Phẩm I
Phẩm Con Rắn
1.
Chuyện Thí Dụ Phước Ðiền (Khettùpamà)
Ðức
Thế Tôn kể chuyện này trong lúc đang trú tại chỗ nuôi sóc
ở Veluvana (Trúc Lâm) gần Ràjagaha (Vương Xá).
Thời
ấy, ở Vương Xá có một người chủ ngân khố giàu sang vô
cùng và chỉ được biết qua danh hiệu Ðại phú ông (Mahàdhanasetthi).
Ông có một con trai độc nhất rất khả ái và xinh đẹp.
Khi cậu đến tuổi trưởng thành, cha mẹ cậu suy nghĩ như
vầy: 'Nếu con ta chi tiêu một ngàn đồng mỗi ngày, thì dù
cả trăm năm nữa số lượng tài sản này cũng sẽ không hết'.
Họ
chẳng dạy cậu một nghề gì cả, vì suy nghĩ: 'Việc học
nghề sẽ tốn nhiều công sức mệt nhọc, cứ để nó an nhàn
thân tâm hưởng thọ giàu sang thỏa thích'.
Thay
vì dạy nghề, khi cậu đến tuổi mười sáu, họ cưới cho
cậu một cô dâu kiều diễm, nhưng hoàn toàn thiếu đạo hạnh.
Cùng với cô vợ, cậu đổ hết thời giờ vào việc hưởng
thụ, thích thú tầm cầu dục lạc.
Khi
cha mẹ mất, cậu phung phí tiền của vào đám vũ nữ, ca nhân
và các đám vui chơi khác; sau khi tiêu hết tài sản, cậu trở
nên nghèo khó, phải cố xoay xở để sống bằng cách vay nợ.
Nhưng khi cậu không còn có thể vay được nữa và bị các
chủ nợ thúc bách, cậu đưa hết ruộng vườn, trang trại,
nhà cửa cùng các gia sản khác rồi trở thành kẻ hành khất,
sống trong nhà tế bần của thành phố ấy.
Bấy
giờ, một hôm, bọn cướp gặp cậu và bảo:
- Này
chú, xem đây, chú làm sao ra khỏi cuộc sống khốn khổ này,
chú còn trẻ và có năng lực. Hãy đi theo bọn ta và sống
đầy đủ thoải mái bằng cách trộm cắp. Bọn ta sẽ tập
luyện cho chú.
Cậu
đồng ý và đi theo chúng. Bọn trộm cướp cho cậu một cây
gậy lớn; và trong khi chúng đột nhập vào một cái nhà mà
bọn chúng đã đục thủng một lỗ lớn, chúng đặt cậu
ở chỗ ra vào và nói:
- Nếu
có ai đến, hãy đánh chết nó đi.
Cậu
vốn tâm trí đần độn, không phân biệt bạn thù, liền đứng
đó và chỉ chờ đợi người khác đi đến.
Bấy
giờ, người trong nhà trở dậy, chạy đi thật nhanh, nhìn
đây đó, chợt thấy cậu đứng ở lỗ thủng ấy. Họ vừa
nói:
- Chúng
đây rồi, quân khốn kiếp, lũ trộm cướp, họ vừa chụp
lấy cậu đưa đến nhà vua, trình:
- Tâu
Ðại vương, tên trộm này bị bắt lúc đang phá nhà.
Vua
ra lệnh cho đám quân giữ thành:
- Chặt
đầu nó đi.
Bọn
này giam cậu vào ngục và đưa đến nơi hành hình, chúng đánh
cậu bằng roi trong lúc cậu đi theo tiếng trống xử tội.
Cùng lúc quần chúng la lớn:
- Tên
cướp phá hoại này đã bị bắt ở thành này.
Bấy
giờ ở trong thành ấy, có nàng hoa khôi tên là Sulasà đang
đứng bên cửa sổ. Nàng thấy cậu bị dẫn đi ngang, và vì
nàng đã quen biết cậu từ thời trước nên nàng có cảm
tình với cậu vốn là người từng đạt đại phú quí trong
thành này, nàng liền cho gửi mứt bánh và nước uống, lại
nhờ người nhắn với bọn giữ thành:
- Cầu
mong các tôn ông đợi cho đến lúc người này ăn xong mứt
bánh và uống nước.
Cùng
lúc ấy trong thành này, Tôn giả Mahà-Moggallàna đang quán sát
bằng thiên nhãn và thấy tình cảnh nguy khốn của kẻ này,
Tôn giả động lòng bi mẫn và suy nghĩ: 'Vì kẻ này chưa hề
làm công đức gì, mà chỉ tạo ác nghiệp, y sẽ bị tái sanh
vào địa ngục. Nay nếu ta đi ra và y cho ta mứt bánh và nước
uống, y sẽ được tái sanh vào hội chúng các địa thần.
Ta phải giúp đỡ kẻ này'.
Vì
vậy Tôn giả liền xuất hiện trước tội nhân ngay khi mứt
bánh và nước được mang đến. Khi cậu thấy vị Trưởng
lão, tâm cậu được an lạc và cậu suy nghĩ: 'Ta có lợi ích
gì nhờ ăn mứt bánh này nếu ta phải chết? Giờ đây, chúng
sẽ làm hành trang cho ta lên đường đi đến thế giới bên
kia'.
Thế
là cậu nhờ đưa bánh mứt và nước uống đi cúng vị Trưởng
lão. Khi Tôn giả Moggallàna thấy nỗi thống khổ của cậu
đã trở thành hoan hỷ, Tôn giả ngồi xuống và ăn uống xong
rồi đứng dậy đi lên đường.
Còn
người ấy bị các đao phủ đưa đến nơi xử tội và chém
đầu. Nhờ hành động tín thành đối với Trưởng lão Moggallàna,
phước điền vô thượng ở đời, kẻ ấy xứng đáng được
tái sanh vào thiên giới cao cả. Nhưng vì niềm luyến ái phát
ra đối với Sulasà khi cậu suy nghĩ: 'Ta tạo được lễ cúng
dường này là nhờ nàng', nên ngay lúc lâm chung, tâm cậu trở
thành bất tịnh và cậu tái sanh vào cảnh giới thấp hơn,
làm vị thần ở trong cây chuối lớn có tàn lá rậm rạp
trong rừng hoang.
Bấy
giờ tình cờ vị thần thấy Sulasà trong vườn của nàng liền
mang nàng đến nơi cư trú của vị ấy. Mẹ nàng than khóc,
bảo vị ấy sau một tuần phải đem nàng trở lại. Bà mẹ
kể chuyện cho mọi người nghe, khi họ hỏi bà sự việc đã
xảy ra, và họ tràn đầy kinh ngạc bảo nhau:
- Các
bậc A-la-hán quả thật là phước điền vô thượng ở đời,
ngay một hành động từ bi nhỏ bé đối với chư vị cũng
làm cho con người tái sanh vào cõi chư Thiên.
Chư
Tăng thuật chuyện này lên đức Thế Tôn, Ngài bèn ngâm các
vần kệ này để giải thích sự việc:
1.
Bậc Thánh ví như các ruộng đồng,
Người
cho là chính các nhà nông,
Hạt
gieo là vật đem dâng cúng,
Kết
quả từ đây được hưởng phần.
2.
Hạt giống đây và đám ruộng đồng
Dành
cho ngạ quỷ lẫn người trồng,
Nơi
nầy ngạ quỷ thường an hưởng,
Thí
chủ tín thành phước đức tăng.
3.
Vì hành thiện nghiệp ở trên đời,
Cúng
lễ các ma quỷ đói mồi,
Sẽ
đến cõi thiên làm trú xứ,
Nhờ
người đã tạo nghiệp an vui.
Khi
pháp thoại chấm dứt, tám vạn bốn ngàn người được đắc
Pháp nhãn.
2.
Chuyện Con Lợn Rừng (Sukàra)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại chỗ nuôi sóc
ở Veluvana (Trúc Lâm) gần Ràjagaha (Vương Xá).
Tương
truyền ngày xưa khi đức Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp) thuyết
Pháp, một Tỷ-kheo đã điều phục tự thân, nhưng thiếu phòng
hộ ngôn ngữ, nên đã mạ ly các Tỷ-kheo khác. Lúc từ trần,
vị ấy tái sanh vào địa ngục. Sau khi đã bị thiêu đốt
tại đó cả một kiếp, vị ấy rời cõi ấy và trong kiếp
này tái sanh gần thành Ràjagaha, dưới chân núi Gijjhakùta (Linh
Thứu), vị ấy luôn bị đói khát giày vò. Thân thể vị ấy
có màu vàng ròng, nhưng miệng lại giống mõm lợn rừng.
Vào
thời ấy, Tôn giả Nàrada đang trú tại núi Linh Thứu. Vừa
cầm y bát, vị ấy khởi hành từ sáng sớm để khất thực.
Trong lộ trình đến Ràjagaha, vị ấy thấy ngạ quỷ kia trên
đường. Khi hỏi về hạnh nghiệp mà ngạ quỷ kia đã tạo,
vị ấy đã ngâm các vần kệ sau:
1.
Nhà ngươi vàng rực khắp toàn thân,
Chiếu
ánh sáng ra khắp mọi vùng,
Song
miệng ngươi như mồm lợn đực,
Nghiệp
gì ngươi tạo kiếp xưa chăng?
Ngạ
quỷ đáp lời:
2.
Xưa con điều phục khéo về thân,
Nhưng
khẩu con không được hộ phòng,
Vì
thế hình hài con vậy đó,
Nà-ra-da
thấy rõ con cùng.
Ngạ
quỷ ấy còn nói lời khuyên này với Trưởng lão:
3.
Nà-ra-da, vậy hãy xem đây,
Con
muốn trình Tôn giả việc này:
Ðừng
phạm ác tà về khẩu nghiệp,
E
ngài sẽ hóa mõm heo vầy!
Thế
rồi Tôn giả Nàrada, sau khi đã đi khất thực trong thành Vương
Xá và sau buổi ngọ trai, trở về trình sự việc này với
bậc Ðạo Sư, Ngài dùng đó làm đề tài thuyết pháp.
3.
Chuyện Ngạ Quỷ Có Mồm Hôi Thối (Pùtimukkha)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại chỗ nuôi sóc
ở Veluvana (Trúc Lâm).
Ngày
xưa vào thời đức Thế Tôn Kassapa (Ca-diếp) có hai thiện
gia nam tử theo lời giáo huấn của Ngài, đã xuất gia bỏ
đời thế tục. Thực hành đầy đủ giới luật và sống
khổ hạnh khắc nghiệt, hai vị an trú hòa hợp với nhau ở
một nơi kia trong làng.
Sau
đó một Tỷ-kheo có ác tính, thích mạ ly, đã đến trú xứ
của hai vị. Hai Trưởng lão này ân cần nhận vị ấy và
qua ngày thứ hai lại cùng vị ấy đi khất thực.
Dân
chúng tích cực tuân lời dạy của chư vị và cúng dường
chư vị đủ cháo, gạo, cơm và nhiều thực phẩm khác. Vị
kia suy nghĩ: 'Làng này thật là nơi ở tốt để khất thực
và dân chúng đầy đủ tín tâm cúng dường thực phẩm ngon
lành. Ðây lại có bóng mát và nước. Ta có thể sống sung
sướng ở đây nhưng chẳng thể được bao lâu hai Tỷ-kheo
này cũng trú cùng nơi này. Ðược rồi, vậy thì ta sẽ làm
sao cho họ không đến đây ở nữa'. Thế là vị ấy phỉ
báng người nọ với người kia. Hai vị dần dần sinh ra hoài
nghi và suy nghĩ: 'Dẫu sao cũng có thể như vậy', và mất lòng
tin, chư vị tránh mặt nhau, rồi không ai bảo ai, mỗi người
ra đi tìm một nơi dễ chịu hơn.
Dân
chúng hỏi vị Tỷ-kheo phỉ báng:
- Bạch
Tôn giả, chư vị Trưởng lão đi đâu rồi?
Vị
ấy đáp:
- Suốt
đêm hai vị tranh cãi nhau; hai vị ra đi chẳng để ý đến
lời ta bảo: 'Xin đừng tranh cãi, hãy hòa hợp', và còn nhiều
chuyện khác nữa, ta nói thêm: 'Những người nào có tính như
vậy thường thích đánh nhau to'. Sau đó quần chúng van nài:
- Cứ
để chư vị Trưởng lão đi, tuy nhiên vì chúng đệ tử, xin
Tôn giả ở lại đây và đừng hối tiếc gì cả.
Vị
ấy đồng ý đáp:
- Ðược
lắm.
Trong
khi ở đó vài ngày, vị ấy suy xét: 'Do tham muốn trú xứ,
ta đã ly gián hai Tỷ-kheo này. Ôi! Ta đã quyết tâm tạo nhiều
ác nghiệp'. Bị lòng hối hận sâu xa giày vò và ngã bệnh
vì tinh thần dao động, chẳng bao lâu vị ấy từ trần và
tái sanh vào địa ngục Avìci (Vô gián hay A-tỳ).
Về
sau vị ấy tái sanh vào kiếp này làm một ngạ quỷ có mồm
hôi thối ở không xa thành Ràjagaha. Thân thể vị ấy có màu
vàng ánh, nhưng sâu bọ lúc nhúc bò ra từ mồm vị ấy cấu
xé mãi khiến mồm vị ấy bốc mùi hôi thối. Thời ấy Tôn
giả Nàrada từ đỉnh Linh Thứu đi xuống, thấy ngạ quỷ
kia, bèn ngâm vần kệ hỏi về hạnh nghiệp của vị ấy:
1.
Ngươi có màu da sáng đẹp sao,
Như
chư Thiên ở cõi trời cao,
Ngươi
đang lơ lửng trong không khí,
Song
miệng ngươi hôi thối biết bao,
Vì
đám bọ sâu đang cắn xé,
Kiếp
xưa ngươi tạo ác hành nào?
Ngạ
quỷ đáp:
2.
Là một Tỷ-kheo có ác ngôn,
Dù
con giữ khổ hạnh vuông tròn,
Con
không chế ngự về ngôn ngữ,
Con
được màu da sáng tựa vàng
Nhờ
khổ hạnh xưa, song miệng thối
Vì
lời phỉ báng của mồm con.
3.
Chính Ngài đã thấy việc này rồi
Ai
giới đức và thương xót đời,
Sẽ
bảo: 'Ngươi đừng nên phỉ báng
Cũng
không dối trá, nói sai lời,
Về
sau hóa Dạ-xoa thần lực,
Hưởng
thọ thú vui như ý ngươi.
4.
Chuyện Hình Nhân Bằng Bột (Pitthadhìtalika)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Sàvatthi (Xá-vệ)
trong Jetavana (Kỳ-viên).
Thời
ấy người nhũ mẫu đem cho cháu gái của ông Anàthapindika
(Cấp Cô Ðộc) một hình tượng bằng bột để làm đồ chơi.
Một
hôm cô bé làm rơi hình tượng ấy vỡ tan. Nó kêu lên: 'Con
gái ta đã chết rồi!', và khóc mãi, đám gia nhân không ai
dỗ dành được.
Bấy
giờ bậc Ðạo Sư đang ở trong nhà ông Cấp Cô Ðộc, vị
này đang ngồi gần Ngài. Bà nhũ mẫu đem cô bé đến bên
ông chủ. Ông hỏi:
- Tại
sao con bé khóc?
Rồi
vừa ôm cháu vào lòng, ông vừa dỗ dành nó và bảo:
- Ông
sẽ cho cháu một đứa con gái khác để làm tặng vật.
Rồi
ông thưa trình bậc Ðạo Sư:
- Bạch
Thế Tôn, vì cháu nội của con khóc về chuyện hình tượng
bằng bột, con ước mong dâng lễ vật cúng dường. Xin Thế
Tôn chấp thuận đến nhà con ngày mai cùng với năm trăm Tỷ-kheo.
Ðức
Thế Tôn nhận lời. Như vậy đức Thế Tôn đã đến và sau
buổi ngọ trai, Ngài nói lời tùy hỷ công đức và ngâm các
vần kệ này:
1.
Với mọi quan tâm, kẻ có lòng
Phải
dâng lễ cúng các gia tông,
Các
vong linh những người thân thuộc,
Cùng
với chư Thiên lẫn thổ thần.
2.
Trì Quốc, Ða Văn, Quảng Mục vương,
Thiên
vương Tăng Trưởng giữ trần gian,
Tứ
Thiên vương được người tôn kính,
Thí
chủ không mất quả phước phần.
3.
Bởi vì kêu khóc hoặc sầu bi,
Thương
tiếc than van chẳng ích gì,
Không
lợi gì cho người quá cố,
Khi
thân nhân giữ thói lề kia.
4.
Song lễ vậy này được cúng dâng
Khéo
đem an trú ở chư Tăng,
Quả
này hiện tại và sau nữa
Lợi
lạc lâu dài với cổ nhân.
Ðức
Thế Tôn đã thuyết pháp như vậy rồi ra đi. Bà vợ và gia
quyến vị Ðại phú ông theo gương vị ấy. Do vậy họ làm
lễ đại cúng dường suốt một tháng. Rồi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc)
nghe tin này cũng dâng lễ vật dồi dào lên Tăng chúng. Khi
dân chúng thấy vậy, họ lần lượt làm theo nhà vua và làm
lễ đại cúng dường suốt cả tháng, một lễ đại cúng
dường có nguồn gốc từ hình tượng bằng bột ấy.
5.
Chuyện Ngạ Quỷ Ngoại Bức Tường (Tirokuddapeta)
Bậc
Ðạo sư kể chuyện này trong khi đang trú tại Ràjagaha (Vương
Xá).
Chín
mươi hai kiếp về trước, có một kinh thành tên là Kàsipuri.
Vua Jayasena ngự trị nơi ấy có chánh hậu là Sirimà, vương
tử Phussa chứng đắc Vô Thường Chánh Ðẳng Giác, tức là
đức Cổ Phật thứ mười tám sau đức Phật Dipankara (Nhiên
Ðăng).
Bấy
giờ Ðại Vương Jayasena sinh tâm ngã mạn, suy nghĩ: 'Vì vương
tử của ta sinh ra đời làm đức Phật, đã thành tựu đại
sự xuất thế, chỉ riêng ta có Phật, chỉ riêng ta có Pháp,
chỉ riêng ta có Tăng chúng'. Do đó nhà vua luôn luôn hầu cận
bên đức Phật và không dành cơ hội cho kẻ khác.
Ba
hoàng đệ của đức Thế Tôn ấy do bà mẹ khác sinh ra, bèn
suy nghĩ: 'Quả thật chư Phật ra đời vì lợi ích của quần
sinh khắp thế gian này, chứ không phải vì riêng một ai. Nay
phụ vương ta không dành cơ hội cho người khác. Làm thế
nào ta có thể phụng sự đức Thế Tôn và Tăng chúng? Nào
chúng ta hãy thi hành một chiến thuật'.
Thế
là chư vị gây rối tại vùng biên địa. Sau đó khi nhà vua
nghe tin về vụ rối loạn này, liền phái ba vương tử đi
bình định biên thùy. Ba vị tuân lệnh và khi trở về, nhà
vua hài lòng ban chư vị một điều ước, phán bảo:
- Hãy
chọn thứ gì các vương nhi muốn.
Ba
vị tâu:
- Chúng
thần nhi ước mong hầu cận đức Thế Tôn.
Nhà
vua từ chối, phán:
- Hãy
chọn thứ khác.
Ba
vị tâu:
- Chúng
thần nhi không màng thứ gì khác cả.
Nhà
vua lại phán:
- Thôi
được, các vương nhi có quyền chọn theo ý muốn.
Ba
vị đến gần đức Thế Tôn và thưa:
- Bạch
Thế Tôn, chúng đệ tử ước mong phụng sự đức Thế Tôn
ba tháng. Xin đức Thế Tôn hoan hỷ an cư ba tháng mưa với
chúng đệ tử.
Ðức
Thế Tôn chấp thuận. Ba vị hoàng tử tự thân hành gửi một
thông điệp đến cho người được chỉ định trông coi tỉnh
nọ, bảo: 'Trong suốt ba tháng này, chúng ta cần phục vụ
đức Thế Tôn, bắt đầu bằng cách xây một tinh xá, và cung
cấp đủ mọi thứ cần thiết'.
Sau
đó chư vị hết lòng cung kính phục vụ đức Thế Tôn cùng
Tăng chúng. Khi các viên quan cai trị tỉnh này đã cúng dường
tinh xá xong, các vị chấp hành việc an cư mùa mưa ấy. Một
vị thủ kho hàng gia, con trai một gia chủ, là người mộ đạo
cùng với vợ đã tìm được niềm tin, vị ấy trân trọng
cúng dường Tăng chúng với đức Phật làm thượng thủ. Người
được chỉ định cai quản tỉnh này theo gương vị kia cùng
với mười một ngàn dân đem các vật đến cúng dường với
tất cả lòng thành kính.
Vào
dịp ấy, có một số người bất mãn trong lòng, sau khi ngăn
cản những vật đóng góp, chính họ lại ăn các phẩm vật
và nổi lửa đốt trai đường.
Sau
khi ba vương tử cùng đoàn tùy tùng đã cúng dường đức
Thế Tôn và từ giã Ngài xong, ba vị đi thẳng đến phụ vương.
Khi
trở về, đức Thế Tôn đắc Niết-bàn vô dư y, ba vương
tử và người cai quản tỉnh ấy, vị thủ kho báu hoàng gia
dần dần theo thời gian đều từ trần và cùng với quần
chúng ở đó được tái sanh thiên giới, còn số người bất
mãn trong tâm bị tái sanh địa ngục.
Chín
mươi hai kiếp trôi qua như vậy, trong lúc hai hạng người
trên cứ lần lượt tái sanh từ thiên giới này đến thiên
giới khác và từ địa ngục này đến địa ngục khác. Rồi
đến hiền kiếp này, vào thời đức Thế Tôn Kassapa, đám
người bất mãn trong tâm tái sanh vào loài ngạ quỷ.
Vào
thời ấy, loài người thường cúng dường vì lợi ích của
đám quyến thuộc quá cố của họ và nêu rõ: 'Lễ vật này
xin dành cho quyến thuộc của chúng tôi'. Do đó, các vong linh
được an lạc. Thế rồi, chính các vong linh ấy cũng nhận
biết điều này, nên sau khi đến gần đức Phật Kassapa, các
vị ấy hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, giờ đây làm thế nào chúng con có thể đạt được
an lạc như vầy'?
Ðức
Thế Tôn đáp:
- Hiện
nay chư vị chưa có thể đạt được an lạc ấy, nhưng thời
gian về sau, sẽ có một đức Phật ở thế gian tên gọi là
Gotama. Vào thời của đức Thế Tôn ấy, sẽ có một vị vua
tên là Bimbisàra, trong chín mươi hai kiếp nữa kể từ đây
sẽ là quyến thuộc của chư vị. Vua ấy sẽ dâng lễ cúng
dường đức Phật và sẽ hồi hướng công đức ấy đến
chư vị, sau đó chư vị sẽ được an lạc.
Thời
bấy giờ, khi điều này được phát biểu, thì cũng như thể
ta nói với các vong linh ấy: 'Ngày mai chư vị sẽ được an
lạc'.
Về
sau, khi thời kỳ có đức Phật này đã qua, đức Thế Tôn
(Gotama) giáng sanh vào cõi đời, ba vương tử cùng với một
ngàn người từ thiên giới tái sanh vào quốc độ Magadha (Ma-kiệt-đà)
trong các gia đình Bà-la-môn.
Theo
thời gian, sau khi từ giã đời thế tục, ba vị trở thành
các nhà khổ hạnh bện tóc, trú tại đỉnh núi Gayà, người
trước kia cai quản tỉnh thành ấy trở thành vua Bimbisàra;
người thủ khố hoàng gia, con của vị gia chủ, trở thành
đại phú trưởng nghiệp đoàn có tên Visàkha; vợ vị ấy
trở thành con gái của một vị đại phú trưởng nghiệp đoàn
và được đặt tên Dhammadinnà, còn đám quần chúng được
tái sanh làm các vị cận thần của vua.
Bấy
giờ đức Thế Tôn Gotama giáng sanh cõi trần, sau bảy tuần
Giác Ngộ, Ngài đến Benares (Ba-la-nại) chuyển Pháp luân. Ngài
giáo hóa ba vị đạo sĩ bện tóc, sau khi Ngài đã khởi đầu
giáo hóa năm vị khổ hạnh, và thâu nhận cả ngàn đệ tử.
Sau đó Ngài đi đến Ràjagaha và an trú vua Bimbisàra vào Sơ
quả Dự Lưu cùng với hơn một vạn Bà-la-môn và cư sĩ ỏ
tại xứ Anga (Ưng-già) và Magadha.
Tuy
nhiên các ngạ quỷ ở quanh cung vua suy nghĩ: 'Giờ đây nhà
vua sẽ làm lễ cúng tế cho chúng ta được hưởng phước'.
Trong lúc nhà vua làm tế lễ, nhà vua suy nghĩ: 'Ta không biết
bây giờ đức Thế Tôn đang trú ở đâu?'. Do vậy, nhà vua
không hồi hướng công đức đến ai cả. Vì các ngạ quỷ
không nhận được thí vật nào cả, chúng rất thất vọng
thốt tiếng kêu thảm thiết mỗi đêm ở hoàng cung.
Rạng
ngày, nhà vua hoảng sợ trình đức Thế Tôn về chuyện đã
xảy ra và hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, Ngài đã nghe tiếng nào như vậy chưa? Con băn khoăn
không biết việc gì xảy ra với con.
Ðức
Thế Tôn đáp:
- Thưa
Ðại vương, xin đừng sợ, không có gì bất thường xảy
ra với Ðại vương đâu, mà thịnh vượng sẽ đến với Ðại
vương thôi. Giờ đây, quả thật là quyến thuộc của Ðại
vương đã tái sanh vào loài ngạ quỷ. Trong suốt một kiếp,
chúng đã lang thang khắp nơi và chỉ mong ước điều này:
'Nhà vua sẽ làm lễ cúng dường đức Phật và hồi hướng
công đức ấy cho chúng ta'. Hôm qua, khi Ðại vương dâng lễ,
Ðại vương đã không hồi hướng công đức. Do đó, chúng
mất hết hy vọng và thốt tiếng kêu la.
Nhà
vua hỏi:
- Bạch
Thế Tôn, bây giờ làm sao chúng có thể nhận được thí vật?
Ðức
Phật đáp:
- Thưa
Ðại vương, quả thật chúng có thể nhận.
Nhà
vua nói:
- Bạch
Thế Tôn, vậy Thế Tôn hãy nhận lời thỉnh cầu của con
vào ngày mai, con sẽ hồi hướng công đức lễ vật ấy cho
chúng.
Ðức
Thế Tôn nhận lời.
Sau
đó, nhà vua ra lệnh chuẩn bị lễ cúng dường hào phóng,
và thông báo thời giờ lên đức Thế Tôn, Ngài liền đến
Hoàng cung. Bầy ngạ quỷ cũng đến và suy nghĩ: 'Hôm nay chúng
ta sẽ hưởng được món gì đó', rồi đứng bên ngoài các
bức tường và hàng rào.
Sau
đó đức Thế Tôn làm cho mỗi ngạ quỷ đều hiện hình trước
nhà vua. Trong khi vua dâng nước rửa, vua hồi hướng công đức
ấy cho chúng với những lời này: 'Mong công đức này dành
cho quyến thuộc ta'. Lập tức xuất hiện các ao sen đầy sen
súng cho bọn ngạ quỷ. Chúng tắm rửa và uống nước ở
đó, được giảm nhẹ nỗi thống khổ của chúng vì bất
hạnh, lao nhọc và khát nước, nên da chúng trở nên vàng ánh.
Nhà
vua dâng lễ cúng dường cháo gạo và các thức ăn đủ loại
cứng mềm rồi hồi hướng công đứng lễ vật ấy cho chúng.
Trong chốc lát liền xuất hiện cho chúng các thực phẩm khác,
thậm chí cả thực phẩm thiên giới, khiến chúng hân hoan
hưởng thọ.
Nhà
vua lại cúng dường y phục và sàng tọa, tinh xá rồi hồi
hướng công đức lễ vật ấy. Sau đó liền xuất hiện cho
chung các thiên y, thiên cung, sàng tọa, khăn phủ và đồ trang
sức. Ðức Thế Tôn quyết định làm cho tất cả hạnh phúc
tuyệt vời này của họ được hiển lộ trước vua; khi nhìn
thấy vậy, vua vô cùng hoan hỷ.
Rồi
đức Thế Tôn, sau khi thọ thực xong, và được thỉnh cầu,
Ngài kể chuyện ngạ quỷ ngoài bức tường thay lời tùy hỷ
công đức.
1.
Bọn chúng đứng kia, ngoài bức tường,
Những
nơi trống trải, ngã tư đường,
Chúng
đang đứng ở ngoài song cửa,
Khi
đã về nhà tại cố hương.
2.
Dù tràn trề ẩm thực liên miên
Ðủ
loại cứng mềm được dọn lên,
Cũng
chẳng có ai cần bọn chúng,
Bởi
vì nghiệp chúng đã gây nên.
3.
Những người lân mẫn, lắm tình thương
Ðúng
lúc đem cho đám họ hàng
Các
thức cao lương, đồ ẩm thực
Với
lời cầu nguyện: 'Ðể dành phần
Lễ
này cho đám người thân thuộc,
Mong
các họ hàng được phước ân'.
4.
Và các đám này đã đến đây,
Các
vong linh của họ hàng này,
Thảy
đều tụ tập đồng vui hưởng
Các
thực phẩm đều phong phú thay.
5.
Chúng cầu: 'Trường thọ các người thân,
Nhờ
các vị, ta được hưởng ân,
Lòng
quý trọng ta đà biểu lộ,
Người
cho chẳng thiếu quả dành phần'.
6.
Chốn kia không có cấy cày đâu,
Cũng
chẳng hề nuôi súc vật nào,
Buôn
bán như đây đều chẳng có,
Cũng
không đổi vật lấy vàng trao.
7.
Bên kia thế giới các vong linh
Nhờ
vật cúng dường để dưỡng sinh,
Như
nước đổ từ trên núi xuống
Cúng
dường nuôi ngạ quỷ thân tình.
8.
Giống như tất cả các dòng sông
Chảy
xuống đổ đầy cả đại dương,
Cũng
vậy những gì người bố thí
Từ
đây nuôi sống các vong nhân.
9.
Những thân bằng quyến thuộc trong nhà
Trước
đã cho ta, giúp đỡ ta;
Mong
mọi người ban phần ngạ quỷ,
Nhớ
công họ tạo thuở xưa xa.
10.
Bởi vì kêu khóc hoặc sầu bi,
Thương
tiếc, than van chẳng ích gì,
Không
lợi gì cho người quá cố,
Khi
thân nhân giữ thói lề kia.
11.
Song lễ vật này được cúng dâng
Khéo
đem an trú ở chư Tăng,
Quả
này hiện tại và sau nữa
Lợi
lạc lâu dài với cổ nhân.
12.
Ðây là nghĩa vụ của thân nhân
Tôn
trọng vong linh, đã cúng dâng,
Tăng
chúng được thêm nhiều dõng lực,
Người
làm công đức lớn vô ngần.
Khi
pháp thoại chấm dứt, tám vạn bốn ngàn người đã đắc
Pháp nhãn do tri kiến sanh khởi từ sự kiện tái sanh vào cảnh
giới ngạ quỷ. Tâm họ đầy xúc động vì được tán thán
và họ càng nỗ lực tinh cần. Ngày hôm sau đức Thế Tôn
cũng dạy chư Thiên và loài Người bài kinh 'Ngoài Bức Tường'
ấy. Do vậy suốt bảy ngày đều diễn ra sự đắc Pháp nhãn
như trên.
6.
Chuyện Ngạ Quỷ Ăn Thịt Năm Ðứa Bé (Pàncaputtakhadaka)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Sàvatthi (Xá-vệ).
Trong
làng nọ không xa Sàvatthi, có một người vợ địa chủ không
sinh con. Quyến thuộc của ông nói: 'Ðể ta kiếm một cô gái
khác cho ông'. Nhưng ông không muốn, do lòng yêu thương vợ.
Về sau, khi nghe chuyện này, bà vợ giục chồng đi cưới vợ
khác để khỏi tuyệt dòng giống.
Nhưng
khi cô vợ mới có thai, người vợ vô sinh, lòng đầy ganh
tỵ, đem thức ăn uống đãi một vị du sĩ và nhờ ông ấy
thực hiện việc phá thai. Cô vợ kể chuyện với mẹ, bà
liền triệu tập gia quyến đến bảo người vợ vô sinh:
- Chị
đã làm chết con nó còn ở trong bụng.
Người
ấy đáp:
- Tôi
vô tội.
Họ
bảo:
- Nếu
chị vô tội, vậy hãy thề đi.
Người
ấy bèn thề độc, thách thức tai họa xảy đến nếu bà
có tội. Không lâu sau đó, người ấy từ trần và tái sanh
làm một nữ ngạ quỷ xấu xí ở không xa thành phố này.
Cùng thời ấy, có tám Tỷ-kheo đang an cư mùa mưa trong tỉnh
đi đến Sàvatthi để yết kiến bậc Ðạo Sư, vừa vào một
nơi trong rừng có bóng mát và nước chảy không xa làng ấy.
Sau đó nữ ngạ quỷ hiện hình trước các vị Trưởng lão,
một vị trong số ấy liền hỏi:
1.
Trần truồng và xấu xí hình dung,
Ngươi
thở mùi hôi thối nặc nồng,
Bao
phủ toàn thân đầy bọ nhặng,
Ngươi
là ai đứng ở đây chăng?
Nữ
ngạ quỷ đáp:
2.
Tôn giả, con là ngạ quỷ nương,
Thần
dân khốn khổ của Diêm vương,
Vì
con đã phạm hành vi ác,
Con
đến cõi ma đói ẩn thân.
3.
Sáng ngày năm đứa bé con sinh,
Chiều
tối năm trai lại hiện hình,
Tất
cả, con đều xâu xé hết,
Nhưng
không vừa đủ để nuôi mình.
4.
Lòng con đang nóng cháy như rang,
Bốc
khói vì cơn đói bạo tàn,
Con
chẳng tìm đâu ra nước uống,
Hãy
nhìn tai họa giáng đầu con.
Khi
nghe xong chuyện này, vị Trưởng lão hỏi:
5.
Ngày xưa đã phạm ác hành gì
Do
khẩu, ý, thân đã thực thi,
Nay
phải đền bù vào tội lỗi,
Ngươi
xâu xé thịt lũ hài nhi?
Sau
đó nữ ngạ quỷ kể cho vị Trưởng lão về những việc
đã làm:
6.
Vợ bé chồng con đang có thai,
Con
mưu việc ác chống nàng hoài,
Chính
con với trí tâm điên đảo
Ðã
khiến nàng kia sẩy bé trai.
7.
Thai chừng hai tháng máu tuôn tràn,
Bà
mẹ giận đưa các họ hàng,
Bà
ấy bảo con thề độc hại,
Và
con bị phỉ báng muôn vàn.
8.
Chính con đã nhận lấy lời thề
Khủng
khiếp, tràn đầy giả dối kia:
'Nếu
việc ấy do tôi tự tạo,
Thì
tôi ăn thịt đám hài nhi'.
9.
Do kết quả hành nghiệp của mình
Cùng
lời thề độc ác gian manh,
Con
xấu xé thịt bầy con trẻ,
Vì
quá khứ, con vấy máu tanh.
Chư
vị Trưởng lão xúc động xót thương nữ ngạ quỷ, bèn đến
nhà vị địa chủ kia bảo ông hồi hướng đến ngạ quỷ
công đức buổi thọ trai mà ông cúng dường chư vị. Lập
tức nữ ngạ quỷ thoát khỏi cảnh khốn khổ kia, nhận được
nhiều ân phước và hiện hình ban đêm cho người chồng thấy.
Sau đó chư Trưởng lão đến Sàvatthi đúng thời và trình
lên đức Thế Tôn vấn đề ấy.
7.
Chuyện Ngạ Quỷ Ăn Thịt Bảy Ðứa Bé (Sattaputtakhadaka)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Sàvatthi (Xá-vệ).
Trong
một làng nọ không xa Sàvatthi, một đệ tử tại gia có hai
con trai xinh đẹp, đủ tài năng đức độ. Vì thế, mẹ chúng
khinh thường chồng bà. Chán cảnh bị vợ khinh thường, ông
đem về một cô vợ khác còn trẻ lại chóng có thai. Bà vợ
cả sinh lòng ganh tỵ, thuyết phục một y sĩ bằng cách trả
một số tiền, để làm cho tình địch phải trụy thai.
Thời
ấy nhiều vị Trưởng lão, đã an cư mùa mưa ở một nơi
trong làng, đang đi đến Săavatthi để yết kiến đức Thế
Tôn. Nhân dịp này, chư vị ở lại đêm gần làng ấy. Sau
đó nữ ngạ quỷ này xuất hiện trước chư Trưởng lão.
Vị trưởng đoàn hỏi ngạ quỷ qua vần kệ:
1.
Trần truồng và xấu xí hình dung,
Ngươi
thở mùi hôi thối nặc nồng,
Bao
phủ toàn thân đầy bọ nhặng,
Nguơi
là ai đứng ở đây chăng?
Nữ
ngạ quỷ đáp:
2.
Tôn giả, con là ngạ quỷ nương,
Thần
dân khốn khổ của Diêm vương,
Vì
con đã phạm hành vi ác,
Con
đến cõi ma đói ẩn thân.
3.
Sáng ngày bảy đứa trẻ con sinh,
Chiều
tối bảy trai lại hiện hình,
Tất
cả, con đều xâu xé hết,
Song
không vừa đủ để nuôi mình.
4.
Lòng con đang cháy nóng như rang,
Bốc
khói, vì cơn đói bạo tàn,
Con
chẳng được tâm hồn lắng dịu,
Khác
nào lửa đốt, khổ muôn vàn.
Vị
trưởng đoàn lại hỏi:
5.
Ngày xưa đã phạm ác hạnh gì,
Từ
khẩu, ý, thân đã thực thi,
Vì
phạm lỗi lầm nào quá khứ,
Mà
ngươi ăn thịt đám hài nhi?
Nữ
ngạ quỷ đáp:
6.
Ngày xưa con có được hai trai,
Bọn
chúng trưởng thành đủ cả hai,
Khi
đã thấy con mình lớn mạnh,
Con
thường khinh bỉ lão chồng tồi.
7.
Sau đó chồng con nổi hận sân,
Cưới
về thêm một ả hồng quần,
Khi
nàng kia đã mang thai nghén,
Con
nảy sinh tâm ác hại nhân.
8.
Con có tâm gian xảo, ác tà
Khiến
cho nàng phải bị thai sa,
Máu
tuôn khủng khiếp và ghê rợn,
Việc
ấy xảy vào tháng thứ ba.
9.
Khi ấy mẹ nàng nổi hận sân,
Liền
đưa con đến đám thân nhân,
Bà
truyền con nói lời thề độc,
Và
bảo mọi người phỉ báng con.
10.
Chính con đã nhận thấy lời thề,
Khủng
khiếp tràn đầy giả dối kia:
'Nếu
việc ấy do tôi tự tạo,
Thì
tôi ăn thịt đám hài nhi'.
11.
Do kết quả hành nghiệp của mình,
Cùng
lời thề độc ác gian manh,
Con
xấu xé thịt bầy con trẻ,
Vì
quá khứ, con vấy máu tanh.
8.
Chuyện Con Bò (Gona)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong khi đang trú tại Jetavana (Kỳ
Viên).
Thuở
đó ở Sàvatthi (Xá-vệ), người cha của một gia chủ nọ
qua đời. Người con bị nỗi ưu phiền hành hạ và cứ khóc
than mãi. Trong khi kẻ ấy đi lang thang như một người điên,
ông thường hỏi bất cứ kẻ nào ông gặp: 'Thế người có
thấy cha tôi chăng?' Không ai có thể xua tan nỗi ưu phiền
của ông cả.
Nhưng
trong lòng ông, như một ngọn đèn ở trong cái chai, đang bừng
lên một khả năng đột xuất hướng về Nhập lưu đạo.
Trong
lúc bậc Ðạo Sư đang quán sát thế gian vào buổi sáng, Ngài
thấy điều kiện chắc chắn này và suy nghĩ: 'Ðưa đến cho
người này quả Dự Lưu thật là thích hợp sau khi kẻ ấy
đã kể lại sự việc quá khứ và dẹp bỏ sầu bi'.
Vì
thế ngày hôm sau, Ngài đi khất thực về, liền cùng một
Tỷ-kheo trẻ đến cửa nhà vị kia. Khi nghe bậc Ðạo Sư đã
đến, người ấy bước ra đón Ngài. Khi bậc Ðạo Sư đã
an tọa, vị gia chủ nói:
- Bạch
Thế Tôn, Ngài biết cha con đã đi về đâu rồi.
Bậc
Ðạo Sư hỏi vị ấy:
- Này
cư sĩ, ông hỏi về cha ông ở đời này hay đời trước?
Khi
nghe những lời này, nỗi buồn của vị ấy dịu bớt: 'Ta
có rất nhiều cha trong quá khứ' và vị ấy đã lấy lại
được đôi chút thanh thản. Rồi bậc Ðạo Sư thuyết một
bài giảng ngắn và ra đi về nơi cư trú của Ngài. Sau đó
chư Tỷ-kheo bắt đầu pháp thoại về chuyện này.
Khi
vừa đến nơi, bậc Ðạo Sư hỏi:
- Này
chư Tỷ-kheo, chư vị đang bàn luận gì khi ngồi tụ tập ở
đây?
Chư
vị kể lại vấn đề. Ngài đáp:
- Không
phải chỉ giờ đây Ta mới xua tan nỗi ưu phiền của người
kia, trong đời quá khứ nỗi ưu phiền của kẻ ấy cũng đã
được tiêu trừ'. Và theo lời thỉnh cầu của chư vị, Ngài
kể câu chuyện đã xảy ra thời trước.
Thuở
xưa tại thành Benares (Ba-la-nại), người cha của một gia chủ
từ trần. Bị sầu bi trấn áp, vị ấy đập ngực than khóc
và cung kính đi quanh dàn hỏa thiêu. Con trai vị ấy là Sujàta,
một nam tử thông minh lanh lợi, đầy đủ trí tuệ tối thượng,
đang suy xét một phương cách xua tan nỗi ưu phiền của cha,
chợt thấy ngoài kinh thành một con bò chết, chàng liền đặt
phía trước nó một ít nước và cỏ chàng vừa đem tới nơi.
Chàng đưa con bò một nắm cỏ, vừa ra lệnh như thể con bò
đang sống, vừa đứng cạnh đó, chàng nói: 'Ăn đi, ăn đi,
uống đi, uống đi!'.
Khi
người qua đường thấy chàng, họ nói:
- Này
Sujàta, chú có điên không mà đưa cỏ với nước cho con bò
chết?
Nhưng
chàng không hề đáp lại lời nào. Vì thế dân chúng tìm đến
cha chàng và bảo ông:
- Con
trai ông đã nổi điên nên đưa cỏ và nước cho một con bò
chết.
Khi
vị gia chủ nghe việc này, nỗi ưu phiền về thân phụ liền
mất đi. Lòng lo âu, vị ấy vội vàng đến trách cậu con
trai:
- Con
chẳng còn là Sujàta thông minh, lanh lợi và có trí tuệ nữa
ư? Tại sao con lại đưa cỏ và nước cho một con bò chết?
Vị
ấy ngâm hai vần kệ về việc này:
1.
Sao con có vẻ giống người khùng,
Con
cắt cỏ non, lại nói thầm
Cùng
với bò già vừa mới chết,
Luôn
môm bảo nó: 'Hãy ăn, ăn!'
2.
Chẳng phải nhờ ăn uống, dỗ dành
Mà
con bò chết sẽ hồi sinh,
Con
tôi khờ dại ngây ngô quá
Quả
giống người đâu đó, thật tình.
Sujàta
ngâm các vần kệ sau đáp lời:
3.
Bốn chân này với chiếc đầu này,
Với
cái đuôi và thân thể đây,
Ðôi
mắt là đây còn đủ cả,
Con
bò phải đứng dậy lên ngay!
4.
Song đôi tay với cả đôi chân,
Thân
thể và đầu tóc của ông,
Nay
chúng ở đâu, nào chẳng thấy,
Khóc
than đống đất, phải cha khùng?
Người
cha đáp:
5.
Lòng ta quả thực nóng bừng
Giống
như sữa lạc đổ trong lửa đào,
Nay
vừa được tưới nước vào,
Và
làm tiêu tán biết bao khổ sầu.
6.
Quả con nhổ mũi tên đau
Nỗi
sầu kia đã cắm sâu vào lòng,
Con
xua mọi nỗi đau buồn
Vì
cha thương tiếc phụ thân của mình.
7.
Tâm ta đã được an bình,
Nỗi
buồn dứt bỏ trong mình từ nay,
Ta
không khóc nữa giờ đây,
Sau
khi nghe những lời này, con thân.
9.
Vậy là các bậc trí nhân,
Ðầy
lòng lân mẫn ân cần thiết tha
Xua
tan sầu não cho ta
Như
Su-jà với cha già giờ đây.
Rồi
người cha đi gội đầu, ăn uống và tham gia công việc của
mình. Khi từ trần, vị ấy tái sanh Thiên giới.
Như
vậy Sujàta đã trở thành vị Bảo hộ thế giới.
9.
Chuyện Ông Chủ Thợ Dệt (Mahàpesakàra)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong khi đang trú tại Sàvatthi (Xá-vệ).
Lúc
ấy chừng mười Tỷ-kheo, sau khi nhận được đề tài thực
hành thiền quán từ bậc Ðạo Sư, đang tìm một nơi cư trú.
Vì thời kỳ an cư mùa mưa gần kề, chư vị thấy một chỗ
tốt đẹp vừa ý ở trong rừng với bóng mát và nước chảy,
và chỉ xa làng một khoảng thuận tiện để đi khất thực.
Chư vị ngủ qua đêm tại đó và hôm sau vào làng khất thực.
Dân
chúng đón mừng chư Tỷ-kheo và cầu xin chư vị vào đây cư
trú mùa mưa. Sau đó vị trưởng nghiệp đoàn thợ dệt cung
kính cúng dường hai Tỷ-kheo đủ tứ sự cần thiết, trong
khi số đoàn viên thợ dệt khác phục vụ từng vị Tỷ-kheo.
Bấy
giờ vợ người chủ thợ dệt không mộ đạo, không có lòng
tin, theo tà kiến và tham lam, không phụng sự Tăng chúng. Sau
đó người chủ này cưới cô em gái bà và cho làm bà chủ
nhà. Nàng có lòng tin và nhiệt thành phục vụ chư Tăng.
Tất
cả những thợ dệt này cũng tặng mỗi người một chiếc
y cho mỗi Tỷ-kheo đang thực hành an cư mùa mưa ở đó.
Thế
rồi, người vợ ích kỷ của chủ nghiệp đoàn thợ dệt,với
ác tâm buông lời mạ lỵ chồng: 'Mong mọi thức uống ăn
mà ông cúng các Tỷ-kheo đệ tử chân chánh của đức Phật
sẽ trở thành phân dơ và y phục sẽ thành những tấm sắt
nóng bỏng trong kiếp sau'.
Khi
từ trần, vị chủ nghiệp đoàn thợ dệt tái sanh ở rừng
Vindhya làm một vị thần đầy vẻ huy hoàng. Người vợ xan
tham ấy tái sanh làm nữ ngạ quỷ ở không xa nơi ông ở.
Nữ ngạ quỷ trần truồng xấu xí, bị đói khát giày vò,và
khi đến gần vị địa thần này, nó nói:
- Thưa
phu quân, thiếp trần truồng đi lang thang bị đói khát hành
hạ vô cùng khổ cực, xin hãy cho thiếp y phục và thức ăn
uống.
Vị
thần liền cho nó một số thực phẩm thần tiên của mình,
nhưng khi ngạ quỷ vừa cầm lấy, các thứ này lập tức biến
thành phân dơ và y phục nó vừa mặc vào liền hóa ra tấm
sắt nóng cháy. Ngạ quỷ vừa nôn mửa vừa kêu khóc và đi
lang thang trong nỗi thống khổ cùng cực.
Vào
thời ấy, một Tỷ-kheo đang đi đến yết kiến bậc Ðạo
Sư, cùng với một đoàn lữ hành đông đảo vào rừng Vindhya.
Sau khi đã du hành ban đêm, đến sáng đoàn lữ hành thấy
một nơi đầy bóng mát và nước chảy, họ liền thả đàn
bò ra và ngừng lại để nghỉ chân.
Sau
đó, vị Tỷ-kheo muốn ở riêng một mình nên đã đi xa một
đoạn ngắn, trải chiếc y lên thảm cỏ dày dưới gốc cây
và nằm xuống. Thân thể mệt nhọc vì cuộc hành trình ban
đêm, vị ấy liền ngủ thiếp đi.
Sau
khi đoàn lữ hành đã nghỉ ngơi xong, họ lên đường, nhưng
vị Tỷ-kheo ấy chưa dậy. Mãi đến chiều tối vị ấy thức
giấc và vì mất bạn đồng hành, vị ấy theo đường nhỏ
đi mãi cuối cùng đến tận nơi cư ngụ của vị thần nói
trên.
Khi
vị thần thấy vị Tỷ-kheo, liền hóa ra hình người và chào
đón vị ấy, đưa vị ấy vào lâu đài của mình và sau khi
đã cúng dường dầu xoa chân cùng các lễ vật khác, vị thần
đảnh lễ và ngồi xuống. Vừa lúc ấy nữ ngạ quỷ cũng
đến và nói:
- Thưa
phu quân, xin hãy cho thiếp thức ăn uống và y phục.
Vị
thần cho nó đủ các thứ này, nhưng ngay lúc nó cầm chúng,
thì chúng vẫn biến thành phân dơ và tấm sắt nóng cháy như
cũ. Khi vị Tỷ-kheo thấy thế, lòng hết sức xúc động và
hỏi vị thần qua hai vần kệ:
1.
Phân dơ máu mủ hiện lên đầy
Cho
nó, vì sao có quả này?
Hạnh
nghiệp gì người này đã tạo
Mà
nay ăn máu mủ như vầy?
2.
Y phục sáng tươi, trắng, mịn màng
Mới
cho ngạ quỷ, dệt bằng lông,
Tức
thì chúng hóa thành sắt nóng,
Ðã
tạo nghiệp gì, ngạ quỷ nương?
Vị
thần đáp:
3.
Tôn giả, đây là vợ của con,
Bà
không bố thí, tính xan tham,
Khi
con cúng các Sa-môn ấy,
Bà
phỉ báng con với ác ngôn:
4.
'Mong ông ăn uống đám phân dơ,
Nước
tiểu, máu tanh, mủ thối tha,
Ðây
số phận ông về kiếp khác,
Áo
quần sẽ hóa sắt nung lò'.
Bởi
vì ác nghiệp ngày bà tạo,
Bà
phải ăn phân mãi đến giờ.
- Giờ
đây có phương tiện gì giải thoát bà khỏi cảnh giới ngạ
quỷ?
Tỷ-kheo
đáp:
- Nếu
ta dâng cúng đức Phật và Thánh chúng hay chỉ một Tỷ-kheo
và hồi hướng công đức đến nữ ngạ quỷ, nó sẽ hưởng
được phước phần và theo cách ấy nó sẽ thoát khỏi khổ
đau.
Khi
nghe vậy, vị thần liền cúng vị Tỷ-kheo thực phẩm và hồi
hướng công đức cúng dường cho nữ ngạ quỷ. Tức thì nó
được đầy đủ, tâm hân hoan hưởng thọ các thực phẩm
thần tiên. Sau đó vị thần trao tận tay vị Tỷ-kheo ấy một
đôi thiên y dâng cúng đức Thế Tôn và hồi hướng công đức
ấy đến nữ ngạ quỷ. Ngay sau đó, ngạ quỷ được mặc
y phục thần tiên, được cung cấp đủ mọi thứ nó ước
mong tương tự như một Thiên nữ cõi trời.
Ngoài
ra, vị Tỷ-kheo, nhờ thần lực của vị thần kia, ngay hôm
ấy đã đến Sàvatthi.
10.
Chuyện Nữ Nhân Sói Ðầu (Khallàtiya)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Sàvatthi (Xá-vệ).
Thời
xưa tại Benares (Ba-la-nại), có một nữ nhân sống nhờ sắc
đẹp của mình. Bấy giờ tóc nàng thật dài đen nhánh, mịn
màng, mềm mại và óng ả, cuộn lại rất đẹp. Các bím tóc
nàng được kết thành hai nắm tay, mỗi khi buông lơi, chúng
xuống tận thắt lưng nàng.
Lúc
đó một số nữ nhân ganh tỵ bàn luận cùng nhau và sau khi
mua chuộc nữ tỳ của nàng, lại gửi cho cô ả một thứ
thuốc sẽ hủy hoại mái tóc nàng. Bấy giờ nữ tỳ pha thuốc
ấy vào bột tắm và đưa cho chủ nhân vào lúc nàng đi tắm
ở sông Hằng. Nàng dùng thứ thuốc pha ấy tẩm vào tóc thật
kỹ đến tận gốc và nhảy vào dòng nước. Ngay khi nàng vừa
ngâm mình vào nước, tóc nàng liền rụng ra tận gốc, sạch
trơn tru và đầu nàng trông giống trái mướp đắng.
Sau
đó, trông xấu xí như chim bồ câu bị vặt hết lông, nàng
hổ thẹn không dám vào thành nữa, phải choàng khăn phủ đầu
và cư trú ngoại thành. Khi nỗi hổ thẹn đã qua đi và đã
biết ép hạt mè, nàng sinh sống bằng nghề bán dầu và rượu
mạnh.
Một
hôm, khi hai ba người đàn ông say rượu đã ngủ mê man, nàng
lấy trộm tất cả y phục của họ đang treo lủng lẳng. Rồi
một ngày nọ, nàng thấy một vị Thánh Tăng đi khất thực,
sau khi mời vị ấy vào, nàng cúng dường một chiếc bánh
làm bằng hạt dẻ trộn dầu mè. Vì thương xót nàng, vị
ấy nhận bánh và ăn.
Nàng
đứng đó với tâm hoan hỷ, che lên trên vị ấy một chiếc
lọng. Vị Trưởng lão xúc động, nó lời tùy hỷ công đức
và ra đi.
Bấy
giờ nàng phát nguyện: 'Ước mong ta sẽ được mái tóc đen
mịn màng óng ả, mềm mại như tơ cuốn lên thật đẹp'.
Về
sau nàng từ trần, và nhờ kết quả thiện nghiệp của nàng,
nàng được tái sanh giữa đại dương một mình trong một
lâu đài bằng vàng, tóc nàng được phục hồi như nàng đã
ước nguyện, song vì nàng đã lấy trộm y phục của đám
đàn ông, nay nàng phải bị trần truồng. Nàng cứ tái sanh
mãi trong lâu đài bằng vàng kia và phải chịu sống trần
truồng một kiếp tại đó.
Rồi
về sau, đức Thế Tôn Gotama giáng thế, và trong lúc Ngài trú
tại Sàvatthi, một trăm thương nhân có nhà ở đó lên thuyền
đến xứ Suvannabhùmi (Kim Ðịa). Thuyền của họ bị bão tố
trôi giạt đến bờ kia. Lúc ấy nữ quỷ cùng lâu đài hiện
ra trước mặt họ. Khi vị trưởng đoàn thương nhân thấy
nữ quỷ, liền hỏi:
1.
Nàng là ai trú ở lâu đài,
Xin
hỏi, sao không đến phía ngoài?
Mau
bước ra đây, này nữ chủ,
Cho
ta chiêm ngưỡng lực hùng oai.
Nữ
quỷ đáp:
2.
Ta đây khốn khổ lại trần truồng,
Không
dám bước ra bởi thẹn thưồng
Che
tấm thân mình bằng mái tóc,
Vì
ta ít tạo nghiệp hiền lương.
Thương
nhân:
3.
Ta sẽ đem y phục tặng nàng,
Mặc
vào che kín, hỡi hồng nhan,
Bước
ra, nữ chủ, ta mong muốn
Nhìn
ngắm nàng mang đủ lực thần.
Nữ
quỷ:
4.
Những vật gì chư vị tặng ta
Cũng
không giúp ích được ta mà.
Song
đây có một người đồ đệ
Ðầy
đủ lòng tin đức Phật đà.
5.
Sau khi đem áo tặng người này,
Hồi
hướng cho ta phước đức vầy,
Ta
sẽ được ban nhiều hạnh phúc,
Mọi
nguồn lạc thú sẽ tràn đầy.
Sau
khi nghe nàng nói, các thương nhân tắm rửa và thoa dầu thơm
lên người đệ tử tại gia kia và khoác lên chàng một bộ
y phục.
Chư
vị kết tập Kinh điển ngâm ba vần kệ để giải thích việc
này:
6.
Khi đã tắm chàng, đám phú thương
Cho
chàng cư sĩ tẩm dầu hương,
Và
cho chàng được mang y phục,
Nữ
quỷ hưởng công đức cúng dường.
7-8.
Kết quả này do việc cúng dường:
Tràn
đầy y phục với đồ ăn.
Xiêm
y thanh lịch, nàng trong trắng
Khoác
lụa Ba-la-nại tuyệt trần,
Vừa
mỉm miệng cười, nàng mỹ nữ
Bước
ra lầu ấy, lại thưa rằng:
'Ðây
là kết quả từ công đức
Lễ
vật các ngài đã hiến dâng'.
Thương
nhân:
9.
Lâu đài lắm kiểu cách cao sang
Khả
ái, tươi vui, sáng rỡ ràng,
Thần
nữ nói cho đoàn lữ khách
Nghiệp
gì đây kết quả cho nàng?
Nữ
thần:
10.
Gặp người khất sĩ bước du hành,
Chân
chánh Tỷ-kheo, dạ tín thành,
Ta
đến cúng dường người bánh dẻ
Trộn
dầu mè với chính tay mình.
11.
Vì thiện nghiệp này ta hưởng đây
Trong
lâu đài đã biết bao ngày
Như
là kết quả phần công đức,
Song
chẳng còn lâu ở chốn này.
12.
Sau bốn tháng nay sắp đến gần,
Rồi
ta sẽ gặp Dạ-ma thần,
Xuống
miền địa ngục đầy tàn khốc,
Ta
sẽ đọa kinh khủng tột cùng.
13.
Ngục bốn góc và bốn cửa vào,
Ðược
chia phần nhỏ thật cân sao,
Chung
quanh tường sắt đều bao bọc,
Và
sắt che trên đỉnh mái cao.
14.
Nền bằng sắt rực lửa bừng bừng,
Nóng
bỏng, chói lòa khắp mọi phương,
Ðịa
ngục muôn đời còn đứng mãi,
Trải
dài luôn cả trăm do-tuần.
15.
Nơi kia ta chịu khổ lâu dài
Thọ
quả do tà nghiệp chín muồi,
Vì
thế ta thường than khóc mãi,
Chuyện
này quả thật chẳng hề nguôi.
Tâm
vị đệ tử tại gia đầy xúc động thương cảm, chàng nói:
- Này
nữ thần, do năng lực của lễ vật nàng cúng dường ta, nàng
đã thành tựu mọi ước nguyện một cách sung mãn. Nhưng giờ
đây, do cúng dường các đệ tử tại gia này và ghi nhớ mọi
đức hạnh của bậc Ðạo Sư, nàng sẽ thoát khỏi tái sanh
vào địa ngục.
Nữ
thần vô cùng hạnh phúc, thiết đãi chư vị đầy đủ các
loại ẩm thực, y phục, châu báu thần tiên và đưa tận tay
chư vị một bộ y dâng đức Thế Tôn. Nàng cung kính đảnh
lễ và nói:
- Xin
hãy đến Sàvatthi và đảnh lễ đức Thế Tôn cùng các lời
này của ta nhắn gởi: 'Bạch đức Thế Tôn, có một nữ quỷ
kia khấu đầu đảnh lễ chân đức Thế Tôn'.
Sau
đó nhờ thần lực của mình, nàng đưa chiếc thuyền đến
cảng cùng ngày hôm đó. Các thương nhân ấy đúng thời đến
dâng lễ vật lên đức Thế Tôn và kể lại toàn thể câu
chuyện trên.
11.
Chuyện Con Voi (Nàga)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Jetavana (Kỳ
Viên).
Tôn
giả Samkicca vào lúc bảy tuổi đã đắc quả A-la-hán ngay
tại phòng cạo tóc, và khi còn làm Sa-di, trú trong rừng với
ba mươi Tỷ-kheo, vị ấy đã cứu chư vị thoát chết bởi
tay của năm trăm tên cướp. Sau khi đã giáo hóa cả bọn đạo
tặc kia và khuyến dụ chúng vào đời tu hành xuất gia, vị
ấy cùng Tăng chúng này đến yết kiến bậc Ðạo Sư ở Benares
(Ba-la-nại) và trú tại Isipatana (Trú xứ của Chư Tiên).
Thời
ấy tại Benares, một Bà-la-môn theo tà đạo có hai trai một
gái. Ba người con này gia nhập đoàn cư sĩ tại gia đảnh
lễ cúng dường các Sa-môn, Bà-la-môn, mặc dù cha mẹ họ
không có lòng tôn kính ấy.
Bấy
giờ do một cơn bão, cả năm người ấy bị đè bẹp và chết
vì ngôi nhà cũ kỹ ọp ẹp của họ sụp đổ. Sau đó vị
Bà-la-môn và vợ tái sanh làm ngạ quỷ, còn hai trai và cô
gái được làm các địa thần.
Lúc
ấy một cháu trai của Bà-la-môn kia là đệ tử của Tôn giả
Samkicca, đến tham kiến theo lời thầy và trong lúc vị ấy
đứng đó, nhờ thần lực của thầy mình, vị ấy thấy hai
địa thần cùng cô em cỡi xe đến tham dự lễ hội các thần
Dạ-xoa và cũng thấy luôn cả hai ngạ quỷ theo sau họ, bèn
bảo các ngạ quỷ này:
1.
Một thần cỡi bạch tượng đưa đường,
Ở
giữa, xe la kéo một chàng,
Phía
cuối, một nàng ngồi chiếc cáng
Chiếu
đầy ánh sáng khắp mười phương.
2.
Song hai ngươi nắm búa trong tay,
Tan
nát toàn thân lẫn mặt mày,
Ác
nghiệp nào xưa ngươi đã tạo,
Sao
ngươi uống máu của nhau vầy?
Hai
ngạ quỷ:
3.
Thần ngồi phía trước dẫn đưa đường
Trên
bạch tượng kia, vật bốn chân,
Ðó
chính là con ta, trưởng tử,
Cúng
dường, nay được hưởng hồng ân.
4.
Còn thần ngồi giữa ở trên xe
Có
bốn con la kéo bốn bề,
Xe
chạy thật nhanh, là quý tử,
Thanh
cao thí chủ, sáng ngời kia.
5.
Cô gái ngồi sau chiếc cáng dài,
Nữ
thần thông tuệ cặp mắt nai
Dịu
hiền, cô út nhà ta đó,
Nàng
hưởng nửa phần hạnh phúc thôi.
6.
Những thần này với trí khinh an,
Kiếp
trước đã dâng lễ cúng dường
Lên
các Bà-la-môn, ẩn sĩ,
Còn
ta keo kiệt lại xan tham
Ðã
từng phỉ báng nhiều tu sĩ.
Vì
chúng ngày xưa đã phát ban,
Nay
chúng thong dong đi khắp chốn,
Ta
khô như sậy bị cưa ngang.
Khi
đã nêu ra ác nghiệp, chúng còn giải thích như vầy:
- Chúng
ta là anh và chị dâu của mẹ ngươi.
Nghe
vậy người cháu đau lòng hỏi:
7.
Hai vị thường ăn thực phẩm nào?
Loại
giường của các vị ra sao?
Cách
nào nuôi sống, người sai phạm
Trọng
tội, khi đầy đủ biết bao
Thực
phẩm dồi dào, nhưng bất hạnh
Và
nay đang chịu quả thương đau?
Hai
ngạ quỷ:
8.
Ta đánh nhau và uống máu nhau,
Dù
uống đã nhiều, vẫn khát khao,
Chẳng
được thức gì ăn để sống,
Chúng
ta không thỏa mãn đâu nào.
9.
Như những người không biết cúng dường
Mạng
chung, vào cõi Dạ-ma-vương,
Sau
khi nhận thấy phần ăn uống,
Chẳng
hưởng được gì lợi lạc thân.
10.
Chịu đói khát nhiều ở cõi âm,
Lâu
dài ngạ quỷ phải than thân,
Bởi
vì chúng bị luôn hành hạ
Do
chúng tạo bao nghiệp ác gian,
Chúng
thường nhận lãnh nhiều đau khổ
Như
là quả báo đắng cay tràn.
11.
Tài sản giàu sang chẳng vững vàng,
Ðời
người trên thế giới vô thường,
Từ
vô thường biết vô thường ấy,
Người
trí đi tìm chốn trú an.
12.
Những người biết Ðạo pháp bình yên,
Nếu
có trí vầy chớ lãng quên
Dâng
lễ cúng dường khi đã học
Lời
chư La-hán, chúng Tăng hiền.
12.
Chuyện Con Rắn (Uraga)
Bậc
Ðạo Sư kể chuyện này trong lúc đang trú tại Jetavana (Kỳ
Viên).
Thuở
ấy tại Sàvatthi (Xá-vệ) tương truyền con trai một vị đệ
tử tại gia từ trần. Người cha đắm mình vào nỗi sầu
khổ khóc than, không bước ra ngoài; vị ấy không thể làm
gì được nên chỉ ở trong nhà.
Lúc
ấy, Bậc Ðạo Sư vừa xuất định Ðại bi từ sáng sớm
đang quán sát cõi trần với Phật nhãn, sau khi thấy người
đệ tử tại gia kia, Ngài cầm y bát và đến đứng ngay tại
cửa nhà vị ấy.
Vị
đệ tử ấy vội vã đi ra tiếp đón Ngài, đỡ lấy bình
bát và mời Ngài vào trong. Ðức Thế Tôn nói với vị ấy:
- Này
cư sĩ, sao ông có vẻ mang nặng sầu tư?
Vị
ấy đáp:
- Bạch
Thế Tôn, quả thật con trai yêu quý của con vừa qua đời,
nên con mang nặng sầu tư.
Sau
đó, đức Thế Tôn, bậc ly sầu, kể cho vị ấy nghe chuyện
Tiền Thân Con Rắn (Kinh Bổn Sanh số 354).
Thuở
xưa trong quốc độ Kàsi, ở Ba-la-nại có một gia đình Bà-la-môn
được mệnh danh Dhammapala (Hộ pháp). Trong nhà này, vị Bà-la-môn,
bà vợ, con trai, con gái, con dâu, nữ tỳ, tất cả mọi người
đều hân hoan thích thú hướng tâm niệm về cái chết. Bất
cứ ai rời khỏi nhà đều nói cho những người khác biết
và ra đi không hề bị ai để ý gì cả.
Rồi
một hôm, vị Bà-la-môn cùng con trai ra đồng và cày ruộng,
trong khi cậu trai nhóm lửa để sấy khô cây cỏ. Tức thì
một con rắn hổ mun sợ hãi bò ra khỏi lỗ cây và cắn cậu
trai vị Bà-la-môn. Cậu từ trần và hóa sanh làm Sakka Thiên
chủ.
Còn
vị Bà-la-môn, sau khi tắm rửa thật sạch sẽ và xoa dầu
thơm cho mình xong, được đám người hộ tống vây quanh, vị
ấy đặt thi thể con lên dàn hỏa và châm lửa giống như
thể vị ấy đang đốt một đống củi vậy. Vị ấy cứ
đứng đó, không sầu não cũng chẳng tự hành hạ mình, sau
khi đã chú tâm vào niệm vô thường.
Bấy
giờ con trai vị Bà-la-môn đã hóa sanh làm Sakka Thiên chủ
chính là Bồ-tát. Sau khi suy xét thiện nghiệp đã làm ở kiếp
trước và đầy lòng thương xót cha Ngài cùng quyến thuộc,
Ngài liền đến chỗ ấy, giả dạng một Bà-la-môn.
Khi
Ngài thấy mọi người không than khóc, liền bảo:
- Này,
chư vị đang nướng thịt súc vật à, cho ta một ít; ta đang
đói đây.
- Này
Bà-la-môn, không phải là con vật đâu, con người đấy.
Bồ-tát
hỏi:
- Thế
đó là kẻ thù của chư vị chăng?
Người
cha đáp:
- Chẳng
phải kẻ thù đâu, mà là đứa con được bảo dưỡng trong
lòng chúng tôi đấy, chính đứa con trai yêu quý đầy đủ
các đức tính ưu tú của chúng tôi đấy.
Bồ-tát
lại hỏi:
- Thế
tại sao ông không khóc con?
Vị
Bà-la-môn đáp:
1.
Như con rắn trút bỏ da tàn,
Ðạt
đến trưởng thành chính bản thân,
Cũng
vậy, khi thân không hưởng lạc,
Ðúng
thời, người chết phải từ trần.
2.
Kẻ bị thiêu không hiểu biết rằng
Họ
hàng quyến thuộc vẫn đau thương,
Cho
nên tôi chẳng hề than khóc,
Nó
đã đi theo đúng bước đường.
Sau
đó Sakka Thiên chủ hỏi bà mẹ:
- Bà
ơi, người chết ấy là gì của bà?
Bà
đáp:
- Thưa
Ngài, tôi đã cưu mang nó mười tháng trong bụng, tôi cho nó
bú mớm, tôi dẫn dắt tay chân nó, nó là con trai tôi đã khôn
lớn rồi.
Thiên
chủ hỏi:
- Cho
dù cha là đàn ông thường không khóc chứ lòng mẹ chắc chắn
là mềm yếu. Tại sao bà không khóc?
Nghe
vậy, bà đáp:
3.
Không gọi, từ đâu nó đến đây,
Chẳng
ai cho phép, nó đi ngay,
Nó
đi, nó đến đều như vậy,
Sao
phải khóc than nó chốn này?
4.
Kẻ bị thiêu không hiểu biết rằng
Họ
hàng quyến thuộc vẫn đau thương,
Cho
nên tôi chẳng hề than khóc,
Nó
đã đi theo đúng bước đường.
Sau
đó, Ngài hỏi người chị:
- Này
cô, người ấy là gì của cô?
- Thưa
Ngài, đó là anh trai của con.
- Này
cô, chị em gái thường rất yêu mến anh em trai. Tại sao cô
không khóc?
Cô
chị giải thích:
5.
Nếu con khóc, sẽ phải gầy mòn,
Bù
đắp, có gì trả lại con?
Còn
phát sinh ra nhiều bất lợi
Cho
bà con, quyến thuộc, thân bằng.
6.
Kẻ bị thiêu không hiểu biết rằng
Họ
hàng quyến thuộc vẫn đau thương,
Cho
nên con chẳng hề than khóc,
Kẻ
đã đi theo đúng bước đường.
Sau
đó, Ngài lại hỏi người quả phụ:
- Người
đó là gì đối với chị?
- Thưa
Ngài, đó là chồng của con.
- Này
chị, các người vợ thường rất yêu thương chồng mình.
Tại sao chị không khóc?
Nàng
liền giải thích:
7.
Giống như đứa trẻ nọ kêu than
Khi
mặt trăng kia cứ lặn dần,
Làm
chính việc này đâu có khác
Người
nào thương khóc kẻ từ trần.
8.
Kẻ bị thiêu không hiểu biết rằng
Họ
hàng quyến thuộc vẫn đau thương,
Cho
nên con chẳng hề than khóc,
Kẻ
đã đi theo đúng bước đường.
Sau
đó Ngài hỏi cô nữ tỳ:
- Này
cô, người ấy là gì của cô?
- Thưa
Ngài, đó là cậu chủ con.
- Nếu
vậy, chắc có lẽ cậ