Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
I - Một Kệ (tiếp theo)
Phẩm
Sáu
51.
Gidhika
52.
Subàhu
53.
Valliya
54.
Uttiya
55.
Anjana-Vaniya
56.
Kutivihàrim (1)
57.
Kutivihàrim (2)
58.
Ramanìya -Kutika
59.
Kosala-Vihàrim
60.
Sivali
Phẩm
Bảy
61.
Vappa
62.
Vajji-Putta
63.
Pakkha-Sammeda
64.
Vimala-Kondanna
65.
Ukkhepata-Vaccha
66.
Meghiya
67.
Ekadhamma-Savannìya
68.
Ekudàniya
69.
Channa
70.
Punna (Sunàparantaka)
Phẩm
Tám
71.
Vacchapàla
72.
Atuma
73.
Mànava
74.
Suyàman
75.
Susàrada
76.
Piyanjaha
77.
Hatthàroha-Putta
78.
Mendasira
79.
Rakkhita
80.
Ugga
Phẩm
Chín
81.
Samitigutta
82.
Kassapa
83.
Sìha
84.
Nìta
85.
Sunàga
86.
Nàagita
87.
Pavittha
88.
Ajjuna
89.
Devasabha
90.
Sàmidatta |
Phẩm
Mười
91.
Paripunnaka
92.
Vijaya
93.
Eraka
94.
Mettajì
95.
Cakku-Pàla
96.
Khandasumana
97.
Tissa
98.
Abhaya
99.
Uttiya
100.
Devasabha
Phẩm
Mười Một
101.
Belatthakàni
102.
Setuccha
103.
Bandhura
104.
Khitaka
105.
Malitavambha
106.
Suhemanta
107.
Dhammasava
108.
Phụ Thân của Dhammasava
109.
Langha Rakkhita
110.
Usabha
Phẩm
Mười Hai
111.
Jenta
112.
Vacchagotta
113.
Vana-Vaccha
114.
Adhimutta
115.
Mahànàma
116.
Pàràpariya
117.
Yasa
118.
Kimliba
119.
Vajji-Putta
120.
Isidatta |
Chương
I - Một Kệ (tiếp theo)
Phẩm
Sáu
(LI-LIV)
Ghodhika, Subàhu, Valliya, Uttiya (Thera. 8)
Trong
thời đức Phật tại thế, bốn vị này sanh ở Pava, con của
bốn vua Malla, và giữa bốn người này, có một tình bạn
chân thành. Bốn vị này có một sứ mệnh, cùng đi đến vua
xứ Kapilavatthu. Lúc bấy giờ, Thế Tôn cũng đến đó và sống
tại vườn cây bàng, tại đấy, Thế Tôn đã cảm hóa bốn
vị này với thần thông song hành. Các vị này xuất gia và
không bao lâu chứng quả A-la-hán, với sự hiểu biết về
nghĩa và về pháp. Sau khi được vua chúa kính trọng cúng dường,
bốn vị này sống ở trong rừng. Khi bốn vị này đến Vương
Xá, vua Bimbisàra (Bình Sa), mời bốn vị an cư mùa mưa và bảo
làm mỗi người một cái nhà, nhưng vô ý lại không lợp mái.
Các vị này sống trong nhà ấy, nhưng không có chỗ che mưa,
và dầu là mùa mưa, trời lại không mưa. Vua Bimbisàra nhận
thấy hiện tượng này, nhớ lại sự sai trái sơ hở của
mình, liền cho lợp mái lại tổ chức một ngày khánh thành,
cúng dường cho Tăng chúng. Các vị Trưởng lão nhận lời,
đi vào ngôi nhà và triển khai lòng từ. Từ phía Bắc và phía
Ðông một cơn giông tố nổi lên, và các vị Trưởng lão
xuất định, mưa to bắt đầu rơi xuống. Rồi Godhika do mưa
to gió lớn, nói lên bài kệ:
51.
Trời mưa, như hát hay,
Ta
ở trong am thất,
Ðược
che kín khỏi gió,
Ta
sống thật an lạc,
Tâm
ta khéo định tĩnh.
Hãy
mưa, nếu trời muốn.
Subàhu
nói lên bài kệ:
52.
Trời mưa, như hát hay,
Ta
ở trong am thất,
Ðược
che kín, khỏi gió,
Ta
sống thật an lạc,
Tâm
khéo định trên thân,
Hãy
mưa, nếu trời muốn.
Vàlliya
nói lên bài kệ:
53.
Trời mưa, như hát hay,
Ta
ở trong am thất,
Ðược
che kín, khỏi gió,
Ta
sống thật an lạc.
Không
phóng dật, ta sống,
Hãy
mưa, nếu trời muốn.
Uttiya
nói lên bài kệ:
54.
Trời mưa, như hát hay,
Ta
ở trong am thất
Ðược
che kín, khỏi gió,
Ta
sống thật an lạc,
Trong
ấy, sống một mình,
Hãy
mưa, nếu trời muốn.
(LV)
Anjana -Vaniya (Thera. 9)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Vesàli, trong gia đình
một vị vua trị vì nước Vajja. Khi ngài lớn lên, ba tai họa
lớn đe dọa dân chúng Vajja: nạn hạn hán, nạn bệnh tật,
và nạn phi nhân. Sự kiện này được ghi chép trong tập sớ
kinh Ratanasutta. Khi Thế Tôn làm cho dân chúng Vesali bớt sợ
hãi, một số đông đến nghe ngài giảng. Con của vua cũng
được nghe, khởi tín tâm và xuất gia.
Khi
làm xong các học tập sơ khởi, ngài sống trong rừng Anjana,
ở Saketa. Khi trời mưa sắp đến, ngài tìm được một giường
nằm người ta quăng bỏ, đặt nó trên bốn tảng đá, phía
trên và phía chung quanh lợp cỏ. Ngài làm một cái cửa và
như vậy làm được một chỗ ở cho mùa mưa. Sau một tháng
tu tập, ngài chứng quả A-la-hán. Sung sướng với niềm giải
thoát của mình, ngài phấn khởi nói lên bài kệ:
55.
Làm am thất giường nằm,
Sâu
trong rừng An-ja,
Ba
minh được chứng đạt,
Làm
xong lời Phật dạy.
(LVI)
Kutivihàrim (Thera. 9)
Ðời
sống của ngài giống như đời sống của Tôn giả Anjana Vaniya,
với sự sai khác như sau: Trong khi phát triển thiền quán, ngài
đang đi qua cánh đồng và trú mưa trong một chòi nhỏ không
người, của người giữ đồng ruộng. Tại đấy, ngài chứng
quả A-la-hán. Người giữ đồng ruộng đến và hỏi: 'Ai ở
trong chòi lá này?' Ngài trả lời: 'Một Tỷ-kheo ở trong chòi
lá' và nói lên bài kệ:
56.
Ai ở trong chòi lá?
Một
Tỷ-kheo ly tham,
Tâm
được khéo định tĩnh,
Ðang
ở trong chòi lá,
Hiền
giả, hãy biết vậy!
Không
phải là vô ích,
Chòi
lá ông dựng lên.
Rồi
người giữ ruộng nói: 'Thật may mắn cho tôi. Thật khéo may
mắn cho tôi. Tôn giả đã đến chòi lá của tôi và ngồi
tại đấy'.
Thế
Tôn với thiên nhĩ thanh tịnh nghe câu chuyện biết được
tâm hoan hỷ của người giữ ruộng, ngài nói lên bài kệ
với người giữ ruộng:
Chính
ở trong chòi lá,
Một
Tỷ-kheo ly tham,
Tâm
được khéo định tĩnh,
Ðang
ở trong chòi lá,
Việc
làm này hưởng quả,
Ông
sẽ thành thiên chủ,
Sáu
lần đến bảy lần,
Ông
ngự trị thiên giới,
Rồi
mọi ái nhiếp phục,
Ông
sẽ thành Ðộc giác.
Bắt
đầu từ đấy, vị Tỷ-kheo được gọi là Kutivihàrim.
(LVII)
Kutivihàrim (Thera. 9)
Câu
chuyện về ngài giống như câu chuyện vị Trưởng lão ở
rừng Anjana với sự sai khác này. Khi ngài xuất gia với trường
hợp tương tự, ngài học Chánh pháp trong một ngôi chòi nhỏ,
ngài nghĩ: 'Chòi cũ này cũng đã bị hư hại, ta phải làm
một chòi khác'. Rồi ngài hướng tâm ngài về hành động
mới. Một thiên nhân tâm cầu giải thoát, muốn làm ngài dao
động, nói lên bài kệ này, với lời lẽ giản dị, nhưng
ý nghĩa sâu rộng:
57.
Ðây ngôi chòi cũ kỹ,
Ngài
muốn ngôi chòi mới,
Hãy
bỏ muốn ngôi chòi,
Chòi
mới đem khổ mới,
Này
Tỷ-kheo nên biết!
Khi
nghe vậy, vị Trưởng lão cảm thấy lo lắng, và với sự
cố gắng phát triển thiền quán, ngài chứng được quả A-la-hán.
Rồi ngài nói lại bài kệ, nhờ bài kệ này ngài đã được
chứng quả, và ngài dùng bài kệ nói lên chánh trí của mình.
Vì ngài chứng quả khi ở trong chòi lá, ngài được gọi là
Kutivihàrim (vị ở chòi lá).
(LVIII)
Ramaniyakutika (Thera. 9)
Câu
chuyện của ngài giống như câu chuyện của Trưởng lão ở
trong rừng Anjana với sự sai khác này: Ngài ở trong một chòi
lá, gần một ngôi làng nhỏ, trong xứ Vajji. Thật sự là một
am thất nhỏ, xinh đẹp với sàn nhà và vách tường khéo làm
xung quanh có vườn, ao hồ và có rải cát đẹp, mịn. Với
giới hạnh của vị trưởng lão làm tăng thêm sự hấp dẫn
của ngôi nhà.
Ngài
chứng quả A-la-hán và tiếp tục sống tại đấy. Khi nào
có người đến viếng tinh xá, họ có thấy ngôi chòi xinh
xắn. Một ngày kia, một vài người đàn bà béo mập đi ngang
qua, thấy ngôi chòi xinh đẹp, liền nghĩ người ở chòi lá
này có thể là một thanh niên mà họ có thể cám dỗ. Họ
đến gần ngài và nói: 'Cái chòi của ngài thật là xinh đẹp,
chúng tôi cũng thật xinh đẹp trong tuổi trẻ của chúng tôi’.
Và họ bắt đầu khoe khoang áo xiêm đẹp của mình. Nhưng
vị Trưởng lão nói lên bài kệ, diễn tả tâm trạng thoát
tục của ngài:
58.
Ngôi chòi ta xinh đẹp,
Do
đàn tín cúng dường,
Với
tâm ý hoan hỷ,
Với
lòng tin dâng cúng.
Ta
không cần thiếu nữ,
Này
các nữ nhân kia,
Hãy
đi đến những ai,
Có
cần đến các cô.
Với
chữ: 'Không cần', ngài tuyên bố chánh trí của ngài, khi chứng
quả A-la-hán.
(LIX)
Kosalavihàrim (Thera. 9)
Câu
chuyện của ngài giống như chuyện của Trưởng lão ở trong
rừng Anjana với sự sai khác này: Sau khi làm Sa-di, ngài ở
trong một ngôi rừng, gần một làng trong nước Kosala, gần
chỗ ở của một cư sĩ. Người này, thấy ngài ở dưới
một gốc cây nên làm một cái chòi và cúng dường cho ngài.
Ở đây vị Trưởng lão chứng quả A-la-hán. Với tâm tư hoan
hỷ sung sướng được giải thoát, ngài nói lên bài kệ này:
59.
Do lòng tin, xuất gia,
Ta
sống không gia đình,
Trong
rừng, một chòi lá,
Ðược
dựng lên cho ta,
Ta
sống không phóng dật,
Nhiệt
tâm, niệm tỉnh giác.
Ðây
là lời tuyên bố chánh trí của ngài và vì ngài ở lâu ngày
ở Kosala, ngài được biết với tên là Kosalavihàrim (vị ở
Kosala).
(LX)
Sivàli (Thera. 9)
Ngài
sanh ra là con của Suppavàsà, công chúa con vua, trong thời đức
Phật hiện tại. Khi mẹ ngài không sinh đẻ được và nằm
chịu đau khổ trong bảy ngày, bà nói với người chồng: 'Trước
khi tôi chết tôi sẽ bố thí', và nàng bảo chồng đi mời
Thế Tôn đến, nói đến hiện trạng của nàng và dặn chồng
ghi nhớ những lời Thế Tôn nói. Người chồng làm theo lời
vợ dặn và bậc Ðạo Sư nói: 'Mong rằng Suppavàsa, con của
dòng họ Koliya được hạnh phúc! Mong nàng được hạnh phúc,
sức khỏe và sanh được đứa con trai khỏe mạnh'. Trước
khi người chồng về, Suppavàsa đã sanh được đứa con trai
và khi nghe chồng kể lại câu chuyện, nàng dặn chồng cúng
dường đức Phật và chúng Tăng trong bảy ngày. Vì người
con được sanh, đem lại hoan hỷ cho tất cả mọi người,
nên được đặt tên là Sìvali.
Sau
khi sanh bảy ngày, ngài có thể làm được bất cứ việc gì.
Tôn giả Sàriputta đến và khuyên ngài xuất gia, lấy đề
tài sự đau khổ khi được sanh làm đề tài tu hành. Khi nắm
tóc thứ nhất được cắt đứt, ngài chứng Sơ quả. Khi nắm
tóc thứ hai được cắt đứt, ngài chứng Nhị quả. Như vậy
cho đến nắm tóc thứ tư và ngài chứng quả A-la-hán. Có
chỗ nói cùng ngày ngài đi đến ở một chòi lá, và suy tư
đến sự đau khổ phải nhẫn chịu khi thọ sanh. Ngài phát
triển thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi sung sướng
được giải thoát, ngài nói lên bài kệ:
60.
Nay những mục đích ấy,
Với
ta, đã thành tựu,
Vì
những mục đích ấy,
Ta
bước vào ngôi chòi,
Minh,
giải thoát, ta đạt.
Mạn
tùy miên từ bỏ.
Phẩm
Bảy
(LXI)
Vappa (Thera. 9)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavàthu, con Bà-la-môn
Vàsetha. Khi nghe Tu sĩ Asìta đoán tướng Thái tử Siddhatta sẽ
thành đạo, Vappa cùng bốn người con Bà-la-môn với Kondannà
(Kiều Trần Như) là người dẫn đầu, trở thành những người
Tu sĩ. Khi Thái tử tu khổ hạnh trong sáu năm, Vappa với bốn
người bạn cùng đồng tu khổ hạn. Về sau khi Thái tử thôi
tu khổ hạnh, năm vị này chán nản đi về Isipatana. Sau khi
đức Phật thành đạo và Chuyển pháp luân ở Isapatana, Vappa
với bốn người bạn được cảm hóa và đến ngày thứ năm
cả năm vị đều chứng quả A-la-hán. Suy tư trên sự hùng
lực của bậc Ðạo Sư, sự mù quáng của thế giới, và như
thế nào thánh quả đem lại chánh trí, ngài nói lên bài kệ:
61.
Vị đã thấy, thấy được,
Người
thấy, người không thấy,
Vị
không thấy, không thấy,
Người
không thấy, người thấy.
(LXII)
Vajji-Putta (Thera. 10)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình vị
nghị sĩ và được gọi là con của Vajji. Ngài thấy uy nghi
đức độ của bậc Ðạo Sư khi bậc Ðạo Sư đến Vesàli.
Ngài khởi lòng tin và xuất gia sau thời kỳ làm Sa-di, ngài
ở trong một ngôi rừng gần Vesàli. Một ngày lễ được tổ
chức ở Vesàli có hát, có nhạc, có múa và mọi người hoan
hỷ tham gia ngày lễ, tiếng ồn làm vị Tỷ-kheo dao động.
Ngài bỏ chỗ tịnh cư của ngài, dừng nghỉ tu tập thiền
quán và nêu rõ sự yểm ly của mình trong câu kệ:
Một
mình chúng tôi sống,
Trong
rừng núi hoang vu,
Như
khúc gỗ bị quăng,
Bỏ
rơi trong rừng núi,
Như
vậy ngày tháng qua,
Ngày
này tiếp ngày khác,
Còn
có ai bất hạnh,
Hơn
bất hạnh chúng tôi.
Một
Thiên nhân trong rừng nghe vậy, thương xót vị Tỷ-kheo, nên
đến trách vị Tỷ-kheo: 'Này Tỷ-kheo, dầu Ông có khinh thường
đời sống trong rừng núi, nhưng những vị sáng suốt muốn
sống thanh tịnh đều nói nhiều đến núi rừng'.
Thiên
nhân ấy nói lên bài kệ tán thán đời sống ở rừng núi:
62.
Một mình chúng tôi sống,
Trong
rừng núi hoang vu,
Như
khúc gỗ bị quăng,
Bỏ
rơi trong rừng núi,
Nhưng
nhiều người thương mến,
Ðời
sống ấy của ta,
Như
kẻ đọa địa ngục,
Ưa
đón cảnh thiên giới.
Rồi
vị Tỷ-kheo, như con ngựa hay được thúc đẩy, ngài triển
khai thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài nghĩ: 'Bài
kệ của Thiên nhân đã thúc đẩy ta'. Và ngài đọc lại bài
kệ ấy.
(LXIII)
Pakkha (Thera. 10)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh thuộc dòng họ
Thích-ca, thành Devadahi, trong gia đình vua chúa Thích-ca và được
gọi là thanh niên Sangmoda. Nhưng khi còn nhỏ, ngài bị bệnh
tê thấp, có khi bước đi như người bị què, vì vậy được
tên là Pakkha (vị què quặt) và giữ lại tên ấy. Sau khi ngài
lành bệnh, ngài có mặt khi đức Phật về thăm gia đình,
ngài khởi lòng tin, xuất gia và sống ở trong rừng. Một hôm
vào làng khất thực, ngài ngồi dưới một gốc cây, một
con diều hâu ngoạm được miếng thịt, bay bổng trên trời
cao, các con diều hâu khác bay theo dành cướp lấy miếng thịt,
thấy vậy, vị Tỷ-kheo suy nghĩ: 'Các dục ở đời cũng vậy,
đầy những đau khổ'. Ngài triển khai thiền quán và chứng
quả A-la-hán, ngài nói lên bài kệ tuyên bố chánh trí của
ngài:
63.
Chúng rơi theo, sà xuống,
Cái
đang bị rơi xuống,
Với
lòng tham thúc đẩy,
Chúng
lại đến, đến nữa.
Bổn
phận ta làm xong,
Ta
vui thích sung sướng,
Với
an lạc, đón mừng,
Ta
đón mừng an lạc.
(LXIV)
Vimala- Kondanna (Thera. 10)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh là con của Ambapàli
và thân phụ ngài là vua Bimbisàra. Ambapàli đặt tên con là
Vimala và sau ngài được biết với tên là Vimala-Kondanna. Ngài
chịu ảnh hưởng bởi uy nghi đức độ của bậc Ðạo Sư,
xuất gia và chứng quả A-la-hán, ngài tuyên bố chánh trí của
ngài trong bài kệ này:
64.
Dưới cờ trắng ta sanh,
Từ
nàng tên một cây,
Với
cờ đánh đổ cờ,
Lá
cờ lớn hủy diệt.
(LXV)
Ukkhepakàta vaccha (Thera. 10)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ) con
một Bà-la-môn thuộc dòng họ Vaccha. Ngài nghe Thế Tôn thuyết
pháp phát tâm xuất gia, sống tại một làng Kosala. Nhờ các
Tỷ-kheo đến thăm, ngài thâm hiểu Chánh pháp, nhưng ngài không
phân biệt được Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Tuy
vậy ngài học hỏi được từ tôn giả Sàriputta, nên có các
vị Tỷ-kheo giỏi về Luật tạng hay một bộ phận của ba
Tạng, ngài học thuộc lòng cả ba Tạng, trước khi ba Tạng
được kiết tập. Sau khi thuộc lòng cả ba Tạng, ngài chứng
quả A-la-hán, trở thành vị giảng dạy giáo lý. Một hôm,
ngài nói với chính mình như với một người khác trong bài
kệ sau đây:
65.
Tài sản được chất chứa,
Trải
nhiều tháng nhiều năm,
Do
Vaccha tác thành,
Nay
Vaccha quăng bỏ,
Ngài
thuyết giảng như vậy,
Cho
các hàng cư sĩ,
Khéo
ngồi chỗ trịnh trọng,
Tâm
hân hoan rộng lớn.
(LXVI)
Meghiya (Thera. 10)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu, trong gia
đình một hoàng tộc Thích-ca, được đặt tên là Meghiya (như
mây). Lớn lên, ngài xuất gia hầu hạ Thế Tôn, khi Thế Tôn
ở Càlikà, trên bờ sông Kimikàlà. Khi thấy một rừng xoài
xinh đẹp, ngài muốn sống tại đấy, nhưng hai lần Thế Tôn
không chấp nhận, cuối cùng trước lời yêu cầu khẩn khoản,
Thế Tôn cho phép. Nhưng ở đấy vì tâm tư bất thiện không
chế ngự được, vì bị ruồi muỗi cắn, nên tâm ngài không
được định tĩnh và ngài lại về hầu hạ Thế Tôn.
Thế
Tôn dạy:
Này
Meghiya, khi tâm chưa chín muồi để giải thoát, năm pháp đưa
đến tâm trạng ấy và bậc Ðạo Sư giáo giới cho ngài. Nhờ
đấy Meghiya chứng quả A-la-hán và nói lên chánh trí của
mình trong bài kệ này:
66.
Bậc Ðại hùng giảng dạy,
Vượt
qua tất cả pháp,
Ta
nghe pháp Ngài dạy,
Sống
hoan hỷ cạnh Ngài,
Ba
minh đã chứng đạt,
Lời
Phật dạy làm xong.
(LXVII)
Ekadhamma Savannìya (Thera. 10)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sitavyà, trong gia đình
một vị nghị sĩ. Khi Thế Tôn đến thăm Sitavyà, và ở tại
rừng Singsapa, ngài đến nghe Thế Tôn giảng, đảnh lễ ngồi
xuống một bên, Thế Tôn hiểu được tâm tư ngài, dạy pháp
cho ngài với câu kệ:
'Các
hành là vô thường'.
Và
ngài nhờ ảnh hưởng đời trước, thấy sự thật rõ ràng
hơn, xuất gia tìm học nghĩa chữ đau khổ, nghĩa chữ vô ngã,
triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán. Vì ngài chỉ
nghe một pháp và chỉ nghe một mình mà chứng được thánh
quả, nên ngài được tên Ekadhamma Savanìya (vị được nghe
một pháp), ngài tuyên bố chánh trí trong bài kệ như sau:
67.
Phiền não ta đốt cháy,
Mọi
hữu được nhổ lên,
Ðường
luân hồi đoạn tận,
Nay
không còn tái sanh.
(LXVIII)
Ekudàniya (Thera. 10)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị nghị
sĩ giàu có. Khi lớn lên, ngài thấy được uy đức của đức
Phật khi được dâng cúng rừng Jeta (Kỳ Viên), ngài xuất
gia từ bỏ gia đình, làm bổn phận người Sa-di, sống trong
rừng, ngài đến đức Phật để học hỏi. Khi ấy Thế Tôn
thấy Sàriputta đang ngồi thiền định gần ngài nên nói lên
câu kệ này:
'Tâm
tăng thượng ẩn sĩ'.
Ngài
nghe câu kệ này, nên về rừng sâu chỉ lập đi lập lại
câu kệ này, đến nỗi người ta đặt tên ngài là Ekuddàniyo
(vị thuộc một câu kệ).
Một
ngày kia, tâm tư ngài được định tĩnh với thiền quán triển
khai, ngài chứng quả A-la-hán sống trong an lạc giải thoát,
ngài được Tôn giả Sàriputta mời đến để trình bày sự
thành đạt của mình, ngài nói lên bài kệ này:
68.
Tâm tăng thượng ẩn sĩ,
Không
phóng dật, tu tập,
Trên
con đường chánh trí,
Vị
ấy không sầu muộn,
Luôn
luôn được an tịnh,
Thường
nắm giữ chánh niệm.
Bài
kệ này trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài.
(LXIX)
Channa (Thera. 10)
Khi
Thế Tôn còn sống trong gia đình vua Suddhodana (Tịnh Phạn),
ngài xuất thân từ con một người nô lệ và được đặt
tên là Channa. Sống đồng thời với đức Phật, ngài khởi
lòng tin đức Thế Tôn, khi bậc Ðạo Sư về thăm lại gia
đình, rồi ngài xuất gia. Vì lòng thương mến Thế Tôn, vì
tự phụ tự đắc đối với 'đức Phật của chúng ta, giáo
pháp của chúng ta' ngài không thể chinh phục khuyết điểm
này và không làm tròn bổn phận của một người Sa-di, khi
Thế Tôn mệnh chung, theo lời dặn của Thế Tôn cần phải
phạt nặng Channa, ngài xấu hổ, chế ngự được khuyết điểm
này, không bao lâu chứng quả A-la-hán. Sung sướng với quả
chứng của mình, ngài nói lên sự sung sướng của mình trong
bài kệ như sau:
69.
Sau khi nghe Chánh pháp,
Vị
ngọt lớn pháp lớn,
Do
nhất thiết thắng trí,
Thuyết
giảng và trình bày,
Ta
dấn thân trên đường,
Ðường
đưa đến bất tử,
Ngài
thật bậc thiện xảo,
Con
đường diệt khổ ách.
(LXX)
Punna (Thera. 11)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở nước Sunàparanta,
tại hải cảng Suppàraka, trong nhà một thị dân tên Punna (Phú-lâu-na).
Ðến tuổi trưởng thành, ngài đi với một đoàn thương gia
đến Sàvatthi, khi bậc Ðạo Sư cũng ở đấy. Ngài đi nghe
Thế Tôn thuyết pháp tại ngôi tinh xá cùng với các cư sĩ
địa phương, ngài khởi lòng tin rồi xuất gia. Và trong một
thời gian, ngài rất được quý mến giữa các vị giáo thọ
sư, bởi ngài tài giỏi về biện luận. Một ngày kia, ngài
đến bậc Ðạo Sư, nhờ bậc Ðạo Sư giảng dạy để có
thể đi Sunàparanta giảng dạy và an trú tại đấy. Ðức Phật
rống tiếng rống con sư tử bảo ngài: 'Này Punna, có những
pháp do con mắt nhận thức....' Rồi Punna ra đi, tu tập thiền
định trí tuệ, chứng được Ba minh. Khi ngài chứng quả A-la-hán,
ngài giáo hóa được nhiều người theo đạo, hơn năm trăm
nam cư sĩ và nữ cư sĩ.
Khi
ngài sắp mệnh chung. Ngài nói lên chánh trí của ngài với
bài kệ như sau:
70.
Ở đây chỉ có giới,
Là
pháp thật tối thượng,
Nhưng
vị nào có tuệ,
Vị
ấy là vô thượng,
Vị
đủ giới và tuệ,
Chiến
thắng giới Nhân, Thiên.
Phẩm
Tám
(LXXI)
Vacchapàla (Thera. 11)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha, con một
gia đình Bà-la-môn giàu có và được đặt tên và Vacchapàla,
ngài chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa vua Bimbisàra với đức
Phật. Sự hàng phục của Uruvela Kassapa trước Thế Tôn, ngài
khởi lòng tin và xin xuất gia, chỉ trong một tuần, ngài triển
khai thiền quán và chứng sáu thắng trí.
Chứng
quả A-la-hán, ngài vui vẻ tán thán quả chứng này và quả
chứng Niết-bàn trong bài kệ như sau:
71.
Nếu thấy được sự thật,
Thật
vi diệu, vi tế,
Với
trí tuệ thiện xảo,
Với
tâm tư khiêm tốn,
Sống
rập theo giới luật,
Do
chính đức Phật dạy,
Với
người ấy Niết-bàn,
Chứng
được không khó khăn.
Bài
kệ này là lời tuyên bố chánh trí của ngài.
(LXXII)
Atuma (Thera. 11)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con một
vị nghị sĩ, được đặt tên là Atuma. Khi ngài lớn lên,
mẹ ngài tìm cho ngài một người vợ và hỏi ý kiến bà con,
nhưng ngài không chịu vì chán ngấy nếp sống gia đình. Mặc
dầu ngài xuất gia và sống với các Tỷ-kheo, mẹ ngài vẫn
tìm cách cám dỗ ngài hoàn tục. Ngài nói lên chí nguyện với
bài kệ như sau:
72.
Như cây măng lớn mạnh,
Khó
vượt khỏi cây cành,
Cũng
vậy, đến với ta,
Vấn
đề đem vợ về,
Hãy
vui lòng chấp thuận,
Nay
ta đã xuất gia.
Khi
ngài đang đứng nói chuyện với mẹ ngài, ngài triển khai
thiền quán, từ bỏ các cấu uế, trở thành vị A-la-hán.
(LXXIII)
Mànava (Thera. 11)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong nhà
một Bà-la-môn có danh tiếng. Trong bảy năm, ngài được nuôi
dưỡng trong nhà, không ra ngoài đường; khi được ra ngoài
đường, ngài thấy một người già, một người bệnh, một
người chết. Ðược nghe thấy những sự kiện này, ngài phát
lòng sợ hãi, đi đến tinh xá, nghe thuyết pháp, được cha
mẹ cho phép, ngài được xuất gia. Rồi ngài phát triển thiền
quán, chứng quả A-la-hán.
Khi
ngài đến ngôi tinh xá, các Tỷ-kheo hỏi vì sao ngài xin xuất
gia sớm và trẻ như vậy, ngài tuyên bố chánh trí của ngài
và nói lên bài kệ này:
73.
Ta thấy một người già,
Một
người khổ bệnh hoạn,
Ta
thấy một người chết,
Với
tuổi thọ kiệt quệ,
Do
vậy ta thoát ra,
Sống
đời sống xuất gia,
Từ
bỏ mọi dục vọng,
Hấp
dẫn và thích ý.
(LXXIV)
Suyàman (Thera. 11)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàli, con của một
Bà-la-môn. Ngài lớn lên, thiện xảo ba tập Vệ-đà, không
ưa thích đời sống gia đình, vui thích thiền định. Ngài
gặp Thế Tôn ở Sàli, khởi lòng tin xuất gia, chứng quả
A-la-hán, khi đầu được cạo tóc.
Rồi
ngài nói lên sự từ bỏ các triền cái và chánh trí của
mình, với bài kệ như sau:
74.
Với dục tham, sân hận,
Với
thụy miên hôn trầm,
Với
trạo hối, nghi ngờ,
Vị
Tỷ-kheo hoàn toàn,
Không
còn năm triền cái,
Năm
triền cái đoạn tận.
(LXXV)
Susàrada (Thera. 11)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại sanh quán của Tôn
giả Sàriputta và được gọi là Susàrada (vì ngài lớn lên
chậm chạp). Ngài được Tôn giả Sàriputta giáo hóa và không
bao lâu, trong địa vị Tỷ-kheo, ngài chứng quả A-la-hán và
nói lên chánh trí của mình với bài kệ như sau:
75.
Lành thay là tri kiến,
Của
bậc có luyện tập,
Nghi
hoặc được cắt đứt,
Trí
giác được tăng trưởng.
Cho
đến kẻ ngu si,
Ðược
đổi thành người trí,
Do
vậy thật tốt đẹp,
Sống
giao thiệp người lành.
(LXXVI)
Piyanjaha (Thera. 11)
Ngài
được sanh ở Vesàli trong thời đức Phật hiện tại, trong
một gia đình quý phái Licchavì. Khi lớn lên, ngài rất thích
thú chiến tranh và trở thành một chiến sĩ không ai thắng
nổi, sẵn sàng hy sinh những gì thân nhất của mình, đến
nỗi ngài được đặt tên là Piyanjaha (vị từ bỏ những
gì thân ái). Nhưng khi đức Phật đến Vesàli, ngài khởi lòng
tin, xuất gia sống ở trong rừng, phát triển thiền quán, chứng
quả A-la-hán. Khi đã chứng quả A-la-hán, ngài nghĩ thật là
khác biệt giữa thành công ở đời và thành công bậc Thánh.
Với thiền quán ấy, ngài nói lên chánh trí, và tuyên bố
bài kệ này:
76.
Khi loài Người kiêu hãnh,
Hãy
hạ thấp ông xuống,
Khi
loài Người hạ thấp,
Hãy
nâng cao tâm ông,
Hãy
sống tại những chỗ,
Loài
Người không muốn sống,
Tại
chỗ ngồi ưa thích,
Chớ
có nên thích thú.
(LXXVII)
Hatthàroha- Putta (Thera. 12)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình người nài voi, và lớn lên ngài giỏi trong nghề
điều khiển voi. Một ngày kia, khi đang huấn luyện con voi,
vì điều kiện chín muồi, ngài suy nghĩ: 'Chế ngự voi để
làm gì cho ta. Tốt hơn là chế ngự ta'. Rồi ngài đi đến
Thế Tôn nghe pháp khởi lòng tin, xuất gia, và triển khai thiền
quán trên căn bản thiền tư về giới luật. Như một người
nài chế ngự thú tánh con voi bằng cái móc, ngài thiền định
không cho tư tưởng chạy loạn khỏi đề tài thiền quán,
ngài nói lên bài kệ:
77.
Trước tâm này lang thang,
Chạy
chỗ này chỗ khác,
Chạy
chỗ nó ưa thích,
Chạy
chỗ nó vui sướng,
Nay
ta chế ngự tâm,
Với
như lý tư duy,
Như
câu móc chế ngự,
Nhiếp
phục con voi rừng.
Nhờ
làm vậy, thiền quán được triển khai, ngài chứng quả A-la-hán.
(LXXVIII)
Mendasira (Thera. 12)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàketa, trong một
gia đình một thị dân. Vì ngài giống con dê, ngài được
tên là Mendasìra (đầu dê). Khi Thế Tôn ở Sàketa, tại rừng
Anjana, Mendasìra khởi lên lòng tin, xuất gia tu chỉ và quán,
chứng được sáu thắng trí, ngài có thể nhớ đến các kiếp
trước:
78.
Ta luân hồi nhiều đời,
Chạy
dài tìm không được,
Với
ta trong khổ sanh,
Khổ
uẩn hay biến dạng.
Và
bài kệ này nói lên chánh trí của ngài.
(LXXIX)
Rakkhita (Thera. 12)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở thành Devadaha, trong
gia đình một quý phái Thích-ca, tên là Rakkhita, ngài là một
trong năm trăm các hoàng tử dòng họ Thích-ca được xuất
gia để làm hộ chúng cho Thế Tôn, theo quyết định các vua
chúa Thích-ca và Koliya. Ðức Phật đã cảm hóa các hoàng tử
tuổi trẻ này với câu chuyện tiền thân Kunàla, một bài
học về sự nguy hiểm của dục vọng. Liên hệ bài học này
với đề tài thiền quán, ngài triển khai thiền quán và chứng
quả A-la-hán. Sau đó suy nghĩ đến sự xuất ly của mình khỏi
các phiền não, ngài nói lên chánh trí của mình với bài kệ
như sau:
79.
Mọi tham ta đã đoạn,
Mọi
sân được nhổ lên,
Mọi
si được từ bỏ,
Ta
mát lạnh tịch tịnh.
(LXXX)
Ugga (Thera. 12)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kosala, tại thành
phố Ugga, con một gia đình nghị sĩ, được đặt tên là Ugga.
Khi đến tuổi trưởng thành, ngài đến nghe đức Thế Tôn
thuyết pháp, khi đức Thế Tôn đến thành này, khởi lòng
tin xuất gia, cuối cùng chứng quả A-la-hán. Rồi ngài tuyên
bố chặt đứt sợi dây chuyền tái sanh và nói lên chánh trí
của ngài với bài kệ như sau:
80.
Mọi nghiệp ta đã làm,
Dầu
ít hay là nhiều,
Tất
cả được đoạn trừ,
Nay
không còn tái sanh.
Phẩm
Chín
(LXXXI)
Samitigutta (Thera. 12)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, tên là Samitigutta
(hộ trì nhờ hòa khí). Nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài
xuất gia và chứng được giới thanh tịnh. Do kết quả nghiệp
đời trước, ngài bị bệnh hủi, tay chân của ngài rơi xuống
từng phần một, ngài sống trong một nhà bệnh.
Một
hôm, Tôn giả Sàriputta đi thăm các người bệnh và hỏi thăm
các bệnh nhân, thấy Samitigutta, Tôn giả cho một đề tài
để thiền quán, nói rằng: 'Này Hiền giả, nếu nói về vấn
đề năm thủ uẩn, thời toàn bộ khổ uẩn là một vấn đề
cảm thọ. Và khi không có năm uẩn, thời không có đau khổ'.
Nói xong, Tôn giả Sàriputta tiếp tục đi. Nhưng bệnh nhân
Samigutta được phấn khởi với bài dạy ấy, triển khai thiền
quán và chứng được sáu thắng trí. Nhờ đó, ngài nhớ đến
các hành ngài làm đời trước, khiến nay ngài phải mắc bệnh
hủi. Và tán thán sự kiện này mọi việc đã được chấm
dứt, ngài nói lên bài kệ:
81.
Việc ác ta đã làm,
Trong
các đời sống trước,
Ở
đây chỉ cảm thọ,
Thọ
lãnh từ nghiệp ấy,
Căn
bản các nghiệp khác,
Thật
sự không còn nữa.
(LXXXII)
Kassapa (Thera. 12)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con một
Bà-la-môn thuộc Tây Bắc (Udicca-hahmanacsa) và được đặt
tên là Kassapa. Cha ngài mất khi ngài còn nhỏ, mẹ ngài nuôi
ngài lớn lên. Một ngày kia, ngài nghe đức Phật giảng ở
Jetavana, ngay lúc ấy nhờ nghiệp duyên thuần thục, ngài chứng
được Sơ quả. Ngài đi đến gặp mẹ và xin xuất gia.
Khi
đức Phật an cư, làm lễ tự tứ xong, bắt đầu bộ hành,
Kassapa muốn được đi theo Thế Tôn. Trước hết ngài đến
xin phép bà mẹ và được mẹ cho phép đi với lời khuyên
dạy như sau:
82.
Hãy đi tại chỗ nào,
Khất
thực nhận dễ dàng,
Những
chỗ được an toàn,
Những
chỗ không sợ hãi,
Tại
những chỗ như vậy,
Này
con, con hãy đi,
Chớ
khiến cho đời con,
Sầu
muộn bị va chạm.
Ngài
suy nghĩ 'Mẹ ta muốn ta đến đến chỗ ta giải thoát khỏi
phiền não, như vậy đây là dịp cho ta đạt được giải
thoát hoàn toàn, không có sầu não buồn phiền'.
Rồi
ngài cố gắng triển khai thiền quán, chứng quả A-la-hán.
Vì rằng lời khuyên của mẹ giúp ngài tinh tấn hành trì chứng
quả, nên ngài nói lại bài kệ ấy.
(LXXXIII)
Sìha (Thera. 12)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở xứ Malla, trong gia
đình hoàng tộc và được đặt tên là Sìha. Khi thấy đức
Phật, ngài bị cảm hóa, đảnh lễ và ngồi xuống một bên,
bậc Ðạo Sư biết được tâm tư của ngài, thuyết pháp cho
ngài, ngài khởi lòng tin, xuất gia và lấy một đề tài vào
trong rừng để thiền quán. Tâm tư của ngài bị nhiều đối
tượng ám ảnh, ngài không thể thiền định, bậc Ðạo Sư
thấy vậy, liền nói lên với ngài bài kệ như sau:
83.
Hỡi Sìha, hãy sống,
Không
buông lung, phóng dật,
Ngày
đêm không biếng nhác,
Kiên
trì trong tu tập,
Hãy
thực hành thiện pháp,
Gấp
bỏ thân tích tụ.
Nhờ
vậy ngài có thể triển khai thiền quán và chứng quả A-la-hán.
Lúc nói lên chánh trí của mình, ngài đọc lại bài kệ trên.
(LXXXIV)
Nita (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Sàvatthi, con
một Bà-la-môn và được đặt tên là Nita. Khi lớn lên, ngài
nghĩ: 'Các tu sĩ Thích-ca thật may mắn, được cúng dường
đầy đủ các vật cần dùng. Thật là một đời sống thoải
mái, đời sống của một Tu sĩ'. Rồi ngài xin xuất gia để
được sống thoải mái, không chú ý đến tu tập, ăn no, nói
chuyện nhảm nhí, và ban đêm ngủ dài. Bậc Ðạo Sư thấy
được thiện duyên của ngài đời trước, nên nói lên bài
kệ này để giáo giới ngài.
84.
Trọn đêm Thầy nằm ngủ,
Ban
ngày thích tụ hội,
Kẻ
ngu sống như vậy,
Sẽ
đoạn khổ được sao?
Bị
dao động bởi lời dạy của bậc Ðạo Sư, ngài triển khai
thiền quán, không bao lâu chứng quả A-la-hán. Rồi ngài nói
lên chánh trí của ngài, bằng cách lập lại bài kệ trên.
(LXXXV)
Sunàga (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở làng Nàlaka, con một
Bà-la-môn và bạn của Sàriputta trước khi Sàriputta xuất gia.
Nghe Tôn giả Sàriputta thuyết pháp, ngài xuất gia, an trú trên
thiền quán và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Do vậy, khi
ngài dạy cho các Tỷ-kheo, ngài nói lên chánh trí của ngài
với bài kệ:
85.
Thiện xảo tướng của tâm,
Biết
vị ngọt viễn ly,
Hành
thiền, niệm, thận trọng,
Chứng
lạc không thế tục.
(LXXXVI)
Nàgita (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ỏ Kapilavatthu, trong gia
đình hoàng tộc Thích-ca, tên là Nàgita. Khi bậc Ðạo Sư đến
tại chỗ của ngài, Thế Tôn thuyết kinh Mật Hoàn, ngài khởi
lòng tin, xuất gia không bao lâu chứng quả A-la-hán. Rồi hân
hoan với sự thật trong lời dạy của đức Phật, và sự
chỉ đạo có hiệu quả của Chánh pháp, ngài nói lên bài
kệ này:
86.
Ngoài đây có ngoại đạo,
Họ
dạy những con đường,
Không
như con đường này,
Ðưa
đến quả Niết-bàn,
Thật
khác, đức Thế Tôn,
Giáo
giới hàng Tăng chúng,
Ðạo
Sư chỉ Niết-bàn,
Như
thấy trên bàn tay.
(LXXXVII)
Pavittha (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sống ở quốc độ Magadha,
trong một gia đình Bà-la-môn, tánh thiên về đời sống ẩn
sĩ, ngài trở thành một du sĩ. Sau khi học tập, ngài đi chỗ
này chỗ khác, nghe Upatissa và Kolita (Sàriputta và Moggallàna)
xuất gia theo đức Phật, nghĩ rằng giáo hội này phải tốt
đẹp mới có những vị như vậy chấp nhận. Ngài đến nghe
đức Phật thuyết pháp, khởi lòng tin, xuất gia không bao lâu
chứng quả A-la-hán, ngài nói lên chánh trí của ngài với
bài kệ này:
87.
Thấy như thật các uẩn,
Mọi
sanh hữu phá hủy,
Ðoạn
sanh tử luân hồi,
Nay
không còn tái sanh.
(LXXXVIII)
Ajjuna (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong gia
đình một nghị sĩ, được đặt tên là Ajjuna. Khi lớn lên,
ngài liên hệ với phái Ni-kiền-tử, xuất gia trong tôn phái
này khi còn trẻ, nghĩ rằng sẽ tìm được đạo giải thoát.
Nhưng ngài không tìm được gì trong giáo hội ấy, ngài gặp
bậc Ðạo Sư, khởi lòng tin, xuất gia và không bao lâu chứng
quả A-la-hán. Hân hoan trong quả chứng của mình, ngài nói
lên bài kệ này:
88.
Ta có thể tự mình,
Kéo
nước từ đất liền,
Như
nước lớn cuốn trôi,
Ta
thể nhập sự thật.
(LXXXIX)
Devasabha (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài là con của một hoàng tộc,
lên ngôi vua khi còn trẻ. Nhưng khi tỉnh ngộ, ngài đi nghe
bậc Ðạo Sư thuyết pháp, từ bỏ ngôi vua, xuất gia và không
bao lâu chứng quả A-la-hán. Ngài hân hoan khi nghĩ đến những
uế nhiễm ngài đã từ bỏ, và nói lên bài kệ này:
89.
Vượt khỏi các bùn nhơ,
Từ
vực thẳm trở về,
Thoát
bọc lưu trói buộc,
Mọi
kiêu mạn tiêu trừ.
(XC)
Sàmidatta (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
con một Bà-la-môn, được đặt tên là Sàmidatta. Khi đến
tuổi trưởng thành, ngài nghe uy lực của đức Phật, và đi
đến tinh xá với những cư sĩ để nghe bậc Thế Tôn thuyết
pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Nhưng vì thiếu kinh nghiệm
trong một thời gian, ngài không có nhiệt tâm tu tập, cuối
cùng, lại được nghe đức Phật thuyết pháp, ngài trở nên
phấn khởi, nhiệt tâm và chứng thực quả A-la-hán.
Về
sau, các Tỷ-kheo hỏi ngài: 'Làm sao Hiền giả chứng được
pháp Thượng nhân?' Và ngài nói lên hiệu năng của giáo pháp,
sự tu chứng pháp và tùy pháp. Ngài tuyên bố chánh trí của
ngài trong bài kệ như sau:
90.
Năm uẩn được rõ biết,
Tồn
tại sẽ cắt đứt,
Vòng
sanh tử đoạn tận,
Nay
không còn tái sanh.
Phẩm
Mười
(XCI)
Paripunnaka (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu trong gia
đình dòng họ Thích-ca. Vì khả năng và tài sản của ngài
được viên mãn. Ngài được biết với tên là Paripumaka (viên
mãn), ngài có đủ điều kiện để luôn luôn thưởng thức
các vị ăn ngon. Nhưng khi ngài được nghe bậc Ðạo Sư dùng
các đồ ăn khất thực, ngài nghĩ: 'Thế Tôn được nuôi dưỡng
rất được nuông chiều, nhưng nay Ngài lại dùng các đồ
ăn như vậy để hưởng Niết-bàn an lạc. Vậy sao ta lại
ham muốn đồ ăn ngon?'. Bị dao động, ngài từ bỏ gia đình,
xuất gia, lấy đề tài tu tập về thân từ nơi bậc Ðạo
Sư, cuối cùng ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài nói lên
bài kệ này:
91.
Dầu có hưởng món ăn,
Như
cam lồ trăm vị,
Nhưng
không thể sánh bằng,
Món
ta ăn hôm nay;
Ðây
là Pháp vi diệu,
Ðược
Phật Go-ta-ma,
Bậc
tri kiến vô lượng,
Ðã
thuyết giảng cho ta.
(XCII)
Vijaya (Thera. 13)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là Vijaya. Khi được học
giáo lý Bà-la-môn, ngài xuất gia, đời sống một vị ẩn
sĩ, sống trong rừng, thực hành thiền định, ngài nghe đến
sứ mệnh của đức Phật, hoan hỷ đến kính chào Thế Tôn
và nghe pháp. Rồi ngài xuất gia trong giới luật của đức
Phật, không bao lâu chứng quả A-la-hán. Ngài nói lên chánh
trí của ngài trong bài kệ sau đây:
92.
Với ai, lậu hoặc đoạn,
Không
y tựa đồ ăn,
Hành
xứ, không, vô tướng,
Giải
thoát cũng như vậy,
Như
chim trên hư không,
Dấu
chân thật khó tìm.
(XCIII)
Eraka (Thera. 14)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con của
một người có địa vị, được đặt tên là Eraka. Ngài khôi
ngô, tuấn tú, làm mọi công việc đều thông suốt thành tựu.
Cha
mẹ cưới cho ngài một người vợ trẻ đẹp có giới hạnh.
Nhưng vì là đời sống cuối cùng nên ngài sanh dao động và
tìm kiếm đến gặp bậc Ðạo Sư. Khi nghe bậc Ðạo Sư thuyết
pháp, ngài xuất gia, bậc Ðạo Sư cho ngài đề tài để tu
hành, nhưng trong một thời gian ngài bị các suy tư bất thiện
ám ảnh, đức Thế Tôn biết được tâm tư của ngài nên
nói lên bài kệ dạy ngài, ngài rất hối hận sở hành của
mình khi nghe lời Phật dạy, ngài trở nên tinh tấn, phát triển
thiền quán, không bao lâu chứng quả A-la-hán, Ngài nói lên
chánh trí của ngài với bài kệ sau đây:
93.
Hỡi này Ê-ra-ka,
Khổ
thay là các dục!
Hỡi
này Ê-ra-ka,
Không
lạc là các dục!
Ai
tham dục các dục,
Là
tham dục đau khổ,
Ai
không tham các dục,
Là
không tham dục khổ.
Hỡi
này Ê-ra-ka!
Hãy
biết là như vậy.
(XCIV)
Mettajì (Thera. 14)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở nước Magadha
(Ma-kiệt-đà), con một vị Bà-la-môn và được đặt tên là
Mettajì. Lớn lên, ngài thấy sự đau khổ của dục và sống
ở trong rừng làm một vị ẩn sĩ. Khi nghe sứ mệnh đức
Phật và do thiện duyên thúc đẩy, ngài đến gặp đức Phật
và hỏi về sự tu hành tấn thối của Ngài, câu trả lời
của đức Phật khiến ngài phát khởi lòng tin xuất gia, và
không bao lâu chứng quả A-la-hán. Với bài kệ này, ngài tán
thán bậc Ðạo Sư:
94.
Ðảnh lễ đức Thế Tôn,
Thích
tử bậc điềm lành,
Quả
chứng này đạt được,
Là
quả vị thượng thủ,
Pháp
Ngài khéo thuyết giảng,
Là
Chánh pháp tối thượng.
(XCV)
Cakkupàla (Thera. 14)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con của
người điền chủ tên Mahàsuvanna, được đặt tên là Pàla,
ngài
cũng được gọi là Pàla anh, vì em ngài được gọi là Pàla
em, cả hai anh em được cha mẹ giao phó cho những công việc
ở gia đình. Khi bậc Ðạo Sư đến tinh xá Kỳ Viên, Pàla
anh giao gia sản cho người em và xuất gia. Sau sáu năm làm Sa-di,
ngài đi với sáu mươi Tỷ-kheo để học hỏi Chánh pháp. Các
vị này lựa một ngôi rừng gần một ngôi làng biên địa,
tại chỗ ấy, dân làng là các Phật tử cư sĩ, và ngài sống
trong một chòi lá, sống hạnh viễn ly của một vị tu hành.
Ngài
bị đau mắt và một vị thầy thuốc cho thuốc chữa, ngài
không chịu nghe theo lời thầy thuốc, bệnh nặng thêm. Ngài
nghĩ: 'Thà làm cho chấm dứt các kiết sử của ta, còn tốt
hơn là chấm dứt bệnh đau mắt'. Như vậy, ngài bỏ qua bệnh
đau mắt, chỉ lo phát triển thiền quán, cho đến khi ngài
chứng quả A-la-hán thời cũng mù mắt luôn. Ngài được gọi
là vị A-la-hán khô.
Các
cư sĩ hỏi các Tỷ-kheo về ngài và nghe nói ngài mù nên các
cư sĩ hết lòng săn sóc cho ngài. Rồi các Tỷ-kheo khác cũng
chứng quả A-la-hán và đề nghị đến Sàvatthi (Xá-vệ) để
yết kiến bậc Ðạo Sư. Nhưng ngài nói: 'Tôi yếu và mù,
con đường đi không phải là không nguy hiểm. Tôi sẽ làm
trở ngại cho các vị, các vị hãy đi trước, thay mặt tôi
đảnh lễ bậc Ðạo Sư và các đại đệ tử khác, hãy nói
với Pàla em tôi về tình trạng của tôi, và gửi cho tôi một
người giúp đỡ". Cuối cùng, các Tỷ-kheo nhận lời đi, sau
khi từ biệt các vị hộ chủ và sắp đặt cho ngài một chỗ
ở. Các Tỷ-kheo làm theo lời dặn của ngài và Pàla em bảo
người cháu tên là Pàlika đi đến giúp đỡ ngài. Các Tỷ-kheo
làm lễ xuất gia cho Pàlika, vì con đường đi không có an toàn
cho một người cư sĩ. Pàlika đi đến ngài và cả hai người
đều lên đường đi đến Sàvatthi. Giữa đường, Pàlika nghe
một phụ nữ hát và đến tình tự với người ấy. Ngài
biết được nên đuổi Pàlika đi, một mình đi đến Sàvatthi.
Hạnh đức của ngài làm cho chỗ ngồi của Sakka (Ðế Thích)
nóng và Sakka hiện hóa một người dẫn đường cho ngài đi
đến tinh xá Kỳ Viên, ngay vào buổi chiều ấy. Trong khi ngài
ở Kỳ Viên, Pàla em lo phụng dưỡng ngài, ngài nói lên bài
kệ như sau, khi ngài đuổi Pàlika đi.
95.
Dầu ta có bị mù,
Dầu
mắt ta hư hoại,
Dầu
con đường ta đi,
Dầu
gai góc khó khăn,
Ta
sẽ tự mình đi,
Dấn
thân trên đường ấy,
Nhưng
ta không cùng đi,
Kẻ
ác hạnh như vậy.
(XCVI)
Khandasumana (Thera. 14)
Trong
thời đức Phật hiện tại, tái sanh trong một gia đình của
vua Màlla, ngài được đặt tên là Khandasumana (Bông lài), vì
khi ngài sanh, bông lài nở hoa, ngài nghe đức Phật thuyết
pháp khi đức Phật trú ở tại rừng xoài của Cunda ở Ràvà,
xuất gia và chứng được sáu thắng trí. Rồi ngài nhớ đến
đời sống quá khứ khi ngài cúng một nhánh bông lài tại
tháp của đức Phật Kassapa, trong khi tất cả bông hái được
đều thuộc về của vua. Nhận thấy cử chỉ của ngài giúp
ngài chứng được quả Niết-bàn, ngài nói lên bài kệ như
sau:
96.
Do một bông từ bỏ,
Ðược
hưởng tám ức năm,
Sống
trong cảnh cõi trời,
Còn
số năm còn lại,
Ta
được sống tịch tịnh.
(XCVII)
Tissa (Thera. 14)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh tại thành phố Roguva
trong một gia đình vua chúa. Khi phụ vương mất, ngài tiếp
nối sự nghiệp của vua cha. Như một đồng minh với vua Bimbisàra,
ngài gửi vua các tặng vật châu báu, ngọc và y áo. Vua gửi
ngài đời sống của đức Phật vẽ trên tấm tranh và lý
duyên khởi được khắc trên một đĩa bằng vàng. Khi ngài
thấy vật này, vì lời phát nguyện trước các đức Phật
quá khứ, vì nhân duyên đời sống cuối cùng, ngài suy tư
định lý ấy, quán sát qua lại nhiều lần, học thuộc lòng
nhiều lần, cho đến khi ngài cảm thấy dao động và đi đến
kết luận: 'Nay ta đã được thấy hình dung của Thế Tôn
cùng với quá trình giáo lý của Ngài. Các dục đầy những
đau khổ, vậy ta sống đời sống gia đình làm gì?' Rồi ngài
thoái vị, xuất gia, cầm bát bằng đất và với một số
quần chúng đi theo và khóc than, như Hoàng tử Pukkusàti, ngài
từ bỏ hoàng cung, đi đến Rajagaha (Vương Xá). Tại đấy,
ngài ở tại hang Sabhasondika và yết kiến Thế Tôn. Nhờ Thế
Tôn thuyết pháp, ngài chứng quả A-la-hán. Nói đến kinh nghiệm
bản thân, ngài nói lên bài kệ:
97.
Từ bỏ trăm bình bát,
Bằng
đồng, vàng quý giá,
Ta
cầm lấy bình bát,
Làm
bằng đất sét thường,
Ðây
là lần thứ hai,
Ta
làm lễ quán đảnh.
(XCVIII)
Abhaya (2) (Thera. 14)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một
gia đình Bà-la-môn, được đặt tên là Abhaya. Sau khi nghe đức
Phật thuyết pháp, ngài xuất gia. Một hôm, ngài đi khất thực
ở trong làng, thấy một nữ nhân ăn mặc rất đẹp đẽ,
tâm tư ngài bị dao động, khi trở về tịnh xá, ngài suy nghĩ:
'Thấy một sắc pháp, tâm ta sanh cấu uế, ta đã phạm lỗi
lầm'. Từ bỏ tâm tư ấy, ngài phát triển thiền quán và
chứng A-la-hán. Rồi ngài nói lên sự sai lầm và sự thức
tỉnh của ngài ngang qua bài kệ:
98.
Thấy sắc, mất chánh niệm,
Tác
ý tưởng luyến ái,
Tâm
cảm thọ say mê,
Ðắm
trước tưởng an trú,
Các
lậu hoặc tăng trưởng,
Ðưa
đến gốc sanh hữu.
(XCIX)
Uttiya (Thera. 14)
Ngài
tái sanh ở Kapilavatthu, trong thời đức Phật hiện tại, trong
một gia đình vương tộc Thích-ca, được đặt tên là Uttiya.
Khi đến tuổi trưởng thành, ngài chứng kiến sức mạnh của
đức Phật, khi ngài đến thăm các gia đình bà con của ngài,
ngài khởi lòng tin và xuất gia. Trong thời kỳ tu học, ngài
đi vào làng khất thực, nghe một nữ nhân ca hát, thiền định
của ngài bị thối thất và lòng dục khởi lên. Chế ngự
với sức mạnh suy tư, ngài bước vào tịnh xá rất dao động,
ngài ngồi thiền định vào buổi trưa, phát triển thiền quán,
chứng quả A-la-hán.
Rồi
ngài nói lên sự giải thoát của ngài khỏi đau khổ sanh tử,
nhờ nhàm chán các dục trong bài kệ sau đây:
99.
Nghe tiếng, mất chánh niệm,
Tác
ý tưởng luyến ái,
Tâm
cảm thọ say mê,
Ðắm
trước tưởng an trú,
Các
lậu hoặc tăng trưởng,
Ðưa
đến nhiễm luân hồi.
(C)
Devasabha (II) (Thera. 14)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài tái sanh trong một gia đình
hoàng tộc Thích-ca, và được đặt tên là Devasabha. Khi lớn
lên ngài khởi lòng tin khi Thế Tôn giải quyết sự tranh chấp
giữa dòng họ Thích-ca và dòng họ Koliya, ngài xin quy y ba ngôi
báu. Khi đức Phật ở vườn cây bàng, ngài đi đến gặp
Thế Tôn, lần này ngài xuất gia, ngài chứng quả A-la-hán
, trú trên an lạc giải thoát, ngài nói lên sự phấn khởi
của ngài với bài kệ như sau:
100.
Thành tựu chánh tính tấn,
Sở
hành trên niệm xứ,
Tràn
đầy hoa giải thoát,
Sẽ
nhập diệt, vô lậu.
Phẩm
Mười Một
(CI)
Belatthakàni (Thera. 15)
Tái
sanh trong thời đức Phật hiện tại ở Sàvatthi trong một
gia đình Bà-la-môn, ngài được đặt tên là Belatthakàni. Sau
khi nghe đức Phật thuyết giảng, ngài xuất gia, tu tập chỉ
quán trong một khu rừng ở Kosala. Nhưng ngài rất biếng nhác
và hay nói lời thô ngữ, do vậy tâm tư ngài không chơn chánh
để tu tập, Thế Tôn biết được thiền quán chín muồi của
ngài, khích lệ ngài với bài kệ như sau:
101.
Từ bỏ đời cư sĩ,
Trách
nhiệm chưa làm xong,
Dùng
miệng như cái cày,
Bụng
ăn no, biếng nhác,
Như
con heo to lớn,
Ðồ
ăn thật đầy đủ,
Kẻ
nhác lại liên tục,
Ði
đến chỗ thai tạng.
Như
thấy đức Bổn Sư trước mặt, ngài cảm thấy xúc động
mãnh liệt khi nghe bài kệ này và triển khai thiền quán, không
bao lâu chứng quả A-la-hán, ngài dùng bài kệ này nói lên
chánh trí của ngài.
(CII)
Setuccha (Thera. 15)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị Của
địa phương. Không thể giữ nước nhà độc lập, ngài bị
mất ngôi vua. Lang thang trong nước với tâm tư sầu khổ, ngài
thấy và nghe Thế Tôn thuyết pháp, xuất gia, chứng quả A-la-hán.
Cân nhắc trong bài kệ, chống đối đời thế tục, ngài nói
lên chánh trí của ngài:
102.
Bị kiêu mạn lừa đảo,
Tâm
uế nhiễm trong hành,
Lợi
bất lợi, dao động,
Họ
không chứng thiền định.
(CIII)
Bandhura (Thera. 15)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở thành Silàvatì, con
của một người nghị sĩ được đặt tên là Bandhara. Một
hôm, đi đến Sàvatthi có công việc, ngài đi với một số
cư sĩ đến ngôi tinh xá, nghe Thế Tôn thuyết giảng, khởi
lòng tin, xuất gia và chứng quả A-la-hán. Ðể đền ơn vị
vua của mình, đã giúp đỡ cho ngài thành công, ngài đi đến
Sìlavatì để thuyết pháp, giảng cho vị vua về Bốn sự thật.
Vị vua trở thành một Phật tử, xây dựng một ngôi tinh xá
lớn đặt tên là Sudassana, cúng dường cho ngài. Ngài cúng
dường tất cả cho giáo hội, đi khất thực như lúc trước
và ngài muốn đi đến Sàvatthi. Các Tỷ-kheo nói với ngài:
'Hãy ở lại đây với chúng tôi, nếu Hiền giả thiếu thốn
điều gì, chúng tôi sẽ tìm kiếm cho Hiền giả!'. Ngài trả
lời: 'Tôi không có cần điều gì khác, tôi sống với những
gì tôi có được. Tôi tự bằng lòng với vị của Chánh pháp'.
Và ngài nói lên bài kệ:
103.
Ta không có cần thiết,
Việc
này hay vật này,
Ta
sống trong hạnh phúc,
Thọ
hưởng được pháp vị.
Sau
khi uống vị ngọt,
Tối
thượng và đệ nhất,
Ta
sẽ không thân thiết,
Với
thuốc độc nọc độc.
(CIV)
Khitaka (Thera. 15)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ),
trong gia đình Bà-la-môn. Khi lớn lên, nghe danh tiếng của ngài
Mahà Moggallàna (Ðại Mục-kiền-liên) về thần thông lực,
ngài nghĩ: 'Ta rồi cũng sẽ như vậy'. Thúc đẩy bởi thiện
duyên đời trước, ngài xuất gia tinh tấn tu tập chỉ và
quán, không bao lâu chứng được sáu thắng trí. Rồi dùng
sáu thắng trí ấy, ngài bắt đầu thi ơn cho chúng sanh với
thần túc thông và tha tâm thông. Khi các Tỷ-kheo hỏi ngài:
'Hiền giả Khitaka, có phải Hiền giả dùng thần thông?', ngài
trả lời với bài kệ:
104.
Thân ta thật nhẹ nhàng,
Cảm
xúc hỷ lạc lớn,
Như
bông thổi trước gió,
Thân
ta nhẹ trôi bay.
(CV)
Malytavambha (Thera. 15)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn,
ở thành phố Kurukaccha. Ngài được Trưởng lão Bacchabhu cảm
hóa và xuất gia, tu tập thiền quán, ngài trú tại chỗ đồ
ăn khất thực khó kiếm, chỗ nào ba đồ vật dụng cần thiết
khó kiếm, còn đồ ăn khất thực dễ kiếm thời ngài bỏ
đi. Tiếp tục như vậy, và nhờ thiện duyên đời trước,
ngài trở thành bậc Ðại nhân, phát triển thiền quán và
chứng được quả A-la-hán. Suy nghĩ trên quả chứng của mình,
ngài nói lên bài kệ:
105.
Ta không muốn an trú,
Khi
ta không vừa ý,
Chỗ
nào có lạc thú,
Ta
liền rời bỏ đi,
Tại
chỗ nào mục đích,
Không
phải không liên hệ,
Chỗ
ấy, người có mắt,
Có
thể an trú được.
(CVI)
Suhemanta (Thera. 15)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở nơi biên địa, con
một Bà-la-môn giàu có, ngài đến nghe đức Phật thuyết pháp,
tại vườn Lộc Uyển ở thành phố Sankassa, Ngài xuất gia
và trở thành người tụng đọc ba Tạng, cuối cùng chứng
được sáu thắng trí. Ngài suy nghĩ: 'Ta đã được những
gì một người đệ tử có thể chứng. Vậy ta hãy phục vụ
cho giáo hội'. Rồi ngài thuyết giảng cho các Tỷ-kheo và giải
quyết các vấn đề khó khăn của các vị ấy. Một hôm, ngài
nói với đại chúng và các người có trí như sau:
106.
Tại chỗ nào mục đích,
Trăm
tánh, tướng ẩn chứa,
Kẻ
ngu thấy một phần,
Kẻ
trí thấy trăm phần.
Như
vậy, vị Trưởng lão nói lên trước các Tỷ-kheo về trí
tuệ, phân tích biệt tài của ngài.
(CVII)
Dhammasava (Thera. 15)
Sanh
tại xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), trong một gia đình Bà-la-môn,
bị thúc đẩy bởi điều kiện chín muồi, ngài chọn đời
sống xuất gia, bỏ đời sống thế tục. Tìm gặp bậc Ðạo
Sư ở núi Nam Sơn, ngài nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, xin
xuất gia, sau một thời gian chứng quả A-la-hán. Hoan hỷ với
quả chứng của mình, ngài nói lên bài kệ:
107.
Cân nhắc, suy tư xong,
Ta
xuất gia, không nhà,
Ba
minh ta đạt được,
Lời
Phật dạy, làm xong.
(CVIII)
Phụ Thân Của Dhammasava (Thera. 15)
Ngài
theo gương người con, nói rằng: 'Con ta từ bỏ đời sống
thế tục khi còn trẻ như vậy, sao ta không noi theo gương?'
Rồi ngài tìm gặp Thế Tôn xuất gia, không bao lâu chứng quả
A-la-hán và nói lên bài kệ:
108.
Với tuổi trăm hai mươi,
Ta
xuất gia không nhà,
Ba
minh ta đạt được,
Lời
Phật dạy, làm xong.
(CIX)
Langha Rakkhita (Thera. 16)
Trong
thời đức Phật tại thế , sanh trong một gia đình giàu có
ở Sàvatthi. Ngài tìm được lòng tin, xuất gia, lấy một đề
tài để thiền quán, và cùng với một Tỷ-kheo sống trong
rừng. Không xa chỗ ngài ở, có con nai mẹ nuôi con nai con trong
một đám cây rậm rạp, vì thương con, con nai mẹ không đi
xa được, nên phải đói khát, không đủ cỏ, nước gần
đó. Thấy vậy, ngài nói: 'Thật vậy, thế giới này bị ái
triền trói buộc, sống trong đau khổ, không thể chặt đứt
được!'. Với cảm thọ ấy để khích lệ, ngài phát triển
thiền quán, chứng quả A-la-hán. Thấy bạn mình nuôi dưỡng
nhiều tư tưởng sai lầm, ngài giáo giới bạn mình với bài
kệ như sau:
109.
Dầu có sống cô độc,
Với
lòng thương từ mẫn,
Của
bậc đã lo nghĩ,
Ðến
hạnh phúc tối thượng,
Vị
này vẫn không nghĩ,
Ðến
lời dạy Bổn Sư.
Như
vậy vị ấy sống,
Với
căn còn mộc mạc,
Chẳng
khác con nai cái,
Non
yếu trong khu rừng.
Khi
nghe những lời này, vị Tỷ-kheo kia bị dao động mạnh, phát
triển thiền quán và chứng quả A-la-hán.
(CX)
Usabha (Thera. 16)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình giàu
có ở Kosala, ngài khởi lên lòng tin khi bậc Ðạo Sư nhận
lãnh tinh xá Jetavana (Kỳ Viên). Sau khi hành trì hạnh Sa-di,
ngài sống trong rừng dưới chân núi. Vào mùa mưa, các mây
xả mưa xuống cây cỏ trong rừng, các bụi cây nhóm cây đều
đầy những hoa lá. Rồi ngài từ hang đi ra, thấy cây cối
xanh tươi đẹp nên nghĩ rằng: 'Các cây và các cây lau này
không có ý thức, tuy vậy với mùa mưa tiếp sức, chúng được
lớn mạnh. Sao ta lại không làm lớn mạnh các đức tánh tốt
đẹp khi ta đã đạt thời tiết thuận tiện?' Rồi ngài nói
lên bài kệ, tuyên bố chánh trí của ngài, và với tinh tấn
nghị lực, ngài chứng quả A-la-hán.
110.
Những cây được vươn cao,
Nhờ
mây cao tưới mát,
Với
mưa mới thấm nhuần,
Ðược
xanh tươi lớn mạnh,
Ðối
với U-xa-bha,
Ưa
thích sống viễn ly,
Ý
thức được rừng núi,
Vị
ấy khiến sanh khởi,
Rất
nhiều điều tốt đẹp.
Phẩm
Mười Hai
(CXI)
Jenta (Thera. 16)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong nước Magadha (Ma-kiệt-đà),
tại làng Jenta, con một vua địa phương. Khi đang còn trẻ,
vì nghiệp duyên thúc đẩy, ngài muốn xuất gia, suy tư đến
đời sống thoát tục. Ngài nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp,
rồi xuất gia. Tinh cần tu tập, hân hoan trong thiền quán, ngài
chứng quả A-la-hán. Suy tư đến quả chứng của mình, nhớ
đến những phân vân phải gặp lúc trước, ngài phấn khởi
nói lên bài kệ:
111.
Khó thay, đời xuất gia,
Khó
thay, đời cư sĩ,
Sâu
kín thay, Chánh pháp,
Khó
kiếm thay, tài sản,
Lựa
chọn thật khó khăn,
Nếp
sống này, sống khác,