni
134.
Somamitta
135.
Sabbamitta
136.
Mahàkàla
137.
Tiassa
138.
Kimbila
139.
Nanda
140.
Sirimat
Phẩm
Ba
141.
Uttara
142.
Bhađaji
143.
Sobhita
144.
Valliya Kanhamitta
145.
Vìtasoka
146.
Punnamàsa
147.
Nandaka
148.
Bharata
149.
Bhàradvàja
150.
Kanhadinna |
Phẩm
Bốn
151.
Migasìra
152.
Sìvaka
153.
Upavàna
154.
Isidinna
155.
Sambula-Kaccàna
156.
Khitaka
157.
Sona-Potiriyaputta
158.
Nisabha
159.
Usabha
160.
Kappata-Kura
Phẩm
Năm
161.
Kumàra-Kassapa
162.
Dhammapàla
163.
Brahmàli
164.
Mogharàjam
165.
Visàkha
166.
Cùlaka
167.
Anùpama
168.
Vajjita
169.
Sandhita |
Chương
II - Hai Kệ
Phẩm
Một
(CXXI)
Utara (Thera. 18)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
con một Bà-la-môn có danh tiếng, được đặt tên là Uttara.
Ngài thông suốt giáo điển Vệ-đà, và có danh tiếng về
gia tộc, về dung sắc, về thông minh, về đức hạnh. Vassakàra,
một vị bộ trưởng có danh ở Magadha (Ma-kiệt-đà), thấy
những thành tích của ngài, muốn gả con gái cho ngài, nhưng
ngài đã thiên về hạnh giải thoát nên đã từ chối và ngài
đến nghe ngài Sàriputta (Xá-lợi-phất) thuyết giảng. Với
lòng tin, ngài xuất gia, làm tròn bổn phận của người Sa-di,
hầu hạ Tôn giả Sàriputta.
Một
hôm, Tôn giả Sàriputta bị bệnh, Uttara đi tìm một y sĩ chữa
bệnh, ngài đặt bình bát ngài trên bờ hồ để xuống hồ
nước súc miệng. Một người ăn trộm, bị lính đuổi, chạy
ra khỏi cửa thành, khi chạy ngang liền quăng bỏ các châu
báu đánh cắp vào trong bình bát của người Sa-di và bỏ chạy.
Khi các người lính đến, thấy đồ châu báu trong bình bát
của ngài liền bắt ngài đưa đến Bà-la-môn Vassakàra để
trừng phạt ngài.
Ðức
Phật nhận thấy thiền quán của ngài đã chín muồi, nên
đi đến ngài, đặt nhẹ tay trên đầu ngài và nói: 'Ðây
là kết quả nghiệp trước của Thầy, Thầy cần phải chấp
nhận nhờ sức mạnh suy tư'. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho
ngài, Uttara vì nhờ đức Phật đặt nhẹ tay trên đầu, tâm
tư được phấn khởi, nhờ thiền quán chín muồi, nhờ uy
nghi đức độ của bậc Ðạo Sư, ngài cảm thọ hỷ lạc,
đoạn tận các uế nhiễm, chứng sáu thắng trí. Vươn mình
lên khỏi cột trụ, ngài đứng trên hư không, hiển hiện
thần thông vì lòng từ mẫn đối với kẻ khác. Trước sự
ngạc nhiên của tất cả mọi người, các vết thương của
ngài được lành hẳn khi được các Tỷ-kheo khác hỏi: 'Thưa
Hiền giả, làm sao khi Hiền giả đau khổ như vậy, Hiền giả
có thể phát triển thiền quán?'. Ngài trả lời 'Khi tôi thấy
rõ được sự đau khổ của mình tái sanh, và tánh nhân duyên
sanh của sự vật, thời sự nguy hiểm của sự đau khổ ít
hơn, hiện tại không ngăn tôi phát triển thiền quán và chứng
được kết quả.
121.
Không có gì có mặt,
Lại
thường còn mãi mãi,
Không
có các hành gì,
Lại
thường hằng thường trú.
Các
uẩn được khởi lên,
Ðến
đời khác diệt vong.
122.
Biết được nguy hiểm này,
Ta
không muốn sanh hữu,
Từ
bỏ tất cả dục,
Ta
chứng lậu hoặc tận.
(CXXII)
Pindola-Bhàradvàja (Thera. 18)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con của vị giáo
sĩ của vua Udena xứ Kosambi, được đặt tên là Bhàradvàja.
Sau khi học tập ba tập Vệ-đà, dạy các bài chú, bài tụng
rất thành công cho các thanh niên Bà-la-môn, ngài chán ngấy
với công việc đang làm. Từ giã họ, ngài đi đến Ràjagaha
(Vương Xá), thấy chúng Tỷ-kheo được trọng vọng cúng dường,
ngài xuất gia. Với phương pháp Phật dạy, ngài tiết độ
trong ăn uống và chứng được sáu thắng trí.
Ngài
tuyên bố trước mặt đức Bổn Sư rằng ngài sẵn sàng trả
lời tất cả những câu hỏi của Tỷ-kheo nào nghi ngờ đến
con đường và kết quả, như vậy, ngài rống tiếng rống
con sư tử, đức Phật nói về ngài như sau: 'Trong các đệ
tử của Ta rống tiếng rống con sư tử, Pindola Bhàradvàja
là đệ nhất'.
Rồi
một người bạn cũ đến thăm ngài, một Bà-la-môn có tánh
keo kiết. Vị Trưởng lão khuyên bạn nên cúng dường chúng
Tăng. Vì bạn ngài tin rằng ngài cũng ích kỷ và nghĩ đến
tư lợi, nên ngài dùng bài kệ để giáo giới bạn ngài:
123.
Nói về đời sống này,
Không
phải không có luật,
Nhưng
các món đồ ăn,
Không
có gì gần tâm
Do
có các món ăn,,
Thân
thể được tồn tại,
Thấy
vậy, ta bộ hành,
Tìm
kiếm các món ăn.
124.
Bậc trí kinh nghiệm rằng:
Thật
sự là đám bùn,
Ðảnh
lễ và cúng dường,
Xuất
phát tự gia đình,
Như
mũi tên tế nhị,
Rất
khó nhổ được ra,
Cũng
vậy với kẻ ngu,
Cung
kính khó từ bỏ.
(CXXIII)
Valliya (Thera. 18)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ),
con một Bà-la-môn tên tuổi, được đặt tên là Valliya. Khi
đến tuổi trưởng thành, làm chủ được các căn, ngài làm
bạn với người có giới đức. Rồi ngài đi đến Thế Tôn,
khởi lòng tin, xuất gia, phát triển thiền quán, chứng quả
A-la-hán. Nghĩ đến quá khứ với các sự vật thế tục, ham
muốn, và như thế nào nhờ Thánh đạo, ngài thoát ly các chi
phối ấy, ngài nói lên chánh trí của ngài:
125.
Trong chòi nhỏ, năm cửa,
Có
con khỉ đi vào,
Loanh
quanh từng cửa một,
Nó
va chạm từng giây!
126.
Này khỉ, hãy dừng lại!
Chớ
có chạy như vậy,
Ngươi
không còn như trước,
Trí
tuệ cầm giữ ngươi,
Ngươi
đâu còn có thể,
Ði
xa như trước được.
(CXXIV)
Gangàtiriya (Thera. 18)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi làm con một
thị dân, được đặt tên là Datta. Trong đời sống thế tục,
vì ngu si ngài phạm lỗi lầm, biết được lỗi lầm của
mình, ngài sanh sầu khổ và xuất gia. Hối hận vì hành vi
của mình, ngài chọn đời sống khổ hạnh, ở trên bờ sông
Hằng, làm một chòi lá để ở; do vậy, ngài được gọi
là Gangàtiriya (người ở trên bờ sông Hằng). Ngài nguyện
không nói với một ai, như vậy cả năm, ngài không thốt ra
một lời nào. Trong năm thứ hai, một nữ nhân trong làng thường
cúng dường ngài, muốn biết ngài có câm hay không khi dâng
sữa cúng dường, làm đổ sữa ra ngoài. Ngài mới nói: 'Thôi
vừa rồi, bà chị'. Nhưng đến năm thứ ba, ngài chứng quả
A-la-hán, ngài nói lên chánh trí của ngài ngang qua lời bài
kệ, tán thán hạnh cũ của ngài:
127.
Trên bờ sông Hằng Hà,
Dùng
ba lá thốt nốt,
Ta
dựng lên cho ta
Một
chòi lá nho nhỏ,
Bát
ta là cái ghè,
Dùng
cúng sữa người chết,
Còn
y áo của ta
Lượm
chắp từ đống rác.
128.
Suốt hai năm sống vậy.
Ta
chỉ nói một chữ,
Trong
khoảng năm thứ ba,
Khối
si ám tan tành.
(CXXV)
Ajina (Thera. 18)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong gia
đình một Bà-la-môn nghèo, và khi sanh ngài được đặt trong
một tấm da dê rừng, do vậy được đặt tên là Ajina. Sống
trong sự bần cùng, ngài chứng kiến uy nghi đức độ của
đức Phật khi tinh xá Kỳ Viên được dâng cúng. Khởi lòng
tin, ngài xuất gia và không bao lâu, chứng được pháp Thượng
nhân, khi chứng được quả A-la-hán, vì nghiệp duyên quá khứ,
ngài không được cung kính và biết đến. Một số Sa-di không
biết khinh thường ngài, ngài làm họ dao động với bài kệ:
129.
Nếu chứng được Ba minh,
Ðoạn
tử, không lậu hoặc,
Vị
ấy vẫn có thể,
Không
được người biết đến,
Và
kẻ ngu không biết,
Có
thể sanh khinh thường.
130.
Khi người ấy nhận được
Ðồ
ăn uống cúng dường,
Dẫu
cho có ác pháp,
Vẫn
được họ kính trọng.
(CXXVI)
Melajina (Thera. 19)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Benares (Ba-la-nại),
trong gia đình một hoàng tộc, tên là Melajina, học giỏi và
hạnh đức có tiếng khắp trong nước. Khi Thế Tôn ở Ba-la-nại,
tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ), Melajina đến nghe Ngài thuyết
pháp, khởi lòng tin, xuất gia và chứng quả A-la-hán. Khi các
Tỷ-kheo hỏi làm sao ngài chứng được pháp Thượng nhân,
ngài rống lên tiếng rống con sư tử:
131.
Khi ta nghe Chánh pháp,
Bậc
Ðạo Sư thuyết giảng,
Ta
thắng tri nghi hoặc,
Bậc
toàn trí, toàn thắng.
132.
Ðối vị trưởng lữ đoàn,
Với
vị đại anh hùng,
Trong
các bậc đánh xe
Bậc
tối thắng vô thượng,
Ðối
con đường, lộ trình
Ta
không có nghi hoặc.
(CXXVII)
Ràdha (Thera. 19)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Ràjagaha (Vuơng Xá),
là người Bà-la-môn. Trong khi ngài lớn tuổi, ngài không làm
được bổn phận của ngài. Không được chấp nhận, ngài
đi đến Thế Tôn, nói lên những ước muốn của ngài. Bậc
Ðạo Sư thấy được những điều kiện căn bản được đầy
đủ, nên bảo Sàriputta chấp nhận ngài xuất gia. Không bao
lâu, ngài chứng quả A-la-hán. Sau đó, ngài sống gần bên
bậc Ðạo Sư, trở thành một vị thuyết giảng đột xuất
nhờ những lời thuyết giảng của bậc Ðạo Sư. Một hôm,
thấy rõ vì sao không khéo tự huấn luyện chế ngự khiến
các dục vọng có thể sanh khởi, ngài nói lên bài kệ để
khích lệ giáo giới:
133.
Như mái nhà vụng lợp,
Mưa
dễ thấm ướt vào,
Cũng
vậy, tâm vụng tu
Tham
ái được xâm nhập.
134.
Như mái nhà khéo lợp
Mưa
không thể thấm vào,
Cũng
vậy, tâm khéo tu
Tham
ái không xâm nhập.
(CXXVIII)
Suràdha (Thera. 19)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm em trai của vị Ràdha,
vâng theo gương của người anh, ngài xuất gia và chứng quả
A-la-hán. Ðể nêu rõ sự hướng dẫn các giới luật, ngài
nói lên chánh trí của mình như sau:
135.
Sanh của ta đã tận,
Chiến
thắng dạy, làm xong,
Lưới
danh được đoạn diệt,
Gốc
sanh hữu nhổ lên.
136.
Mục đích hạnh xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Ðích
ấy đã đạt được,
Mọi
kiết sử, diệt xong.
(CXXIX)
Gotama (Thera. 19)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
trong một gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là Gotama. Khi
còn trẻ, ngài giao du với kẻ không tốt, bao nhiêu tài sản
ngài cho một kỹ nữ. Hối hận nếp sống bất chính của
mình, ngài mơ thấy hình ảnh bậc Ðạo Sư đang ngồi, với
tâm tư hiểu biết tâm trạng của ngài. Bậc Ðạo Sư biết
được tiến bộ của ngài, sự thành tựu các nhân duyên thiết
yếu, nên thuyết pháp cho ngài. Ngài khởi lòng tin, xuất gia,
chứng quả A-la-hán, khi con dao đụng đến tóc ngài, khi ngài
đang thọ hưởng lạc thiền định và quả giải thoát. Một
cư sĩ hỏi ngài về tài sản của ngài, ngài thú nhận ngài
sống không được nghiêm túc, sống phi Phạm hạnh, và với
sự trong sạch hiện tại không có dục vọng, ngài nói lên
chánh trí của ngài:
137.
Bậc ẩn sĩ nằm ngủ,
Sống
an lạc hạnh phúc,
Họ
không bị nữ nhân,
Trói
buộc và chi phối.
Nữ
nhân, phải luôn luôn
Phòng
hộ và chế ngự.
Sự
thật về nữ nhân,
Thật
khó được chấp nhận.
138.
Hỡi này các dục vọng,
Ta
quyết giết các ngươi,
Nay
chúng ta đối ngươi,
Không
còn gì nợ nần,
Chúng
ta nay đi đến
Cảnh
giới gọi Niết bàn,
Ði
đến tại chỗ ấy
Không
còn có sầu muộn.
(CXXX)
Vasabha (Thera. 19)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Vesàli, con vị vua
địa phương Licchavì. Ðược cảm hóa bởi uy nghi đức độ
của đức Phật khi Ngài đến thăm Vesàli, ngài xuất gia, không
bao lâu chứng quả A-la-hán. Biết ơn những ai ủng hộ ngài,
ngài không có từ chối những vật dụng được cúng dường
và hưởng thọ các vật cúng dường ấy. Người thường dâng
cho ngài thích thọ hưởng, nhưng ngài không để ý những lời
phê bình ấy.
Gần
ngài có một vị Tỷ-kheo giả dối, lừa gạt quần chúng bằng
cách giả dối sống thiểu dục tri túc, do vậy được quần
chúng tôn trọng. Rồi thiên chủ Sakka (Ðế thích) thấy được
sự giả dối này, đi đến Trưởng lão Vasabha hỏi: 'Thưa
Tôn giả, kẻ giả dối kia sao lại làm vậy?'. Ngài trả lời
với bài kệ, chỉ trích kẻ ác bất thiện kia:
139.
Trước nó giết tự ngã,
Sau
nó giết người khác,
Họ
khéo giết tự ngã,
Như
chim mồi, mồi chim.
140.
Không phải Bà-la-môn,
Với
dung sắc bên ngoài,
Bà-la-môn
chính thống,
Phải
dung sắc bên trong,
Với
ai, làm ác nghiệp,
Người
ấy là hắc nhân,
Là
chồng của Sujà.
Phẩm
Hai
(CXXXI)
Mahàcunsa (Thera. 20)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở nước Magadha (Ma-kiệt-đà),
làng Nàlaka, con của nữ Bà-la-môn Rùpusàri và em trai của
Sàriputta. Ngài theo gương anh, xuất gia, và sau một thời gian
tinh cần tu hành, chứng đuợc quả A-la-hán. Phấn khởi với
quả chứng của mình và đời sống viễn ly, ngài nói lên
bài kệ:
141.
Khéo nghe, nghe tăng trưởng,
Nghe
tăng trưởng, phát tuệ,
Nhờ
tuệ biết ý nghĩa,
Nghĩa
được biết, lạc đến.
142.
Hãy trú chỗ xa vắng,
Hãy
sống, thoát kiết sử,
Tại
đấy, hỷ chưa đạt,
Hãy
sống giữa chúng Tăng,
Tự
ngã được chế ngự,
An
trú trong chánh niệm.
(CXXXII)
Jotidàra (Thera. 20)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh làm con một Bà-la-môn
giàu có, ở xứ Pàdiyattha, được đặt tên là Jotidàsa. Khi
đến tuổi trưởng thành, một hôm, ngài thấy Tôn giả Ðại
Ca-diếp (Mahà Kassapa) đi khất thực, ngài đón Tôn giả tại
nhà và nghe Tôn giả thuyết pháp. Trên một ngọn đồi gần
làng, ngài dựng lên một tinh xá lớn cho Tôn giả, cúng dường
Tôn giả bốn vật dụng cần thiết. Bị xúc động với lời
dạy của Tôn giả, ngài xuất gia và không bao lâu chứng được
sáu thắng trí. Sau mười năm, ngài học ba Tạng, đặc biệt
là Luật tạng, hầu hạ Tăng chúng và đi Sàvatthi cùng với
một số đông Tỷ-kheo để yết kiến đức Phật. Trên đường
đi, ngài đi đến vườn của một ẩn sĩ, thấy một Bà-la-môn
hành trì khổ hạnh năm pháp ngài hỏi: 'Này Bà-la-môn, sao
Ông không đốt với một thứ lửa khác?'. Vị Bà-la-môn tức
giận
trả lời: 'Này kẻ trọc đầu kia, ngọn lửa khác là gì?'.
Trưởng lão trả lời:
Sân,
tật đố, ác hạnh
Mạn,
kiêu và tranh chấp,
Tham
ái và vô minh,
Lòng
ưa muốn tái sanh,
Những
pháp này đốt cháy,
Thiêu
đốt cả thân ông.
Rồi
ngài thuyết pháp cho người ấy, và tất cả những người
tin vào Phạm thiên xin ngài được xuất gia. Khi từ giã Sàvatthi,
ngài đến thăm gia đình cũ của ngài và giáo giới các bà
con như sau:
143.
Những ai dùng dây thừng,
Hành
cướp giật nhiều cách,
Những
dân họ hung bạo,
Làm
não hại người khác,
Như
vậy, họ gieo hại,
Vì
nghiệp không tiêu mất.
144.
Người nào làm nghiệp gì,
Nghiệp
thiện hay nghiệp ác,
Họ
thừa tự nghiệp ấy,
Loại
nghiệp họ đang làm.
(CXXXIII)
Herannakàni (Thera. 20)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một tay sai của
vua Kosala và cầm đầu bọn cướp. Khi phụ thân ngài mất,
ngài thừa tự chức vụ ấy. Ðược cảm hóa khi chứng kiến
lễ đức Phật tiếp nhận Jetavana (Kỳ Viên), ngài cho người
em trai thế chức vụ. Ngài xuất gia, không bao lâu chứng quả
A-la-hán. Rồi ngài tìm cách khuyên em ngài từ bỏ nghề cũ,
và thấy em ngài thích thú nghề của mình, ngài khích lệ em
với bài kệ như sau:
145.
Ðêm ngày chạy, trôi qua,
Mạng
sống bị tổn giảm
Tuổi
thọ người hủy diệt,
Như
nước dòng suối con.
146.
Kẻ ngu làm ác hạnh,
Không
hiểu việc mình làm,
Về
sau bị khổ đau,
Khi
ác nghiệp chín muồi.
Nghe
lời khuyên của ngài, người em xin phép vua nghỉ việc, xuất
gia và không bao lâu được giải thoát.
(CXXXIV)
Somamitta (Thera. 20)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Benares trong một gia
đình Bà-la-môn, được đặt tên là Somamitta. Ngài trở thành
một vị thông hiểu ba tập Vệ-đà, và được Trưởng lão
Vimala cảm hóa, ngài xuất gia, ngài sống gần gần vị Trưởng
lão, làm trọn bổn phận của mình. Nhưng vị Trưởng lão
trở thành biếng nhác và ham ngủ, Somamitta suy nghĩ: 'Ai có
thể có giới đức, sống gần một người biếng nhác?'. Rồi
ngài đi đến Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp) nghe thuyết
giảng, phát triển thiền quán, không bao lâu chứng quả A-la-hán.
Rồi ngài chỉ trích Vimala với những câu kệ như sau:
147.
Như leo trên ván nhỏ,
Giữa
biển lớn bị chìm,
Cũng
vậy đến kẻ khác,
Người
hạnh tốt cũng chìm.
Do
vậy hãy bỏ nó,
Kẻ
làm biếng làm nhác.
148.
Hãy sống gần bậc Thánh,
Bậc
viễn ly, tinh cần,
Thiền
định, thường tinh tấn,
Bậc
Hiền trí sáng suốt.
Nghe
vậy, Trưởng lão Vimala rất xúc động, phát triển thiền
quán, tự minh tinh tấn để được giải thoát, không bao lâu
chứng đạt được mục đích.
(CXXXV)
Sabbamitta (Thera. 20)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Sàvatthi, được đặt tên là Sabbamitta. Chứng kiến lễ
dâng cúng tinh xá Kỳ Viên, ngài thấy được uy nghi đức độ
của đức Phật, xuất gia, lựa chọn một đề tài để thiền
quán, ngài sống tại một khu rừng. Sau mùa mưa, ngài đi đến
Sàvatthi để đảnh lễ đức Phật, trên đường đi, ngài
thấy một con nai con bị sa vào bẫy người thợ săn, con nai
mẹ tuy không bị lưới chụp nhưng vì thương con nai con nên
không đi xa cũng không dám đến gần cái bẫy, con nai con lăn
lộn qua lại, kêu lên những tiếng thảm thiết. Vị Trưởng
lão suy nghĩ: 'Ôi, tình thương đã đem lại sự đau khổ cho
các loài hữu tình!'. Ði xa hơn nữa, ngài thấy nhiều tên
cướp đang lấy rơm cột vào một người chúng bắt được
để đem thiêu sống. Nguời ấy la lên và vị Trưởng lão
cảm thấy sầu khổ đối với hai sự việc ấy, liền nói
lên bài kệ để cho các tên cướp nghe.
149.
Người trói buộc vào người,
Người
bám víu vào người,
Người
bị người làm hại,
Và
người làm hại người.
150.
Lợi ích gì người ấy?
Hay
con cháu người sanh?
Hãy
bỏ người ấy đi,
Người
làm hại nhiều người.
Nói
vậy, ngài đạt đến thiền quán, chứng quả A-la-hán. Còn
các tên cướp, nghe lời giáo giới của ngài, cảm thấy xúc
động, từ bỏ thế tục, và thực hành Chánh pháp.
(CXXXVI)
Mahàkàla (Thera. 21)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở thành Setavyà, trong
gia đình một người lái buôn, được đặt tên là Mahàkàla.
Khi đến tuổi trưởng thành và sống ở nhà, ngài đem theo
năm trăm xe hàng hóa để buôn bán ở Sàvatthi. Khi đang nghỉ
vào buổi chiều, ngài thấy các cư sĩ đem hương hoa đi đến
tinh xá Jetavana (Kỳ Viên) và ngài đi theo. Tại đấy ngài nghe
đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin xuất gia, quyết định
lựa chọn nghĩa địa làm đề tài thiền quán, ngài sống
ở trong nghĩa địa. Một hôm, một người đàn bà làm nghề
thiêu đốt thân thể, để cho vị Trưởng lão một đề tài
thiền quán, nên chặt tay và chân của một thân mới thiêu,
lấy sọ đầu làm bình bát đựng sữa, sắp đặt tay chân
đặt chúng gần bậc Trưởng lão để ngài có thể thiền
quán và ngồi xuống một bên. Vị Trưởng lão thấy vậy liền
tự sách tấn mình với những bài kệ như sau:
151.
Nữ Kàlì, đẫy đà,
Dung
sắc như quạ đen,
Bẻ
gẫy một bắp vế,
Lại
bẻ bắp vế nữa,
Bẻ
gẫy một cánh tay,
Lại
bẻ cánh tay nữa,
Lại
bẻ gẫy cái đầu,
Như
bát đựng sữa đông.
Này
Kàlì ngồi xuống,
Với
lòng tin sẵn sàng.
152.
Ai không rõ biết vậy,
Lại
tác thành sanh y,
Kẻ
ngu bước đi đến,
Chịu
khổ đau liên tục,
Do
vậy ai hiểu biết,
Không
tạo nên sanh y,
Ta
sẽ không nằm xuống,
Với
đầu bị bẻ nát.
(CXXXVII)
Tissa (Thera. 21)
Trong
đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá), trong
một gia đình Bà-la-môn, tên là Tissa và trở thành một chuyên
viên về ba tập Vệ-đà. Giảng bùa chú cho hơn năm trăm Bà-la-môn
trẻ, và danh tiếng đồn vang. Khi Thế Tôn đến Ràjagaha (Vương
Xá), Tissa thấy uy nghi đức độ của đức Phật, khởi lòng
tin, xuất gia, về sau chứng quả A-la-hán,do phát triển thiền
quán. Nhờ vậy, ngài trở thành có danh tiếng nữa.
Có
một số Tỷ-kheo thiên về thế lợi, thấy ngài có được
trọng vọng, nên không thể chịu nổi. Ngài biết như vậy,
nói lên sự nguy hiểm của danh vọng và sự thoát ly của ngài
đối với danh vọng, ngang qua những bài kệ này:
153.
Vị trọc đầu, đắp y,
Ðược
nhiều kẻ thù oán
Khi
nhận đồ ăn uống,
Vải
mặc và chỗ nằm.
154.
Biết nguy hiểm như vậy,
Biết
có sợ hãi lớn,
Trong
cung kính cúng dường;
Vị
Tỷ-kheo xuất gia,
Nhận
ít, không tham đắm,
Luôn
luôn giữ chánh niệm.
(CXXXVIII)
Kimbila (Thera. 21)
Ngài
gặp đức Phật, xúc động, xuất gia đã được nói trong
chương một, với câu kệ : 'Như bị cảm hóa bởi sức mạnh'.
Ở đây, vị Trưởng lão sống thân thiết với các bạn, các
Tôn giả Anuruddha, Bhaddiya.
155.
Trong vườn trúc phía Ðông,
Các
Thích tử thân hữu,
Từ
bỏ những tài sản,
Không
phải là ít oi,
Vui
thích với những gì,
Nhận
được từ bình bát.
156.
Siêng, tinh cần, tinh tấn,
Thường
kiên trì hăng hái,
Ưa
thích lạc pháp vị,
Từ
bỏ lạc thế gian.
(CXXXIX)
Nanda (Thera. 21)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu, con vua
Suddhodana (Tịnh Phạn) và bà Mahàpajàpati, vì đem lại hoan
hỷ cho bà con nên được gọi là Nanda. Khi đến tuổi trưởng
thành, bậc Ðạo Sư chuyển bánh xe pháp đi đến Kapilavatthu,
với lòng từ mẫn độ chúng sanh. Nhân có dịp trời mưa,
Thế Tôn kể chuyện tiền thân Vessantara. Trong ngày thứ hai,
với câu kệ: 'Hãy đứng dậy!'. Thế Tôn giúp cho phụ thân
chứng quả Dự lưu. Với câu kệ: 'Hãy sống theo Phạm hạnh'.
Thế Tôn giúp bà Mahàpajàpati cũng chứng quả Dự lưu, rồi
Thế Tôn giúp phụ thân chứng thêm quả Nhất lai. Ngày thứ
ba khi đi khất thực tại phòng đăng quang, lúc mọi người
đang chúc mừng hoàng tử Nanda trong ngày lễ đám cưới, bậc
Ðạo Sư đưa bình bát, đi theo bậc Ðạo Sư đến tinh xá
và đức Phật độ cho Nanda xuất gia, dầu ngài không bằng
lòng.
Từ
lúc ấy, biết được Nanda không ưa thích đời sống xuất
gia, bậc Ðạo Sư tiếp tục giáo hóa cho đến khi Nanda, nhờ
thiền định, phát triển thiền quán và đạt được quả
A-la-hán. Về sau, hưởng thọ lạc giải thoát, ngài nói: 'Ôi
tuyệt diệu thay pháp môn Phật dạy. Nhờ vậy ta thoát khỏi
sa lầy vào đầm tái sanh, đứng được trên bãi cát Niết-bàn'.
Phấn khởi với suy nghĩ này, ngài nói lên những bài kệ:
157.
Không như lý tác ý,
Ta
chuyên trang sức ngoài,
Ta
thô tháo dao động,
Say
đắm trong tham dục.
158.
Với phương tiện thiện xảo,
Ta,
bà con mặt trời,
Ðược
hướng về chánh lý,
Làm
ta thoát sanh hữu.
Thế
Tôn, biết được quả chứng tự tu, tự luyện của ngài,
tuyên bố ngài là bậc tự chế ngự đệ nhất trong các đệ
tử của Thế Tôn.
(CXL)
Sirimat (Thera. 21)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ),
trong nhà một thị dân, được đặt tên là Sirimat, vì gia
đình ngài được luôn luôn may mắn, và thành công. Em trai
của ngài, tăng trưởng tài sản được đặt tên là Sirivaddha
(tăng trưởng sự may mắn). Cả hai thấy được uy nghi đức
độ của đức Phật khi Kỳ Viên được dâng cúng đức Phật,
khởi lòng tin xuất gia, Sirivaddha dầu chưa chứng được pháp
thượng nhân, nhưng được hàng cư sĩ, hàng xuất gia tôn kính
hoan nghênh. Nhưng Sirimat, vì nghiệp không được tốt đẹp
nên ít được cung kính, tuy vậy, luôn luôn tu tập về chỉ
và quán, ngài chứng được sáu thắng trí.
Các
Tỷ-kheo tầm thường và các Sa-di không biết ngài chứng được
Thánh quả, tiếp tục khinh thường ngài và cung kính em của
ngài. Rồi ngài đọc lên bài kệ, nói lên sự sai lầm của
họ:
159.
Người khác tán thán nó,
Kẻ
tự ngã chưa định,
Người
khác khen sai lầm,
Kẻ
tự ngã chưa định.
160.
Người khác chỉ trích nó,
Kẻ
tự ngã đã định,
Người
khác chê sai lầm,
Kẻ
tự ngã khéo định.
Rồi
Sirivaddha nghe bài kệ, tâm sanh dao động, phát triển thiền
quán, không bao lâu đạt được chơn giải thoát; và những
ai chỉ trích bậc Trưởng lão, chúng tôi xin lỗi ngài.
Phẩm
Ba
(CXLI)
Uttara (Thera. 22)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàketa, trong một gia
đình Bà-la-môn, được đặt tên là Uttara. Bị cảm hóa bởi
thần thông song hành tại cây Gandamba ở Sàvatthi, ngài được
khích lệ xuất gia, khi bậc Ðạo Sư ở Sàketa thuyết pháp
tại vườn Kàlaka. Ði với bậc Ðạo Sư đến Ràjagaha (Vương
Xá), ngài phát triển thiền quán, chứng được sáu thắng
trí. Trở về Sàvatthi để hầu hạ đức Phật, các Tỷ-kheo
hỏi ngài: 'Thưa Hiền giả, Hiền giả đã thành tựu những
gì trong sự nghiệp giải thoát?' Ngài nói lên chánh trí của
ngài với bài kệ như sau:
161.
Ta liễu tri các uẩn,
Ta
khéo nhổ tham ái,
Ta
tu tập giác chi,
Ta
đạt lậu hoặc diệt.
162.
Do liễu tri các uẩn,
Thoát
ly kẻ gài lưới,
Tu
tập giác chi xong,
Ta
sẽ nhập Niết-bàn,
Các
lậu hoặc tận diệt.
(CXLII)
Bhaddaji (Thera. 22)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Bhaddiya (tại Avantì
phía Ðông Magadha), con một nghị sĩ giàu có đến tám trăm
triệu, ngài được đặt tên là Bhàddiya và được nuôi lớn
trong sự nuông chiều sang trọng, giống như vị Bố-tát trong
đời sống cuối cùng của ngài. Tập sớ kể câu chuyện của
ngài chứng quả A-la-hán khi nghe đức Phật thuyết pháp lần
đầu tiên, chính đức Phật đích thân đến tìm ngài. Ngài
đi theo bậc Ðạo Sư với hàng tùy tùng, sau một tuần đến
tại Kotigàma, và đi lánh đến bờ sông Hằng, ngài nhập thiền
định. Ngài chỉ xuất định, khi đức Phật đến gần và
không vâng lời các vị Trưởng lão đi trước. Ðể xác minh
quả chứng vô thượng của ngài, đức Phật mời ngài lên
chiếc phà của Ngài và yêu cầu ngài hiện thần thông. Bhaddiya
làm nổi lên cung điện bị chìm, khi ngài trú tại đấy, trong
thời ngài là vua Panàda. Câu chuyện này được kể trong chuyện
Jàtaka Mahàpanàda. Ngài diễn tả lâu đài bằng vàng, trong
ấy ngài đã sống trong một thời gian. Rồi ngài nói về ngài
khi tự ngã được đoạn diệt, như là thuộc một người
khác:
163.
Pa-nà-đa là tên,
Của
vị hoàng đế ấy,
Với
trụ lễ bằng vàng,
Ngang
có mười sáu nhà,
Tính
về lượng bề cao,
Cao
hơn một ngàn lần.
164.
Có đến ngàn tam cấp,
Với
trăm nóc hình tròn,
Trang
hoàng với cờ xí,
Với
ngọc báu chói sáng,
Ở
đấy, Càn-thát-bà,
Các
tiên nữ hát múa,
Con
số lên sáu ngàn,
Với
tổng số bảy đoàn.
(CXLIII)
Sobhita (Thera. 22)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là Sobhita. Sau khi được
nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài xuất gia, chứng được
sáu thắng trí, ngài thực hành nhớ đến các đời sống quá
khứ, thành tựu túc mạng thông, được đức Phật xác nhận
là vị nhớ đến đời sống quá khứ đệ nhất. Cảm thấy
phấn khởi trong quả chứng của mình, ngài nói lên những
bài kệ:
165.
Tỷ-kheo giữ chánh niệm,
Với
trí tuệ tinh cần,
Một
đêm, ta nhớ đến,
Có
đến năm trăm kiếp.
166.
Ta tu Bốn niệm xứ,
Bảy
giác chi, Tám thánh (đạo),
Một
đêm, ta nhớ đến,
Có
đến năm trăm kiếp.
(CXLIV)
Valliya (Thera. 22)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Vesàli, trong một
gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là Kanhamitta. Khi đến
tuổi trưởng thành, ngài thấy uy nghi đức độ của đức
Phật khi đức Phật đến Vesàli. Khởi lòng tin, ngài xuất
gia với sự hướng dẫn của Tôn giả Mahà Kassapa (Ðại Ca-diếp).
Với trí tuệ chậm chạp và mới bắt đầu tinh tấn, ngài
phải dựa vào trí tuệ của các đồng Phạm hạnh đến nỗi
ngài được gọi là Valliya (loài cây leo), vì loài cây này
không thể tự lớn được, nếu không dựa vào một vật gì.
Một hôm, ngài đi nghe Trưởng lão Venudatta giảng, ngài trở
thành sáng suốt, trí tuệ chín muồi, ngài hỏi vị Thầy của
ngài với những bài kệ:
167.
Những bổn phận cần làm,
Với
tinh cần tinh tấn,
Những
bổn phận cần làm
Với
người muốn giác ngộ.
Con
sẽ làm tất cả,
Con
không có thối thất,
Hãy
xem sự tinh tấn,
Sự
nỗ lực của con.
168.
Ngài hãy nói cho con,
Con
đường nhập bất tử,
Với
yên lặng thiền tư,
Con
đạt Thánh yên lặng,
Như
dòng sông Hằng Hà,
Nhập
sâu vào biển cả.
(CXLV)
Vitàsoka (Thera. 22)
Trong
thời đức Phật hiện tại, vào năm thứ 218, là em trai vua
Dhammàsoka (A-dục), được đặt tên là Vitàsoka. Ðến tuổi
trưởng thành, ngài thành tựu những đức tánh thích hợp
với tuổi trẻ hoàng tộc. Rồi ngài trở thành đệ tử của
Trưởng lão Giridatta và thông hiểu về Kinh tạng và Luận
tạng A-tỳ-đàm.
Một
hôm, khi ngài đang cắt tóc, ngài lấy gương soi, thấy một
vài sợi tóc bạc. Bị dao động mạnh, ngài phát triển thiền
quán, với sự nỗ lực cố gắng thiền định, khi ngài đang
ngồi, ngài chứng quả Dự lưu, ngài xuất gia dưới sự hướng
dẫn của Giridatta, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Ngài
tuyên bố chánh trí của ngài với bài kệ:
169.
Hãy cạo tóc cho ta
Người
cạo tóc đã đến,
Ta
cầm lấy cái gương,
Quan
sát thân thể ta.
170.
Thân được thấy trống rỗng,
Chìm
tối trong đêm đen,
Mọi
vải quấn chặt đứt,
Nay
không còn tái sanh.
(CXLVI)
Punnamàsa (Thera. 23)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình vị điền chủ. Khi sanh đứa con đầu tiên, ngài
xuất gia, sống gần một làng, ngài tinh tấn tu hành cho đến
khi ngài chứng được sáu thắng trí. Ngài đi đến Sàvatthi
đảnh lễ bậc Ðạo Sư và ở tại một nghĩa địa. Rồi
đứa con ngài chết và vợ ngài không muốn tài sản bị vua
tịch thu, vì không có thừa tự nên đi đến ngài với một
số đông tùy tùng và yêu cầu ngài từ bỏ đời sống xuất
gia. Muốn nói lên sự giải thoát thế tục và quả chứng
của ngài, ngài đứng trên hư không, nói lên những bài kệ:
171.
Từ bỏ năm triền cái,
Ðạt
an ổn khỏi ách,
Nắm
giữ gương Chánh pháp,
Biết
và thấy tự ngã.
172.
Ta quán sát thân này,
Từ
trong cho đến ngoài,
Thân
được thấy trống không,
Trong
thân cả ngoài thân.
(CXLVII)
Nandaka (Thera. 23)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Campà trong một gia
đình thị dân, được đặt tên là Nandaka. Ngài là em trai
của Bharata (sẽ được nói đến sau). Cả hai được nghe Sona
Kolivisa thuyết pháp, liền xuất gia, nghĩ rằng: 'Sona được
nuôi dưỡng tế nhị còn xuất gia được, huống nữa chúng
ta?' Bharata chứng ngay sáu thắng trí, còn Nandaka, vì còn nhiều
tư tưởng không trong sạch, không thể điều khiển được
thiền quán, chỉ có thể thực hành. Rồi Bharata muốn giúp
đỡ ngài, khiến ngài làm thị giả và cả hai người ra đi.
Ngồi bên vệ đường, Bharata thuyết pháp cho ngài về thiền
quán.
Có
một đoàn lữ hành đi ngang qua, một con bò đực kéo xe qua
đám bùn không nổi nên ngã quỵ xuống. Ngài dạy cởi con
bò khỏi chiếc xe, cho nó ăn cỏ, uống nước. Con bò khỏi
sự mệt nhọc lại được cột vào xe, với sức mạnh, được
bồi dưỡng, con bò kéo xe qua được đám bùn, Bharata nói:
- Này
em Nandaka, em có thấy hiện tượng ấy không?'.
- Thưa
anh, em có thấy.
- Vậy
hãy tìm hiểu ý nghĩa! Và Nandaka nói: 'Như con bò được bồi
dưỡng, lấy lại sức mạnh, ta cần phải tự lực lôi mình
ra khỏi đám bùn lầy của tái sanh!' Dùng sự kiện này là
một đề tài thiền quán, ngài đã chứng được quả A-la-hán.
Rồi ngài tuyên bố chánh trí của ngài cho người anh nghe với
những bài kệ:
173.
Như con vật hiền thiện,
Thuộc
giống tốt, khéo luyện,
Sau
khi ngã quỵ xuống,
Lại
gượng lên đứng dậy,
Lấy
được thêm sức mạnh,
Không
bỏ kéo gánh nặng.
174.
Cũng vậy, hãy nhận con,
Ðệ
tử bậc Chánh giác,
Con
đầy đủ chánh kiến,
Khéo
tu luyện thuần thục,
Con
thật con chánh thống.
Của
đức Phật Chánh giác.
(CXLVIII)
Bharata (Thera. 23)
Khi
em trai Nandaka nói lên chánh trí của mình, Bharata khởi lên
ý kiến hai anh em cùng đi đến yết kiến đức Phật, trình
lên đức Phật biết quá trình đời sống Phạm hạnh của
mình.
Rồi
ngài nói với Nandaka những bài kệ như sau:
175.
Hãy đến Nandaka,
Chúng
ta hãy cùng đi,
Ði
đến bậc Giáo thọ,
Chúng
ta hãy rống lên,
Tiếng
rống con sư tử,
Trước
mặt Phật tối thượng.
176.
ẩn sĩ thương chúng ta,
Khích
lệ ta xuất gia,
Mục
đích chúng ta đạt,
Mọi
kiết sử đoạn tận.
(CXLIX)
Bhàradvàja (Thera. 23)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá).
Trong một gia đình Bà-la-môn, được đặt tên theo dòng họ
là Bhàradvàja. Lập gia đình, ngài có một người con trai tên
là Kanhadinna. Ðến tuổi đi học, ngài gửi người con đi Takkasìla,
giữa đường người con làm quen với một vị Trưởng lão,
đệ tử bậc Ðạo Sư, nghe vị ấy thuyết pháp, xuất gia
và sau một thời gian, chứng quả A-la-hán.
Bhàradvàja,
được nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp ở tịnh xá Trúc Lâm,
xuất gia và cũng chứng quả A-la-hán, Kanhadinna đến yết kiến
bậc Ðạo Sư ở Ràjagaha (Vương Xá), và sung sướng thấy
phụ thân mình ngồi cạnh đức Bổn Sư. Ðược biết phụ
thân đã chứng quả A-la-hán, muốn phụ thân rống tiếng rống
con sư tử, nên hỏi đã chứng được mục đích Phạm hạnh
chưa, ngài trả lời với những câu kệ như sau:
Rống
tiếng rống:
177.
Như những con sư tử
Trong
hang động núi non,
Rống
tiếng rống sư tử,
Cũng
vậy với trí tuệ,
Bậc
anh hùng thắng trận,
Thắng
ma và ma quân.
178.
Ta hầu bậc Ðạo Sư
Ðảnh
lễ Pháp và Tăng,
Ta
hân hoan vui vẻ,
Thấy
con chứng vô lậu.
(CL)
Kanhadinna (Thera. 23)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Vương Xá, trong gia
đình một Bà-la-môn, được đặt tên là Kanhadinna. Khi đến
tuổi trưởng thành, với thiện duyên thuần thục, ngài đến
Tôn giả Sàriputta, nghe pháp, khởi lòng tin rồi xuất gia. Sau
khi phát triển thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán, ngài tuyên
bố chánh trí của ngài.
179.
Hầu hạ bậc chân nhân,
Luôn
luôn nghe Chánh pháp,
Nghe
xong, ta sẽ bước,
Trên
con đường bất tử.
180.
Trong ta, tham hữu đoạn,
Tham
hữu không có mặt,
Quá
khứ, và vị lai,
Không
có ở trong ta,
Hiện
tại cũng không có,
Tồn
tại ở trong ta.
Phẩm
Bốn
(CLI)
Migasìra (Thera. 24)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Kosala, được đặt tên là Migasìra, theo ngôi sao ngày sinh.
Học theo văn hóa Bà-la-môn, ngài thực hành bùa chú sọ người,
khi ngài đọc lên bùa chú và lấy móng tay gõ trên sọ người,
ngài tuyên bố: 'Người này sẽ được tái sanh trong giới
này...', cho đến với những người đã chết được ba năm.
Không thích thú đời sống thế tục, ngài trở thành người
du sĩ, với hạnh sọ người của ngài, ngài được cung kính
cúng dướng. Ði đến Sàvatthi, đứng trước mặt bậc Ðạo
Sư, ngài tuyên bố sức mạnh của ngài: 'Thưa Tôn giả Gotama,
ta có thể nói chỗ tái sanh của những người đã chết'.
Ðức
Phật hỏi: 'Ông làm như thế nào?'
Ngài
cho đem lại một sọ người, đọc lên bùa chú, với móng
tay gõ trên sọ người, ngài tuyên bố đọa xứ v.v... là chỗ
tái sanh!
Ðức
Phật cho đem lại sọ người của một Tỷ-kheo, đã chứng
Niết-bàn và nói: 'Hãy nói chỗ tái sanh của người này'.
Migasìra đọc bùa chú, lấy móng tay gõ trên sọ người, nhưng
không thấy đầu đuôi như thế nào.
Rồi
Thế Tôn hỏi:
- Này
du sĩ, có phải ông làm không được?
Ngài
trả lời: - Tôi cần phải xác chứng cho chắc chắn! Nhưng
dù cho ngài xoay xở như thế nào, làm sao ngài biết được
sanh thú của vị A-la-hán; ngài xấu hổ, toát mồ hôi, im lặng.
- Này
du sĩ, có phải ông mệt mỏi?
- Vâng,
tôi mệt mỏi, tôi không biết sanh tử của vị này, Ngài có
biết chăng?
- Ta
biết được và Ta biết nhiều hơn thế nữa! Vị này đã
nhập Niết-bàn!
Vị
du sĩ nói:
- Vậy
nói lên cho con, bí quyết ấy?
- Vậy
ông phải xuất gia! Rồi Migasìra xuất gia và được dạy cho
đề tài tu định. An trú vững vàng trên thiền và thắng trí,
ngài thực hành thiền quán, không bao lâu, chứng quả A-la-hán.
Rồi
ngài nói lên chánh trí của ngài như sau:
181.
Từ khi ta xuất gia,
Trong
pháp bậc Chánh giác,
Giải
thoát, ta tiến lên,
Ta
vượt qua dục giới.
182.
Nhờ Phạm-chí quán sát,
Tâm
ta được giải thoát,
Ta
giải thoát bất động,
Mọi
kiết sử đoạn diệt.
(CLII)
Sivàka (Thera. 24)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Ràjagaha (Vương Xá), được đặt tên Sivàka. Khi đã nhận
được một sự giáo dục toàn diện, ngài theo xu hướng sở
thích của mình, từ bỏ thế tục làm người du sĩ. Ðến
nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài khởi lòng tin xuất gia,
và cuối cùng chứng quả A-la-hán. Ngài nói lên chánh trí của
mình:
183.
Vô thường, những ngôi nhà,
Ðây
đó lại dựng lên,
Tìm
kiếm người làm nhà,
Tái
sanh là đau khổ.
184.
Hỡi kẻ làm nhà kia!
Ngươi
đã bị thấy rồi,
Từ
nay, ngươi không thể,
Lại
dựng nhà lên nữa,
Mọi
tường vách đổ vỡ,
Nóc
nhà bị tan hoang,
Tâm
bị đẩy khỏi dòng,
Ở
đây, bị thổi nát.
(CLIII)
Upavàna (Thera. 24)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
ở Sàvatthi, được đặt tên là Upavàna. Thấy được uy nghi
đức Phật khi Kỳ Viên được dâng cúng. Ngài xuất gia, phát
triển thiền quán, chứng được sáu thắng trí.
Rồi
Upavàna trở thành vị thị giả đức Phật. Bấy giờ, Thế
Tôn bị đau nhức mỏi, một đệ tử cư sĩ của ngài tên
là Devahita sống ở Sàvatthi cúng dường bốn vật dụng cần
thiết cho ngài. Khi Upavàna đến với y và bát, Devahita biết
ngài cần dùng một vật đặc biệt nên hỏi. Ngài trả lời
với bài kệ như sau:
185.
Bậc ứng Cúng, Thiện Thệ,
ẩn
sĩ bị phong thấp,
Nếu
ông có nước nóng,
Hãy
cúng dường ẩn sĩ.
186.
Cúng dường người đáng cúng,
Cung
kính người đáng kính,
Tôn
trọng người đáng trọng,
Ta
mong muốn vị ấy,
Ðược
vật cúng mang đến.
Rồi
vị Bà-la-môn dâng cúng nước nóng và thuốc trị bệnh. Nhờ
vậy, bệnh của Thế Tôn thuyên giảm và Thế Tôn tỏ lời
cảm ơn.
(CLIV)
Isidinna (Thera. 24)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở xứ Sunàparanta, trong
gia đình một vị chức sắc, được đặt tên là Isidinna.
Khi lớn lên, ngài chứng kiến Thế Tôn hiện thần thông song
hành khi ngôi nhà bằng trầm hương được dâng cúng, với
tấm hân hoan đối với bậc Ðạo Sư, ngài nghe pháp, trở
thành bậc Dự lưu. Dầu còn sống đời sống thế gian, một
Thiên nhân khích lệ ngài như sau:
187.
Ta thấy người cư sĩ,
Trì
pháp với lời nói,
Các
dục là vô thường,
Họ
ưa thích ái luyến,
Châu
báu và vòng nhẫn,
Họ
đón chờ vợ con.
188.
Thật sự họ không biết,
Pháp
như thật là gì?
Dầu
họ có tuyên bố:
'Các
dục là vô thường!'
Họ
không có sức mạnh,
Ðể
cắt đứt tham ái,
Do
vậy, họ luyến tiếc,
Vợ
con và tài sản.
Khi
người cư sĩ nghe vậy, ngài cảm thấy xúc động, xuất gia,
không bao lâu chứng quả A-la-hán. Nói lên chánh trí của ngài,
ngài lập lại những bài kệ trên.
(CLV)
Sambula - Kaccàna (Thera. 24)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong nước Magadha (Ma-kiệt-đà),
con một thị dân thuộc dòng họ Kaccàna, tên là Sambula, ngài
được biết với tên Sambula-Kaccàna. Sau khi nghe bậc Ðạo
Sư thuyết pháp, ngài xuất gia rồi đi đến miền phụ cận
núi Hy-mã-lạp-sơn, tu học thiền quán trong một cái hang tên
là Bheravàyanà (đường đi dễ sợ).
Một
hôm, một cơn giông tố trái mùa nổi lên, mây ùn ùn nổi
lên trên hư không, sấm sét vang động, chớp sáng chói lòa,
trời bắt đầu mưa đổ ào ào xuống. Các loài vật như gấu,
dã can, trâu, voi đều la hét run sợ. Nhưng vị Trưởng lão
phát triển thiền quán, không kể gì đến mạng sống của
mình, không để ý đến tiếng động vang, nhưng cơn động
làm cho dịu khí trời, tâm ngài được tịnh chỉ, ngài triển
khai thiền quán, chứng được quả A-la-hán với sáu thắng
trí. Nghĩ đến thành quả đạt được, ngài cảm thấy phấn
khởi, ngài nói lên chánh trí của ngài, với những bài kệ:
189.
Mưa ào ào đổ xuống,
Mưa
ầm ầm vang động,
Ta
sống chỉ một mình,
Trong
hang động kinh hoàng,
Dầu
ta sống một mình,
Trong
hang động kinh hoàng,
Ta
không hoảng, sợ hãi,
Không
lông tóc dựng ngược
190.
Pháp nhĩ ta là vậy,
Nên
dầu sống một mình,
Trong
hang động kinh hoàng,
Ta
không hoảng, sợ hãi,
Không
lông tóc dựng ngược.
(CLVI)
Khitaka (Thera. 25)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong nước Kosala, con
một vị Bà-la-môn, được đặt tên là Khitaka. Ngài nghe bậc
Ðạo Sư thuyết pháp, xuất gia, sống trong rừng, không bao
lâu chứng quả A-la-hán. Hưởng được lạc giải thoát Niết-bàn,
cảm thấy phấn khởi tinh cần, ngài đi đến các Tỷ-kheo
sống trong rừng để khích lệ, làm các vị ấy phấn khởi.
Ngài nói những bài kệ này, trước hết vì hạnh phúc cho
các vị ấy, sau nói lên chánh trí của ngài:
191.
Tâm ái như tảng đá
Ðứng
vững, không dao động,
Hỡi
những vật khả ái,
Tâm
không có tham ái,
Ðối
vật làm dao động,
Tâm
không có dao động,
Tâm
ai tu tập vậy,
Từ
đâu, khổ sẽ đến.
192.
Tâm ta như tảng đá
Ðứng
vững, không dao động,
Ðối
những vật khả ái,
Tâm
không có tham ái,
Ðối
vật làm dao động,
Tâm
không có dao động,
Tâm
ta tu tập vậy,
Từ
đâu, khổ đến ta.
(CLVII)
Sona - Potiriyaputta (Thera. 25)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ),
con của điền chủ Potiriya, được đặt tên là Sona. Khi đến
tuổi trưởng thành, ngài trở thành tướng chỉ huy quân lực
của Bhaddiya, một vị vua Sakka. Nay Bhaddiya đã xuất gia, và
ngài theo gương Bhaddiya cũng xuất gia, nhưng ngài biếng nhác,
không có tu thiền định. Thế Tôn ở tại vườn xoài Anupiya,
chiếu hào quang đến ngài, khích lệ ngài tu tập chánh niệm,
với những bài kệ như sau:
193.
Thầy chớ có ngủ nữa,
Với
đêm, sao vòng hoa,
Ðêm
này, người có trí,
Thức
dậy, không có ngủ.
Nghe
lời này, ngài cảm thấy dao động mạnh, thấy rõ những khuyết
điểm của ngài, ngài ngồi thiền ngoài trời, tu tập thiền
quán, ngài nói lên bài kệ:
194.
Khi con voi tấn công,
Rơi
từ lưng voi xuống,
Trên
chiến trường ta chết,
Tốt
hơn sống bại trận.
Nói
vậy, ngài triển khai thiền quán, không bao lâu chứng quả
A-la-hán. Rồi ngài lập lại bài kệ của bậc Ðạo Sư, và
với bài kệ của ngài, ngài nói lên chánh trí của mình.
(CLVIII)
Nisabha (Thera. 25)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong xứ các dân tộc
Koliya, trong một gia đình dân tộc, được đặt tên là Nisabha.
Khi đến tuổi trưởng thành, ngài chứng kiến sức mạnh uy
nghi đức độ của đức Phật trong trận chiến giữa dân
tộc Sakka và dân tộc Koliya, khởi lòng tin, ngài xuất gia,
chứng quả A-la-hán.
Thấy
một Tỷ-kheo đồng Phạm hạnh dùng thời gian của mình rất
là uổng phí, nên ngài dùng những bài kệ này để khuyên
răn vị ấy, và nói lên ngài thực hành những điều ngài
nói:
195.
Sau khi đã từ bỏ
Năm
loại dục trưởng dưỡng,
Những
vật thật khả ái,
Khiến
tâm ý thích thú,
Với
lòng tin, xuất gia,
Chấm
dứt sự khổ đau.
196.
Ta không hoan hỷ chết,
Ta
không hoan hỷ sống,
Ta
chờ đợi thời đến,
Tỉnh
giác và chánh niệm.
(CLIX)
Usabha (Thera. 25)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ),
trong gia đình một vị vua Sakka, được đặt tên là Usabha.
Khi đức Phật về thăm bà con, ngài thấy sức mạnh và sự
sáng suốt của đức Phật, khởi lòng tin và xuất gia, nhưng
ngài không làm các bổn phận của người tu hành, cả ngày
giao du nhiều người, ban đêm thời lo ngủ.
Một
hôm, với tâm tư hôn trầm phóng dật, ngài nằm ngủ, ngài
mộng thấy ngài cạo đầu, đắp áo cà-sa, ngồi trên lưng
voi đi vào thành để khất thực; tại đấy, thấy quần chúng
tụ tập đông đảo, ngài cảm thấy xấu hổ và xuống voi
không ngồi nữa. Ngài thức dậy, suy nghĩ: 'Vì sao, đây là
cơn mộng hôn trầm và phóng dật, ta thấy ta nằm ngủ với
tâm ưu não', ngài an trú thiền quán, không bao lâu chứng quả
A-la-hán. Như vậy lấy cơn mộng làm đề tài khích lệ, ngài
dùng những bài kệ để nói lên chánh trí của ngài:
197.
Vai đắp phủ tấm y,
Giống
như màu bông xoài,
Ngồi
trên lưng con voi,
Ta
vào làng khất thực.
198.
Từ lưng voi leo xuống,
Ta
cảm nhận xúc động,
Trước
ta rất ngạo mạn,
Nay
ta thật lắng dịu,
Ta
đã chứng đạt được,
Các
lậu hoặc đoạn diệt.
(CLX)
Kappata - Kura (Thera. 25)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại Sàvatthi, trong tình
cảnh nghèo nàn, ngài chỉ biết tự nuôi sống, bằng cách
mặc đồ rách rưới, bát ăn xin cầm tay, đi xin gạo cơm.
Vì vậy ngài được tên là Kappatakura (rách và gạo). Khi lớn
lên, ngài nuôi sống bằng cách bán cỏ. Một hôm, đang cắt
cỏ trong rừng, ngài gặp một vị Trưởng lão, ngài đảnh
lễ, ngồi xuống nghe pháp. Ngài khởi lòng tin, từ bỏ nếp
sống cũ, xuất gia, cất đồ rách rưới vào một chỗ. Khi
ngài cảm thấy nhàm chán với đời sống mới, ngài đi đến
nhìn đồ rách rưới ấy, tâm ngài trở thành bất an. Làm
như vậy, bảy lần ngài rời khỏi chúng Tăng. Các Tỷ-kheo
báo cáo lên sự việc này. Một hôm, khi ngài là một Tỷ-kheo
đang ngồi giữa chúng Tăng tại giảng đường, bậc Ðạo
Sư giáo giới ngài với những bài kệ như sau:
199.
Ðây là đồ rách rưới,
Của
Kappata-kura,
Y
áo đang phủ đắp,
Thật
là quá nặng nề,
Trong
bình bát bất tử,
Ðược
đựng đầy Chánh pháp,
Nhưng
nó không thực hành,
Con
đường hành thiền định.
200.
Hỡi này Kappata,
Chớ
lắc qua lắc lại,
Chớ
khiến ta phải đánh,
Các
tiếng vào tai ông,
Hỡi
này Kappata,
Chớ
làm kẻ si mê,
Ngồi
lắc qua lắc lại,
Giữa
Tăng chúng hội họp.
Bị
đức Phật quở trách mạnh mẽ, ngài dao động mạnh, phát
triển thiền quá, không bao lâu chứng quả A-la-hán. Rồi ngài
lập lại các bài kệ đã khích lệ ngài tu hành và những
bài kệ này trở thành những lời tuyên bố chánh trí của
ngài.
Phẩm
Năm
(CLXI)
Kumàra-Kassapa (Thera. 26)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
mẹ ngài là con một vị chức sắc, mẹ ngài không được
cha mẹ bằng lòng cho xuất gia khi còn là thiếu nữ, lập gia
đình, được chồng bằng lòng cho xuất gia, nhưng bà không
biết là đang có thai. Khi các Tỷ-kheo-ni thấy hiện trạng
này, liền đến hỏi ý kiến Devadatta (Ðề-bà-đạt-đa), vị
này cho mẹ ngài là Tỷ-kheo-ni bất chánh. Các Tỷ-kheo-ni tới
hỏi ý kiến bậc Ðạo Sư, bậc Ðạo Sư giao việc này cho
Tôn giả Upàli giải quyết. Upàli cho mời một số vị cư
sĩ ở Sàvatthi, gồm có nữ cư sĩ Visàkhà, và giữa hội nghị,
có sự có mặt của vua, Tôn giả Upàli tuyên bố vị Tỷ-kheo-ni
đã có thai trước khi xuất gia, và bậc Ðạo Sư đã chấp
nhận sự kiện này. Mẹ ngài nuôi dưỡng đứa con tại ngôi
tịnh xá, đứa con như bức tượng bằng vàng, và vua nuôi
dưỡng đứa trẻ và ngài được đưa đến cho bậc Ðạo
Sư xuất gia. Vì ngài xuất gia khi còn thiếu niên, ngài được
gọi là Kumàra-kassapa, dầu cho khi ngài đã lớn.
Trong
khi ngài tu tập thiền quán, học lời Phật dạy, ngài ở tại
rừng Andha. Rồi một Thiên nhân, đã chứng quả Bất lai, đã
được làm Ðại Phạm Thiên ở Tịnh Cư Thiên, muốn chỉ
cho Kumàra-kassapa phương pháp chứng được đạo quả. Vị
Thiên nhân đến tại rừng Andha và hỏi ngài mười lăm câu
hỏi mà chỉ có bậc Ðạo Sư mới có thể trả lời. Ngài
hỏi đức Phật các câu hỏi ấy và học thuộc lòng các câu
đức Phật trả lời, phát triển quán, chứng quả A-la-hán.
Ðược
bậc Ðạo Sư ấn chứng cho là vị thuyết pháp lanh lợi đệ
nhất, ngài nhớ lại quá trình tu hành của mình và dưới
hình thức tán thán Ba ngôi báu, ngài nói lên chánh trí của
mình:
201.
Ôi Phật đà, ôi Pháp!
Ôi
Ðạo Sư thành tựu!
Ở
đây, vị đệ tử,
Chứng
đạt Chánh pháp này.
202.
Trải qua vô lượng kiếp,
Ta
tác thành có thân,
Thân
này thân cuối cùng,
Thân
này hành trì xong,
Trên
con đường sống chết,
Nay
không còn tái sanh.
(CLXII)
Dhammapàla (Thera. 26)
Trong
thời đức Phật hiện tại, khi bậc Ðạo Sư qua đời, ngài
sanh ở Avanti con một Bà-la-môn, được đặt tên là Dhammapàla.
Khi ngài đi từ Takkasilà về, học hành đã xong, ngài thấy
một vị Trưởng lão ngồi một mình trong thảo am, được
vị ấy thuyết pháp, ngài khởi lòng tin, xuất gia và chứng
được sáu thắng trí.
Trong
khi ngài suy tư hoan hỷ trong vị ngọt giải thoát, hai Sa-di
leo cây hái trái, bị cây gẫy ngã xuống. Thấy vậy ngài lấy
tay ôm đỡ hai người Sa-di, với thần thông đặt hai vị ấy
xuống đất, không có bị thương. Và ngài dạy hai vị ấy
với những bài kệ:
203.
Ai Tỷ-kheo trẻ tuổi
Chú
tâm hành lời Phật,
Tỉnh
thức giữa người ngủ,
Vị
ấy, đời không uổng.
204.
Do vậy, bậc Hiền trí,
Nhớ
đến lời Phật dạy,
Chuyên
tu tín và giới,
Hoan
hỷ thấy Chánh pháp.
(CLXIII)
Brahmàlì (Thera. 26)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở nước Kosala, con một
Bà-la-môn, được đặt tên là Brahmàlì. Khi đến tuổi trưởng
thành, thúc đẩy bởi những điều kiện chín muồi, do giao
hảo với bạn lành, ngài xuất gia, tu tập thiền định trong
một ngôi rừng, nhờ trí tuệ chín muồi, ngài phát triển
thiền quán, chứng được sáu thắng trí.
Sống
trong vị an lạc giải thoát, vị Trưởng lão rất thuần thục
pháp tinh tấn, một hôm sống ở trong rừng ngài nói lên những
bài kệ này, thay mặt cho các Tỷ-kheo ở trong rừng, những
bài kệ tán thán hạnh tinh tấn:
205.
Với những ai, các căn,
Ðã
đi đến tịnh chỉ,
Như
được khéo điều phục,
Bởi
đánh xe điều ngự,
Kiêu
mạn được đoạn tận,
Không
còn có lậu hoặc,
Chư
Thiên rất ái mộ
Những
vị có hạnh ấy.
206.
Với chính ta, các căn,
Ðã
đi đến tịnh chỉ,
Như
được khéo điều phục,
Bởi
đánh xe điều ngự,
Kiêu
mạn được đoạn tận,
Không
còn có lậu hoặc,
Chư
Thiên ái mộ ta,
Ta
thành tựu hạnh ấy.
(CLXIV)
Mogharàjam (Thera. 27)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn,
tên là Mogharàjam. Vị ấy tu học dưới sự lãnh đạo của
Bà-la-môn Bàvariya. Cảm thấy lo âu sợ hãi, ngài trở thành
một vị tu khổ hạnh. Ngài là một trong mười sáu vị, trong
ấy có Ajita và những vị khác, đã được Bàvariya đưa đến
yết kiến bậc Ðạo Sư. Sau khi Mogharàjam hỏi và được trả
lời, ngài chứng quả A-la-hán.
Sau
đó, ngài được biết đến vì ngài mặc áo thô sơ do các
nhà lữ hành, các thợ may, các thợ nhuộm quăng bỏ hai bên
đường. Do vậy, bậc Ðạo Sư ấn chứng cho ngài là người
đệ tử đệ nhất mặc áo thô sơ. Như vậy ngài thực hiện
chí nguyện từ trước của ngài.
Một
thời khác, do thiếu sự săn sóc chu đáo và do nghiệp đời
trước, các mụt ghẻ lở xuất hiện và sanh ra nhiều trên
thân của ngài, nghĩ rằng chỗ trú ẩn của ngài đã bị ô
nhiễm, ngài trải chỗ nằm của ngài trên một thửa ruộng
ở Magadha, và dầu lúc ấy thuộc mùa đông, ngài vẫn ở tại
đấy. Một hôm, hầu hạ bậc Ðạo Sư và đảnh lễ ngài,
bậc Ðạo Sư hỏi ngài với những bài kệ như sau:
207.
Hỡi Mogharàja!
Sống
với da thô độc,
Sống
với tâm hiền thiện,
Luôn
luôn hành thiền định,
Trong
những đêm đông giá
Thầy
là một Tỷ-kheo,
Vậy
Thầy sống thế nào