Tập III -
Trưởng Lão Tăng Kệ
Chương
Một - Một Kệ
Phẩm
Một
1.
Subhùti
2.
Mahà Kotthita
3.
Kankha Revata
4.
Punna Mantàniputta
5.
Dabba
6.
Sìta -Vaniya
7.
Bhalliya
8.
Vìra
9.
Pilinda-Vaccha
10.
Punamàsa
Phẩm
Hai
11.
Gavaccha
12.
Mahà Gavaccha
13.
Vana - Vaccha
14.
Sìvàka
15.
Kunda-Dhàna
16.
Belatthasìsa
17.
Dàsaka
18.
Singàla-Pitar
19.
Kula
20.
Ajita
Phẩm
Ba
21.
Nigrodha
22.
Cittaka
23.
Gosàla
24.
Sugandha
25.
Nandiya
26.
Abhaya
27.
Lomasakangiya
28.
Jambugàmika
29.
Hàrita
30.
Uttiya |
Phẩm
Bốn
31.
Gahvaratìriya
32.
Suppiya
33.
Sopàka
34.
Posiya
35.
Sàmannakàni
36.
Kumàputta
37.
Sundanta (Bạn Của Kumà)
38.
Gavampati
39.
Tissa
40.
Vađhamàna
Phẩm
Năm
41.
Sirivađha
42.
Khadira-Vaniya
43.
Sumangala
44.
Sànu
45.
Ràmanìya-Vihàrim
46.
Sumiddhi
47.
Ujiaya
48.
Sanjaya
49.
Ràmaneyyaka
50.
Viamala |
Chương
I - Một Kệ
Phẩm
Một
Ðảnh
Lễ Ðức Thế Tôn Bậc A-La-Hán Chánh Ðẳng Giác
(I)
Subhùti (Thera. 1)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong gia
đình vị Cố vấn Sumana, em trai Ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc),
được đặt tên là Subhùti. Trong ngày ông Cấp Cô Ðộc dâng
cúng vườn Kỳ Viên cho đức Phật, ngài có chứng kiến. Sau
khi nghe pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Thọ Ðại giới
xong, ngài thâm hiểu hai loại giới luật. Ðược Thế Tôn
cho một đề tài để thiền quán, ngài đi vào rừng để hành
thiền. Sau khi triển khai thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán.
Rồi ngài bắt đầu thuyết pháp, không phân biệt giới hạn,
được trở thành vị Tỷ-kheo đệ nhất về hạnh Từ vô
lượng. Khi Ngài đi khất thực, ngài vẫn hành thiền, và khi
xuất thiền, ngài mới nhận đồ ăn, và như vậy đem lại
công đức lớn cho thí chủ và ngài trở thành vị xứng đáng
được bố thí đệ nhất. Do vậy, Thế Tôn có nói: 'Này các
Tỷ-kheo, Subhùti được xem là vị Tỷ-kheo đệ nhất về hạnh
từ bi vô lượng, xứng đáng được cúng dường'.
Bậc
Ðại đệ tử này, trong khi đi khất thực đi đến Vương
Xá, vua Bimbisàra (Bình-sa) nghe ngài đến, liền đến kính chào
và xin dựng một chỗ ở cho ngài, nhưng rồi vua quên, ngài
không nhận được chỗ ở, nên hành thiền ngoài trời. Vì
thái độ nghiêm túc của ngài, trời không mưa và do vậy nạn
hạn hán đe dọa dân chúng, quần chúng tụ họp than phiền
ồn ào trước hoàng cung. Vua tìm hiểu nguyên nhân vì sao trời
không mưa và nghĩ rằng có lẽ vì ngài Subhùti hành thiền
ngoài trời. Vua cho làm các am thất bằng lá cho ngài, và khi
ngài vào ngồi thiền trong am thất ấy, trời bắt đầu mưa
từng hột một chớ không mưa ào ào. Ngài muốn quần chúng
khỏi sợ hạn hán, tuyên bố rằng, không có sự sợ hãi gì
đe dọa ngài, từ phía ngoài hay từ phía trong, với những
bài kệ như sau:
1.
Am thất ta khéo lợp,
An
lạc, ngăn chận gió,
Thần
mưa, hãy mưa đi,
Mưa
như ý Ngươi muốn!
Tâm
ta khéo định tĩnh,
Giải
thoát, sống tinh cần,
Thần
mưa, hãy mưa đi!
Thần
mưa, hãy mưa đi!
(II)
Mahàkotthita (Thera. 1)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Sàvatthi, trong
một gia đình Bà-la-môn rất giàu có và được đặt tên là
Kotthita (Câu-hy-la). Khi đến tuổi trưởng thành, ngài học
ba tập Veda và thành tựu các đức tánh của vị Bà-la-môn,
ngài nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất
gia. Thực hiện thiền quán từ khi mới xuất gia, ngài chứng
quả A-la-hán, với hiểu biết về nghĩa và về pháp, ngài
thường hỏi bậc Ðạo Sư và các vị Ðại Trưởng lão về
hai vấn đề ấy và trở thành rất lão luyện thuần thục.
Rồi bậc Ðạo Sư, sau khi xác nhận các quả chứng ngài đã
được trong kinh Vedalla, xác nhận ngài là bậc thiền quán
đệ nhất.
Sau
một thời gian, ý thức được sự an lạc giải thoát, ngài
nói lên bài kệ này:
2.
Tịch tịnh và chỉ tức,
Tụng
đọc lời trí tuệ,
Tâm
tư không tháo động,
Ác
pháp được vứt bỏ,
Giống
như những lá cây,
Bị
gió thổi phiêu bạt.
(III)
Kankha-revata (Thera. 2)
Trong
thời đức Phật hiện tại ngài sanh vào trong một gia đình
giàu có ở Sàvatthi. Khi ngài đứng vào vòng ngoài của những
người đứng nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, ngài khởi lòng
tin và xuất gia. Ngài chứng quả A-la-hán nhờ hành thiền,
ngài trở thành lão luyện trong thiền định và bậc Ðạo
Sư tuyên bố ngài là hành thiền đệ nhất.
Sự
nghiệp đã thành tựu, ngài nghĩ đến sự nghi ngờ lấn chiếm
tâm tư, và nay nghi ngờ đã được đoạn tận, ngài tán thán
sức mạnh và trí tuệ của bậc Ðạo Sư, nhờ vậy nay tâm
tư ngài được định tĩnh và kiên trì. Ngài nói:
3.
Hãy thấy trí tuệ này
Của
những bậc Như Lai,
Như
lửa cháy nửa đêm,
Cho
ánh sáng, cho mắt,
Họ
nhiếp phục nghi ngờ
Cho
những ai đi đến.
(IV)
Punna Mamtàniputta (Thera. 2)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh vào một gia tộc Bà-la-môn,
trong làng Bà-la-môn Donavatthu, không xa Kapilavatthi (Ca-tỳ-la-vệ).
Ngài là con trai của người chị của Trưởng lão Kondanna và
được đặt tên là Punna. Sau khi làm tròn bổn phận của một
người Sa-di, ngài tinh tấn nỗ lực cho đến khi chứng được
quả cao nhất. Rồi ngài đi với người cậu ngài đến sống
gần bậc Ðạo Sư, từ bỏ miền phụ cận Kapilavatthu, chuyên
tâm tu hành, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán.
Ngài
Punna có đến năm trăm đồ chúng cùng ở trong gia tộc ngài,
và tất cả đều xuất gia. Vì ngài giỏi về mười căn bản
của thuyết giảng, ngài dạy cho các đệ tử của ngài lão
luyện về mười căn bản này cho đến khi các vị này chứng
quả A-la-hán. Các đệ tử ngài yêu cầu ngài đưa họ đến
yết kiến bậc Ðạo Sư, nhưng ngài nghĩ không nên đi với
số đồ chúng như vậy, liền bảo họ đi trước còn ngài
đi sau. Các vị ấy là đồng hương với đức Phật, đã đi
bộ sáu mươi do tuần đến Vương Xá, đến tại ngôi tịnh
xá Trúc Lâm và đảnh lễ bậc Ðạo Sư. Ðức Phật hỏi ai
đồng hương với Ngài có thể giảng được về đời sống
giản dị, và các vị này giới thiệu ngài Punna. Khi bậc Ðạo
Sư đi từ Vương Xá đến Sàvatthi, ngài Punna cũng đi đến
Sàvatthi, tại đây ngài được dạy về Chánh pháp. Rồi ngài
đi vào rừng Andha để suy tư về Chánh pháp. Tôn giả Sariputta
cũng đi theo vào rừng và đàm đạo Chánh pháp với Punna. Bậc
Ðạo Sư tuyên bố Punna là bậc thuyết pháp đệ nhất.
Một
hôm, suy tư trên sự giải thoát chứng đạt, ngài suy tư như
sau: 'Ðối với ta và nhiều vị khác đã thoát khỏi đau khổ,
thật là giúp đỡ lớn nếu thân cận với bạn lành'. Với
sự hoan hỷ phấn khởi, ngài nói lên bài kệ này:
4.
Hãy thân cận người hiền,
Bậc
hiền minh thấy nghĩa,
Nghĩa
lớn và thâm sâu,
Khó
thấy, tế, tế nhị,
Bậc
trí chứng đạt được,
Không
phóng dật, chủ tâm.
(V)
Dabba (Thera. 2)
Ngài
sanh ra trong gia đình của dân tộc Mallà ở Anupiyà. Khi mới
bảy tuổi, ngài được thấy bậc Ðạo Sư khi Thế Tôn viếng
thăm xứ sở và nhà của ngài.
Ngài
bị ảnh hưởng đến nỗi ngài xin phép bà nội cho được
xuất gia với bậc Ðạo Sư, mẹ ngài đã mất khi sanh ngài.
Bà nội ngài đưa ngài đến yết kiến đức Phật và đức
Phật giao cho một Tỷ-kheo làm lễ xuất gia cho ngài. Ngài với
nghiệp nhân quá khứ với ước vọng tương lai đang chín muồi,
nên chứng được bốn quả liên tiếp chính trong khi ngài được
cạo tóc.
Khi
bậc Ðạo Sư từ giã xứ Mallà để đi về Vương Xá, Dabba
thiền quán một mình, và muốn dùng thân để phục vụ giáo
hội và nhận công việc phân phối chỗ ngủ, tổ chức các
buổi ăn. Bậc Ðạo Sư chấp nhận công việc làm này, xác
nhận sự thành công của ngài, khả năng thần thông của ngài,
với ngón tay chói sáng của mình soi sáng cho các đồng Phạm
hạnh về chỗ ngủ. Các sự việc này được nói đến trong
Luật tạng.
Khi
bị các Tỷ-kheo theo phe với Mettiya và Bhummajika vu khống, làm
hại và ngài được giáo hội che chở và biện minh, Tôn giả
Dabba ý thức được lòng từ của mình đối với các vị
khác, liền nói lên bài kệ như sau:
5.
Ai thật khó nhiếp phục,
Nay
đã được nhiếp phục,
Dabba
tự biết đủ,
Nghi
ngờ được vượt qua,
Thắng
trận, không sợ hãi,
Dabba
trú tịch tịnh.
(VI)
Sìla- Vaniya (Thera. 2)
Ðây
là bài kệ của Trưởng lão Sambhùta, ngài được sanh ở Ràjagaha
(Vương Xá), con trai một Bà-la-môn có danh tiếng, tên là Sambhùta.
Với ba người bạn Bhùmija, Jeyyasena và Abhiràdana. Ngài nghe
Thế Tôn thuyết pháp và ngài xuất gia. Khi đang tu tập thiền
quán thân bất tịnh, ngài ở luôn luôn tại Sitavana (rừng
mát) và được gọi là Sitavaniya (vị ở rừng mát).
Khi
thấy các Tỷ-kheo đang đi đến yết kiến đức Phât, ngài
nói: 'Thưa các Hiền giả, các Hiền giả hãy đảnh lễ bậc
Ðạo Sư thay mặt tôi và thưa với bậc Ðạo Sư như sau:
6.
Có Tỷ-kheo đi đến
Rừng
Sitavana,
Sống
một mình, độc cư,
Biết
đủ, tâm nhập định,
Thắng
trận, không kinh hoàng,
Kiên
trì hộ thân niệm'.
(VII)
Bhalliya (Thera. 2)
Với
người anh là Tapussa, trong thời đức Phật hiện tại, ngài
sanh ở thành Pokkharavatì, con một người đánh xe cho đoàn
lữ hành. Khi đoàn lữ hành đi ngang một khu rừng có bóng
mát một đoạn đường bùn lầy ngăn đoàn lữ hành lại.
Một vị thần cây, là người bà con hiện ra và nói: 'Thế
Tôn vừa mới thành đạo và đang ngồi thiền bảy ngày dưới
gốc cây. Hãy cúng dường đồ ăn. Như vậy, các người được
hạnh phúc và lợi ích'. Cả lữ đoàn hoan hỷ, không chờ
nấu cơm, đem bánh gạo và mật đến cúng dường Thế Tôn.
Khi
Thế Tôn chuyển pháp luân ở Benares, Thế Tôn đi đến Vương
Xá. Ở đây, Tapussa và Bhalliya hầu hạ Ngài và nghe pháp, Tapussa
trở thành một cư sĩ, còn Bhalliya thời xuất gia và thành
tựu được sáu thắng trí.
Một
ngày kia, Ác ma hiện ra dưới hình thức cực kỳ kinh hoàng,
nhưng Bhalliya đã vượt qua mọi sợ hãi, nên nói lên bài kệ
như sau, khiến Ác ma phải thất vọng:
7.
Ai đuổi đi thần chết,
Với
đạo binh của nó,
Những
dòng nước lớn mạnh,
Trói
cây lau yếu ớt,
Thắng
trận, không sợ hãi,
Nhiếp
phục, trú tịch tịnh.
(VIII)
Vìra (Thera. 2)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ)
trong gia đình vị bộ trưởng vua Pasenadi (Ba-tư-nặc), và được
gọi là Vìra. Ngài rất giỏi về thể thao và võ nghệ, và
trở thành một chiến sĩ. Sau khi lập gia đình với sự bằng
lòng của mẹ cha, ngài có một đứa con trai. Thấy sự khổ
lụy, tiếp tục tái sanh, ngài xuất gia và nhiệt tâm tinh cần,
ngài chứng được sáu thắng trí. Khi đã thành vị A-la-hán
và sống thọ hưởng an lạc giải thoát, vợ của ngài muốn
cám dỗ ngài trở về với gia đình bằng nhiều hình thức.
Nhưng Tôn giả nói rằng: 'Người đàn bà này muốn cám dỗ
ta, không khác gì người muốn xô ngã núi Sineru với cánh một
con ruồi'. Và ngài thuyết lên bài kệ này để nói rằng sự
cám dỗ của vợ cũ của ngài thật là vô ích:
8.
Ai thật khó nhiếp phục
Nay
đã được nhiếp phục,
Vìra
tự thỏa mãn,
Nghi
ngờ được vượt qua,
Thắng
trận, không kinh hoàng,
Vìra
trú tịch tịnh.
Người
đàn bà nghe ngài nói rất lấy làm xúc động và nghĩ rằng:
'Chồng ta đã thành đạt thù thắng như vậy. Vậy đời sống
gia đình có gì là tốt đẹp cho ta'. Rồi đi đến tịnh xá
các Tỷ-kheo-ni xin được xuất gia và chứng được ba minh.
IX.
Pilinda-Vaccha (Thera. 2)
Ngài
sanh ở Sàvatthi, là con một Bà-la-môn, trước khi Thế Tôn
thành đạo và được đặt tên là Pilinda. Vaccha là tên của
dòng họ. Ngài trở thành một ẩn sĩ và được một bùa phép
tên là Tiểu Gandhàra (có thể đi trên hư không và tha tâm
thông) và nhờ vậy được nổi danh. Khi đức Phật thành đạo,
bùa phép này không còn hiệu lực. Khi ngài nghe được bùa
phép Ðại Gandhàra làm bùa phép tiểu Gandhàra mất hiệu lực,
ngài kết luận Sa-môn Gotama biết được bùa phép Ðại Gandhàra
và ngài đến hầu hạ đức Phật để học cho được bùa
phép ấy, đức Phật dạy: 'Phải xuất gia', ngài tưởng rằng
xuất gia là điều kiện để chứng được bùa phép nên vâng
lời theo. Ðức Phật dạy ngài Chánh pháp và phương pháp thiền
quán, chẳng bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Nhờ sự hướng
dẫn của Pilinda trong một đời trước, được sanh làm chư
Thiên, vị này hầu hạ ngài sớm chiều để tỏ lòng biết
ơn. Do vậy, ngài được xem là vị Tỷ-kheo được chư Thiên
ái kính, và được đức Phật xác nhận cho địa vị ấy.
Một
hôm, Tôn giả Pilinda ngồi giữa hội chúng Tỷ-kheo, suy tư
đến sự thành tựu của mình, tuyên bố cho chúng biết bùa
phép ấy đã đưa ngài đến gặp Thế Tôn và nói lên bài
kệ này:
9.
Lời khuyên đến, tốt lành!
Lời
không tốt, không đến!
Lời
khuyên đến với ta,
Không
thuộc về tà ác!
Giữa
các pháp phân biệt,
Ta
đến pháp tối thượng.
(X)
Punnamàsa (Thera. 3)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh làm con của Samiddhi,
một Bà-la-môn ở Sàvatthi, ngài xuất gia được khi sanh được
đứa con trai, thọ giới dưới sự hướng dẫn của đức
Phật, và lấy bốn sự thật làm đề tài để thiền quán
và ngài chứng được quả A-la-hán. Vợ cũ của ngài tìm cách
cám dỗ ngài, trang điểm rất đẹp mắt đến thăm ngài, và
đem theo đứa con trai. Nhưng ngài hoàn toàn giải thoát, không
còn vướng bận gì và nói lên bài kệ này:
10.
Ta sống không mong chờ,
Ðời
này hay đời sau,
Vị
đã đạt trí tuệ,
An
tịnh, tự chế ngự,
Không
dính nhiễm các pháp,
Biết
sanh diệt của đời.
Vợ
của ngài nghĩ rằng: 'Vị Trưởng lão này không để ý gì
đến ta và con ta nữa, ta không thể cám dỗ ngài' nên nàng
bỏ đi.
Phẩm
Hai
(XI)
Cùlagavaccha (Thera. 3)
Ngài
sanh là vị Bà-la-môn ở Kosambi, nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp,
ngài xuất gia. Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo ở Kosambi tranh cãi
nhau, Cùlagavachha không theo phe phái nào, trung thành với lời
dạy của bậc Ðạo Sư, phát triển trí tuệ và chứng quả
A-la-hán. Thấy sự tranh cãi các Tỷ-kheo là nguyên nhân của
sự thối thất, ngài hoan hỷ với thái độ không phe phái
của mình và nói lên bài kệ:
11.
Tỷ-kheo nhiều hân hoan,
Trong
pháp Phật tuyên bố,
Ðạt
được đạo tịch tịnh,
Hành
dừng lại an lạc.
(XII)
Mahàgavaccha (Thera. 3)
Ngài
sinh ra trong thời đức Phật tại thế, làm con của Sammiddhi,
một Bà-la-môn ở làng Nàlaka, Magadha. Ngài xuất gia vì Sàriputta
đã xuất gia, và ngài biết Sàriputta rất sáng suốt. Sau khi
chứng quả A-la-hán, và thọ hưởng lạc giải thoát, ngài
nói lên bài kệ để khích lệ các đồng Phạm hạnh tinh cần
tu tập:
12.
Trí tuệ lực, giới hạnh,
Ðịnh,
thiền lạc, chánh niệm,
Chỉ
ăn những món ăn
Ðem
lại quả tốt đẹp,
Ở
đây, tham viễn ly,
Chờ
đợi giờ mạng chung.
(XIII)
Vanvaccha (Thera. 3)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu. Ngài sanh
ra trong rừng, khi mẹ ngài đi vào rừng viếng cảnh, và sanh
tại đấy. Ngài trở thành một trong những đứa trẻ chơi
cát với đức Phật trong tương lai. Vì ngài thích rừng núi,
ngài được biết với tên là Vanavaccha. Về sau, khi ngài xuất
gia, ngài sống trong rừng tinh tấn tu hành và chứng quả A-la-hán.
Ðể tán thán hạnh ở rừng, ngài nói lên bài kệ này, đáp
lời vị đồng Phạm hạnh đã hỏi ngài: 'Ngài thích thú gì
ở rừng núi?' Ngài đáp: 'Thích thú thay, các ngôi rừng các
ngọn núi!
3.
Ðẹp sắc, mây xanh biếc,
Nước
mát lạnh, chảy trong,
Kẻ
chăn bò Inda,
Che
kín cả ngôi rừng,
Những
ngôi núi đá ấy,
Làm
hân hoan tâm ta'.
(XIV)
Sìvaka (Thera. 3) (Một Sa-di phục vụ cho Vanavaccha).
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con người chị của
Vanavaccha. Khi mẹ ngài được tin Vanavaccha xuất gia, thọ Ðại
giới, đã sống trong rừng. Mẹ ngài nói với ngài: 'Này Sìvaka,
con hãy xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Vanavaccha và phục
vụ cho ngài, vì nay ngài đã già!'. Ngài nghe theo lời mẹ xuất
gia sống ở trong rừng phục vụ săn sóc Vanavaccha. Một hôm,
khi đi đến gần làng, ngài bị đau nặng; khi thuốc không
chữa được, ngài không về và Trưởng lão Vanavaccha đi tìm
và thấy ngài bị đau. Sau khi cho ngài uống thuốc và săn sóc
ngài, khi bình minh mới bắt đầu, vị Trưởng lão nói với
ngài: 'Này Sìvaka, từ khi ta xuất gia, ta không sống ở trong
làng. Vậy chúng ta hãy đi vào rừng'. Sìvaka trả lời: 'Dầu
thân con ở trong làng, nhưng tâm con bao giờ cũng hướng về
rừng núi. Vậy nay con tuy nằm ở đây, con sẵn sàng đi vào
rừng'. Vị Trưởng lão cầm tay ngài, dắt ngài đi vào rừng,
khích lệ ngài. Ngài nhờ sự khích lệ này, tự mình sách
tấn và chứng quả A-la-hán.
Rồi
ngài nói lên bài kệ của mình hợp chung lời vị Trưởng
lão và lời mình, nói lên sự ưa thích sống viễn ly và quả
chứng của mình, sự vâng lời thầy của mình và chứng đắc
chánh trí:
14.
Thầy ta nói với ta,
'Hãy
đi, Sìvaka!'
Thân
ta sống ở làng,
Nhưng
tâm hướng về rừng,
Dầu
còn nằm ta đi,
Người
biết, không trói buộc.
(XV)
Kunda Dhàna (Thera. 3)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, con một
Bà-la-môn và được gọi là Dhàna. Thuộc lòng ba tập Vệ-đà,
sau khi đã lớn tuổi, ngài nghe đức Phật thuyết pháp và
xuất gia. Khi vua Pasenadi nước Kosala để ý đến ngài, cúng
dường ngài các đồ dùng cần thiết nên ngài khỏi phải
đi khất thực. Khi nàng Subhaddà mời bậc Ðạo Sư và chúng
Tỷ-kheo dùng cơm, lúc ấy Kunda Dhàna mới chứng tỏ quả chứng
và sức mạnh của mình như đã được ghi chép trong tập sớ
Anguttara Nikàya. Ngài nói lên các bài kệ này cho các vị Tỷ-kheo:
15.
Năm pháp Thầy cắt đứt,
Năm
pháp Thầy từ bỏ,
Và
năm pháp thượng nhân,
Thầy
cố gắng tu tập,
Tỷ-kheo
vượt năm ái,
Ðược
gọi là 'vượt bộc lưu'.
(XVI)
Belatthasìsa (Thera. 3)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi trong một
gia đình Bà-la-môn. Trước khi đức Phật thành đạo, ngài
đã xuất gia theo giáo đoàn của Kassapa ở Uruvelà và thờ
lửa. Khi Kassapa được đức Phật giáo hóa, ngài là một trong
ngàn người đệ tử của Kassapa chứng được quả A-la-hán,
khi nghe đức Phật giảng kinh Adittápariyàyàsutta (Kinh Lửa
Cháy).
Sau
ngài trở thành vị giáo thọ của Tôn giả Ananda. Một hôm,
nghĩ đến sự an lạc thuần tịnh của quả chứng, và sự
tu hành ban sơ của mình, ngài nói lên bài kệ diễn tả sự
hân hoan của ngài:
16.
Như vật hiền giống tốt
Với
sừng, kéo cái cày,
Ði
đứng không mệt nhọc,
Cũng
vậy, ta ngày đêm,
Ði
đứng không mệt nhọc,
Ðược
lạc không thế vật.
(XVII)
Dàsaka (Thera. 4)
Do
nghiệp của mình, ngài sanh vào thời dức Phật hiện tại,
con của một người nô lệ của Anàthapindika, và được giao
việc gác cửa vào tịnh xá Jetavana. Ðược nghe đức tánh
và nguyện vọng của ngài, ông Anàthapindika giải thoát cho
ngài khỏi vòng nô lệ và ngài nói ngài sẽ sung sướng nếu
được xuất gia. Do vậy, ngài được xuất gia ngay. Nhưng khi
được xuất gia, ngài trở thành biếng nhác, thụ động, tiêu
cực, không chịu cố gắng để thoát khỏi sanh tử, và ngủ
quá nhiều sau các bữa ăn. Khi đến thời thuyết pháp, ngài
lựa một chỗ ngoài vòng Tăng chúng, tìm một góc và ngồi
ngáy. Thế Tôn nghĩ đến việc làm trước của ngài, nên nói
lên bài kệ này để khích lệ ngài:
17.
Ai hôn trầm, ăn nhiều,
Nằm
ngủ, lăn qua lại,
Như
heo lớn, ăn no,
Kẻ
ngu tiếp thai sanh.
Khi
nghe vậy, Dasaka trở thành dao động hốt hoảng và phát triển
thiền quán và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài suy nghĩ: 'Bài
kệ của Thế Tôn đã khích lệ ta nhiều' và ngài nói lại
bài kệ này. Như vậy, dầu cho bài kệ chống đối ăn nhiều,
bài kệ trở thành lời tuyên bố về chánh trí của ngài.
(XVIII)
Singàlar-Pitar (Thera. 5)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong gia đình giàu có
ở Sàvatthi, lập gia đình và đặt tên con là Singàlaka và
tự mình được gọi là Singàla-pitar (cha của Singàla). Về
sau ngài từ bỏ gia đình và xuất gia. Thế Tôn biết được
căn cơ xu hướng của ngài, dạy ngài đề tài thiền quán
là bộ xương người. Dùng đề tài này để thiền quán, ngài
sống giữa các dòng họ Thích-ca ở Sumsumàragira, tại khu rừng
Bhesaskalà. Trong rừng ấy, một thần rừng biết được ngài
sẽ chứng được Thánh quả nên nói lên bài kệ này:
18.
Hãy nhìn trong khu rừng,
Rừng
Bhesakala!
Một
Tỷ-kheo đang sống,
Thừa
tự lời Phật dạy,
Ngang
thân địa đại này,
Tỏa
khắp tưởng bộ xương.
Ta
nghĩ Tỷ-kheo ấy,
Mau
đoạn tận dục tham.
Nghe
bài kệ này, vị Trưởng lão nghĩ rằng: 'Vị thần rừng này
muốn ta cố gắng tu tập', nên ngài phát triển thiền quán
và chứng quả A-la-hán. Về sau, ngài nhớ lại bài kệ của
thần rừng này và nói lên lại bài kệ ấy như là lời tuyên
bố về chánh trí của ngài.
(XIX)
Kula (Thera. 4)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn,
xuất gia và vì tâm tư chưa được thăng bằng, ngài không
chú tâm được trên một đề tài nhất định. Một ngày kia
đi khất thực, ngài thấy người dẫn nước bằng cách đào
cách kinh dẫn nước. Trong thành phố, ngài thấy người làm
cung tên uốn nắn cung tên bằng nheo một con mắt như thế
nào, và khi trở về với bình bát đầy đồ ăn, ngài thấy
những người làm xe sửa soạn trục xe, bánh xe và vành xe
như thế nào. Bước vào tịnh xá, dùng cơm xong, khi đang nghỉ
trưa, ngài nghĩ đến ba phương pháp nhiếp phục này, và lấy
chúng làm khích lệ và dùng chúng để tự mình tu tập, không
bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Liên hệ những bài học này
với sự tu tập tâm của mình, ngài nói lên lời chánh trí
với bài kệ như sau:
19.
Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ
làm nên nắn tên,
Người
thợ mộc uốn gỗ,
Bậc
tự điều, điều thân.
(XX)
Ajita (Thera. 4)
Khi
bậc Ðạo Sư còn sống, ngài được sanh ở Sàvatthi con của
một Bà-la-môn làm nghề đánh giá hàng hóa cho vua Kosala. Ngài
trở thành một ẩn sĩ tu theo Bàvari, một vị Bà-la-môn có
học thức ở vườn Kapittha trên bờ sông Godhàvarì. Bàvarì
bảo ngài cùng với Tissa và Metteya đi đến bậc Ðạo Sư.
Ajita được đức Phật cảm hóa, và xuất gia. Lựa một đề
tài để thiền quán, ngài phát triển thiền quán và chứng
quả A-la-hán. Ngài nói lên sự thắng trận của ngài với
bài kệ này:
20.
Ta không có sợ chết,
Không
ưa thích sanh mạng,
Ta
sẽ bỏ thân này,
Tỉnh
giác và chánh niệm.
Phẩm
Ba
(XXI)
Nigrodha (Thera. 4)
Trong
lời đức Phật tại thế, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn
có danh tiếng ở Sàvatthi. Khi tinh xá Jetavana được dâng cúng
đức Phật, trông thấy tướng tốt uy nghiêm của đức Phật,
ngài được cảm hóa và xuất gia. Khi phát triển thiền quán,
ngài có thể đạt được sáu thắng trí, suy tư đến sự
an lạc quả chứng, sự lợi ích của giáo pháp giúp thoát
khỏi tái sanh, ngài nói lên bài kệ này để tuyên bố chánh
trí của ngài:
21.
Ðối với ta, sợ hãi
Không
làm ta sợ hãi,
Thâm
hiểu đạo bất tử,
Bậc
Ðạo Sư chúng ta
Không
tìm được chân đứng,
Ở
đâu, sự sợ hãi,
Chỗ
ấy vị Tỷ-kheo
Dẫn
bước trên đường ấy.
(XXII)
Cittaka (Thera. 4)
Ngài
sanh ở Ràjagaha, con một gia đình Bà-la-môn giàu có. Khi bậc
Ðạo Sư ở vườn Trúc Lâm, Cittaka đến nghe đức Phật thuyết
pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Lựa giới luật làm đề
tài tu tập, ngài vào một khu rừng và tu tập thiền định,
với thiền quán khai triển, ngài chứng quả A-la-hán. Rồi
ngài đi đến đảnh lễ đức Phật, được các vị đồng
Phạm hạnh hỏi ngài có tinh tấn tu hành khi ở trong rừng
không, ngài trả lời có và với bài kệ này, ngài nói lên
chánh trí của ngài.
22.
Chim công, màu xanh biếc,
Cổ
đẹp, có màu tươi,
Ðang
gọi nhau trong rừng,
Rừng
Kà-ram-vi-yà,
Với
gió mát tiếng trong,
Chúng
gọi và thức dậy,
Vị
hành thiền đang ngủ.
(XXIII)
Gosàla (Thera. 5)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Magadha
giàu có, ngài có quen với Sonakutikanna. Khi được biết Sonakutikanna
xuất gia, ngài bị dao động và suy nghĩ: 'Vị ấy có tài sản
lớn mà còn xuất gia, sao ta lại không làm theo?'. Rồi ngài
xuất gia, dùng giới luật làm đề tài thiền quán và tìm
một chỗ thích hợp, ngài lựa một cao nguyên không xa làng
sanh quán. Mẹ ngài ngày nào cũng bố thí cúng dường. Một
hôm cúng cho ngài cháo, cơm nấu với mật và đường, ngài
nhận đồ cúng dường, ngồi ăn dưới bóng một ngọn đồi
có tre mọc dày. Với tay và bát rửa sạch, được ăn một
bữa ăn thích hợp, ngài phát tâm thiền quán và chú tâm vào
vấn đề sanh diệt các pháp, đạt được thiền định cao
nhất, chứng quả A-la-hán, với hiểu biết về nghĩa, về
pháp. Ngài muốn đi lên ngọn đồi để hưởng an lạc thiền
vị, ngài nói lên kinh nghiệm của ngài với bài kệ:
23.
Ta ăn tại khóm trúc,
Với
cháo cơm và mật,
Ta
chấp nhận toàn diện,
Lời
dạy bậc đáng kính,
Tánh
sanh diệt các uẩn,
Ta
sẽ lên ngọn núi,
Tăng
trưởng hạnh viễn ly.
(XXIV)
Sugandha (Thera. 5)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình giàu
có ở Sàvatthi. Vì lời phát nguyện trong quá khứ, khi ngài
sanh ra, hương thơm tỏa khắp nhà, do vậy được đặt tên
là Sugandha (hương thơm). Khi đến tuổi trưởng thành, ngài
được khuyến khích xuất gia, khi nghe Trưởng lão Mahà Sela
thuyết pháp; sau bảy ngày, ngài chứng quả A-la-hán. Nói lên
chánh trí của mình, ngài thuyết bài kệ này:
24.
Xuất gia, mùa mưa qua,
Thấy
pháp tánh các pháp,
Ba
minh chứng đạt được,
Làm
xong lời Phật dạy.
(XXV)
Nandiya (Thera. 5)
Ngài
được sanh ở Kapilavatthu, trong nhà một vương tộc Thích-ca,
và cha mẹ ngài nói: 'Con ta sanh đem lại hoan hỷ trong nhà'
và đặt tên ngài là Nandiya. Lớn lên, ngài xuất gia, khi Anuruddha
và các bạn đều xuất gia. Nhờ chú tâm học tập và lời
phát nguyện quá khứ, ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài sống
với Trưởng lão Anuruddha và các bạn tại rừng Trúc phía
Ðông. Tại đấy, Ác-ma muốn làm ngài sợ hãi, hiện ra trong
hình thù rất dễ sợ, nhưng ngài đuổi Ác--ma đi với những
lời như sau: 'Này Ác-ma, Ngươi làm gì với những người đã
vượt qua cảnh giới của ngươi. Do vậy, Ngươi chỉ gặp
thất bại và bất hạnh'.
25.
Với ai, tâm thường hằng,
Hướng
mạnh về Chánh pháp,
Pháp
phát sanh hào quang,
Pháp
đạt đến Thánh quả,
Vị
Tỷ-kheo như vậy,
Nếu
Nhà ngươi muốn chống,
Hỡi
này kẻ Quỷ đen!
Ngươi
đi đến đau khổ.
(XXVI)
Abhaya (Thera. 5)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh là con vua Bimbisàra (Bình-sa).
Giáo chủ Nàtaputta dạy ngài một mưu chước để đánh bại
Sa-môn Gotama trong cuộc tranh luận, nhưng trong câu trả lời
của Sa-môn Gotama, ngài thấy sự thất bại của giáo chủ
phái Ni-kiền Tử và sự sáng suốt của Sa-môn Gotama. Do vậy,
sau khi vua từ trần, Abhaya xuất gia. Nhờ giảng kinh Ví dụ
cái lỗ trong cây gỏ, ngài chứng quả Dự lưu. Rồi với sự
cố gắng tinh cần, ngài chứng quả A-la-hán. Do vậy, phấn
khởi trước thành quả đạt được, ngài nói lên chánh trí
của ngài:
26.
Nghe được lời khéo giảng,
Bậc
bà con mặt trời,
Ta
đâm thủng tinh vi,
Như
tên chẻ ngọn tóc.
(XXVII)
Lomasakangìya (Thera. 5)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Kapilavatthu, trong một
gia đình họ Thích-ca. Ngài rất yếu đuối và thân ngài có
lông mịn nên được gọi là Lomasakangiya.
Khi
Anuruddha và một số hoàng tử trẻ Sakya xuất gia, ngài không
theo. Rồi Candana, một người bạn cũ thời trước, hỏi về
'Nhứt dạ hiền giả - Bhaddekaratta', ngài trả lời không được
và đến hỏi đức Phật. Ðức Phật khuyên ngài xuất gia
và về xin phép cha mẹ. Khi mẹ ngài sợ ngài yếu đuối, ngài
trả lời với bài kệ như sau:
27.
Cỏ dabba, kusa,
Các
loài cỏ đâm ngực,
Loài
cỏ tên munja,
Cỏ
tên pabbaja.
Từ
nơi ngực của ta,
Ta
sẽ đẩy chúng lui,
Ta
sẽ làm tăng trưởng,
Hạnh
cô độc viễn ly.
Nghe
xong, mẹ ngài bằng lòng để ngài xuất gia, và được phép
bậc Ðạo Sư cho xuất gia. Sau thời gian học tập, ngài muốn
đi vào rừng để thiền quán. Các Tỷ-kheo ngăn lại, nói ngài
yếu đuối làm sao sống trong rừng núi được. Ngài lập lại
bài kệ này và đi vào rừng tu thiền, chứng sáu thắng trí.
Khi ngài chứng quả A-la-hán, ngài tuyên bố chánh trí của
ngài với bài kệ nói trên.
(XXVIII)
Con Trai Của Jambugàmika (Thera. 5)
Ngài
sanh ở Campà, con một cư sĩ tên Jambugàmika, và được gọi
với tên cha. Khi học tập hạnh Sa-di, ngài ở Sàketa, tại
rừng Anjana, cha ngài sợ ngài không bền chí xuất gia, nên
gửi ngài bài kệ để tìm hiểu ngài:
28.
Con có được thỏa mãn,
Với
y phục mang mặc?
Con
có được hoan hỷ,
Với
trang sức điểm tô?
Và
mùi hương thơm này,
Do
giới con tỏa ra,
Chớ
không do người khác
Tạo
mùi thơm như vậy!
Khi
ngài đọc bài kệ này, ngài nghĩ rằng phụ thân ngài nghi
ngờ ngài còn đang bị thế tục chi phối, và ngài cũng chưa
thoát khỏi địa vị phàm phu. Do vậy, ngài cảm thấy xúc
động, liền phát tâm tinh tấn tu hành và không bao lâu chứng
được sáu thắng trí. Với bài kệ của người cha làm đề
tài thiền quán, cuối cùng ngài chứng quả A-la-hán. Và vừa
để nói lên chánh trí, vừa tán thán người cha, ngài nói
lên bài kệ.
(XXIX)
Hàrita (Thera. 5)
Sanh
ra trong thời đức Phật hiện tại ở Sàvatthi, con một Bà-la-môn
giàu có. Cha mẹ cưới cho ngài một người vợ trẻ đẹp
hoàn toàn xứng đôi vừa lứa, và ngài sống sung sướng bên
người vợ của ngài. Một hôm, ngài đang ngắm nhìn sắc đẹp
của vợ mình, do nghiệp nhân đời trước, ngài được nhắc
lại là sắc đẹp ấy cũng vô thường. Vài ngày sau, vợ ngài
bị con rắn đen cắn và bị chết. Bị đau khổ bởi cái chết
này, ngài đi yết kiến đức Phật, được nghe pháp và xuất
gia. Nhưng khi ngài tu về giới, ngài không giữ được tâm
cho chánh trực. Khi đi khất thực, ngài thấy một người làm
tên, dùng dụng cụ làm cho cây tên được ngay thẳng, ngài
suy nghĩ: 'Những người này còn làm cho một cây tên ngay thẳng'.
Ngài quay về, ngồi nghỉ trưa, phát triển thiền quán. Và
ngài thấy đức Phật hiện ra trước mặt ngài, ngồi trên
hư không, và dạy ngài với bài kệ này:
29.
Thầy hay làm tự ngã,
Ðược
thấm nhuần hướng thượng,
Như
người thợ cung tên
Làm
cây tên ngay thẳng,
Hãy
làm tâm ngay thẳng,
Hỡi
này Ha-ri-ta!
Hãy
chặt đứt vô minh.
Nghe
Thế Tôn dạy, ngài phát triển thiền quán, và không bao lâu
trở thành vị A-la-hán. Ngài liền nói lên bài kệ này như
lời tuyên bố chánh trí của ngài.
(XXX)
Ittiya (Thera. 5)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi con trai một
Bà-la-môn, và xuất gia để tìm đời sống bất tử, trở
thành một du sĩ ngoại đạo. Một ngày kia, trong khi bộ hành
ngài gặp Thế Tôn đang thuyết pháp và ngài xin xuất gia. Vì
giới hạnh ngài không thanh tịnh, nên ngài không đạt được
Thánh quả. Thấy các Tỷ-kheo khác nói lên chánh trí của mình,
ngài xin Thế Tôn một bài học tóm tắt. Ðức Phật trả lời
ngài phải làm cho thanh tịnh nếp sống căn bản và đức Phật
dạy ngài về nếp sống căn bản một cách tóm tắt, Ittiya
học tập bài học này, phát triển thiền quán, nhưng rồi
bị bệnh. Trong sự cố gắng tối hậu, ngài chứng được
quả A-la-hán. Vì ngài chứng được Thánh quả trước những
trở ngại lớn như vậy, ngài nói lên chánh trí của ngài
liên hệ đến cơn bệnh của ngài:
30.
Trong khi ta lâm bệnh,
Niệm
khởi lên nơi ta,
Trong
khi ta lâm bệnh,
Không
phải thời phóng dật.
Phẩm
Bốn
(XXXI)
Gahvaratìrya (Thera. 6)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi trong một
gia đình Bà-la-môn và được gọi là Aggidatta. Khi lớn lên
ngài thấy đức Phật hiện hóa thần thông song hành, khởi
lòng tin và xuất gia. Lấy một đề tài để hành trì, ngài
đi vào rừng Ratìra và được biết với tên là Gahvaratìriya,
phát triển thiền quán, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán.
Rồi ngài đi đến đảnh lễ đức Phật ở Sàvatthi, các bà
con ngài nghe tin ngài đến, liền cúng dường ngài rất nhiều.
Khi ngài muốn trở lui lại khu rừng, các bà con ngăn lại,
nói rằng núi nhiều muỗi và ruồi lằng rất khó sống. Ngài
trả lời đời sống rừng núi thích hợp với ngài và ngài
nói lên chánh trí của ngài với bài kệ:
31.
Trong núi rừng rộng lớn,
Bị
muỗi lằng đốt cắn,
Như
voi đầu chiến trận,
Tại
đấy sống chánh niệm.
(XXXII)
Suppiya (Thera. 6)
Trong
thời đức Phật tại thế, do nghiệp quá khứ, ngài được
sanh trong gia đình người giữ nghĩa địa ở Sàvatthi. Ðược
bạn Sopàka thuyết pháp cảm hóa, ngài xuất gia và chứng được
quả vị cao nhất, và trong bài kệ, ngài nói lên chánh trí
của ngài khi đang phấn đấu để chứng quả A-la-hán.
32.
Bị già, được không già,
Bị
nung nấu, được tịnh,
Mong
rằng ta sẽ được
Tịch
tịnh thật tối thượng,
An
ổn thật vô thượng,
Thoát
khỏi các khổ ách.
(XXXIII)
Soopaka, Một Tỷ-Kheo Trẻ Con (Thera. 6)
Ngài
sanh trong thời đức Phật hiện tại ở Sàvatthi, từ một
người đàn bà rất nghèo khổ. Khi bà mẹ đau đẻ, bà bất
tỉnh và người ta tưởng bà đã chết nên đem thân bà đi
thiêu. Một phi nhân không cho lửa đốt cháy, làm mưa làm gió
và những người thiêu thân bỏ đi. Ðứa con trẻ được sanh
mạnh khỏe, còn người mẹ bị chết. Vị phi nhân hóa làm
người, bế đứa con và bỏ trong nhà người giữ nghĩa địa,
nuôi đứa con trong một thời gian với đồ ăn thích hợp.
Sau đó, người giữ nghĩa địa nhận làm con nuôi, và Sopàka
lớn lên với Suppiya, con trai nhỏ của người giữ cửa. Vì
ngài sanh ở nghĩa địa, nên đặt tên là Sopàka. Khi ngài bảy
tuổi, Thế Tôn với thiên nhãn thanh tịnh, vào buổi sáng,
nhìn xem những ai có thiện căn tốt lành, thấy Sopàka và đi
đến nghĩa địa. Sopàka được nghiệp duyên đời trước,
đi đến Thế Tôn với tâm tư hoan hỷ và đảnh lễ Thế Tôn,
Thế Tôn thuyết pháp và Sopàka xin xuất gia. Sau khi được
phép người cha nuôi, Sopàka xuất gia và được dạy tình thương
huynh đệ làm đề tài tu hành. Sopàka lấy đề tài này và
sống ở nghĩa địa và chứng được cảnh giới thiền tương
đương. Lấy cảnh giới thiền làm đề tài căn bản, ngài
triển khai thiền quán và chứng được quả A-la-hán. Sau khi
chứng quả, ngài làm bài kệ, trong ấy ngài nêu cho các Tỷ-kheo
rõ đề tài tình thương anh em, không có phân biệt người
thân kẻ sơ. Với tất cả, tình thương phải là một, bao
trùm mọi cảnh giới, mọi chúng sanh mọi thời gian:
33.
Như người mẹ tốt lành
Thương
người con độc nhất,
Cũng
vậy đối chúng sanh,
Ðủ
mọi loài, mọi chỗ,
Hãy
có lòng tốt đẹp,
Thương
mến và từ ái.
(XXXIV)
Posiya (Thera. 6)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một triệu phú
ở Sàvatthi, là em trai của Trưởng lão Sangàmaji. Khi lớn lên,
ngài lập gia đình. Khi sanh được đứa con trai, do nghiệp
duyên đời trước, ngài cảm thấy lo lắng trước vấn đề
sống chết, nên ngài xuất gia, sống một mình trong rừng và
tu tập đề tài bốn sự thật. Sau một thời gian, ngài chứng
quả A-la-hán.
Rồi
ngài đi đến Sàvatthi để đảnh lễ Thế Tôn và về thăm
lại nhà cũ, người vợ cũ cúng dường ngài và muốn cám
dỗ ngài sống lại đời sống cũ, ngài biết được dụng
ý của vợ ngài nên cáo lui và về lại trong rừng, các bạn
đồng tu hỏi vì sao ngài về sớm như vậy, ngài kể lại
câu chuyện đã xảy ra và nói lên bài kệ:
34.
Không gần là tốt đẹp,
Kẻ
trí thường biết vậy,
Từ
làng đi đến rừng,
Từ
rừng, ta vào nhà,
Từ
đấy, đứng dậy đi,
Không
đoái hoài Bô-syà.
(XXXV)
Sàmannakàni (Thera. 6)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một du sĩ và
xuất gia theo đức Phật. Khi thấy đức Phật hóa hiện thần
thông song hành; và nhờ thiền, ngài chứng quả A-la-hán.
Lúc
bấy giờ, một du sĩ tên Kàtiyàna, ngài quen khi còn là cư
sĩ, du sĩ này mất hết sự ủng hộ của giới cư sĩ từ
khi đức Phật được mọi người qui ngưỡng, và trở thành
khốn cùng. Kàtiyàna đến ngài và yêu cầu ngài ủng hộ để
được hạnh phúc đời này đời sau, ngài đáp: 'Hạnh phúc
không liên hệ đến đời và chỉ những người hiểu biết
quá trình tu chứng mới hưởng sự an lạc thuần nhất này'.
Và ngài nói lên bài kệ để chứng minh sự thành đạt của
ngài:
35.
Kẻ tìm lạc, được lạc,
Nếu
sở hành đúng đắn,
Lại
thêm được kính trọng,
Danh
vọng được tăng trưởng.
Ai
tu tập chánh trực,
Con
đường Thánh tám ngành,
Ðây
là đường lộ trình,
Ðạt
đến cảnh bất tử.
(XXXVI)
Con Của Kunmà (Thera. 6)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở xứ Anvanti
thành Velukanda, và được đặt tên là Nanda. Nhưng vì mẹ tên
Kumà nên ngài được gọi là con của Kumà. Khi nghe Tôn giả
Sàriputta thuyết pháp, ngài xuất gia và tu tập trên sườn
đồi. Nhưng chỉ sau khi nghe đức Phật thuyết pháp và sửa
lại phương pháp tu tập, ngài mới chứng quả A-la-hán. Khi
đã trở thành A-la-hán, ngài thấy các Tỷ-kheo khác quá lo
cho thân thể, nên ngài dùng bài kệ để hướng dẫn họ theo
Chánh pháp:
36.
Lành thay, điều được nghe!
Lành
thay, hạnh phúc sống!
Lành
thay, thường an trú!
Ðời
sống kẻ không nhà.
Tìm
hỏi nghĩa Chánh pháp,
Làm
các hạnh cung kính,
Ðấy
là hạnh Sa-môn,
Của
bậc Vô sở hữu.
(XXXVII)
Bạn Của Con Kumà (Thera. 6)
Ngài
được sanh trong thời đức Phật hiện tại, tại thành Velukanda,
trong một gia đình giàu có tên Sudanta. Có người nói ngài
tên là Vasulokì. Ngài trở thành bạn thân với con của Kumà.
Khi con của Kumà xuất gia, ngài nghĩ đạo của con Kumà không
thể là đạo tầm thường nên đến nghe bậc Ðạo Sư thuyết
pháp. Nghe xong, ngài cảm thấy nhiều xúc động và xuất gia.
Ngài cùng an trú với con của Kumà trên sườn đồi để tu
hành.
Trong
lúc ấy, nhiều Tỷ-kheo bộ hành nhiều địa phương, đều
an trú tại chỗ hai vị này và tạo nên cảnh ồn ào. Sudanta,
tâm thiền định bị chi phối, lấy sự kiện này làm đề
tài để tinh tấn tu hành và nói lên bài kệ này:
37.
Bộ hành nhiều xứ sở,
Với
hạnh không suy tưởng,
Thiêu
đốt phần thiền định,
Ði
khắp xứ làm gì?
Do
vậy, ngăn vọng động,
Không
vọng hướng, hãy thiền.
(XXXVIII)
Gavampati (Thera. 6)
Ngài
được sanh trong thời đức Phật hiện tại, ngài là một
trong bốn người bạn của Yasa (Da-xá). Khi họ nghe Yasa xuất
gia, tất cả đều xuất gia và chứng quả A-la-hán. Rồi ngài
sống ở rừng Anjana tại Sàkela, và hưởng lạc giải thoát.
Khi bấy giờ, Thế Tôn đến với một số đông Tỷ-kheo tại
Anjana. Chỗ ngủ không đầy đủ và một số Tỷ-kheo ngủ
xung quanh tinh xá, trên bãi cát sông Sarabhà. Nửa đêm, nước
sông dâng lên và các Tỷ-kheo trẻ la lớn. Thế Tôn nghe vậy,
bảo Gavampati can thiệp, ngăn sông không cho dâng cao, khiến
các Tỷ-kheo yên tâm. Vị Trưởng lão với thần túc thông
của mình, làm theo lời Phật dạy, dừng dòng sông lại từ
xa, khiến dòng sông dựng đứng lại như ngọn núi, do vậy
ngài được mọi người biết là có thần thông. Một ngày
kia, Thế Tôn đang thuyết pháp giữa một số đông người,
thấy Gavampati vì lòng từ bi nghĩ đến đời, đức Phật tán
thán các hạnh của Gavampati với bài kệ:
38.
Ai với thần túc thông,
Dựng
đứng Sarabhu,
Chính
Gavampati,
Không
ỷ lại, không động,
Vượt
qua mọi trói buộc,
Chư
Thiên đều đảnh lễ,
Bậc
Ðại sĩ Mâu-ni
Ðã
vượt qua sanh hữu.
(XXXIX)
Tissa (Thera. 6)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Kapilavatthu,
con người dì của đức Phật và được đặt tên là Tissa.
Ngài xuất gia theo đức Phật, sống tại một lâm trại và
tự phụ với địa vị của mình, tánh hay nóng nảy bất thường,
vì vậy ngài không làm bổn phận của mình được hăng hái.
Rồi
bậc Ðạo Sư, với thiên nhãn thấy ngài đang ngủ há miệng
liền hiện đến trước ngài, thức ngài dậy với bài kệ:
39.
Như bị kiếm chém xuống,
Như
bị lửa cháy đầu,
Vị
Tỷ-kheo xuất gia,
Chánh
niệm, đoạn tham dục.
(XL)
Vaddhamàna (Thera. 7)
Ngài
sanh ở Vesàli, trong gia đình một vị vua Licchavì, ngài trở
thành một thiếu niên có tín tâm và phục vụ Tăng chúng.
Về sau, khi đã xuất gia, ngài trở thành biếng nhác và được
Như Lai khích lệ với bài kệ:
40.
Như bị kiếm chém xuống,
Như
bị lửa cháy đầu,
Vị
Tỷ-kheo xuất gia,
Chánh
niệm, đoạn tham hữu.
Phẩm
Năm
(XLI)
Sirivaddka (Thera. 7)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
trong nhà một Bà-la-môn giàu có. Khi vua Bimbisàra gặp bậc
Ðạo Sư, do nghiệp duyên đời trước, ngài xuất gia, đi đến
một ngọn núi gần Vebhàra và Pandava, và trú tại chỗ ấy,
chuyên hành tu tập.
Một
hôm, một cơn giông tố lớn nổi lên và sét đánh vào hang,
nhưng nhờ gió lớn của các đám mây, làm nhẹ bớt sức nóng
đang đè nặng trên ngài, nhờ vậy với một nhiệt độ thích
hợp, ngài có thể thiền định, thiền quán và cuối cùng
chứng quả A-la-hán. Với bài kệ nói lên chánh trí của mình,
ngài thốt lên những lời như sau:
41.
Giữa đồi Vebhara,
Giữa
đồi Pandava,
Sét
đánh vào cửa hang,
Ðứa
con bậc Vô tỷ,
Như
vậy, vẫn ngồi thiền.
(XLII)
Khadira - Vaniya (Thera. 7)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở nước Magadha (Ma-kiệt-đà)
tại làng Nàlaka, con của nữ Bà-la-môn Rùpasàrì. Khi ngài
lớn lên, mẹ ngài muốn ngài lập gia đình, nhưng khi nghe Sàriputta
xuất gia, ngài bắt chước Sàriputta, đến các Tỷ-kheo xin
được thọ giới, tự xưng là em trai của Sàriputta. Khi ngài
chứng quả A-la-hán tại rừng cây xương rồng, ngài đi đến
Sàvatthi (Xá-vệ) để đảnh lễ Thế Tôn, và ở lại một
vài ngày tại tịnh xá Jetavana (Kỳ Viên).
Rồi
Thế Tôn, ngồi giữa đại chúng Tỷ-kheo, xác nhận ngài là
Tỷ-kheo ở rừng đệ nhất.
Một
thời khác, ngài đi đến làng sanh quán, đem ba người cháu
trai là con trai của ba người chị Càlà, Upacàlà, Sisùpacàlà,
cũng tên là Càlà, Upacàlà và Sisùpacàlà cho chúng xuất gia.
Một hôm ngài bị ốm và Sàriputta đi đến thăm, Revata muốn
dạy cho ba người cháu chớ có phóng dật, nên khi thấy Sàriputta
từ xa đến, bèn nói lên bài kệ:
42.
Hỡi này cháu Càlà,
Này
Upacàlà,
Sisùpacàlà,
Hãy
sống, trú chánh niệm,
Vị
đang đến các con,
Như
vị bắn chẻ tóc.
(XLIII)
Sumangala (Thera. 7)
Ngài
sanh ở tại một làng nhỏ, gần Sàvatthi, trong một gia đình
nghèo khó. Lớn lên, ngài tự nuôi sống giữa đồng ruộng,
với cái liềm, cái cuốc và cái cày. Một hôm vua Pasenadi cúng
dường đức Phật với chư Tăng và ngài đi đến. đem theo
sữa và bơ cùng với các người làm công khác. Khi thấy các
Tăng, Ni được cung kính cúng dường, ngài nghĩ các Tăng, Ni
này sống trong các nhà cửa được che kín và mặc các y phục
tốt đẹp và ngài xin xuất gia để hưởng những tiện nghi
này. Một Trưởng lão Tăng vì lòng từ chấp nhận ngài được
xuất gia, cho ngài một đề tài tu hành và bảo ngài đi vào
rừng để tu tập. Nhưng trong hạnh độc cư, ngài cảm thấy
buồn bã chán nản và đi về lại làng của mình. Khi về,
ngài thấy các dân quê cày bừa với áo quần nhớp nhúa, đầy
bụi bặm và bị nóng bức. Thấy vậy, ngài trở lại tu tập,
đi đến dưới gốc cây, tu tập thiền định, sống cô độc,
phát triển thiền quán. Cuối cùng, ngài chứng được quả
A-la-hán. Ðể nói lên sự giải thoát khỏi nỗi khổ cuộc
đời, ngài thốt lên bài kệ này:
43.
Khéo thoát! Ôi khéo thoát!
Thật
sự ta khéo thoát,
Thoát
ba sự cong queo,
Ta
thoát cong với liềm,
Ta
thoát cột với cày,
Ta
thoát cực với cuốc,
Nếu
có đây, có đây,
Thật
đủ chán, đủ chán,
Hỡi
Sumangala!
Hỡi
Sumangala!
Hãy
thiền, hãy thiền định!
Hỡi
Sumangala!
Hãy
sống không phóng dật.
(XLIV)
Sànu (Thera. 7)
Trong
thời đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ) trong
gia đình một cư sĩ, sau khi người cha đã từ bỏ gia đình.
Bà mẹ, đặt tên ngài là Sànu, khi ngài lên bảy tuổi, được
đưa đến ở với các Tỷ-kheo, nghĩ rằng như vậy con mình
được sống hạnh phúc. Rồi Sànu trở thành một vị học
hành giỏi, một vị pháp sư, thiền sư với lòng từ bi, được
chư Thiên và loài Người ái kính. Trong đời trước, mẹ ngài
là một nữ Dạ-xoa. Sau một thời gian, ngài mất sự sáng
suốt, sống sầu khổ và muốn đi lang thang đây đó. Bà mẹ
Dạ-xoa của ngài thấy vậy liền báo động với bà mẹ hiện
tại và bảo bà khích lệ con bà phải tinh tấn, và đọc lại
lời nói của các Yakkhà (Dạ-xoa):
Chớ
có làm điều ác,
Công
khai hay bí mật,
Nếu
người làm điều ác,
Sẽ
làm hay đang làm,
Người
không thoát khổ đau,
Dầu
có đứng lên chạy.
Nói
như vậy xong, người mẹ Dạ-xoa biến mất, nhưng người mẹ
hiện tại, nghe vậy rất lấy làm sầu khổ. Rồi Sa-di Sànu
cầm y và bát đến thăm bà mẹ rất sớm. Thấy mẹ sầu muộn,
ngài hỏi và được bà mẹ trả lời lý do, ngài nói bài kệ:
44.
Thưa mẹ, người ta khóc,
Khóc
vì người đã chết,
Hay
có khóc người sống,
Khi
sống, không được thấy,
Thưa
mẹ, con đang sống,
Và
mẹ đang thấy con,
Vậy
vì sao, thưa mẹ,
Mẹ
lại khóc cho con?
Bà
mẹ trả lời, từ những lời trong kinh: 'Ðây là sự chết,
này các Tỷ-kheo trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự
từ bỏ học giới và hoàn tục', và nói bài kệ như sau:
Người
ta khóc cho con,
Là
khóc cho con chết,
Hay
khóc cho con sống,
Nhưng
không được thấy mặt.
Ai
đã bỏ dục vọng,
Lại
trở lui đời này,
Này
con, người ta khóc,
Là
khóc cho người ấy,
Vì
người ấy được xem,
Còn
sống cũng như chết,
Này
con, được kéo ra,
Khỏi
than hầm lửa rực,
Con
còn muốn rơi vào,
Ðống
than hồng ấy chăng?
Khi
ngài nghe vậy, Sa-di Sànu lấy làm xấu hổ sầu muộn, và tinh
tấn phát triển thiền quán, không bao lâu ngài chứng quả
A-la-hán. Suy nghĩ rằng ngài chiến thắng là nhờ những bài
kệ này, nên lấy những bài kệ ấy thành những bài kệ của
ngài.
(XLV)
Ramnìyavihàrim (Thera. 7)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
con một công dân có tên tuổi và sống đời sống tuổi trẻ
trác táng. Một hôm, ngài thấy các quân lính nhà vua bắt một
người thông dâm, ngài sanh tâm dao động, nghe lời Phật dạy
và xuất gia. Là Tỷ-kheo, ngài vẫn còn những ái dục về
thân, ngài sắp đặt phòng ngài thật đầy đủ bàn ghế,
đầy đủ đồ ăn, đồ uống, đồ nằm và sống như vậy.
Do vậy, ngài được tên là Ramanìyavihìrim (người sống trong
lạc dục). Nhưng đời sống cũ của ngài làm ngài khó sống
đời sống Tỷ-kheo, ngài cảm thấy không xứng đáng để
nhận đồ cúng dường, ngài bỏ đi, bộ hành lang thang đó
đây. Trên đường đi, khi ngồi nghỉ dưới gốc cây, ngài
thấy các xe bò đi ngang qua, một con bò vì mệt mỏi nên vấp
ngã, người đánh xe cởi dây cho con bò, cho nó rơm và nước,
và làm cho nó đỡ mệt, xong lại cột con bò vào xe và bắt
nó kéo xe đi. Ngài suy nghĩ: 'Con bò này đã vấp ngã nhưng
đã đứng dậy và kéo đi gánh nặng của mình. Vậy ta phải
tinh tấn, sau khi rơi vào rừng nhục dục, cần phải đứng
dậy và làm tròn bổn phận của người tu hành'. Rồi ngài
trở về, kể lại câu chuyện cho Trưởng lão Upàli và được
Upàli chấp nhận cho sám hối các lỗi lầm, và giúp ngài trở
lại nếp sống chơn chánh. Không bao lâu, ngài chứng quả A-la-hán.Về
sau, hưởng thọ an lạc giải thoát, ngài nói lên sai lầm của
ngài, và sự trở lui lại nếp sống chơn chánh trong bài kệ
này:
45.
Như con thú hiền thiện,
Giống
tốt, huấn luyện khéo,
Sau
khi đã vấp ngã,
Lại
đứng lên, an trú,
Ta
đầy đủ chánh kiến,
Ðệ
tử bậc Chánh giác.
(XLVI)
Samiddhi (Thera. 7)
Ngài
sanh ra trong đời đức Phật hiện tại, ở Rajagaha (Vương
Xá) con một gia đình quí tộc. Từ khi sanh ngài, tài sản của
gia đình được tăng trưởng, ngài lại đẹp trai, có giới
hạnh và được đặt tên là Samiddhi (thịnh vượng), ngài
chứng kiến sức mạnh của bậc Ðạo Sư khi gặp vua Bình
Sa (Bimbisàra), khởi lên lòng tin, xuất gia, tinh tấn tu thiền.
Khi đức Phật sống ở vườn Tapoda, Samiddhi đang cảm thấy
an lạc được sống hạnh Tỷ-kheo, thời Ác-ma hiện ra quấy
phá, phát ra tiếng động như quả đất nổ tung. Ngài thưa
với đức Phật và đức Phật khuyên nên bình tĩnh, vẫn kiên
trì tu tập và đừng nghĩ đến vấn đề ấy nữa. Ngài vâng
theo và không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Ác-ma không biết
sự kiện ấy, Ác-ma lại tạo nên một tiếng động kinh khủng,
nhưng ngài không có sợ hãi, ngài nói lên chánh trí của ngài
với bài kệ như sau:
46.
Ta với lòng tín ngưỡng,
Bỏ
gia đình, xuất gia,
Niệm
tuệ ta tăng trưởng,
Tâm
tư ta thiền định,
Dầu
ngươi tạo sắc gì,
Không
làm ta sợ hãi.
(XLVII)
Ujiaya (Thera. 8)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Rajagaha (Vương Xá),
con một Bà-la-môn theo truyền thống. Lớn lên và giỏi về
ba tập Vệ-đà, ngài thấy không có cốt tủy, với nghiệp
lành chín muồi, ngài đi đến rừng Trúc nghe Thế Tôn giảng
và xuất gia, thiền tư về giới hạnh trong rừng, không bao
lâu ngài chứng quả A-la-hán. Rồi ngài đi đến Thế Tôn đảnh
lễ ngài, ngồi xuống một bên, tán thán Thế Tôn, ngài nói
lên bài kệ đề cập đến chánh trí của ngài:
47.
Ðảnh lễ Phật, anh hùng,
Ngài
giải thoát mọi chỗ,
Trong
nếp sống của ngài,
Gồm
cả phần giáo điển,
Con
sống không lậu hoặc,
Không
còn bị trói buộc.
(XLVIII)
Sanjaya (Thera. 8)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
con một Bà-la-môn giàu có. Khi lớn lên, ngài theo gương Brahmàya,
Pokkhanrasàti và các vị Bà-la-môn danh tiếng khác, các vị
này khởi lòng tin bậc Ðạo Sư và chứng được Sơ quả.
Về sau, ngài xuất gia và chứng được sáu thắng trí. Nói
lên chánh trí, ngài dùng bài kệ này:
48.
Từ khi ta xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Ta
không có tư duy,
Những
tư tưởng phàm phu,
Những
tư niệm phi thành,
Liên
hệ đến sân hận.
(XLIX)
Ràmaneyyaka (Thera. 8)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ)
con một gia đình giàu có. Tâm ngài rất xúc động khi Jetavana
(Kỳ Viên) được dâng cúng đức Phật và ngài xuất gia. Sống
trong rừng, ngài thiền quán về giới hạnh, vì quả chứng
và hạnh dễ thương của ngài, ngài được gọi là Ràmaneyyaka
(hạnh khả ái, dễ thương).
Một
hôm, Ác-ma muốn phá hoại ngài, đã phát ra một tiếng động
rất lớn, ngài dùng bài kệ nói lên sự không xúc động của
mình.
49.
Dầu tiếng người hò hét,
Tiếng
náo động chim muông,
Tâm
ta không dao động,
Ta
ưa thích độc cư.
Bài
kệ này trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài.
(L)
Vimala (Thera. 8)
Trong
thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Ràjagaha (Vương Xá),
từ một gia đình giàu có. Do hạnh nguyện đời trước, ngài
có một thân thể thật trong sạch như giọt sương trên lá
sen, bởi vậy, được tên là Vimala. Khi lớn lên ngài khởi
tín tâm khi gặp được dức Phật ở Ràjagaha, rồi ngài xuất
gia, tìm một đề tài học tập, đến ở trong một hang núi
ở Kosala.
Một
hôm trời chuyển giông, mưa rơi xuống, làm nhẹ bớt sức
nóng, ngài có thể định tâm, chứng được quả A-la-hán.
Sung sướng với quả chứng của mình, ngài thốt lên bài kệ
này:
50.
Ðất, nước mưa ướt thấm,
Gió
thổi mát không gian,
Trên
trời, chớp vạch đường,
Tư
tưởng ta lắng dịu,
Tâm
ta thật định tĩnh.
Bài
kệ này trở thành lời tuyên bố chánh trí của ngài.