Phẩm VII
Sunikkhitta
1.
(75) Chuyện thứ nhất -
Lâu
Ðài Cittalatà (Cittalatà-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Thuở
ấy có một đệ tử tại gia nghèo khó sống nhờ làm công
cho người khác. Vị ấy có lòng mộ đạo và phụng dưỡng
song thân già yếu của mình, vì vị ấy nghĩ: 'Ðàn bà ở
trong nhà thường nắm quyền cai quản. Họ ít khi quý trọng
cha mẹ chồng'.
Như
vậy vị ấy tiếp tục giữ giới luật và các ngày trai giới
Bố-tát. Sau khi từ trần, vị ấy được tái sanh vào cõi
trời Ba mươi ba trong một Lâu đài mười hai dặm.
Tôn
giả Mahà-Moggallàna du hành như đã tả ở trên, hỏi vị ấy:
1.
Sáng rực như vườn lạc Cit-ta,
Khu
vườn đệ nhất cõi Băm-ba,
Lâu
đài đây của chàng bừng sáng
Ở
giữa không gian thực chói lòa.
2.
Ðạt thành thần lực đại hùng cường,
Chàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương?
3.
Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Ðức
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây là kết quả cho chàng:
4.
Khi được làm người giữa thế nhân,
Con
là thợ khốn khổ, cùng bần,
Con
thường cấp dưỡng hai thân lão,
Ngưỡng
mộ người cao quý chánh chân.
5.
Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và
con vinh hiển ở nơi đây,
Bất
kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu
chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
6.
Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công
đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ
thế oai nghi con rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương.
2
(76) Chuyện thứ hai -
Lâu
Ðài Nandana (Nandana-Vimàna)
Cũng
giống như chuyện trước, trừ điểm ở đây: Người thợ
nghèo đã có vợ và câu kệ đầu đổi là: Sáng rực như
vườn Nan-da-na,...
3.
(77) Chuyện thứ ba -
Lâu
Ðài Có Trụ Ngọc Bích (Manithùna-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Thời
ấy có nhiều Trưởng lão sống trong rừng. Ðể chư vị có
thể vào làng khất thực, một đệ tử tại gia làm cho các
đường mòn được bằng phẳng, dọn sạch các bụi cây, bắc
cầu qua suối, đắp bờ và dẫn nước vào các ao lớn v.v..
cùng bố thí và giữ Ngũ giới. Về sau từ trần, vị ấy
được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu đài
bằng vàng mười hai dặm.
Tôn
giả Mahà-Moggallàna hỏi vị ấy như sau:
1.
Lầu các trụ cao bằng ngọc bích
Mười
hai dặm trải rộng chung quanh,
Bảy
trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ
ngọc nền vàng thật hiển vinh.
2.
Chàng uống ăn, cư trú lạc an,
Khi
đàn tiên trổi khúc du dương,
Ðây
là thiên vị, năm thiên lạc,
Thiên
nữ múa, trang điểm ngọc vàng.
3.
Vì sao chàng được sắc như vầy,
Vì
cớ gì chàng vinh hiển đây,
Những
lực thú nào chàng mến chuộng,
Trong
tâm, đều xuất hiện ra ngay?
4.
Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Ðược
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây là kết quả cho chàng:
5.
Khi được làm người giữa thế nhân,
Con
xây đường nhỏ ở trong rừng,
Và
trồng cây lớn trong tinh xá,
Kính
mến người đức hạnh chánh chân.
6.
Với các ngài, con có tín tâm,
Cúng
dường thức uống lẫn đồ ăn,
Với
lòng thành kính con dâng tặng
Mọi
lễ vật phong phú trọn phần.
7.
Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và
con vinh hiển ở nơi đây,
Bất
kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu
chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
8.
Xin trình Tôn giả đại oai thần
Công
đức con làm giữa thế nhân,
Nhờ
thế oai nghi con rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương.
4.
(78) Câu chuyện thứ tư -
Lâu
Ðài Bằng Vàng (Suvanna-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Andhakavinda. Thời ấy một đệ
tử giàu có và mộ đạo xây cúng dường Ngài một 'hương
thất' trên một đồi trọc, thỉnh Ngài đến ở đó và phụng
sự Ngài. Sau một thời gian sống chế ngự với giới luật
thanh tịnh, lúc từ trần, vị ấy được tái sanh vào cõi
trời Ba mươi ba trong một Lâu đài ngọc bích tuyệt đẹp
với mái bằng vàng.
Tôn
giả Mahà-Moggallàna hỏi vị ấy:
1.
Ở trên một ngọn núi vàng ròng,
Lâu
đài rực sáng chiếu quanh vùng,
Tấm
màn lưới dệt vàng bao phủ,
Và
lưới chuông rung nhẹ thật trong.
2-3.
Trụ tám cạnh tinh xảo thập phần,
Xây
bằng cẩm thạch cả toàn thân,
Bảy
châu báu tạo thành từng cạnh,
Vàng,
bạc, lưu ly với ngọc trân,
Lại
dát ngọc mắt mèo mã não,
Ngọc
trai, và ngọc sắc hồng vân.
4.
Nền màu rực rỡ, đẹp mắt sao,
Không
chút bụi lay động dính vào,
Ðược
các kèo vàng hoàng ngọc cẩn
Cùng
nâng cả mái điện lên cao.
5-6.
Và bốn cầu thang dựng bốn phưong,
Các
cung ngọc sáng tựa vầng dương,
Bốn
hành lang được xây cân xứng,
Chiếu
khắp bốn phương thật rỡ ràng.
7.
Trong cung này tráng lệ huy hoàng,
Chàng
chính là Thiên tử đại quang,
Với
sắc siêu phàm, chàng chiếu sáng,
Trông
chàng chẳng khác ánh chiêu dương.
8.
Kết quả này do việc cúng dường,
Hoặc
do giữ giới luật thông thường,
Hoặc
do đảnh lễ đầy cung kính?
Ðược
hỏi, xin cho biết hỡi chàng.
9.
Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Ðược
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây là kết quả cho chàng:
10.
Kiếp xưa con ở An-dha-ka,
Con
có lòng tin bậc Ðạo Sư,
Thân
tộc mặt trời, là đức Phật,
Con
xây tinh xá ở đồi xa.
11.
Tại đó, con đầy đủ tín tâm,
Vòng
hoa, hương liệu, thứ gì cần,
Dầu
thoa các loại và tinh xá,
Con
thỉnh Ðạo Sư đến cúng dâng.
12.
Vì thế nay con hưởng phước phần:
Ở
vườn Hỷ lạc, chủ Thiên cung;
Trong
vườn Hỷ lạc đầy kỳ thú,
Nơi
lắm đàn chim đến trú chân,
Con
được các nàng tiên hộ tống,
Múa
ca, đem lạc thú vô ngần.
5.
(79) Chuyện thứ năm -
Lâu
Ðài Vườn Xoài (Amba-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, trong Trúc Lâm. Thời
ấy có một người nghèo được thuê giữ vườn xoài. Một
hôm về mùa nắng gắt, vị ấy thấy Tôn giả Sàriputta đến
gần, mệt nhoài vì cơn nóng, liền thưa:
- Bạch
Tôn giả, ngài có vẻ quá mệt nhọc vì trời nóng. Lành thay,
nếu Tôn giả có lòng thương xót con, xin hãy bước vào vườn
xoài nghỉ ngơi chốc lát.
Trưởng
lão chấp thuận, ngồi xuống gốc cây xoài, người ấy liền
đem cúng dường Tôn giả nước uống và nước rửa tay chân,
sau đó lòng đầy hoan hỷ vì công đức đã tạo được.
Sau
khi từ trần, vị ấy được tái sanh vào cõi trời Ba mươi
ba, và Tôn giả Mahà-Moggallàna hỏi vị ấy:
1.
Lầu các trụ cao bằng ngọc bích,
Mười
hai dặm trải rộng chung quanh,
Bảy
trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ
ngọc nền vàng thật hiển vinh.
2.
Chàng uống ăn, cư trú lạc an,
Khi
đàn tiên trổi khúc du dương,
Ðây
là thiện vị, năm thiên lạc,
Tiên
nữ múa, trang điểm ngọc vàng.
3.
Vì đâu chàng được sắc như vầy,
Vì
cớ gì chàng vinh hiển đây,
Những
lạc thú nào chàng mến chuộng
Trong
tâm, đều xuất hiện ra ngay?
4.
Hỡi chàng Thiên tử đại oai thần,
Chàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung
quang tỏa sáng khắp mười phương?
5.
Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Ðược
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây, là kết quả cho chàng:
6.
Vào tháng cuối mùa hạ nóng rang,
Mặt
trời thiêu đốt, nắng chang chang,
Con
làm thuê mướn cho người khác,
Tưới
nước vườn xoài của chủ nhân.
7.
Thế rồi lúc ấy vị Hiền Tăng,
Xá-lợi-phất,
danh tiếng lẫy lừng,
Thể
xác của ngài đều mệt mỏi,
Nhưng
không mỏi mệt cái tinh thần.
8.
Con đang tưới nước các cây xoài,
Nhìn
thấy ngài, con vội đến mời:
'Tôn
giả, con dâng ngài nước tắm,
Lành
thay, an lạc sẽ lâu dài!'
9.
Tôn giả vì lòng thương xót ai,
Ðặt
bình bát xuống tấm y ngoài,
Mang
y độc nhất, ngài ngồi xuống
Trong
bóng mát ngay dưới gốc xoài.
10.
Với lòng thành tín bậc cao Tăng
Con
tắm rửa ngài với nước trong,
Mang
chiếc y vàng, ngài tỉnh tọa
Dưới
bóng gốc xoài đang trải dăng.
11.
Vườn xoài được tưới nước tươi xanh,
Tôn
giả được con tắm mát lành,
Công
đức này con làm chẳng nhỏ,
Hân
hoan ngài biến mãn thân mình.
12.
Ðây là mức độ việc an lành
Trong
kiếp trước con đã thực hành,
Khi
được thoát thân người thế tục,
Con
lên vườn Hỷ lạc thiên đình.
13.
Nan-da-na, Hỷ lạc Viên này,
Nơi
lắm chim muông đến cả bầy,
Con
được các nàng tiên hộ tống,
Cùng
nhau ca múa thật vui thay.
6.
(80) Chuyện thứ sáu -
Lâu
Ðài Của Người Chăn Bò (Gopàla-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Ràjagaha, trong Trúc Lâm. Lúc ấy
một người chăn bò đã rời Ràjagaha để đưa bò đi ăn cỏ
ngoài đồng và thấy Tôn giả Mahà-Moggallàna đang tiến bước.
Tôn giả nhận thấy kẻ kia sắp mạng chung, liền đi đến
gần bên cạnh y. Do dự, y không biết có nên mời Trưởng
lão món bánh ngọt Kummàsa mà y đã đem theo, hay giữ cho đàn
bò khỏi vào các vườn đậu.
Khi
đã quyết định không thể bỏ lỡ cơ hội tốt, dù các chủ
vườn có thể làm gì đi nữa, y cúng dường phần ăn của
mình và Trưởng lão đã chấp nhận vì lòng từ mẫn. Sau đó
người chăn bò vội vàng đi giữa đàn bò, vô ý đạp giẫm
một con rắn và bị nó cắn ở chân.
Lòng
tràn ngập hân hoan hạnh phúc khi nhìn thấy Trưởng lão thọ
thực, người ấy bị nọc rắn xâm nhập quá mạnh và từ
trần, được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba trong một Lâu
đài mười hai dặm.
Tôn
giả Mahà-Moggallàna thấy chàng, liền hỏi:
1.
Tỷ-kheo thấy một vị Thiên nam
Tô
điểm vòng hoa, thật vẻ vang,
Trong
một Lâu đài cao, vĩnh cửu,
Trông
chàng như dáng vị thần trăng,
Ở
trong cung điện trên thiên giới,
Tôn
giả bèn lên tiếng hỏi chàng:
2.
Lộng lẫy xiêm y, hoa chuỗi mang,
Ðôi
vòng tai rực rỡ trang hoàng,
Tóc
râu chải chuốt, khăn đầu đội,
Sáng
chói, trong cung tựa Quảng Hàn.
3.
Khi đàn tiên trổi khúc du dương,
Sáu
bốn nàng tài sắc vẹn toàn
Ðồng
trú cõi Băm ba, rực rỡ,
Múa
ca, hưởng lạc thú khôn lường.
4.
Ðạt thành thiên lực, đại hùng cường,
Chàng
tạo đức gì giữa thế nhân?
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung
quang sáng chói khắp mười phương?
5.
Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Ðược
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây, là kết quả cho chàng:
6.
Khi được làm người giữa thế nhân,
Con
chăn bò kẻ khác chuyên cần,
Giữ
đàn bò khỏi ăn vườn đậu,
Thì
một Sa-môn bước đến gần.
7.
'Nay hai phận sự phải hoàn thành',
Tôn
giả, con suy nghĩ thật nhanh,
Xem
xét kỹ càng và hiểu pháp,
Con
dâng ngài bánh với tay mình.
8.
Con chạy ra vườn đậu lẹ làng,
Trước
khi bò dẫm đất tha nhân,
Nhưng
rồi rắn hổ mang đen lớn
Cắn
phải chân con lúc vội vàng.
9.
Tuyệt vọng, con đau đớn tận cùng,
Sa-môn
mở gói bánh ra ăn,
Vì
lòng bi mẫn cho con đó,
Con
được sanh thiên lúc mạng chung.
10.
Con đã làm nên thiện nghiệp vầy,
Và
đang hưởng phước lạc nhờ đây,
Chính
ngài, Tôn giả, đầy bi mẫn,
Con
tạ thâm ân, đảnh lễ ngài.
11.
Trong cõi Thiên, ma, thế giới này,
Chẳng
ai bi, trí được như vầy,
Ngài
là Tôn giả đầy bi mẫn,
Con
tạ ơn sâu, đảnh lễ ngài.
12.
Trong cõi đời này hoặc kiếp sau,
Chẳng
ai bi, trí sánh bằng đâu,
Chính
ngài, Tôn giả, đầy bi mẫn,
Con
tạ thâm ân, đến khấu đầu.
7.
(81) Chuyện thứ bảy -
Lâu
Ðài Của Kanthaka (Ngựa Kiền-trắc) (Kanthaka-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi trong Kỳ Viên. Thời
ấy khi Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành lên thiên giới, một
vị Thiên tử tên Kanthaka bước ra khỏi Lâu đài của chàng,
đang lên xe đến vườn Thượng uyển với cả đoàn tùy tùng
đông đảo trong oai nghi đầy thiên lực.
Khi
thấy Tôn giả, vị Thiên vội xuống xe và đảnh lễ Tôn giả.
Vị Trưởng lão hỏi chàng:
1-2.
Như trăng rằm, chúa tể muôn sao,
Tinh
tú vây quanh tựa đứng chầu,
Mặt
nguyệt xoay vần hình thỏ ngọc,
Lâu
đài Thiên tử sáng dường nào,
Nguy
nga tráng lệ trên thiên giới,
Như
mặt trời lên giữa cõi cao.
3-4.
Ngọc bích, lưu ly, mã não, vàng,
Ngọc
trai, hồng ngọc, bạc trang hoàng,
Nền
màu rực rỡ đầy kỳ thú,
Ngọc
bích dát trên khắp mặt sàng,
Trùng
các nóc cao vời tuyệt mỹ,
Cung
điện chàng xây dựng vẻ vang.
5.
Chàng có hồ sen tạo mỹ quan,
Cá
Pu-thu lội nước tung tăng,
Nước
hồ lấp lánh và trong vắt,
Bờ
được viền quanh với cát vàng.
6.
Mặt hồ bao phủ các hoa sen,
Hoa
súng lan tràn khắp phía trên
Làm
đắm say lòng, cơn gió thoảng
Tỏa
làn hương tuyệt diệu quanh miền.
7-8.
Ðôi bờ có đủ các cây rừng
Kết
trái đơm hoa thật khéo trồng,
Khi
chàng an tọa như Thiên chủ,
Tràng
kỷ chân vàng, lót thảm lông.
9.
Tiên nữ hầu chàng khéo điểm trang,
Vòng
hoa đủ loại, với kim hoàn,
Làm
chàng thích thú, chàng an hưởng
Ðại
lực thần như đấng Ngọc hoàng.
10.
Tù và, kèn, trống với huyền cầm,
Trống
lớn, trong con đánh bập bùng,
Thiên
tử hưởng tràn đầy lạc thú,
Khi
đàn, ca, vũ nhạc vang lừng.
11.
Này đây thiên sắc với thiên thanh,
Thiên
vị, thiên hương đẹp ý mình,
Thiên
xúc mượt mà, êm dịu quá,
Thật
là vạn trạng với thiên hình.
12.
Trong cung này rực rỡ huy hoàng,
Chàng
chính là Thiên tử đại quang,
Với
sắc siêu phàm chàng chiếu sáng,
Trông
chàng chẳng khác ánh chiêu dương.
13.
Kết quả này do việc cúng dường,
Hoặc
do giữ giới luật thông thường,
Hoặc
do đảnh lễ đầy cung kính?
Ðược
hỏi, xin cho biết hỡi chàng.
14.
Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Ðược
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây là kết quả cho chàng:
15.
Trong chốn kinh thành tuyệt diệu xưa,
Ca-tỳ-la-vệ,
tộc Thích-ca,
Con
là Kiền-trắc, cùng sinh nhật
Với
Thái tử là Sĩ-đạt-ta.
16.
Vào nửa đêm, vương tử xuất gia,
Ði
tìm Giác Ngộ, giã từ nhà,
Với
bàn tay dịu bao màn lưới,
Các
móng đồng thau chiếu sáng lòa.
17.
Ngài bảo con, vừa vỗ mạn sườn:
'Hãy
mang ta, hỡi bạn thân thương,
Khi
nào giác ngộ đường Vô thượng,
Ta
sẽ giúp người khắp thế gian'.
18.
Khi được nghe lời nói của Ngài,
Lòng
con rộn rã vạn niềm vui,
Với
tâm phấn khởi đầy hoan hỷ
Tuân
lệnh trên, con vội hý dài.
19.
Khi biết hoàng nam Tịnh Phạn vương,
Ðại
danh lừng lẫy, cỡi lưng con,
Với
tâm phấn khởi đầy hoan hỷ
Con
rước người vô thượng chí tôn.
20.
Vượt qua đất nước của người ta,
Khi
mặt trời lên đã quá xa,
Ngài
bước đi, lòng không luyến tiếc,
Bỏ
con cùng với chú Chan-na.
21.
Con liếm chân Ngài với lưỡi con,
Chân
Ngài có các móng màu đồng,
Và
con kêu khóc nhìn theo mãi,
Khi
thấy Ngài đi, bậc Ðại Hùng.
22.
Vì không còn thấy bóng huy hoàng
Của
Thái tử, con Tịnh Phạn vương,
Con
ngã quỵ ngay, lâm trọng bệnh,
Và
nhanh chóng giã biệt trần gian.
23.
Chính nhờ Ngài có đại oai thần
Ở
tại thiên cung con trú thân,
Thành
phố chư Thiên này có đủ
Biết
bao niềm lạc thú vô ngần.
24.
Khi nghe Ngài Giác Ngộ viên thành,
Hỷ
lạc trong lòng con khởi sanh,
Do
chính căn nguyên thuần thiện ấy
Mà
con sẽ tận diệt vô minh.
25.
Nếu như Tôn giả có đi ra,
Và
yết kiến Ngài, bậc Ðạo Sư,
Tôn
giả nói giùm con kính lễ
Dưới
chân đức Phật Go-ta-ma.
26.
Con sẽ hầu thăm bậc Ðại Hùng,
Là
người không có kẻ ngang bằng,
Khó
tìm thấy được người che chở
Như
đức Phật che chở cõi trần.
27.
Rồi chàng Thiên tử, dáng tri ân,
Biết
lợi lạc nên đã đến gần,
Khi
đã nghe lời Ngài có Mắt,
Chàng
thanh tịnh Pháp Nhãn ly trần.
28.
Tẩy sạch lòng nghi, đạt tín tâm,
Phát
nguyền tu tập vững tinh cần,
Khấu
đầu đảnh lễ chân sư phụ,
Chàng
biến mất ngay khỏi cõi trần.
8.
(82) Chuyện thứ tám -
Lâu
Ðài Có Nhiều Mầu Sắc (Anekavanna-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Tôn giả
Mahà-Moggallàna đang du hành lên cõi trời Ba mươi ba và được
một Thiên tử có nhiều màu sắc rực rỡ đến gần, đứng
lại chắp tay đảnh lễ cung kính.
Trưởng
lão hỏi chàng:
1.
Hiện lên lầu các đẹp muôn màu,
Xua
đuổi bao phiền não, khổ sầu,
Rực
rỡ huy hoàng, đoàn hộ tống
Gồm
bao tiên nữ đứng quanh hầu,
Trông
chàng, như một vì Thiên đế,
Cõi
Hóa Lạc thiên, thích thú sao!
2.
Chàng không có kẻ sánh ngang bằng,
Không
kẻ nào hơn danh vọng chàng,
Hoặc
phước đức hay là đại lực,
Trong
trời Ðao lợi, mọi Thiên thần
Thảy
đều kính lễ chàng như thể
Thần
cõi người cung kính mặt trăng.
3.
Các nàng tiên nữ ở hai bên
Múa
hát vui chơi thỏa ước nguyền,
Chàng
đã đắc thần thông biến hóa,
Tràn
đầy đại lực của chư Thiên.
4.
Kiếp xưa sinh ở chốn phàm trần,
Chàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
có gì oai nghi rực rỡ,
Dung
quang chiếu sáng khắp mười phương?
5.
Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Ðược
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây là kết quả cho chàng:
6.
Tôn giả, con sinh một kiếp xưa,
Môn
đồ Thắng giả Su-me-dha,
Con
còn phàm tục, chưa thành đạo,
Dù
đã bảy năm sống xuất gia.
7.
Khi Thắng giả là bậc Ðạo Sư,
Vượt
qua dòng lũ, đắc vô dư,
Con
liền đảnh lễ bên ngôi Tháp,
Bảo
Tháp được châu ngọc điểm tô,
Bao
phủ lưới vàng ròng rực rỡ,
Mang
nhiều an lạc đến tâm tư.
8.
Con chẳng cúng dâng lễ vật nào,
Song
con khuyến khích các đồng bào:
'Các
người sẽ được lên thiên giới,
Ðến
bảo Tháp Ngài đảnh lễ mau,
Ngài
xứng đáng cho ta kính lễ,
Người
xưa vẫn nói vậy từ lâu'.
9.
Thiện sự này xưa con đã làm,
Nay
con hướng lạc thú thiên đàng,
Hân
hoan hội chúng trời Ðao lợi,
Vì
phước báo chưa đến lúc tàn.
9.
(83) Chuyện thứ chín -
Lâu
Ðài Của Vị Thiên Tử Ðeo Vòng Tai Sáng Chói
(Mattakundalì-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Kỳ Viên. Có một
Bà-la-môn sống tại đó rất giàu nhưng không có lòng tin vào
đạo và không bao giờ bố thí cho ai vật gì cả, nên được
đặt danh hiệu Người Không bao giờ Bố thí.
Ông
lại thường dạy bảo con trai là Mattakundalin đừng đến gần
đức Thế Tôn hay các đệ tử của Ngài. Chàng tuân lệnh.
Khi chàng lâm bệnh, ông cha cũng không cung cấp thuốc thang
gì cho đến khi chàng nguy kịch, các thầy thuốc được mời
đến đều bảo bệnh đã vô phương cứu chữa.
Bấy
giờ bậc Ðạo Sư vừa xuất định Ðại bi, thấy Ngài có
thể cứu độ cả hai cha con, bèn đến gần nhà họ và phóng
hào quang. Chàng trai rúng động toàn thân vì hoan hỷ, đảnh
lễ Ngài và nằm xuống.
Ngay
sau khi đức Thế Tôn ra đi, chàng từ trần và được tái
sanh vào một Lâu đài mười hai dặm trong hội chúng cõi trời
Ba mươi ba. Ngày hôm sau tang lễ, ông cha ra nghĩa địa vừa
khóc than vừa gọi tên con.
Chàng
Thiên tử thấy ông cha, liền xuất hiện trước mặt ông như
chàng Mattakundalin đang khóc với hai tay chắp lại vì đau buồn,
vừa kêu: 'Ôi mặt trăng! Ôi mặt trời!'.
Vị
Bà-la-môn liền hỏi:
1.
Mang chuỗi hoa, vòng tai điểm trang,
Làn
da tẩm phấn bột chiên-đàn,
Chàng
than khóc với đôi tay chắp,
Sầu
khổ vì sao ở giữa rừng?
Chàng
Thiên tử đáp lại ông:
2.
Bằng vàng đúc, sáng rực huy hoàng,
Xuất
hiện ngày xưa xe của con,
Ðôi
bánh xe này con chẳng thấy,
Do
buồn khổ ấy, muốn lìa trần.
Vị
Bà-la-môn lại nói với chàng:
3.
Ðúc bằng hồng ngọc, bạc, hay vàng,
Hãy
nói cho ta biết rõ ràng,
Nam
tử Bà-la-môn quý mến,
Ta
đi tìm cặp bánh cho chàng.
Thanh
niên Bà-la-môn ấy muốn hạ lòng tự cao của vị Bà-la-môn
đã không mua thuốc thang gì cho chàng, liền nói:
- Hẳn
chúng lớn bằng mặt trăng mặt trời kia.
Và
chàng yêu cầu ông như sau:
4.
Nam tử La-môn nói với ông:
'Ðôi
vòng nhật nguyệt vẫn thường trông,
Xe
con vàng đúc thường bừng sáng
Với
cặp bánh này giữa cõi không!'
Vị
Bà-la-môn bảo:
5.
Chàng La-môn quả thật điên khùng,
Chàng
kiếm thứ đồ chẳng thể mong,
Ta
chắc rồi đây chàng sẽ chết,
Vì
chàng không thể được trời, trăng!
Thanh
niên Bà-la-môn đáp:
- Thế
ai điên khùng hơn ai, người khóc đòi vật có thể thấy được
hay người khóc đòi vật không thể thấy?
6.
Ta thường thấy lặn, mọc, trời, trăng,
Ðặc
tính, sắc màu lúc chuyển luân,
Song
kẻ mạng chung nào thấy được,
Giữa
ta, ai khóc thật điên khùng?
Nghĩ
rằng chàng nói có lý, vị Bà-la-môn bảo chàng:
7.
Quả chàng nói đúng, Bà-la-môn,
Than
khóc vầy, ta ngu xuẩn hơn,
Ta
khóc than vì người đã chết,
Khác
nào con trẻ khóc đòi trăng?
Và
vị Bà-la-môn không còn buồn khi ngâm vần kệ trên, ông lại
ngâm các vần kệ tán thán chàng thanh niên Bà-la-môn ấy:
8.
Lòng ta thiêu đốt nóng bừng,
Như
là sữa lạc đổ trong lửa đào,
Nay
vừa được tưới nước vào,
Và
đang lắng dịu biết bao khổ sầu.
9.
Quả chàng nhổ mũi tên đau
Nỗi
buồn kia đã cắm sâu vào lòng,
Xua
tan mọi mối thương tâm
Của
người cha đã đau buồn vì con.
10.
Giờ đây mát lạnh, dịu lòng,
Mũi
tên đã nhổ, ta không còn buồn,
Ta
không còn phải khóc than,
Sau
khi nghe nói, hỡi chàng La-môn!
Sau
đó vị Bà-la-môn hỏi chàng:
- Thế
chàng là ai?
và
ngâm kệ tiếp:
11.
Có phải chàng Thiên tử, Nhạc thần,
Sak-ka
Thiên chủ đại danh lừng,
Thi
ân hào phóng, trang nam tử,
Con
của ai, ta muốn biết chàng?
Chàng
liền nói với ông về bản thân mình:
12.
Con là nam tử của ngài đây,
Ngài
hỏa thiêu con nghĩa địa này,
Ngài
đã khóc than và khổ não,
Còn
con làm thiện nghiệp riêng tây,
Nay
lên cộng trú cùng Thiên chúng
Tam
thập tam thiên lạc thú đầy.
Vị
Bà-la-môn hỏi:
13.
Cúng dường lớn nhỏ ở trong nhà,
Ta
chẳng thấy đâu, trước đến giờ,
Hoặc
giữ giới hay ngày Bố-tát,
Làm
sao con đạt cõi Băm-ba?
Thanh
niên Bà-la-môn đáp:
14.
Xưa con bệnh hoạn ở trong phòng,
Ðau
đớn ngập tràn cả tấm thân,
Con
thấy Phật-đà vô lậu hoặc,
Ðoạn
nghi, Thiện Thệ, trí viên toàn.
15.
Tâm con tràn ngập nỗi hân hoan,
Ðảnh
lễ Như Lai với tín tâm,
Khi
thiện sự con vừa thực hiện,
Con
lên cộng trú chúng Thiên thần.
Khi
chàng đang nói vậy, toàn thân vị Bà-la-môn tràn đầy nhiệt
tình và ông nói:
16.
Thật là hy hữu, diệu kỳ thay,
Ðây
kết quả hành động chắp tay,
Ta
cũng hân hoan, tâm tín ngưỡng,
Quy
y đức Phật tự ngày nay.
Sau
đó vị Thiên tử muốn khuyên ông quy y và nhận Ngũ giới,
lại ngâm hai vần kệ:
17.
Ngay tự hôm nay với tín tâm
Ngài
quy y Phật, Pháp cùng Tăng,
Hành
trì Ngũ giới, chuyên tu tập,
Giữ
trọn vẹn không có lỗi lầm.
18.
Từ nay ngài tránh sát muôn loài,
Không
lấy vật chi chẳng tặng ngài,
Không
uống rượu nồng, không nói dối,
Và
tri túc với vợ mình thôi.
Khi
chàng Thiên tử đã khuyên ông nhận Tam quy và Ngũ giới như
vậy, vị Bà-la-môn đồng ý với lời chàng và bảo:
19-20.
Chàng muốn an lạc, Dạ-xoa,
Chàng
mong hạnh phúc với ta mà,
Ta
tuân lời dặn, này Thiên tử,
Chành
chính là thầy giáo của ta,
Ta
sẽ quy y vào Phật, Pháp.
Và
quy y hội chúng Tăng-già.
21.
Từ nay ta tránh sát muôn loài,
Không
lấy các tài vật của ai,
Không
uống rượu nồng, không nói dối,
Và
tri túc với vợ mình thôi.
10.
(84) Chuyện thứ mười -
Lâu
Ðài Của Serissaka (Serissaka-Vimàna)
Sau
khi đức Thế Tôn đã viên tịch, Tôn giả Kumàra-Kassapa (Cưu-ma-la
Ca-diếp) cùng với năm trăm Tỷ-kheo đến thành Setavyà. Tại
đó, Tôn giả thuyết phục vua Pàyàsi (Tệ Túc) từ bỏ các
tà kiến, và an trú vua vào chánh kiến.
Từ
đó về sau, nhà vua thích làm công đức, cúng dường các Sa-môn,
Bà-la-môn, song không được chu đáo, vì trước kia chưa quen
việc ấy, nên sau khi từ trần, vua được tái sanh vào một
Lâu đài ở nơi hoang vắng trong rừng cây Sirìsa thuộc trú
xứ của Tứ Ðại Thiên vương.
Tục
truyền rằng ngày xưa một số thương nhân nước Anga-Magadha
đi đến xứ Sindhu và Sovìra, thường du hành ban đêm vì sợ
cơn nóng ban ngày, nên đã đi lạc đường. Trong số ấy có
một đệ tử cư sĩ đầy đủ mọi khả năng chứng đắc
quả A-la-hán, và đã tham gia đoàn lữ hành để kiếm tiền
cấp dưỡng cha mẹ.
Muốn
giúp đỡ vị ấy, Thiên tử Serissaka xuất hiện cùng Lâu đài
của mình, rồi hỏi đám thương nhân đã đến vùng sa mạc
hoang vu không cây cỏ nước non này bằng cách nào. Bọn họ
trả lời chàng.
Ðể
giải thích chuyện này, các vị kết tập Kinh điển đưa vào
hai vần kệ đầu tiên:
1.
Hãy lắng nghe câu chuyện Dạ-xoa
Và
thương nhân gặp gỡ đường xa,
Chuyện
hay khéo kể cho nhau rõ,
Vậy
hãy lắng nghe cả chúng ta.
2.
Pà-yà-si, chính hiệu nhà vua,
Bạn
của địa thần, danh tiếng xa,
Ðang
hưởng lạc trong Lầu các ấy,
Vị
Thiên thần hỏi đám thương gia:
3.
'Trong rừng hiểm trở vắng phàm nhân,
Sa
mạc khô cằn, chẳng có ăn,
Thật
khó đi vào vùng cát trắng,
Nhiều
người mất trí sợ nguy nan.
4.
Không có cây hay trái ở đây,
Cũng
không nhiên liệu, thức ăn này,
Không
gì ngoài bụi mù và cát,
Sức
nóng đang thiêu đốt đọa đày.
5.
Hoang mạc cằn như ấm sắt nung,
Không
gì lợi lạc tựa âm cung,
Xưa
là trang trại bầy ăn cướp,
Ðáng
rủa nguyền thay cả một vùng.
6.
Vậy các ngươi do động lực nào,
Cớ
gì ước muốn đến đây sao?
Các
ngươi vội vã cùng nhau đến,
Vì
sợ, tham lam, lạc lối vào?
Các
thương nhân liền đáp:
7.
Lữ khách thương nhân Ma-kiệt-đà,
An-ga,
cùng đến So-vì-ra,
Ðã
mang theo thật nhiều hàng hóa,
Mong
muốn giàu sang, kiếm lợi mà.
8.
Không sao chịu được khát ban ngày,
Cùng
xót thương bò ngựa cả bầy,
Ðến
bước này đây, đoàn lữ khách
Gặp
ban đêm giữa lúc canh chầy.
9.
Khốn khổ chúng tôi phải lạc đường,
Rối
như mù lạc lối rừng hoang,
Giữa
vùng cát khó du hành quá,
Tâm
trí hoang mang chẳng biết phương.
10.
Ðang lúc này đây được thấy ngài,
Dạ-xoa
thần lạc trú Lâu đài,
Những
điều chưa thấy bao giờ cả,
Hy
vọng khởi lên với chúng tôi,
Vì
chúng tôi vừa nhìn thấy thế,
Chúng
tôi đều hạnh phúc, mừng vui.
Vị
Thiên tử lại hỏi:
11.
Sa mạc hoang vu vượt đại dương,
Con
đường khúc khuỷu phải đi ngang
Bằng
dây rừng kết làm cầu nối,
Lại
có nhiều khe suối động hang,
Thật
khó đi vào nhiều thị trấn,
Các
ngươi lặn lội kiếm giàu sang.
12.
Khi vào lãnh thổ các vua kia,
Nhìn
mọi người trong xứ khác xa,
Những
việc các ngươi nghe thấy đó,
Có
gì kỳ thú kể cho ta.
Bọn
thương nhân nghe vị Thiên tử hỏi, liền đáp:
13.
Việc chúng tôi nghe thấy trước đây
Không
gì kỳ thú sánh nơi này,
Siêu
phàm, Thiên tử, không hề chán,
Khi
ngắm mỹ quang tuyệt hảo vầy.
14.
Các hồ sen trải giữa trời cao,
Phong
phú hoa đua nở đẹp biết bao,
Sen
trắng cùng cây luôn kết trái,
Tỏa
làn hương tuyệt diệu dường nào.
15.
Một trăm trụ ngọc bích cao xanh,
Các
đế san hô kết thủy tinh,
Mã
não mắt mèo, hồng ngọc thắm,
Trụ
toàn ngọc sáng kết thành hình.
16.
Lâu đài tráng lệ ở trên đầu,
Ngàn
trụ oai nghi tuyệt mỹ sao,
Hành
lang vàng với tường đầy ngọc,
Nền
dát vàng xen lẫn bảo châu.
17.
Lâu đài sáng rực tựa vàng ròng
Ở
tại Jam-bon, một lạch sông,
Sáng
loáng cầu thang, sân thượng, bệ,
Oai
hùng, cân xứng, đẹp vô ngần.
18.
Trong điện ngọc đầy thức uống ăn,
Một
đàn tiên nữ đứng quây quần,
Ngân
vang kèn trống và đàn địch,
Ngài
được cung nghênh với tán xưng.
19.
Ngài được bầy tiên tạo lạc an,
Thượng
lầu kỳ thú của thiên đàng,
Ngài
oai nghi hưởng đầy ân phước,
Lộng
lẫy cao sang chẳng nghĩ bàn,
Như
Ðại Thiên vương Tỳ-xá ngự
Na-li-nì
thượng uyển vinh quang.
20.
Ngài là Thiên nữ, Dạ-xoa thần,
Thiên
chủ mang hình dáng thế nhân?
Lữ
khách cả đoàn nay kính hỏi,
Xin
ngài cho biết rõ danh xưng.
Bấy
giờ vị Thiên tử nói rõ về bản thân mình:
21.
Ta là Thiên tử Se-ris-sa,
Ta
giữ vùng sa mạc thật xa,
Cai
quản miền này và xứ nọ,
Tuân
hành thiên lệnh Ves-sa-va.
Bấy
giờ các thương nhân hỏi về hạnh nghiệp của chàng:
22.
Ngài hưởng lạc này bởi ngẫu nhiên,
Hay
ngài được tặng bởi chư Thiên?
Do
ngài xây dựng, do thành tựu?
Lữ
khách thương nhân muốn hỏi xem,
Bằng
cách nào đây ngài hưởng được
Lâu
đài lạc thú giữa quần tiên?
Vị
Thiên tử lại ngâm kệ bác bỏ bốn sự phỏng đoán này và
nêu rõ đó chính là do công đức:
23.
Chẳng phải do ta được ngẫu nhiên,
Hoặc
ta được tặng bởi chư Thiên,
Do
ta xây dựng, do thành tựu,
Mà
chính do công đức tạo nên.
Các
thương nhân liền hỏi về bản chất công đức ấy:
24.
'Phạm hạnh nào hay bởi nguyện cầu?
Quả
này do pháp thiện hành sao?
Thương
nhân lữ khách này xin hỏi:
Ngài
được Lâu đài bởi tại đâu?'
Vị
Thiên tử lại bác bỏ cả bốn điều phỏng đoán trên, và
trình bày công hạnh do mình đã tích trữ trước kia:
25.
Pa-ya-sì thuở trước là ta,
Cai
trị thần dân Kiều-tát-la,
Keo
kiệt, xan tham, tin đoạn diệt,
Không
tin nhân quả, lạc đường tà.
26.
Thế rồi có một vị Sa-môn,
Cưu-ma
Ca-diếp, bậc đa văn,
Biện
tài tuyệt diệu, nhiều phương tiện
Thuyết
pháp, xua tà kiến khỏi tâm.
27.
Khi nghe lời thuyết pháp từ ngài,
Ta
nguyện làm cư sĩ suốt đời:
Không
sát sanh và không trộm cắp,
Cũng
không uống rượu, nói sai lời,
Cũng
không tà dục và tri túc
Với
vợ mình, không muốn vợ ai.
28.
Ðó là lời nguyện sống trong lành,
Kết
quả đây là của thiện hành,
Chính
bởi các hành vi phước đức
Lâu
đài này được hưởng phần mình.
Khi
ấy các thương nhân đã thấy vị Thiên tử cùng Lâu đài
của chàng, liền khởi lòng tin vào nghiệp quả, và ngâm hai
vần kệ nêu rõ niềm tin của họ vào nghiệp quả:
29.
Quả thật, trí nhân nói thật chân,
Không
hề nói khác, các hiền nhân,
Nơi
nào người thiện làm công đức,
Nơi
ấy người an hưởng thỏa lòng.
30.
Nơi nào có khổ não, kêu thương,
Chết
chóc, nhiều ràng buộc, khổ buồn,
Nơi
ấy, các người làm ác nghiệp
Khó
lòng thoát khỏi cảnh thê lương.
Trong
khi họ ngâm kệ, một trái Sirìra chín rụng từ cây xuống
cổng Lâu đài và vị Thiên tử có vẻ buồn. Các thương nhân
thấy thế, liền ngâm kệ khác:
31.
Giờ đây Thiên chúng vẻ bồn chồn,
Lúng
túng như đang dính vũng bùn,
Thiên
tử, vì đâu ngài bất mãn,
Vì
đâu hội chúng chẳng vui lòng?
Khi
nghe hỏi vị Thiên tử đáp lại:
32.
Bạn này, các khóm Si-rì-sa,
Thoang
thoảng thiên hương lan tỏa ra
Vào
tận Lâu đài, hương phảng phất
Ngày
đêm xua đuổi bóng âm u.
33.
Khóm này, sau mỗi một trăm niên,
Một
trái nở ra, chín, rụng liền,
Một
trăm năm đã qua từ lúc
Ta
hiện lên đây giữa chúng Thiên.
34.
Biết rằng ta sống giữa thiên cung
Ngũ
bách niên trường, sẽ mạng chung,
Khi
thọ mạng tàn, công đức tận,
Cho
nên ta hoảng sợ buồn lòng.
Lúc
ấy các thương nhân liền an ủi chàng:
35.
Thiên tử làm sao phải muộn phiền,
Khi
ngài ngự ngũ bách chu niên
Lâu
đài tuyệt mỹ vô song địch?
Chắc
chắn những ai phước đức hèn
Chỉ
được sinh vào nơi thấp kém,
Là
người phải chịu khổ triền miên.
Vị
Thiên tử chấp nhận lời nói của họ, cảm thấy được
an ủi, bèn ngâm kệ:
36.
Những lời khích lệ đẹp lòng sao,
Bạn
nói những lời khen ngợi nhau,
Song
bạn hỡi, giờ ta bảo hộ,
Cất
bước bình an thoả ước ao.
Các
thương nhân muốn bày tỏ lòng biết ơn, lại ngâm kệ:
37.
Khi nào đi đến So-vì-ra,
Và
đến Sin-dhu kiếm lợi to,
Cùng
với biết bao quà tặng quý,
Chúng
tôi dâng lễ Se-ris-sa.
Nhưng
vị Thiên tử từ chối lễ vật hào phóng và muốn khuyên
nhủ họ những việc cần làm, liền ngâm kệ:
38.
Chớ nên dâng lễ Se-ris-sa,
Còn
mọi việc kia sẽ xảy ra,
Song
phải kiên tâm hành Chánh pháp,
Và
cần tránh các nghiệp gian tà.
Vị
ấy lại ngâm kệ để nêu gương tốt cho họ theo và tán thán
các đức tính của người cư sĩ mà vị ấy mong muốn bảo
vệ an toàn:
39.
Có vị tại gia của lữ đoàn,
Học
nhiều, giữ giới nguyện tinh cần,
Cúng
dường hào phóng, đầy thân ái,
Tri
túc, khôn ngoan, đúng trí nhân.
40.
Chàng không cố ý nói sai lời,
Cũng
chẳng chuyên tâm hại đến ai,
Không
thốt lời phân ly, phỉ báng,
Nói
lời dịu ngọt, thật êm tai.
41.
Biết vâng lời, kính trọng, tu thân,
Tẩy
sạch mình theo giới hạnh luôn,
Người
ấy sống đời cao thượng lắm,
Nương
nhờ Chánh pháp, dưỡng song thân.
42.
Ta chắc chàng đi kiếm bạc vàng
Chỉ
vì muốn phụng dưỡng song thân,
Chứ
không phải chính vì mình vậy,
Bởi
thế khi cha mẹ mãn phần,
Chàng
sẽ hành trì đời Phạm hạnh,
Hướng
về xuất thế, thoát ly trần.
43.
Thẳng ngay, không hóc hiểm, mưu mô,
Thiện
sự thành công, chẳng dối lừa,
Giải
quyết việc gì, không kiếm cớ,
Sao
người như vậy phải ưu tư?
44.
Vì lý do này ta hiện thân,
Hãy
quy ngưỡng Pháp, hỡi thương nhân,
Giá
không chàng, bạn thành tro bụi,
Hoảng
sợ như mù lạc lối hoang.
Chỉ
trích chàng là điều thật dễ,
Phúc
thay gặp gỡ bậc hiền lương!
Ðám
thương nhân muốn biết rõ chi tiết về người đang được
nói đến một cách tổng quát như vậy, liền hỏi:
45.
Người ấy là ai tự bấy nay,
Tên
chàng, bộ tộc, thợ hay thầy?
Chúng
tôi mong muốn nhìn người ấy
Ngài
đã xót thương xuất hiện đây,
Quả
thật phần chàng nhiều lợi lạc,
Nhờ
ngài mến chuộng đến như vầy.
Bấy
giờ vị Thiên tử nêu tên họ và bộ tộc chàng kia:
46.
Người này tên gọi Sam-ba-va,
Hớt
tóc, người tu tập tại gia,
Kiếm
sống bằng dao, bàn chải tóc,
Cả
đoàn biết thị giả này mà!
Vì
chàng là một người lương thiện,
Các
bạn đừng nên nhạo báng ta.
Sau
đó đám thương nhân nhận ra chàng kia, liền nói:
47.
Chúng tôi đều biết rõ người này,
Nhưng
chẳng biết chàng đức hạnh thay,
Nay
chúng tôi cùng xin đảnh lễ
Khi
nghe ngài nói quý cao vầy.
Bấy
giờ, sau khi mời mọi người bước vào Lâu đài của mình,
vị Thiên tử ngâm kệ khích lệ họ:
48.
Bất cứ ai trong đám lữ hành,
Trung
niên, trưởng lão, hoặc xuân xanh,
Xin
mời tất cả lên lầu thượng,
Ðể
bọn xan tham ngắm phước lành.
Trong
phần kết thúc, chư vị kết tập Kinh điển ngâm sáu vần
kệ:
49.
Mọi người tại đó nói to lên,
Khi
đặt chàng cư sĩ trước tiên:
'Tôi
thứ nhất', rồi lên điện ngọc,
Như
cung Ðế Thích của chư Thiên.
50.
Cả đoàn lữ khách nói như vầy:
'Tôi
trước tiên', nhận Ngũ giới này,
Từ
bỏ sát sanh loài thú vật,
Cũng
không trộm cắp, rượu nồng say,
Cũng
không nói dối, và tri túc
Với
vợ mình, không muốn vợ ai.
51.
Cả đoàn lữ khách nói đồng thanh:
'Tôi
trước tiên', trì giới, khởi hành,
Hoan
hỷ ngập tràn nhờ đại lực
Dạ-xoa
thần hỗ trợ đồng tình.
52.
Ði vào địa phận So-vì-ra,
Vì
muốn bạc vàng, kiếm lợi to,
Khi
việc làm xong, tròn phận sự,
Trở
về an ổn phố Pà-ta.
53.
Tất cả bình yên trở lại nhà,
Trùng
phùng thê tử cả toàn gia,
Mừng
vui, hạnh phúc, đầy hoan lạc,
Làm
lễ tôn vinh Thiên tử kia,
Lễ
hội tưng bừng và rộn rã,
Cùng
xây trú xứ Se-ris-sa.
54.
Như vậy là bầu bạn thiện nhân
Ðược
nhiều lợi lạc lớn vô ngần,
Kết
giao các thiện nhân trong Pháp,
Nhờ
một người, toàn thể hưởng ân.
11.
(85) Chuyện thứ mười một -
Lâu
Ðài Của Sunikkhitta (Sunikkhitta-Vimàna)
Bấy
giờ, đức Thế Tôn trú tại Sàvatthi, trong Kỳ Viên. Thời
ấy như đã nói trên, Tôn giả Mahà-Moggallàna du hành trên
thiên giới, đến cõi trời Ba mươi ba.
Một
vị Thiên tử đang đứng ở cửa Lâu đài của chàng liền
đến gần cung kính đảnh lễ Tôn giả. Thuở tiền kiếp,
khi ngôi kim Tháp rộng một dặm đã được dựng để thờ
xá-lợi của đức Phật Kassapa, bốn hội chúng thường đến
cúng dường lễ vật.
Có
một cư sĩ, sau khi dâng hoa tại đó, đã chưng bày lại những
bông hoa được sắp đặt vụng về, rồi làm lễ cúng lần
nữa. Vị ấy lấy các hoa kia làm đề tài thiền quán và tưởng
niệm các đức tính của bậc Ðạo Sư, rồi đặt trọn công
đức này vào lòng.
Về
sau lúc từ trần, nhờ uy lực của hạnh nghiệp này, vị ấy
được tái sanh vào cõi trời Ba mươi ba với một đám tùy
tùng đông đảo. Tôn giả Mahà-Moggallàna ngâm kệ hỏi vị
ấy:
1.
Lầu các trụ cao bằng ngọc bích,
Mười
hai dặm trải rộng chung quanh,
Bảy
trăm nóc nhọn huy hoàng quá,
Trụ
ngọc nền vàng thật hiển vinh.
2.
Chàng uống ăn, cư trú lạc an,
Khi
đàn tiên trổi khúc du dương,
Ðây
là thiên vị, năm thiên lạc,
Tiên
nữ múa, trang điểm ngọc vàng.
3.
Vì sao chàng được sắc như vầy,
Vì
cớ gì chàng vinh hiển đây,
Những
lạc thú nào chàng mến chuộng
Trong
tâm, đều xuất hiện ra ngay?
4.
Hỡi chàng Thiên tử đại oai thần,
Chàng
tạo đức gì giữa thế nhân,
Vì
cớ gì oai nghi rực rỡ,
Dung
quang chiếu sáng khắp mười phương?
Vị
Thiên tử ngâm kệ nói về hạnh nghiệp đã làm. Các vị kết
tập Kinh điển giải thích việc này:
5.
Chàng Thiên tử ấy hỷ tâm tràn,
Ðược
Mục-liên Tôn giả hỏi han,
Chàng
giải đáp ngay phần hạnh nghiệp,
Và
đây là kết quả cho chàng:
6.
Khi sắp đặt xong một chuỗi hoa
Mà
người đã sắp đặt qua loa,
Rồi
dâng hoa tại ngôi kim Tháp
Ðấng
Thiện Thệ là Kas-sa-pa,
Con
đắc đại thần thông, đại lực,
Hưởng
đầy thiên lạc cõi Băm-ba.
7.
Vì vậy sắc con đẹp thế này,
Và
con vinh hiển ở nơi đây,
Bất
kỳ lạc thú nào trong dạ
Yêu
chuộng, tức thì xuất hiện ngay.
8.
Xin trình Tôn giả đại oai thần,
Công
đức con làm giữa thế nhân,
Vì
thế oai nghi con rực rỡ,
Dung
quang chiếu sáng khắp mười phương.
Tổng
Kết
- Lâu
đài Hai Người Nghèo, Hai Tinh Xá.
-
Một Người làm thuê, Một Kẻ Chăn Bò, Kanthaka.
-
Lâu đài Nhiều Màu Sắc, Mattakundalin, Serissaka, Sunikkhitta.
Ðó
là Phẩm thứ Bảy về Lâu đài Nam giới.
Phẩm
Thứ Tư Ðể Phúng Tụng