Phẩm II.a
Phẩm Ubbari
1.
(13) Chuyện Người Tìm Giải Thoát Vòng Luân Hồi (Samsàmocaka)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Veluvana (Trúc
Lâm)
Thuở
ấy, trong làng Itthakàvati ở nước Magadha và làng Dìgharàji
có nhiều người mang nặng tà kiến, muốn tìm giải thoát
vòng luân hồi sanh tử. Trước đó có một nữ nhân được
tái sanh và một gia đình như vậy. Vì giết hại nhiều gián,
dế và châu chấu, khi từ trần, bà tái sanh làm ngạ quỷ,
chịu mọi nỗi khổ đói khát giày vò suốt năm trăm năm.
Thời
đức Thế Tôn Gotama đang ở tại Ràjagaha, nữ nhân ấy một
lần nữa tái sanh vào cùng gia đình như trước kia tại Itthakàvati.
Một hôm, khi nàng đang chơi đùa cùng các cô gái khác trên
đường cái gần cổng làng, thì Tôn giả Sàriputta cùng mười
hai Tỷ-kheo khác đi ngang qua và các cô gái kia vội vàng đảnh
lễ. Nhưng cô này vẫn đứng yên tại chỗ một cách vô lễ.
Sau đó vị Trưởng lão suy xét quá khứ và tương lai của
cô, động lòng thương xót, phê bình thái độ của cô với
các cô kia. Họ liền nắm tay cô và kéo cô đến đảnh lễ
chư vị.
Về
sau, cô gái từ trần lúc sanh con và lại tái sanh giữa loài
ngạ quỷ. Ban đêm, nữ ngạ quỷ ấy xuất hiện trước Tôn
giả Sàriputta, vị ấy thấy nó liền hỏi:
1.Trần
truồng và xấu xí hình dung,
Gầy
guộc và thân thể nổi gân,
Ngươi
yếu ớt, xương sườn lộ rõ,
Người
là ai, hiện đến đây chăng?
Nữ
ngạ quỷ đáp:
2.
Tôn giả, con là ngạ quỷ nương,
Thần
dân khốn khổ của Diêm Vương,
Vì
con đã phạm hành vi ác,
Con
đến cõi ma đói ẩn thân.
Tôn
giả Sàriputta:
3.
Ngày xưa ngươi phạm ác gì
Do
thân, khẩu, ý thân đã thực thi,
Vì
hạnh nghiệp nào, ngươi đã đọa
Từ
đây đến cảnh giới âm ty?
Nữ
ngạ quỷ:
4.
Tôn giả, con không có họ hàng,
Mẹ
cha, quyến thuộc để khuyên lơn:
'Này
con, hãy có tâm thành kính
Với
các Sa-môn, hãy cúng dường'.
5.
Ngũ bách niên từ đó đến đây,
Con
lang thang với tấm thân này,
Trần
truồng, đói khát luôn hành hạ,
Ðây
quả do nhiều ác nghiệp gây.
6.
Kính bái hiền nhân với tín tâm
Bạch
ngài đại lực, xót thương con,
Cúng
dường lấy đức cho con hưởng,
Giải
thoát con từ cảnh khổ thân.
Chư
vị kết tập Kinh điển kể tiếp chuyện này:
7.
Chấp thuận với lời: 'Ðược lắm thay!'
Vì
lòng bi mẫn cõi đời này,
Cúng
dường Tăng chúng phần cơm nhỏ,
Một
mảnh y cùng chén nước đầy,
Xá-lợi-phất
Tôn nhân phát nguyện
Dành
cho ngạ quỷ phước phần này.
8.
Lập tức ngay sau lễ cúng dâng,
Phước
phần hồi hướng đến vong nhân,
Ðây
là kết quả từ công đức:
Thức
uống, thức ăn, lẫn áo quần.
9.
Sáng ngời, y phục thật thanh tân,
Tơ
lụa Ba-la-nại tuyệt trần,
Mang
đủ nữ trang và kiểu áo,
Ðến
gần Xá-lợi-phất Tôn nhân.
Tôn
giả Sàriputta hỏi:
10.
Hỡi nàng Thiên nữ, dáng siêu phàm
Ðang
chiếu mười phương sáng rỡ ràng,
Thiên
nữ, sắc nàng trông chói lọi,
Như
vì sao cứu hộ trần gian.
11.
Dung sắc này do nghiệp quả nào,
Phước
phần nàng hưởng bởi vì sao,
Bất
kỳ lạc thú nào yêu chuộng
Trong
dạ, nàng đều thỏa ước ao?
12.
Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Vẻ
huy hoàng chiếu khắp mười phương?
Nữ
ngạ quỷ đáp:
13.
Trước con hình vóc chỉ trơ xương,
Gầy
guộc, đói cơm, lại ở truồng,
Da
dẻ nhăn nheo, nhờ Giác giả
Từ
bi nhìn cảnh ngộ đau thương.
14.
Khi ngài ban tặng chủng hiền Tăng
Một
mảnh y vàng, một miếng ăn,
Và
chén nước kia, ngài đã chuyển
Phước
phần công đức đến cho con.
15.
Hãy nhìn kết quả của phần ăn:
Lạc
thú mà con vẫn ước mong,
Con
được cả ngàn năm thọ hưởng
Thức
ăn đầy đủ các mùi hương.
16.
Hãy nhìn kết quả phát sinh ra
Từ
một mảnh trong chiếc áo kia:
Y
phục giờ đây đầy đủ loại
Khác
nào quốc độ chúa Nan-da.
17.
Tôn giả, nay con có biết bao
Áo
quần, mền đắp thật dồi dào,
Bằng
tơ lụa với lông loài vật,
Ðủ
loại vải dày mỏng đẹp sao.
18.
Sung mãn và cao quý tuyệt vời,
Chúng
treo lơ lửng ở trên trời,
Con
mang tùy ý, thưa Tôn giả,
Bất
cứ loại nào thích thú thôi.
19.
Hãy nhìn kết quả tạo nên phần
Từ
chén nước trong đã cúng dâng:
Có
bốn hồ sen sâu thẳm thẳm
Ðược
xây dựng khéo léo vô ngần.
20.
Bến bờ xinh đẹp, nước trong xanh,
Nhè
nhẹ hương thơm, dịu mát lành,
Bao
phủ toàn sen xanh, đỏ thắm,
Tràn
đầy ngó súng mọc chung quanh.
21.
Phần con an hưởng thú vui chơi,
Chẳng
sợ gì đâu bốn góc trời,
Tôn
giả, nay con về cõi đất
Ðể
con đảnh lễ đấng thương đời.
2.
(14) Chuyện Mẹ Của Trưởng Lão Sàriputta (Sàriputtatheramàtu)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Veluvana (Trúc
Lâm).
Một
hôm, các Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất), Mahà-Moggallàna
(Ðại Mục-kiền-liên), Anurudha (A-na-luật-đà) và Kapppina (Kiếp-tân-na)
đang trú tại một nơi trong khu rừng không xa thành Ràjagaha
(Vương Xá).
Bấy
giờ ở Benares (Ba-la-nại) có một Bà-la-môn đại phú gia,
vốn là một giếng nước đầy đối với các Sa-môn, Bà-la-môn,
đám dân nghèo, du sĩ, lữ khách, hành khất; vị ấy cúng dường
bố thí thực phẩm, y phục, sàng tọa và nhiều vật dụng
khác.
Vị
ấy điều hành sinh hoạt của mình và bố thí tùy theo cơ
hội phù hợp với các khách vãng lai, đủ mọi vật cần thiết
cho tuyến đường trường. Vị ấy thường dặn bà vợ:
- Này
bà, đừng quên việc bố thí này, bà phải chuyên tâm chăm
lo bố thí như đã được định đoạt.
Bà
vợ đồng ý, nhưng khi ông ra đi, bà liền cắt giảm tục
lệ cúng dường chư Tăng. Hơn nữa, đối với đám lữ khách
đến xin cư trú, bà chỉ vào túp lều xiêu vẹo bị bỏ phế
đằng sau nhà và bảo họ:
- Hãy
ở lại đó.
Khi
đám du sĩ đến xin thực phẩm nước uống và các thức khác,
bà thường buông lời nguyền rủa, kể ra cho từng người
bất cứ vật gì ô uế đáng ghê tởm và bảo:
- Hãy
ăn phân đi! Hãy uống nước tiểu đi! Hãy uống máu đi! Hãy
ăn óc mẹ ngươi đi!
Do
nghiệp lực trói buộc, lúc từ trần, bà tái sanh làm nữ
ngạ quỷ chịu nỗi khốn cùng phù hợp với ác hạnh của
bà. Khi nhớ lại đám quyến thuộc trong tiền kiếp, bà ước
mong đến gần Tôn giả Sàriputta, và bà liền đến nơi ngài
cư trú.
Các
vị thổ thần trong nhà ngài không chấp nhận cho nữ quỷ
vào. Do đó nữ quỷ nói như sau:
- Trong
kiếp thứ năm kể về trước, ta là mẹ của Tôn giả Trưởng
lão Sàriputta, hãy cho phép ta vào cửa để thăm ngài.
Vừa
nghe vậy, chư thần liền cho phép nữ quỷ.
Khi
nữ quỷ vào trong, nữ quỷ đứng cuối am thất và thấy ngài.
Chợt trông thấy nữ quỷ, ngài động lòng từ bi liền hỏi
nữ quỷ:
1.
Trần truồng và xấu xí hình dung,
Gầy
guộc và thân thể nổi gân,
Ngươi
yếu ớt, xương sườn lộ rõ,
Người
là ai, hiện đến đây chăng?
Nữ
ngạ quỷ đáp:
2.
Tôn giả, xưa ta mẹ của ngài,
Trong
nhiều kiếp trước ở trên đời,
Tái
sanh cảnh giới loài ma quỷ,
Ðói
khát giày vò mãi chẳng thôi.
3.
Những thứ gì nôn tháo, bọt mồm,
Nước
mũi tuôn ra, nước dãi đờm,
Chất
mỡ rỉ ra từ xác chết
Bị
thiêu, máu sản phụ lâm bồn.
4.
Máu chảy ra từ các vết thương,
Hoặc
từ đầu, mũi bị cưa ngang,
Những
gì cấu uế trong nam nữ,
Ðói
lả, ta đều phải lấy ăn.
5.
Máu mủ ta ăn của các loài,
Và
luôn máu mủ của con người,
Không
nơi cư trú, không nhà cửa,
Nằm
chiếc giường đen nghĩa địa hoài.
6.
Tôn giả, xin Tôn giả cúng dường,
Vì
ta, ngài bố thí ban ân,
Ðể
cho ta hưởng phần công đức,
Giải
thoát ta từ máu, mủ, phân.
Ngày
hôm sau, Tôn giả Sàriputta cùng ba vị Tỷ-kheo kia khất thực
trong thành Vương Xá, đến tận cung Ðại vương Bimbisàra (Tần-bà-sa).
Nhà
vua hỏi:
- Chư
Tôn giả, tại sao chư vị đến đây?
Tôn
giả Mahà-Moggallàna trình vua những việc đã xảy ra. Nhà vua
phán:
- Chư
Tôn giả, trẫm chấp thuận việc ấy.
Nhà
vua bảo chư vị ra đi, triệu vị cận thần vào và truyền
lệnh:
- Hãy
xây trong khu rừng của thành này bốn am thất được cung cấp
đủ bóng mát và nước chảy.
Khi
các am thất đã được hoàn tất, nhà vua đem chúng cùng các
vật dụng cần thiết trong cuộc sống cúng dường Trưởng
lão Sàriputta. Sau đó vị ấy dâng tặng lễ vật này lên Tăng
chúng khắp thế gian do đức Phật làm thượng thủ và hồi
hướng công đức ấy đến nữ ngạ quỷ kia.
Nữ
ngạ quỷ hưởng các lợi lạc này liền được tái sanh lên
thiên giới. Bấy giờ đầy đủ mọi thứ cần dùng, một
hôm Thiên nữ đến gần Tôn giả Mahà-Moggallàna và kể cho
vị ấy nghe tất cả mọi chi tiết trong hai kiếp tái sinh làm
ngạ quỷ và Thiên nữ.
Do
đó, chuyện kể rằng:
7.
Khi nghe mẹ đã nói gần xa,
Thương
xót, ngài U-pa-tis-sa,
Triệu
tập Mục-kiền-liên đại lực,
Cùng
A-na-luật, Kiếp-tân-na.
8.
Khi đã làm xong bốn cái am,
Ngài
dâng lễ cúng tứ phương Tăng,
Am
tranh, thực phẩm và hồi hướng
Công
đức về cho mẹ hưởng phần.
9.
Lập tức ngay sau lễ cúng dâng,
Phước
phần hồi hướng đến vong nhân,
Ðây
là kết quả từ công đức:
Thức
uống, thức ăn, lẫn áo quần.
10.
Xiêm y thanh lịch hiện dần ra,
Ðệ
nhất Ba-la-nại lụa là,
Tô
điểm ngọc vàng, nhiều kiểu áo,
Ðến
gần Tôn giả Ko-li-ta.
Tôn
giả Mahà-Moggallàna hỏi:
11.
Hỡi nàng Thiên nữ, dáng siêu phàm
Ðang
chiếu mười phương sáng rỡ ràng,
Thiên
nữ, sắc nàng trông chói lọi,
Như
vì sao cứu hộ trần gian.
12.
Dung sắc này do nghiệp quả nào,
Phước
phần nàng hưởng bởi vì sao,
Bất
kỳ lạc thú nào yêu chuộng
Trong
dạ, nàng đều thỏa ước ao?
13.
Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Vẻ
huy hoàng chiếu khắp mười phương?
Thiên
nữ đáp:
14.
Xá-lợi-phất Tôn giả cúng dường,
Nhờ
đây, con hạnh phúc hân hoan,
Bốn
phương con chẳng hề kinh hãi,
Tôn
giả chính là bậc xót thương
Khắp
cõi trần gian, thưa Giác giả,
Con
về đây kính lễ tôn nhan.
3.
(15) Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Mattà (Mattà)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong khi đang trú tại Jetavana (Kỳ
Viên).
Thuở
ấy tại Sàvatthi (Xá-vệ) có một vị địa chủ đầy tín
tâm và đạo hạnh. Tuy thế, bà vợ Mattà lại không có lòng
tin, không mộ đạo, bản tính hay nóng giận và không có con.
Sau
đó, ông sợ dòng họ bị tuyệt tự, đã cưới một phụ
nữ khác tên là Tissà. Nàng có lòng tin, mộ đạo và làm đẹp
lòng chồng, nàng sinh một con trai được đặt tên là Bhùta.
Là bà chủ nhà, nàng kính cẩn phục vụ bốn Tỷ-kheo thọ
trai.
Không
thể chịu đựng mãi tình địch, khi đã quét nhà xong, Mattà
đổ rác lên đầu Tissà. Về sau Mattà từ trần và tái sanh
làm nữ ngạ quỷ, phải chịu nỗi khốn khổ năm phần vì
nghiệp lực của mình.
Nỗi
thống khổ của bà được thấy rõ trong bài kinh này. Rồi
một hôm, nữ ngạ quỷ nhớ lại quá khứ, liền hiện hình
trước Tissà lúc ấy đang tắm rửa sau nhà. Khi thấy ngạ
quỷ, Tissà hỏi:
1.
Trần truồng và xấu xí hình dung,
Gầy
guộc và thân thể nổi gân,
Ngươi
yếu ớt, xương sườn lộ rõ,
Ngươi
là ai hiện đến đây chăng?
Mattà:
2.
Mat-tà là chị, hỡi Tis-sà,
Chị
lấy chồng chung một kiếp xưa,
Do
chị đã gây nên ác nghiệp,
Từ
đây đọa đến cõi yêu ma.
Tissà:
3.
Ngày xưa đã phạm ác hạnh gì
Do
khẩu, ý, thân chị thực thi,
Vì
hạnh nghiệp nào nên đã đọa
Từ
đây đến cảnh giới âm ty?
Mattà:
4.
Xưa chị ác tâm, lắm hận sân,
Xan
tham, dối trá, lại ghen hờn,
Vì
dùng ác ngữ làm thương tổn,
Chị
đoạ từ đây đến cõi âm.
Tissà:
5.
Em còn nhớ mọi chuyện ngày xưa,
Chị
thật hung hăng thuở bấy giờ,
Song
có việc này em muốn hỏi:
Tại
sao mình chị phủ đồ dơ?
Mattà:
6.
Một buổi em vừa tắm gội xong,
Áo
quần sạch sẽ mới vừa mang,
Chị
đây, quả thật, còn hơn thế,
Chị
điểm tô nhiều món nữ trang.
7.
Khi điểm trang vầy, chị ngó qua
Em
đang nói chuyện với chồng ta,
Chính
vì việc ấy, niềm ganh tỵ,
Cuồng
nộ trong lòng bộc phát ra.
8.
Rồi chị cầm đồ rác bụi lên,
Ðúng
là chị đã rải đầu em,
Vì
do kết quả hành vi ấy,
Chị
phải giờ đây chịu lấm lem.
Tissà:
9.
Thật em biết mọi chuyện ngày xưa,
Chị
rảy lên em lắm bụi dơ,
Nhưng
có việc này em muốn hỏi:
Tại
sao chị ngứa ngáy giày vò?
Mattà:
10.
Tìm dược thảo, xưa hai chúng ta
Cùng
đi vào tận chốn rừng già,
Em
tìm các cỏ cây làm thuốc,
Chị
hái quả cây Ka-pi-ka.
11.
Lúc ấy em không biết chút nào,
Giường
em, chị rải chúng nhiều sao,
Vì
do kết quả hành vi ấy,
Chị
bị giày vò, ngứa biết bao!
Tissà:
12.
Thật ra, em biết rõ hoàn toàn
Chị
rải trái kia khắp cả giường,
Song
có việc này em muốn hỏi:
Tại
sao chị phải chịu trần truồng?
Mattà:
13.
Ngày kia có cuộc họp thân bằng,
Tụ
tập họ hàng lại thật đông,
Em
đã được mời đi dự lễ
Cùng
chồng ta đó, chị thì không.
14.
Thế rồi em chẳng biết hoàn toàn,
Chị
lấy cất đi mọi áo quần,
Do
chính việc này sinh kết quả,
Giờ
đây chị phải chịu trần truồng.
Tissà:
15.
Thật ra em biết chuyện kia mà,
Chị
lấy áo quần em quẳng xa,
Song
có việc này em muốn hỏi:
Sao
mùi xú uế chị xông ra?
Mattà:
16.
Vòng hoa, hương liệu, với trầm hương
Chị
lấy của em vứt hố phân,
Do
quả chị làm ra ác nghiệp,
Chị
xông mùi xú uế vô cùng.
Tissà:
17.
Ðúng là em biết rõ điều này,
Ác
nghiệp kia do chị đã gây,
Song
có việc này em muốn hỏi:
Tại
sao chị khốn khổ như vầy?
Mattà:
18.
Tài sản trong nhà của chúng ta
Thuộc
về cả chị lẫn em mà,
Cúng
dường bố thí là công đức,
Song
chị không hề tự tạo ra
Một
chỗ trú an, nay khốn khổ,
Là
do kết quả lỗi lầm xưa.
19.
Em thường bảo chị chính lời này:
Chị
cả đang hành ác nghiệp đây,
Song
nếu không làm điều tổn đức,
Về
sau sẽ hưởng phước tràn đầy'.
Tissà:
20.
Thái độ hận sân, chị đến gần
Bên
em, chị tật đố ghen hờn,
Hãy
nhìn quy luật điều chân lý:
Kết
quả hành vi ác đã làm.
21.
Chị lắm gia nhân ở tại nhà,
Nữ
trang đầy đủ thật xa hoa,
Ngày
nay chúng được người ngoài hưởng,
Lạc
thú ở đời chỉ thoảng qua.
22.
Giờ đây, cha của bé Bhù-ta
Từ
chợ sắp quay trở lại nhà,
Ông
sẽ tặng quà cho chị đó,
Ðừng
đi, hãy đợi lát giây mà.
Mattà:
23.
Trần truồng, dị tướng, quá hao gầy,
Mình
mẩy đường gân nổi rõ đầy,
Ðây
chiếc khố che phần hạ thể,
Ðừng
cho bố trẻ thấy ta vầy.
Tissà:
24.
Này, chị muốn em tặng thứ nào,
Làm
gì giúp đỡ chị hay sao,
Ðể
cho chị được nhiều an lạc,
Hạnh
phúc mọi điều thỏa ước ao?
Mattà:
25.
Ðây bốn Tỷ-kheo của chúng Tăng,
Và
thêm vào đó bốn Sa-môn,
Cúng
dường tám vị và hồi hướng
Công
đức cho ta được hưởng phần,
Sau
đó, ta tràn đầy hạnh phúc,
Thỏa
lòng ao ước được hồng ân.
Chuyện
kể tiếp:
26.
'Ðược lắm!', nàng vừa nói vậy xong,
Liền
đem dâng cúng tám Sa-môn
Phạn
trai, cùng với nhiều y phục,
Hồi
hướng phước phần đến cổ nhân.
27.
Lập tức ngay sau lễ cúng dâng,
Phước
phần hồi hướng đến vong nhân,
Ðây
là kết quả từ công đức:
Thức
uống, thức ăn, lẫn áo quần.
28.
Sáng ngời, y phục thật thanh tân,
Tơ
lụa Ba-la-nại tuyệt trần,
Mang
đủ nữ trang và kiểu áo,
Ðến
gần vợ kế của phu nhân.
Tissà:
29.
Hỡi nàng Thiên nữ, dáng siêu phàm
Ðang
chiếu mười phương sáng rỡ ràng,
Thiên
nữ, sắc nàng trông chói lọi,
Như
vì sao cứu hộ trần gian.
30.
Dung sắc này do nghiệp quả nào,
Phước
phần nàng hưởng bởi vì sao,
Bất
kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu
chuộng, nàng đều thỏa ước ao?
31.
Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Vẻ
huy hoàng chiếu khắp mười phương?
Mattà:
32.
Mat-tà là chị, hỡi Tis-sà,
Chị
lấy chung chồng một kiếp qua,
Do
chị đã gây nên ác nghiệp,
Từ
đây đọa tới cõi yêu ma,
Nhờ
em dâng lễ, nay an hưởng.
Chị
chẳng sợ gì mọi hướng xa.
33.
Mong em trường thọ với thân nhân!
Em
hỡi, mong em hưởng phước ân
Ðạt
cảnh ly sầu bi, dục vọng,
Cõi
trời của Hóa Lạc Thiên thần.
34.
Em sống đời sùng đạo, cúng dường,
Tại
đây bố thí, hỡi hồng nhan,
Ðoạn
trừ gốc rễ xan tham ấy,
Em
đến cõi thiên, phước nghiệp tràn.
4.
(16) Chuyện Nữ Ngạ Quỷ Nandà (Nandàpeti)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Jetavana (Kỳ
Viên).
Ở
một làng nọ không xa Sàvatthi (Xá-vệ) có một đệ tử tại
gia đầy lòng tin và mộ đạo. Tuy thế, vợ vị ấy tên là
Nandà lại không có lòng tin, không mộ đạo, xan tham, dễ nóng
giận, ác ngữ, thường tỏ ra bất kính và bất tuân lời
chồng. Bà thường la mắng ồn ào như trống nổi và say mê
phỉ báng mạ lỵ.
Khi
từ trần và tái sanh làm nữ ngạ quỷ, bà cư trú gần làng
ấy. Rồi một hôm, bà xuất hiện trước mặt cư sĩ Nandasena
đang đi trên đường. Khi thấy nữ ngạ quỷ, chàng ngâm kệ
hỏi:
1.
Ðen đủi và hình tướng dữ dằn,
Thân
mình xương xẩu thật kinh hoàng,
Nhà
ngươi mắt đỏ, răng vành chạch,
Ta
chắc ngươi không phải thế nhân.
Nữ
ngạ quỷ:
2.
Nan-dà là thiếp, hỡi Nan-da,
Thiếp
chính vợ chàng một kiếp xưa,
Vì
đã dùng ngôn từ phỉ báng,
Từ
đây đọa đến cảnh yêu ma.
Nandasena:
3.
Ngày xưa đã phạm ác hạnh gì
Do
khẩu, ý, thân đã thực thi,
Vì
hạnh nghiệp nào nên đã đọa
Từ
đây đến cảnh giới âm ty?
Nữ
ngạ quỷ:
4.
Xưa thiếp ác ngôn, lắm hận sân,
Thiếp
thường không kính trọng phu quân,
Vì
dùng lời lẽ gây thương tổn,
Thiếp
đọa từ đây tới cõi âm.
Nandasena:
5.
Ta tặng nàng đây chiếc áo choàng,
Áo
này nàng hãy lấy mà mang,
Sau
khi nàng đã choàng xong áo,
Ta
sẽ dẫn nàng đến cố hương.
6.
Nàng sẽ được ta tặng áo quần,
Về
nhà đủ thức uống, đồ ăn,
Rồi
nàng sẽ ngắm đôi nam tử,
Dâu
của nàng là một ác nhân.
Nữ
ngạ quỷ:
7.
Những
gì chàng tặng, dẫu trao tay,
Cũng
chẳng giúp cho thiếp thật hay,
Song
với Tỷ-kheo đầy giới đức,
Ða
văn, ly dục ở đời này,
8.
Cúng dường chư vị đủ cao lương,
Hồi
hướng về cho thiếp phước ân,
Thiếp
sẽ được ban nhiều hạnh phúc,
Ðạt
thành mọi nguyện ước toàn phần.
Ba
vần kệ tiếp theo được chư vị kết tập Kinh điển ngâm:
9.
'Ðược lắm!', chàng vừa hứa hẹn xong,
Cúng
dường hào phóng lễ chàng dâng
Dồi
dào thực phẩm mềm và cứng,
Y
phục, dù, hương liệu, tọa sàng,
Ðủ
loại dép giày, hoa kết chuỗi,
Sau
khi dâng cúng các hiền Tăng
Ly
tham, đạo hạnh, đa văn đủ,
Chàng
chuyển phước phần đến cổ nhân.
10.
Lập tức ngay sau lễ cúng dâng,
Phước
phần hồi hướng đến vong nhân,
Ðây
là kết quả phần công đức,
Thức
uống, thức ăn lẫn áo quần.
11.
Sáng ngời, y phục thật thanh tân,
Tơ
lụa Ba-la-nại tuyệt trần,
Mang
đủ nữ trang và kiểu áo,
Nàng
liền tiến đến vị phu quân.
Nandasena:
12.
Hỡi nàng Thiên nữ dáng siêu phàm
Ðang
chiếu mười phương sáng rỡ ràng,
Thiên
nữ, sắc nàng trông chói lọi
Như
vì sao cứu hộ trần gian.
13.
Dung sắc này do nghiệp quả nào,
Phước
phần nàng hưởng bởi vì sao?
Bất
kỳ lực thú nào trong dạ
Yêu
chuộng, nàng đều thỏa ước ao?
14.
Hỡi nàng Thiên nữ đại oai thần,
Nàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Vẻ
huy hoàng chiếu khắp mười phương?
Thiên
nữ:
15.
Nan-dà là thiếp, hỡi Nan-da,
Thiếp
chính vợ chàng một kiếp qua,
Do
đã phạm vào bất thiện nghiệp,
Từ
đây đọa tới cõi yêu ma,
Nhờ
chàng dâng lễ, nay an hưởng,
Thiếp
chẳng sợ gì mọi hướng xa.
16.
Mong chàng trường thọ với thân nhân,
Gia
chủ, mong chàng hưởng phước ân,
Ðạt
cảnh ly sầu bi, dục vọng,
Cõi
trời của Hóa Lạc Thiên thần.
17.
Chàng sống đời sùng đạo, cúng dâng,
Tại
đây, bố thí, hỡi phu quân,
Ðoạn
trừ gốc rễ xan tham ấy,
Chàng
đến cõi thiên chẳng lỗi lầm.
5.
(17) Chuyện Mattakundalì (Mattakundalì)
Chuyện
này đã được kể ở Tập "Chuyện Thiên Cung", Phẩm II, số
9: Thiên tử Ðeo Vòng Tai.
6.
(18) Chuyện Ðại Vương Kanha (Kanha)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Jetavana.
Ở
thành Sàvatthi, con trai của một vị đệ tử tại gia từ trần.
Người cha đau buồn không thể tắm rửa ăn uống hay quan tâm
đến công việc của mình, mà cũng không đi phụng sự đức
Phật. Vị ấy thường nói lảm nhảm:
- Con
yêu quý của ta đã bỏ đi đâu rồi! Tại sao nó ra đi trước
ta?
Trong
lúc bậc Ðạo Sư đang quán sát thế gian vào lúc rạng đông.
Ngài thấy người kia có đủ cơ duyên đắc đạo quả. Ngày
hôm sau, được chúng Tỷ-kheo vây quanh, Ngài đi vào Sàvatthi
để khất thực. Sau khi thọ trai, Ngài cùng thị giả Ananda
đến cửa nhà người ấy. Lập tức các gia nhân báo cho vị
đệ tử cư sĩ kia và đưa vị ấy đến tiếp kiến bậc Ðạo
Sư.
Khi
Ngài thấy vị ấy ngồi một bên, Ngài bảo:
- Này
cư sĩ, ông đang phiền muộn điều gì chăng?
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn.
- Này
cư sĩ, các bậc trí nhân ngày xưa không còn than khóc đứa
con yêu từ trần sau khi đã nghe chuyện của các bậc Hiền
trí.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của người gia chủ, Ngài kể chuyện
cổ tích này.
Thời
xưa trong thành Dvàravati, có mười huynh đệ hoàng gia: Vàsudeva,
Baladeva, Candadeva, Suriyadeva, Aggideva, Varunadeva, Ajjuna, Pajjuna,
Ghatapandita và Ankura. Trong số này, có con trai của Ðại Vương
Vàsudeva từ trần.
Vị
vua ấy tràn ngập nỗi sầu bi, xao lãng mọi phận sự quân
vương, cứ nằm dài trên giường, chắp tay lên đầu và nói
lảm nhảm. Lúc ấy Ghatapandita (Trí giả Ghata) suy nghĩ: 'Không
ai ngoài ta có thể xua tan nỗi ưu phiền của Hoàng huynh. Ta
sẽ dùng mưu kế dẹp bỏ nỗi sầu của Hoàng huynh'.
Vì
thế vị ấy làm ra vẻ điên khùng vừa nhìn lên trời, vừa
lang thang khắp kinh thành, bảo:
- Cho
ta con thỏ! Cho ta con thỏ!
Lúc
ấy dân chúng toàn thành suy nghĩ: 'Ghatapandita đã phát điên
rồi!'.
Lúc
ấy vị quốc sư tên là Rohineyya đi đến Ðại vương Vàsudeva
và mở đầu câu chuyện với vần kệ này:
1.
Ðứng lên! Tâu Ðại đến Kan-ha,
Sao
Ðại đế nằm mãi thế kia?
Ích
lợi gì khi ngài ngủ thiếp?
Chàng
là bào đệ của ngài mà,
Là
tim, mắt phải ngài yêu quý,
Gió
cuốn Gha-ta hóa dại khờ!
Bậc
Ðạo Sư tiếp tục câu chuyện với vần kệ này:
2.
Khi nghe lời của Ro-hi-ya,
Ðại
đế Ke-sa, dáng xót xa,
Nặng
trĩu sầu tư, liền đứng dậy
Chỉ
vì bào đệ của nhà vua.
Sau
đó nhà vua từ lầu thượng bước xuống và đi đến gặp
Ghatapandita. Nhà vua ôm chặt bào đệ với đôi tay và nói chuyện
với chàng:
3.
Sao dáng điên rồ, đệ thẩn thơ
Khắp
kinh thành đất nước Dvà-ra,
Thì
thầm: 'Thỏ! Thỏ!' luôn mồm ấy,
Loại
thỏ gì kia đệ ước mơ?
4.
Thỏ dầu bằng ngọc hoặc vàng ròng,
Hoặc
bạc hay là loại thỏ đồng,
Bảo
ngọc, san hô, loài đá quý,
Ta
làm cho đệ thỏa cầu mong.
5.
Còn có nhiều loài thỏ biết bao
Vẫn
thường chạy nhảy chốn rừng sâu,
Loại
này ta cũng mang cho đệ,
Loại
thỏ nào đâu đệ ước ao?
Ghatapandita
đáp:
6.
Những loại thỏ này đệ chẳng ham,
Những
loài cư trú khắp trần gian,
Ke-sa-va,
hãy mau đem xuống
Cho
đệ thỏ kia chốn Quảng Hàn!
Khi
nghe chàng nói, nhà vua đau buồn suy nghĩ: 'Chắc chắn em ta
đã hóa điên rồi', và bảo:
7.
Bào đệ, chắc em sẽ bỏ đời,
Vì
em mơ ước chuyện xa vời,
Chuyện
mà không có ai mơ ước:
Con
thỏ cung trăng ở cõi trời!
Khi
đã nghe những lời của nhà vua xong, Ghatapandita đứng yên
và đáp:
- Này
Hoàng huynh, Hoàng huynh cũng đã hủy hoại cuộc đời của
mình nhưng không đạt được con thỏ trên cung trăng mà Hoàng
huynh mơ ước.
Rồi
vị ấy ngâm vần kệ này:
8.
Nếu Kan-ha quả thật trí cao
Dạy
cho người khác khỏi ưu sầu,
Giờ
đây sao vẫn còn than khóc
Nam
tử từ trần đã bấy lâu?
Trong
khi đang đứng giữa đường cái, vị ấy nói như sau:
- Quả
thật đệ ước mơ một điều rõ ràng, có thể hiểu được,
nhưng Hoàng huynh lại than khóc về một điều không thể hiểu
được như thế kia.
Rồi
vị ấy ngâm kệ thuyết pháp với nhà vua:
9.
Mong con ta sống chẳng từ trần!
Không
một người hay một vị thần
Có
thể đạt điều không thể đạt,
Sao
điều không thể lại cầu mong?
10.
Không có bùa thiêng hoặc thuốc thang,
Chẳng
loài dược thảo hoặc tiền vàng
Ðủ
công năng để làm hồi phục
Người
chết Hoàng huynh vẫn khóc than.
11.
Chính đám phú gia lắm bạc vàng,
Quốc
vương, quý tộc có giang san,
Những
người phong phú bao tiền của
Cũng
chẳng thoát tay lão tử thần.
12.
Sát-ly, Sa-môn với Thủ-đà,
Puk-ku-sa,
Vệ-xá, Chiên-đà,
Những
người này với toàn gia tộc
Cũng
chẳng thoát tay lão-tử ma.
13.
Những kẻ chuyên trì tụng chú thần
Sáu
phần sáng tạo bởi La-môn,
Bọn
này, bọn khác dùng tà thuật
Cũng
chẳng thoát tay lão-tử vong.
14.
Ngay các trí nhân thật chánh chân,
Các
nhà khổ hạnh đã điều thân,
Sa-môn,
ẩn sĩ, dù tu luyện,
Ðến
đúng thời cơ cũng mạng vong.
15.
Những bậc suốt đời tu tập tâm,
Những
người phận sự đã làm xong,
Những
người giải thoát, ly tham dục,
Ðoạn
thiện ác hành, cũng bỏ thân.
Như
vậy Ghatapandita thuyết pháp với nhà vua. Khi nhà vua đã nghe
xong, nỗi đau buồn liền tan biến và tâm trí trở nên thanh
thản. Nhà vua ngâm kệ để tán thán Ghatapandita:
16.
Lòng ta quả thực nóng bừng,
Khác
nào sữa lạc đổ trong lửa đào,
Em
vừa tưới nước lạnh vào,
Giờ
đây ta dứt hết bao khổ sầu.
17.
Quả em nhổ mũi tên đau
Nỗi
ưu phiền đã cắm sâu vào lòng,
Xua
tan mọi nỗi thương tâm,
Sầu
tư nặng trĩu, khóc thầm vì con.
18.
Giờ đây trút bỏ đau buồn,
Lòng
ta lắng dịu, trí thường khinh an,
Ta
không còn phải khóc than,
Từ
khi nghe những lời vàng của em.
19.
Vậy là những bậc trí hiền,
Ðầy
lòng bi mẫn, ưu phiền xóa ngay,
Như
Gha-ta tiểu đệ này
Ðã
làm huynh trưởng từ rày an tâm.
20.
Kẻ nào bầu bạn hiền nhân
Vẫn
thường hầu cận thiết thân bên mình,
Với
lời khuyên nhủ chí tình
Như
Gha-ta với trưởng huynh của chàng.
Bậc
Ðạo Sư thuyết pháp thoại này và bảo:
- Như
vậy, này cư sĩ, những người trí tuệ ngày xưa dứt bỏ
ưu phiền vì con sau khi đã nghe chuyện của các bậc hiền
nhân.
Sau
đó vừa thuyết giảng các Thánh đế, Ngài vừa đưa chuyện
Tiền thân này vào cơ hội trên. Khi pháp thoại chấm dứt,
vị cư sĩ ấy đã được an trú vào quả vị Dự Lưu.
7.
(19) Chuyện Ngạ Quỷ Dhanapàla (Dhanapàlapeta)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Jetavana.
Trước
khi đức Phật đản sinh, trong quốc độ Dasanna, tại kinh thành
Erakaccha, có một vị chủ ngân khố tên là Dhanapàla (Tài Hộ),
là một người không có lòng tin, không mộ đạo, keo kiệt
và đầy tà kiến. Những công việc của vị này có thể hiểu
được qua Kinh điển Pàli. Lúc từ trần, vị ấy tái sanh
làm ngạ quỷ trong một vùng sa mạc hoang vắng. Ngạ quỷ đi
lang thang khắp nơi, bị đói khát giày vò hành hạ.
Thời
ấy, một số thương nhân sống ở Sàvatthi chất đầy hàng
hóa lên năm trăm cỗ xe và khi đã đến Uttarapatha, họ bán
các hàng ấy. Sau đó, họ lại chất đầy hàng hóa lên xe
để trở về.
Họ
khởi hành lên đường về nhà lúc chiều tối họ đến tại
một gốc cây. Ở đấy họ tháo cương bỏ bầy bò ra và tạm
trú qua đêm. Thế rồi ngạ quỷ kia bị cơn khát nước giày
vò liền đến nơi ấy kiếm thứ gì để uống, nhưng không
được giọt nào, nó liền thốt tiếng kêu. Khi thấy nó, các
thương nhân hỏi:
1.
Trần truồng và xấu xí hình dung,
Gầy
guộc và thân thể nổi gân,
Ngươi
yếu ớt, xương sườn lộ rõ,
Ngươi
là ai đấy, hỡi vong nhân?
Ngạ
quỷ đáp:
2.
Tôn giả, ta là ngạ quỷ nhân,
Thần
dân xấu số của Diêm vương,
Vì
ta đã phạm hành vi ác,
Ta
đến nơi ma đói ẩn thân.
Ðám
thương nhân:
3.
Ngày xưa ngươi phạm ác hành gì,
Do
khẩu, ý, thân đã thực thi,
Vì
hạnh nghiệp nào ngươi đã đọa
Từ
đây đến cảnh giới âm ty?
Ngạ
quỷ:
4.
Kinh thành bộ tộc Da-san-na,
Danh
vọng lẫy lừng E-ra-ka,
Thuở
trước ta là nhà triệu phú,
Với
tên Tài Hộ tặng cho ta.
5.
Tám mươi ngàn chẵn cỗ xe lừa
Chất
chứa vàng ròng sở hữu ta,
Thuở
đó ta nhiều vàng bạc lắm,
Ngọc
trai, ngọc mắt báo đầy nhà.
6.
Như vậy ta là đại phú ông,
Nhưng
ta lại chẳng muốn cho không,
Khi
ta ăn uống, ta cài cửa
Ðể
bọn ăn mày chẳng ngóng trông.
7.
Xưa ta không mộ đạo, xan tham,
Keo
kiệt, dùng lời nói hại nhân,
Ta
cản nhiều người chuyên bố thí,
Những
người làm phận sự chuyên cần.
8.
Ta nói: 'Không sao có phước phần
Dành
cho việc bố đức thi ân,
Tu
thân đâu có đem thành quả?'
Ta
phá bao nguồn nước vệ đường,
Ao
giếng, hồ sen, vườn cảnh đẹp,
Lối
đi hiểm trở khó băng ngang.
9.
Như vậy ta không tạo phước ân,
Làm
người gây ác nghiệp từ trần,
Tái
sanh vào xứ loài ma quỷ,
Ðói
khát luôn hành hạ khổ thân,
Từ
đấy đến nay ta tạ thế
Tính
ra vừa đủ năm lăm năm.
10.
Ẩm thực ta không được hưởng phần,
Do
không có bố đức thi ân,
Thì
điều tai hại là như vậy,
Vì
ngạ quỷ luôn hiểu biết rằng:
'Nếu
chẳng muốn thi ân bố đức,
Thì
điều tai hại cũng ngang bằng'.
11.
Thuở trước ta không muốn phát ban,
Ta
không bố thí các kho tàng,
Mặc
dù bố thí là công đức,
Ta
chẳng tạo nên chốn trú an.
12.
Ngày nay ta hối hận ăn năn,
Nặng
trĩu trong lòng bởi phải mang
Hậu
quả việc làm bao ác nghiệp,
Và
sau bốn tháng sẽ từ trần.
13.
Ðọa miền địa ngục hãi hùng sao,
Có
bốn góc và bốn cửa vào,
Ngục
được chia phần theo kích thước,
Xung
quanh bao bọc với tường rào
Làm
bằng sắt nóng và trên mái
Cũng
có sắt che tận đỉnh cao.
14.
Nền bằng sắt rực lửa bừng bừng,
Nóng
bỏng, chói lòa khắp mọi phương,
Ðịa
ngục muôn đời còn đứng mãi,
Trải
dài luôn cả trăm do-tuần.
15.
Nơi kia ta chịu khổ lâu dài,
Thọ
quả do tà nghiệp chín muồi,
Vì
thế ta thường ân hận mãi,
Khóc
than thực tế chẳng hề nguôi.
16.
Bởi vậy ta đem chuyện thật hay
Nói
cùng chư vị họp nơi đây,
Ðừng
bao giờ phạm hành vi ác,
Dù
giấu kín hay được tỏ bày.
17.
Nếu ngươi đang phạm việc sai lầm,
Hoặc
sắp phạm, thì nỗi khổ tâm
Sẽ
chẳng rời ngươi, dù trốn tránh,
Bay
lên trời đến giữa hư không.
18.
Hãy luôn tôn kính mẹ cùng cha,
Quý
trọng bậc niên trưởng tại nhà,
Quy
ngưỡng Bà-la-môn, đạo sĩ,
Do
vầy, thiên giới sẽ chờ ta.
19.
Không giữa trời hay giữa biển thanh
Dẫu
đi vào kẽ núi non xanh,
Cũng
không tìm được trong trần thế
Nơi
chốn thoát thân khỏi ác hành.
Các
thương nhân thương xót ngạ quỷ liền rảy nước vào mồm
nó. Nhưng vì ác nghiệp của ngạ quỷ kia, nó không thể nuốt
được. Họ hỏi nó:
- Thế
giờ đây ngươi không thể nào dịu bớt đôi chút khổ đau?
Ngạ
quỷ đáp:
- Có
thể được khi ác nghiệp này đã được tiêu trừ. Nếu giờ
đây có lễ vật cúng dường đức Như Lai hoặc chư đệ tử
của Ngài và công đức lễ cúng dường ấy được hồi hướng
đến ta, thì ta sẽ được giải thoát ra khỏi kiếp sống
ngạ quỷ này.
Khi
các thương nhân đã nghe chuyện ngạ quỷ xong, họ trở về
Sàvatthi, trình lên đức Thế Tôn, rồi suốt bảy ngày làm
đại lễ cúng dường Tăng chúng có đức Phật làm thượng
thủ và hồi hướng công đức ấy đến ngạ quỷ.
8.
(20) Chuyện Tiểu Chủ Ngân Khố (Cùlasetthi)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Veluvana (Trúc
Lâm).
Ở
Benares (Ba-la-nại) có gia chủ Cùlasetthi (Tiểu chủ ngân khố)
là người không có lòng tin, không mộ đạo, keo kiệt, không
bố thí và khinh thường các thiện sự công đức. Lúc từ
trần vị ấy tái sanh giữa loài ngạ quỷ.
Bấy
giờ con gái vị ấy là Anulà đang sống tại nhà chồng ở
Andhakavinda. Nàng mong muốn cúng dường các Bà-la-môn để lấy
phước đức cho cha nên đã chuẩn bị cơm và các thực phẩm
khác làm lễ vật.
Khi
ngạ quỷ biết tin này, lòng đầy hy vọng liền bay qua không
gian hướng về nơi kia và đến Ràjagaha (Vương Xá).
Thời
ấy vua Ajatasattu (A-xà-thế) theo sự xúi giục của Devadatta
(Ðề-bà-đạt-đa) đã giết hại phụ vương. Vì lòng hối
hận giày vò và gặp cơn ác mộng, nhà vua không ngủ được.
Trong lúc đang đi dạo quanh quẩn trên thượng lầu, nhà vua
thấy ngạ quỷ kia đang bay qua không gian, liền hỏi:
1.
Ngươi là vị khổ hạnh trần truồng,
Gầy
guộc, ban đêm vượt dặm đường.
Vì
lý do gì, cho trẫm biết,
Trẫm
ban ngươi mọi vật giàu sang.
Ngạ
quỷ đáp:
2.
Thành Ba-la-nại tiếng vang lừng,
Nơi
ấy ta là một phú ông
Không
bố thí và ham hưởng lạc,
Vì
làm ác, đọa cảnh Diêm công.
3.
Ðói khổ làm ta kiệt quệ dần,
Ta
đau như thể bị kim châm,
Vì
gây ác nghiệp, cho nên phải
Ði
đến bà con để kiếm ăn,
Song
những kẻ nào tâm biển lận
Vẫn
không tin tưởng chuyện cho rằng
Thi
ân bố đức đem thành quả
Xuất
hiện đời sau giữa thế nhân.
4.
Con gái ta thường nói với ta:
'Con
mong dâng cúng các ông cha'.
Bà-la-môn
muốn cho người khác
Ði
dự tiệc bằng cách nói ra:
'Ta
sắp được mời ăn thịnh soạn
Tại
nơi kia ở An-dha-ka'.
Chuyện
kể tiếp:
5.
Vua truyền: 'Khi đã nhận xong phần,
Ngươi
trở lại đây vội bước chân,
Trẫm
muốn ban ngươi nhiều phước lộc,
Nếu
nhà ngươi có một nguyên nhân,
Trình
cho trẫm biết ngay duyên cớ,
Trẫm
sẽ nghe điêù xứng tín tâm.
6.
'Mong vậy!', quỷ vừa mới nói ra,
Liền
bay đi đến phố An-dha.
Nơi
kia chúng hưởng đồ dâng cúng,
Song
hội chúng không xứng đáng mà,
Sau
đó về thành Vương Xá ấy,
Một
lần nữa yết kiến nhà vua.
7.
Khi vua nhìn ngạ quỷ quay về,
Liền
bảo: 'Nay ta phải cúng gì?
Hãy
nói thế nào là cách thức
Khiến
ngươi hưởng lạc thú tràn trề?'
Ngạ
quỷ đáp:
8.
Phục vụ Tỷ-kheo với Phật-đà,
Thức
ăn, đồ uống, áo cà-sa,
Cúng
dường lấy phước cho ta hưởng,
Ta
sẽ hân hoan trọn kiếp mà.
9.
Tức thì vua bước xuống hoàng cung,
Dâng
lễ tự tay đến chúng Tăng,
Trình
đức Như Lai về việc ấy,
Rồi
đem công đức tặng vong nhân.
10.
Chói lòa ánh sáng, được tôn vinh,
Trước
mặt quân vương, quỷ hiện hình:
'Ta
đã trở thành thần đại lực,
Không
người nào sánh kịp uy danh.
11.
Hãy nhìn ta hưởng đại vinh quang
Do
Ðại vương vừa mới phát ban,
Khi
đã cúng Tăng-già đại lễ,
Từ
đây ta được mãi hân hoan,
Vì
có biết bao nhiêu phước lộc,
Ta
đầy hỷ lạc, hỡi quân vương'.
9.
(21) Chuyện Ankura (Ankura)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Sàvatthi (Xá-vệ).
Trong
trường hợp này, Ankura không phải là ngạ quỷ, nhưng vì
có liên hệ với ngạ quỷ, nên chuyện được gọi là chuyện
ngạ quỷ Ankura.
Trong
thị trấn Asitanjana, ở vùng Kamsabhoga, tỉnh Uttaràpatha, có
vị vương tử của vua Mahàsàgara, chúa tể xứ Uttaramadhura,
tên là Upasàgara cùng vương phi Devagabbhà, công chúa của vua
Mahà-kamsaka, sinh được bầy con này: Anjanadevì, Vàsudeva, Baladeva,
Candadeva, Suriyadeva, Aggideva, Varunadeva, Ajjuna, Pajjuna, Ghatapandita
và Ankura.
Vasudeva
và các huynh đệ khởi binh từ kinh thành Asitanjana và theo thời
gian tận diệt tất cả mọi vua chúa trong sáu mươi ba ngàn
kinh thành thuộc toàn quốc Hồng Ðào (Ấn Ðộ), rồi dừng
chân ở thành Dvàravatì và định cư tại đó.
Về
sau họ chia vương quốc ra làm mười phần, nhưng họ lại
quên phần chị là công chúa Anjanadevì. Khi họ nhớ đến bà,
một vương tử đưa ý kiến:
- Chúng
ta hãy chia làm mười một phần.
Lập
tức tiểu vương tử Ankura nói:
- Hãy
đưa phần tiểu đệ cho vương tỷ; tiểu đệ sẽ sống bằng
nghề thương mãi, chư vương huynh gửi tiền thuế của tiểu
đệ đến vương tỷ, mỗi người từ quốc độ của mình.
Họ
chấp thuận và sau khi đã gửi phần trợ cấp của người
em cho chị, chín vua kia đều sống tại Dvàravatì.
Tuy
thế, Ankura lại theo nghề thương mãi và thường xuyên bố
thí rộng rãi. Bấy giờ vị ấy có một người nô lệ làm
thủ kho vốn rất quan tâm đến phúc lợi của chủ.
Ankura
cưới cho người này một thiếu nữ có gia thế đàng hoàng
về làm vợ. Vì người nô lệ chết sớm, Ankura cho con trai
người này hưởng tiền lương đã được trả cho cha nó lúc
trước.
Khi
đứa bé này đến tuổi khôn lớn, trong triều vua có lời
bàn xì xào rằng kẻ nô lệ ấy không phải là một nô lệ.
Khi
công chúa Anjanadevì nghe chuyện này, bà dùng ví dụ con bò
sữa và giải phóng cậu trai ra khỏi tình trạng nô lệ, rồi
nói:
- Một
bà mẹ được tự do không có gì thua kém một đứa con trai
được tự do.
Song
nỗi hổ thẹn khiến cậu con trai bỏ ra đi đến kinh thành
Bheruva, tại đó cậu cưới con gái của một người thợ may
và sinh sống bằng nghề thợ may.
Thời
ấy trong thành Bheruva có một vị chủ nghiệp đoàn đại phú
tên là Asayha vẫn cúng dường bố thí hào phóng cho các Sa-môn,
Bà-la-môn, du đãng, lữ hành, cùng đám ăn mày, khất sĩ. Người
thợ may hân hoan thích thú về việc này, thường chỉ cho những
người không biết chỗ ấy, đến tận dinh cơ của gia tộc
Asayha với lời dặn:
- Hãy
đi đến đó và nhận được nhiều tặng vật xứng đáng.
Hành
động của vị này được đề cập trong Kinh tạng Pàli. Khi
từ trần, vị ấy tái sanh làm một địa thần trong vùng sa
mạc, ở một cây đa kia, tại đó tay phải vị thần thường
ban phát các đồ vật đem lại lạc thú.
Bấy
giờ cũng trong thành Bheruva ấy có một người tham dự vào
việc bố thí hào phóng của Asayha, nhưng vì kẻ ấy không
có lòng tin, không mộ đạo, đầy tà kiến và tỏ ra bất
kính đối với các thiện sự công đức, nên khi từ trần,
kẻ ấy tái sanh làm ngạ quỷ ở gần nơi cư trú của vị
thần kia. Hạnh nghiệp của vị ấy cũng được tìm thấy
trong Kinh tạng Pàli.
Lúc
ấy Asayha đã từ trần và cộng trú với Sakka Thiên chủ ở
cõi trời Ba mươi ba. Một thời gian sau đó, Ankura chất đầy
hàng hóa lên năm trăm cỗ xe, trong khi một Bà-la-môn khác cũng
làm như vậy. Hai người này cùng cả ngàn cỗ xe đi vào một
sa mạc hiểm trở và lạc đường.
Trong
khi họ lang thang quanh quẩn nơi ấy, thì cỏ, nước và thực
phẩm cạn dần. Ankura phái đám hầu cận đi tìm nước. Lúc
ấy thần Dạ-xoa kia đang ban phát các đồ vật đem lại lạc
thú, chợt thấy tình cảnh nguy khốn của họ, và nhớ đến
công ơn mà Ankura đã làm cho mình đời trước, liền chỉ
cho vị này cây đa mà thần đang cư trú, và suy nghĩ: 'Bây
giờ đây ta phải giúp đỡ người này'.
Thời
ấy, cây đa này đầy cành lá rậm ráp, rủ bóng che dày đặc
và có hàng ngàn chồi non. Cây trải dài, cao và rộng cả một
do-tuần. Khi thấy cây đa, Ankura rất hân hoan thích thú bảo
cắm lều ngay tại đó. Thần Dạ-xoa đưa tay phải ra và lập
tức cung cấp nước uống.
Sau
khi đám người này được cung cấp đủ mọi nhu cầu theo
nguyện vọng, và đã nghỉ ngơi sau cuộc hành trình, vị Bà-la-môn
thương nhân nảy lên ý tưởng ngu si này: 'Sau khi đã đi từ
đây đến Kamboja để kiếm tài sản, thì chúng ta sẽ làm
được việc gì? Chi bằng ta hãy tìm cách bắt lấy thần Dạ-xoa
đưa lên xe. Rồi sau đó cùng thần ấy đi thẳng về kinh thành
của ta'.
Với
ý tưởng này trong trí, vị Bà-la-môn nói kế hoạch của mình
cùng Ankura:
1.
Ðích ta tìm ở Kam-bo-ja
Thành
tựu khi ta gặp Dạ-xoa,
Thần
ấy cho ta bao ước muốn,
Bắt
thần cùng ở với đoàn ta.
2.
Hãy bắt lấy ngay Ðại lực thần,
Cho
dù cưỡng bách hoặc bằng lòng,
Hãy
đưa thần ấy lên xe gấp,
Trở
lại Dvà-ra vội bước chân.
Khi
vị Bà-la-môn đã nói vậy xong, Ankura liền đề cập pháp
thực hành của các thiện nhân, vừa phản đối vị kia:
3.
Với cây rủ bóng, ngẫu nhiên ngồi,
Nằm
nghỉ, ta không bẻ nhánh chơi,
Vì
kẻ nào hay làm phản bạn,
Là
người gây ác nghiệp trên đời.
Vị
Bà-la-môn đáp lời, theo quan niệm khôn ngoan thông thường
chủ trương rằng căn bản của sự thành công là loại bỏ
đạo đức giả:
4.
Với cây cao bóng mát tình cờ
Ta
đến nằm, ngồi thật tự do,
Có
thể đốn cây ngay tận gốc,
Nếu
điều này có lợi cho ta.
Ankura:
5.
Với cây rủ bóng ngẫu nhiên ngồi,
Nằm
nghỉ, ta không hái lá chơi,
Vì
kẻ nào hay làm phản bạn,
Là
người gây ác nghiệp trên đời.
Bà-la-môn:
6.
Với cây cao bóng mát tình cờ
Ta
đến nằm ngồi thật tự do,
Có
thể nhổ cây luôn cả rễ,
Nếu
điều này có lợi cho ta.
Ankura:
7.
Tình cờ ta ở lại nhà ai,
Dù
chỉ một đêm đến sáng mai,
Ta
được người kia mời ẩm thực,
Ta
không nghĩ kế hại cho người,
Tri
ân là một điều cần thiết
Ðược
các thiện nhân tán thán hoài.
8.
Tình cờ ta trú ngụ nhà ai,
Cho
dẫu một đêm, chỉ một thôi,
Và
được người kia mời ẩm thực,
Không
nên nghĩ việc ác cho người,
Kẻ
nào tay chẳng gây tai hại
Cũng
chấm dứt mưu phản bạn đời.
9.
Ngày trước nếu ai có thiện hành,
Về
sau phạm tội ác vào mình,
Bàn
tay trong sạch người kia thiếu,
Sẽ
chẳng gặp đâu phận tốt lành.
Lúc
ấy vị Bà-la-môn trở nên yên lặng. Tuy nhiên thần Dạ-xoa
đã nghe cả hai người nói chuyện, liền nổi giận với vị
Bà-la-môn và nói:
- Hãy
cho gã Bà-la-môn độc ác này lãnh phần xứng đáng với gã.
Rồi
để chứng tỏ rằng thần không dễ bị bất cứ ai khuất
phục, thần bảo:
10.
Ta đâu dễ bị một Thiên thần
Khuất
phục, hay vua chúa, thế nhân,
Ta
chính Dạ-xoa, thần đại lực,
Phi
nhanh như chớp giữa hư không,
Và
ta thọ hưởng hình dung đẹp,
Phúc
phận cho ta đủ lực hùng.
Ankura:
11.
Bàn tay ngài chói sáng vàng ròng,