|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TIỂU BỘ
TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2543 - 1999
Kinh Tập
Sutta Nipata
Chương
Năm - Phẩm Con Ðường Ðến Bờ Bên Kia
(I)
Bài kệ mở đầu (Sn 190)
976.
Từ thành phố đẹp đẽ,
Của
các Kô-xa-la,
Có
vị Bà-la-môn,
Thông
đạt các chú thuật,
Hướng
tầm vô sở hữu,
Hướng
phía Nam bước tới.
977.
Trong nước Át-xa-ka,
Gần
xứ A-la-ka,
Vị
ấy sống trên bờ,
Sông
Gô-đa-và-rà,
Nuôi
sống bằng trái cây,
Bằng
đồ ăn lượm vặt.
978.
Gần chỗ vị ấy ở,
Có
làng đất rộng rãi,
Với
tài sản thâu thập,
Tổ
chức tế đàn lớn.
979.
Ðại tế đàn lễ xong,
Vị
ấy trở về am,
Trong
khi bước vào am,
Một
Phạm-chí khác đến.
980.
Chân sưng húp, run rẩy
Ðầy
bùn, đầu lấm bụi,
Người
ấy bước đến gần,
Và
xin năm trăm tiền.
981.
Sau khi thấy vị ấy,
Ba-va-ri
mời ngồi,
Hỏi
thăm, thiện, an lạc
Rồi
nói lời như sau:
Bàvarim:
982.
Những gì tôi cho được,
Tôi
đã cho tất cả,
Phạm
chí hãy tin tôi,
Tôi
không có năm trăm.
Phạm-chí:
983.
Nếu điều ta xin Ông,
Tôn
giả không đáp ứng,
Sau
bảy ngày, đầu Ông
Sẽ
bị vỡ, bảy mảnh!
984.
Sau khi làm chú thuật,
Kẻ
man trá tuyên bố,
Những
lời nói đáng sợ,
Nghe
những lời nói ấy,
Phạm-chí
Ba-va-ri
Cảm
thấy lòng đau khổ.
985.
Gầy ốm, không uống ăn,
Bị
tên sầu muộn đâm,
Với
tâm tư như vậy,
Ý
khó vui trong thiền,
986.
Thấy lo sợ buồn khổ,
Một
Thiên nhân đi đến,
Muốn
bạn được hạnh phúc,
Nói
với Ba-va-ri.
Thiên
nhân:
987.
Kẻ man trá muốn tiền,
Không
rõ biết về đầu,
Về
đầu, đánh bể đầu,
Trí
ấy nó không có.
Bàvarim:
988.
Này bạn,nếu bạn biết,
Hãy
nói câu hỏi tôi,
Về
đầu, đánh bể đầu,
Chúng
tôi nghe lời người.
Thiên
nhân:
989.
Tôi không biết việc này,
Trí
này, tôi không có,
Về
đầu, đánh bể đầu,
Bậc
chiến thắng thấy được.
Bàvarim:
990.
Vậy ai có thể biết,
Trên
quả đất tròn này,
Về
đầu, đánh bể đầu,
Thiên
nhân, nói tôi biết.
Thiên
nhân:
991.
Từ thành Ka-pi-la,
Bậc
lãnh đạo thế giới,
Xuất
hiện ra ở đời,
Là
con cháu, hậu duệ,
Của
vua Ok-ka-ka
Thích
tử, chiếu hào quang.
992.
Vị ấy Chánh Ðẳng Giác,
Hỡi
này Bà-la-môn,
Ðã
đi đến bờ kia,
Ðối
với tất cả pháp,
Ðạt
được cả sức mạnh,
Của
tất cả thắng trí,
Bậc
có mặt thấy được
Trong
tất cả các pháp.
Ðạt
được sự diệt tận,
Của
tất cả các pháp,
Ðược
giải thoát, diệt tận,
Ðối
với các sanh y.
993.
Bậc Giác ngộ, Thế Tôn,
Bậc
có mắt thuyết pháp,
Hãy
đến hỏi vị ấy,
Vị
ấy sẽ trả lời.
994.
Nghe tiếng Chánh Ðẳng Giác,
Ba-va-ri
phấn khởi,
Sầu
muộn được giảm bớt,
Ðược
hoan hỷ rộng lớn.
995.
Vị Ba-va-ri ấy,
Hoan
hỷ và phấn khởi,
Cảm
thấy lòng cảm động,
Hỏi
vị thiên nhân ấy.
Bàvarim:
995b.
Ở tại thôn làng nào,
Ở
tại thị trấn nào,
Ở
tại quốc độ nào,
Lãnh
đạo thế giới trú?
Tại
đấy, tôi sẽ đi,
Ðảnh
lễ bậc Giác ngộ,
Bậc
Vô thượng loài Người.
Thiên
nhân:
996.
Ở tại Xa-vat-thi,
Trong
thành Kô-xa-la,
Bậc
chiến thắng an trú,
Với
trí tuệ rộng lớn,
Với
hiểu biết thù thắng,
Rộng
rãi và cùng khắp.
Vị
ấy là Thích tử,
Không
gánh nặng vô lậu,
Bậc
Ngưu vương loài Người,
Biết
rõ về đỉnh đầu,
Biết
rõ đánh vỡ đầu.
997.
Rồi vị Bà-la-môn,
Cho
gọi các đệ tử,
Là
những vị thông đạt,
Về
bùa chú kệ tụng.
Bàvarim:
997b.
Hãy đến, các thanh niên,
Ta
sẽ nói, hãy nghe,
Những
lời ta nói lên.
998.
Vị ấy rất khó gặp,
Rất
hiếm hiện ở đời,
Nay
sanh ra ở đời,
Ðược
danh bậc Chánh giác,
Hãy
đi gấp Xá-vệ,
Thấy
được bậc Vô thượng.
Các đệ
tử:
999.
Kính thưa Bà-la-môn,
Thế
nào chúng con biết,
Sau
khi thấy vị ấy,
Biết
vị ấy là Phật,
Chúng
con chưa được biết
Hãy
nói chúng con biết!
Bàvarim:
1000.
Trong những kệ bùa chú,
Ðược
truyền lại đến nay,
Có
nói đến tướng tốt,
Của
một bậc Ðại nhân,
Có
nói ba mươi hai,
Trọn
đủ, được liên tục.
1001.
Ai có trên tay chân,
Ðủ
tướng đại nhân ấy,
Chỉ
có hai sanh thú,
Không
có cái thứ ba.
1002.
Nếu trú tại gia đình,
Chinh
phục quả đất này,
Không
dùng trượng, dùng kiếm,
Giáo
hóa đúng Chánh pháp.
1003.
Nếu vị ấy xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Rộng
mở màn vô minh,
Vị
ấy, được trở thành,
Bậc
Chánh đẳng Chánh giác,
Bậc
Ứng cúng, Vô thượng.
1004.
Với tâm ý, hãy hỏi,
Sanh,
tánh tướng của ta,
Kệ
chú, đệ tử ta,
Về
đầu, đánh bể đầu.
1005.
Nếu vị ấy là Phật,
Thấy
rõ, không che kín,
Với
lời, vị ấy đáp,
Các
câu hỏi bởi ý.
1006.
Nghe lời Ba-va-ri,
Mười
sáu người đệ tử,
Tất
cả là Phạm chí,
Tên
là A-ji-ta,
Tis-xa-mêt-tê-ya,
Pun-na-ka,
Mết-gu,
Cùng
với Ðo-ta-ka,
Và
U-pa-xi-va,
Nan-da,
Hê-ma-ka,
Tô-đê-ya,
Kap-pa,
Với
Ja-tu-kan-ni,
Là
bậc danh Hiền trí.
1008.
Và Bha-drà-vu-đa,
Cùng
với U-da-ya,
Phạm
Chí Po-xà-la,
Và
Mo-gha-rà-jà,
Là
bậc có trí tuệ,
Cùng
với Pin-gi-ya,
Là
vị đại ẩn sĩ,
Tất
cả những vị ấy.
1009.
Mỗi người có đồ chúng,
Có
danh xưng ở đời,
Tu
thiền, ưa thiền định,
Bậc
có trí sáng suốt,
Mang
theo những dấu tích,
Ðời
sống trước của mình.
1010.
Ðảnh lễ Ba-va-ri,
Thân
phía hữu hướng Ngài,
Tất
cả đều bện tóc,
Mặc
áo vải da thú,
Mặt
hướng về phía Bắc,
Tất
cả chúng ra đi.
1011.
Trước hết, họ đi ngang,
Ðến
Pa-tít-thà-na,
Của
xứ A-la-ka,
Rồi
Ma-hi-xa-ti,
Tiếp
đến Uj-jê-ni,
Và
đến Gô-nad-đăng,
Tiếp
đến Vê-đi-xăng,
Va-na-xa-ha-yăng,
1012.
Ði đến Kô-xăm-bi,
Ði
đến Xa-kê-ta,
Rồi
đến Xa-vat-thi,
Là
thành phố tối thượng,
Kế
đến Xê-ta-vyam,
Ka-pi-la-vat-thu,
Rồi
đến tòa lâu đài,
Tên
Ku-xi-na-ra,
Rồi
đi đến Pa-va,
Và
thành phố Bhô-ga,
Tiếp
đến Vê-xá-ly,
Thành
phố Ma-ga-đa,
Rồi
Pa-xe-na-ka,
Ngôi
điện đẹp, khả ái.
1014.
Như người khát, nước mát,
Như
người buôn, lợi lớn,
Như
nóng bức, bóng mát,
Họ
gấp leo ngọn núi.
1015.
Thế Tôn, trong lúc ấy,
Dẫn
đầu chúng Tỷ-kheo,
Ngài
đang thuyết Chánh pháp,
Cho
các vị Tỷ-kheo,
Giống
như con sư tử,
Rống
tiếng rống trong rừng.
1016.
A-ja-ta thấy Phật,
Như
mặt trời vàng chói,
Như
mặt trăng ngày rằm,
Ðược
tròn đầy viên mãn.
1017.
Và thấy tay chân Ngài,
Ðầy
đủ các tướng tốt,
Hoan
hỷ đứng một bên,
Hỏi
câu hỏi tâm ý.
Ajita:
1018.
Hãy nói về thọ sanh,
Nói
dòng họ, các tướng,
Về
tối thượng kệ chú,
Phạm
chí đọc bao nhiêu?
Thế
Tôn:
1019.
Tuổi thọ trăm hai mươi,
Dòng
họ Bà-va-ri,
Trên
tay chân, ba tướng,
Thông
đạt ba Vệ-đà.
1020.
Về tướng và truyền thuyết,
Về
tự vựng, lễ nghi,
Tụng
đọc được năm trăm,
Ðạt
tối thượng diệu pháp.
Ajita:
1021.
Bậc Vô thượng, đoạn ái,
Hãy
nói lên tường tận
Các
tướng Ba-va-ri,
Ðể
chúng con không nghi.
Thế
Tôn:
1022.
Lưỡi che kín mặt mày,
Giữa
hàng mi, lông trắng,
Có
da bọc âm tàng,
Hãy
biết vậy, thanh niên.
1023.
Không nghe câu hỏi gì,
Chỉ
nghe câu trả lời,
Quần
chúng rất ngạc nhiên,
Chắp
tay tự suy nghĩ.
Dân chúng:
1024.
Thiên, Phạm thiên, Ðế thích,
Hay
Xu-jam-pa-ti
Ai,
với ý hỏi Ngài,
Xin
nói cho được biết?
Ajita:
1025.
Ba-va-ri tìm hỏi,
Về
đầu, đánh bể đầu,
Thế
Tôn hãy trả lời,
Ðoạn
nghi hoặc chúng con?
Ôi,
thưa bậc Tiên nhân!
Thế
Tôn:
1026.
Vô minh là đỉnh đầu,
Hãy
hiểu biết như vậy,
Minh
là đánh bể đầu,
Liên
hệ dục tinh tấn,
Với
lòng tin, chánh niệm,
Liên
hệ với thiền định.
1027.
Với cảm thọ lớn mạnh,
Thanh
niên tự chế ngự,
Ðắp
áo da một bên,
Với
đầu, đảnh lễ chân.
Ajita:
1028.
Phạm chí Ba-va-ri,
Cùng
đệ tử, thưa Ngài,
Tâm
phấn khởi, đẹp ý,
Lễ
chân, bậc có mắt.
Thế
Tôn:
1029.
Phạm chí Ba-va-ri,
Hãy
sống được an lạc,
Cùng
với các đệ tử!
Mong
Ông sống an lạc,
Thọ
mạng được lâu dài,
Hỡi
này kẻ thanh niên.
1030.
Ba-va-ri và Ông,
Có
mọi nghi ngờ gì,
Cơ
hội đến, hãy hỏi,
Tùy
theo ý Ông muốn.
1031.
Ðược bậc Chánh Ðẳng Giác,
Cho
cơ hội tốt đẹp,
A-ji-ta
liền ngồi,
Chắp
tay hỏi Như Lai,
Hỏi
câu hỏi thứ nhất,
Chính
ngay tại chỗ ấy,
Kệ
mở đầu đã xong.
(II)
Câu hỏi của thanh niên A-ji-ta (Sn 197)
Ajita:
1032.
Tôn giả A-ji-ta:
Do
gì, đời bị che,
Do
gì, không chói sáng,
Hãy
nói lên cái gì,
Làm
uế nhiễm cuộc đời,
Cái
gì sợ hãi lớn?
Thế
Tôn:
1033.
Thế Tôn liền đáp lại:
Ðời
bị vô minh che,
Do
xan tham, phóng dật,
Ðời
không được chói sáng,
Ta
nói do mong cầu,
Nên
đời bị uế nhiễm,
Chính
là sự đau khổ,
Nên
có sợ hãi lớn.
Ajita:
1034.
Tôn giả A-ji-ta:
Mọi
nơi dòng nước chảy,
Cái
gì ngăn dòng nước?
Hãy
nói lên cái gì?
Chế
ngự được dòng nước?
Cái
gì đóng dòng nước?
Thế
Tôn:
1035.
Thế Tôn liền đáp lại:
Hỡi
này A-ji-ta,
Các
dòng nước ở đời,
Chánh
niệm ngăn chận lại,
Chánh
niệm được Ta gọi,
Chế
ngự các dòng nước,
Và
chính do trí tuệ,
Ðóng
lại các dòng nước.
Ajita:
1036.
Tôn giả A-ji-ta:
Trí
tuệ và chánh niệm,
Cùng
với danh và sắc,
Kính
thưa bậc Tôn giả,
Hãy
nói điều con hỏi,
Từ
đâu chúng bị diệt?
Thế
Tôn:
1037.
Câu hỏi gì Ông hỏi,
Hỡi
này A-ji-ta,
Ta
sẽ đáp cho Ông,
Chỗ
nào danh và sắc,
Ðược
đoạn diệt hoàn toàn,
Không
còn lại dư tàn,
Chính
do đoạn diệt thức,
Danh
sắc được đoạn diệt.
Ajita:
1038.
Những ai biết tư sát,
Các
pháp thuộc hữu vi,
Cùng
với bậc hữu học,
Và
phàm phu ở đời,
Ðược
hỏi, Ngài hãy nói,
Về
nếp sống của họ?
Bậc
thận trọng sáng suốt,
Hãy
nói lên, thưa Ngài!
Thế
Tôn:
1039.
Chớ tham đắm các dục,
Giữ
tâm tư an tịnh,
Thiện
xảo trong các pháp,
Tỷ-kheo
giữ chánh niệm,
Sống
đời sống xuất gia.
(III)
Các câu hỏi của thanh niên Tissametmeyya (Sn 199)
Yissa:
1040.
Tissa Met-tey-ya:
Ai
thỏa mãn ở đời,
Với
ai không dao động,
Ai
thắng tri hai biên,
Ở
giữa, không dính líu,
Ai
Ngài gọi đại nhân,
Ở
đời, ai vượt khỏi,
Thêu
dệt các ái nhiễm?
Thế
Tôn:
1041.
Thế Tôn liền đáp rằng:
Hỡi
này Met-tê-ya!
Giữa
dục, sống Phạm hạnh,
Không
ái, luôn chánh niệm,
Tỷ-kheo
lặng tính toán,
An
tịnh, không dao động.
1042.
Ai thắng tri hai biên,
Chặng
giữa, nhờ suy tư,
Không
dính líu bị nhiễm,
Ta
gọi là đại nhân,
Vị
ấy, ở đời này,
Vượt
khỏi sự thêu dệt,
Các
ái nhiễm tham muốn.
(IV)
Câu hỏi của thanh niên Punnaka (Sn 199)
Punnaka:
1043.
Tôn giả Pun-na-ka:
Với
ai không dao động,
Thấy
rõ được cội gốc,
Con
đến với câu hỏi,
Liên
hệ đến mục đích,
Bậc
ẩn sĩ, loài Người,
Sát-đế-ly,
Phạm chí,
Do
họ y chỉ gì,
Tế
đàn cho chư Thiên.
Ðã
tổ chức rộng lớn?
Con
hỏi bậc Thế Tôn,
Hãy
trả lời cho con.
Thế
Tôn:
1044.
Thế Tôn bèn đáp rằng:
Hỡi
này Pun-na-ka!
Bậc
ẩn sĩ loài Người,
Sát-đế-ly,
Phạm chí,
Ðã
tổ chức rộng lớn,
Tế
đàn cho chư Thiên.
Khi
họ thành già yếu,
Họ
tổ chức tế đàn,
Vì
rằng họ hy vọng,
Ðược
sanh ở đời này,
Hỡi
này Pun-na-ka!
Punnaka:
1045.
Tôn giả Pun-na-ka:
Bậc
ẩn sĩ loài Người,
Sát-đế-ly,
Phạm chí,
Ðã
tổ chức rộng lớn,
Tế
đàn cho chư Thiên.
Thế
Tôn nghĩ thế nào,
Họ
không có phóng dật
Trên
con đường tế đàn,
Họ
vượt qua già chết,
Ðược
hay không, thưa Ngài,
Con
hỏi đức Thế Tôn,
Con
mong Ngài trả lời?
Thế
Tôn:
1046.
Thế Tôn trả lời rằng:
Hỡi
này Pun-na-ka,
Họ
hy vọng, tán thán,
Họ
cầu nguyện, cúng lễ,
Họ
cầu nguyện các dục,
Do
duyên vì lợi dưỡng,
Chuyên
tâm lo tế đàn,
Ưa
thích, tham sanh hữu,
Họ
không vượt già chết,
Ta
nói lên như vậy.
Punnaka:
1047.
Tôn giả Pun-na-ka:
Nếu
chúng chuyên tế đàn,
Nhưng
không thể vượt qua,
Già
chết với tế đàn,
Thời
ai sống ở đời,
Trong
thế giới Nhơn, Thiên,
Ðã
vượt qua già chết,
Ai
được vậy, thưa Ngài,
Con
hỏi đức Thế Tôn,
Ngài
trả lời cho con?
Thế
Tôn:
1048.
Thế Tôn trả lời rằng:
Hỡi
này Pun-na-ka,
Ai
tính toán cao thấp,
Ước
lượng vậy ở đời,
Ai
không bị dao động,
Bất
cứ đâu ở đời,
An
tịnh, không phun khói,
Không
phiền não, không cầu,
Vị
ấy vượt già chết,
Ta
nói lên như vậy.
(V)
Câu hỏi của thanh niên Mettagu (Sn 201)
Mettagu:
1049.
Tôn giả Mêt-ta-gu:
Con
xin hỏi Thế Tôn,
Mong
Thế Tôn trả lời,
Vấn
đề con đã hỏi,
Con
nghĩ Ngài hiền trí,
Tự
ngã đã tu tập,
Từ
đâu, ở trong đời,
Ðau
khổ này khởi lên,
Với
nhiều loại như vậy?
Thế
Tôn:
1050.
Thế Tôn trả lời rằng:
Hỡi
này Mêt-ta-gu,
Ông
hỏi ta vấn đề,
Sanh
khởi của khổ đau,
Ta
sẽ nói cho Ông,
Như
Ta đã được biết,
Chính
do duyên sanh y,
Nên
khổ được khởi lên,
Với
nhiều loại như vậy,
Khác
biệt ở trong đời.
1051.
Những ai vì vô minh,
Tác
thành các sanh y,
Kẻ
ngu tạo đau khổ,
Tiếp
tục được sanh khởi,
Do
vậy kẻ hiểu biết,
Không
nên tạo sanh y,
Vì
thấy sự sanh khởi,
Của
sanh và đau khổ.
Mettagu:
1052.
Ðiều chúng con đã hỏi,
Ngài
đã đáp chúng rồi,
Nay
xin hỏi câu khác,
Mong
Ngài giải đáp cho,
Thế
nào bậc Hiền trí,
Vượt
khỏi dòng nước mạnh,
Vượt
khỏi sanh và già,
Cùng
sầu muộn than khóc,
Mong
rằng bậc ẩn sĩ,
Hãy
khéo trả lời con,
Ðúng
như Ngài đã biết,
Pháp
nhĩ là như vậy?
Thế
Tôn:
1053.
Thế Tôn trả lời rằng:
Hỡi
này Mêt-ta-gu,
Ta
sẽ nói cho Ông,
Pháp
thiết thực hiện tại,
Không
do trao truyền lại,
Sau
khi biết pháp ấy,
Vị
ấy sống chánh niệm,
Vượt
tham ái ở đời.
Mettagu:
1054.
Thưa bậc Ðại ẩn sĩ,
Con
hết sức hoan hỷ,
Chánh
pháp vô thượng ấy,
Sau
khi biết pháp ấy,
Sống
gìn giữ chánh niệm,
Vượt
tham ái ở đời.
Thế
Tôn:
1055.
Thế Tôn đáp lại rằng:
Hỡi
này Mêt-ta-gu,
Phàm
Ông rõ biết gì,
Trên
dưới, ngang ở giữa,
Hãy
từ bỏ hoan hỷ,
Hãy
từ bỏ trú xứ,
Chớ
để cho ý thức,
An
trú trên sanh hữu.
1056.
An trú vậy, chánh niệm,
Tỷ-kheo
không phóng dật,
Sau
khi bỏ sở hành,
Ðưa
đến ngã, sở hữu.
Ðối
với sanh và già,
Sầu
muộn và than khóc,
Ở
đây, biết được vậy,
Hãy
từ bỏ đau khổ.
Mettagu:
1057.
Con cảm thấy hoan hỉ,
Lời
nói bậc Ðại sĩ;
Ðoạn
tận được sanh y,
Ðược
Ngài khéo tuyên thuyết.
Chắc
chắn đức Thế Tôn,
Ðã
đoạn tận đau khổ,
Vì
pháp này được Ngài,
Rõ
biết là như vậy.
1058.
Những vị ấy hãy đoạn,
Hãy
từ bỏ đau khổ,
Những
người ấy được Ngài
Thường
thường dạy, giáo hóa.
Con
xin đảnh lễ Ngài,
Hãy
đến, bậc Long tượng,
Mong
Thế Tôn thường hằng,
Giáo
hóa dạy dỗ con.
Thế
Tôn:
1059.
Vị Bà-la-môn nào,
Ðược
thắng tri, có trí,
Không
có sở hữu gì,
Không
ái luyến dục hữu,
Chắc
chắn vị như vậy,
Vượt
qua bộc lưu này,
Ðã
đến được bờ kia,
Không
cứng cỏi không nghỉ.
1060.
Người ấy sau khi biết,
Thông
suốt được Thánh điển,
Không
dính ái triền này,
Về
hữu và phi hữu,
Vị
ấy ly tham ái,
Không
phiền lụy không cầu,
Ta
nói rằng vị ấy,
Ðã
vượt khỏi sanh già.
(VI)
Câu hỏi của thanh niên Dhotaka (Sn 204)
Dhotaka:
1061.
Tôn giả Dhô-ta-ka:
Con
xin hỏi Thế Tôn,
Mong
Ngài trả lời cho,
Con
chờ đợi lời Ngài,
Kính
thưa bậc Ðại sĩ,
Nghe
lời Ngài tuyên bố,
Chúng
con sẽ tự mình,
Học
tập giới Niết-bàn.
Thế
Tôn:
1062.
Thế Tôn đáp lại rằng:
Hỡi
này Dhô-ta-ka,
Ở
đây Ông nhiệt tâm,
Sáng
suốt và chánh niệm,
Từ
đây, nghe tuyên bố,
Tự
học tập Niết-bàn.
Dhotaka:
1063.
Con thấy ở thế giới,
Chư
Thiên và loài Người,
Sở
hành của Phạm chí,
Không
một gì sở hữu.
Con
đảnh lễ chính Ngài,
Bậc
có mắt cùng khắp,
Kính
thưa bậc Thích tử,
Hãy
giải thoát cho con,
Tất
cả mọi nghi ngờ.
Thế
Tôn:
1064.
Hỡi này Dhô-ta-ka,
Ta
sẽ không đi đến,
Giải
thoát cho một ai,
Có
nghi ngờ ở đời,
Khi
pháp được Ông biết,
Là
tối thượng tối thắng,
Như
vậy Ông vượt khỏi,
Dòng
nước chảy mạnh này.
Dhotaka:
1065.
Hãy giáo hóa, từ mẫn,
Ôi
bậc đại Phạm thiên,
Ðể
con được rõ biết,
Pháp
viễn ly vô thượng,
Như
vậy con sẽ sống,
Như
trời không áp bức,
Sở
hành ở đời này,
An
tịnh và độc lập.
Thế
Tôn:
1066.
Thế Tôn liền nói rằng:
Hỡi
này Dho-ta-ka,
Ta
sẽ giảng cho Ông,
Pháp
tịch tịnh hiện tại;
Không
do xưa truyền lại,
Sau
khi biết pháp này,
Hãy
sống, giữa chánh niệm
Vượt
tham ái ở đời.
Dhotaka:
1067.
Con cảm thấy hoan hỷ,
Pháp
bậc Ðại sĩ giảng,
Pháp
tịch tịnh vô thượng;
Sau
khi biết pháp này,
Con
sẽ sống chánh niệm,
Vượt
tham ái ở đời.
Thế
Tôn:
1068.
Thế Tôn lời đáp lại:
Hỡi
này Dho-ta-ka,
Phàm
Ông rõ biết gì,
Cao,
thấp, ngang, chặng giữa,
Sau
khi được rõ biết,
Tham
ái này ở đời,
Chớ
tạo nên khát ái
Với
hữu và phi hữu.
(VII)
Câu hỏi của thanh niên Upasiva (Sn 205)
Upasiva:
1069.
Tôn giả U-pa-si-va:
Kính
thưa bậc Thích tử,
Một
mình, không y chỉ,
Con
không thể vượt khỏi,
Dòng
nước lớn mạnh này,
Kính
thưa bậc Biến nhãn,
Hãy
nói cho sở duyên,
Y
chỉ sở duyên này,
Có
thể vượt qua khỏi,
Dòng
nước chảy mạnh này.
Thế
Tôn:
1070.
Ðây lời dạy Thế Tôn:
Này
U-pa-si-va,
Biết
gìn giữ chánh niệm,
Không
mong đợi vật gì,
Ông
sẽ vượt bộc lưu,
Nương
tựa: "không có gì ",
Ngày
đêm ngươi nhận thấy,
Ðoạn
dục, ly nghi ngờ,
Ái
diệt là Niết-bàn.
Upasiva:
1071.
U-pa-si-va nói:
Ai
là người ly tham,
Ðối
với tất cả dục,
Y
chỉ không có gì,
Từ
bỏ mọi gì khác,
Ðược
giải thoát hoàn toàn,
Tưởng
giải thoát tối thượng,
Tại
đấy vị ấy trú,
Không
tiếp tục đi tới.
Thế
Tôn:
1072.
Thế Tôn nói như sau:
Này
U-pa-si-va,
Ai
hoàn toàn ly tham,
Ðối
với tất cả dục,
Y
chỉ không có gì,
Từ
bỏ mọi gì khác,
Ðược
giải thoát hoàn toàn,
Tương
giải thoát tối thượng,
Tại
đấy, vị ấy trú,
Không
tiếp tục đi tới.
Upasiva:
1073.
Nếu vị ấy tại đấy,
An
trú không đi tiếp,
Trong
một số nhiều năm,
Ôi
bậc có biến nhãn!
Nếu
vị ấy tại đấy,
Ðược
mát lạnh giải thoát,
Với
vị được như vậy,
Còn
có thức hay không?
Thế
Tôn:
1074.
Ðây lời Thế Tôn nói:
Hỡi
U-pa-si-va!
Cũng
giống như ngọn lửa,
Bị
sức gió mạnh thổi,
Ði
đến chỗ tận cùng,
Không
có thể ước lượng,
Cũng
vậy, vị ẩn sĩ,
Ðược
giải thoát danh thân,
Ði
đến chỗ tận cùng,
Không
có thể ước lượng.
Upasiva:
1075.
Vị đi đến tận cùng,
Có
phải không hiện hữu,
Hai
vị ấy thường hằng,
Ðạt
được sự không bệnh,
Lành
thay, bậc ẩn sĩ,
Hãy
trả lời cho con,
Có
vậy, con hiểu được,
Pháp
như thật Ngài giảng.
Thế
Tôn:
1076.
Thế Tôn nói như sau:
Hỡi
U-pa-si-va,
Người
đi đến tận cùng,
Không
thể còn ước lượng,
Với
gì, nói đến nó,
Không
còn có cái ấy,
Khi
tất cả các pháp,
Ðã
được nhổ hẳn lên,
Mọi
con đường nói phô,
Ðược
nhổ lên sạch hết.
(VIII)
Các câu hỏi của thanh niên Nanda (Sn 207)
Nanda:
1077.
Tôn giả Nan-da nói:
Quần
chúng có nói rằng:
Có
ẩn sĩ ở đời,
Ngài
nghĩ như thế nào?
Chúng
gọi là ẩn sĩ
Vị
có đầy đủ trí?
Hay
vị đầy đủ mạng?
Thế
Tôn:
1078.
Các bậc thiện nói rằng:
Ở
đời này Nan-da,
Không
phải vì tri kiến,
Vì
truyền thống, vì trí
Ðược
gọi là ẩn sĩ,
Ta
chỉ gọi ẩn sĩ,
Những
ai diệt quân lực,
Không
phiền não, không cầu.
Nanda:
1079.
Tôn giả Nan-đa thưa:
Có
Sa-môn, Phạm chí,
Nói
rằng sự thanh tịnh
Là
nhờ thấy, nhờ nghe;
Có
người lại nói rằng:
Thanh
tịnh do giới cấm;
Có
người lại nói rằng:
Thanh
tịnh do nhiều pháp.
Bạch
Thế Tôn, như vậy,
Là
sở hành của chúng,
Vậy
Ngài nghĩ thế nào,
Chúng
có thể vượt qua,
Sanh
và già thưa Ngài,
Con
kính hỏi Thế Tôn,
Mong
Ngài trả lời con.
Thế
Tôn:
1080.
Thế Tôn nói: Nan-đa!
Sa-môn,
Phạm chí này,
Nói
rằng sự thanh tịnh
Là
nhờ thấy, nhờ nghe;
Có
người lại nói rằng:
Thanh
tịnh do giới cấm;
Có
người lại nói rằng:
Thanh
tịnh do nhiều pháp.
Dầu
chúng ở tại đây,
Với
sở hành như vậy,
Ta
nói chúng không vượt,
Khỏi
sanh và khỏi già.
Nan-da:
1081.
Tôn giả Nan-đa thưa:
Sa-môn,
Phạm chí này,
Nói
rằng sự thanh tịnh
Là
nhờ thấy, nhờ nghe;
Có
người lại nói rằng:
Thanh
tịnh do giới cấm;
Có
người lại nói rằng:
Thanh
tịnh do nhiều pháp.
Thưa
ẩn sĩ, Ngài nói:
Chúng
không vượt bộc lưu,
Vậy
ai có thể được,
Giữa
thế giới Trời, Người,
Có
thể vượt qua được,
Sanh
và già, thưa Ngài,
Con
xin hỏi Thế Tôn
Mong
Ngài trả lời con.
Thế
Tôn:
1082.
Thế Tôn nói: Nan-đa
Ta
không nói tất cả,
Sa-môn,
Bà-la-môn
Bị
sanh già che lấp.
Những
ai ở đời này,
Ðoạn
tận khắp tất cả,
Ðiều
được nghe được thấy,
Ðược
cảm tưởng, giới cấm,
Và
đoạn nhiều pháp khác,
Liễu
tri ái, vô lậu,
Ta
nói những người ấy,
Vượt
qua được bộc lưu.
Nanda:
1083.
Con cảm thấy hoan hỷ,
Lời
Ðại sĩ Cù-đàm,
Ðược
Ngài khéo thuyết giảng,
Về
chấm dứt sanh y,
Những
ai ở đời này,
Ðoạn
tận khắp tất cả,
Ðiều
được nghe, được thấy,
Ðược
cảm tưởng, giới cấm,
Và
đoạn nhiều pháp khác,
Liễu
tri ái, vô lậu,
Ta
nói những người ấy,
Vượt
qua khỏi bộc lưu.
(IX)
Các câu hỏi của thanh niên Hemaka (Sn 209)
Hemaka:
1084.
Tôn giả He-ma-ka:
Những
ai trong thời trước,
Ðã
trả lời cho con,
Về
lời dạy Cù-đàm,
Trước
đã như thế nào,
Sau
sẽ là như vậy,
Tất
cả đều truyền thống,
Tất
cả tăng suy tư.
1085.
Ðây, con không hoan hỷ,
Ngài
nói Pháp cho con,
Ôi
mong bậc ẩn sĩ,
Nói
Pháp đoạn khát ái,
Biết
xong, sống chánh niệm,
Vượt
ái trước ở đời.
Thế
Tôn:
1086.
He-ma-ka ở đây,
Ðối
các Pháp khả ái,
Ðược
nghe và được thấy,
Ðược
cảm tưởng, nhận thức,
Tẩy
sạch ước muốn tham,
Là
Niết-bàn, bất tử.
1087.
Biết vậy, giữ chánh niệm,
Hiện
tại, đạt mát lạnh,
Vị
ấy thường an tịnh,
Vượt
chấp trước ở đời.
(X)
Câu hỏi của thanh niên Todeyya (Sn 210)
Todeyya:
1088.
Tôn giả Tô-đê-ya:
Ai
sống không dục vọng,
Ai
sống không có ái,
Ai
vượt khỏi nghi hoặc,
Giải
thoát của vị ấy,
Giải
thoát như thế nào?
Thế
Tôn:
1089.
Ðây lời nói Thế Tôn:
Hỡi
nãy Tô-đê-ya,
Ai
sống không dục vọng,
Ai
sống không có ái,
Ai
vượt khỏi nghi hoặc
Giải
thoát của vị ấy
Không
có gì là khác.
Todeyya:
1090.
Vị sống không ước vọng
Hay
sống có ước vọng,
Vị
ấy có trí tuệ,
Hay
tác thành trí tuệ,
Ôi
kính bậc Biến nhãn,
Hãy
trả lời con rõ,
Ðể
con có thể biết,
Thế
nào là ẩn sĩ,
Ôi
kính bậc Thích tử.
Thế
Tôn:
1091.
Vị sống không ước vọng,
Không
có ước vọng nào,
Vị
ấy có trí tuệ,
Không
tác thành trí tuệ,
Như
vậy, Tô-đê-ya,
Hãy
biết bậc ẩn sĩ,
Không
có sở hữu gì,
Không
tham dính dục hữu.
(XI)
Câu hỏi của thanh niên Kappa (Sn 211)
Kappa:
1092.
Tôn giả Káp-pa nói:
Những
ai đứng giữa nước,
Trong
dòng nước mạnh chảy,
Giữa
sợ hãi lớn lao,
Thưa
Ngài hãy nói lên,
Hòn
đảo cho những kẻ,
Bị
già chết chinh phục,
Ngài
nói con hòn đảo,
Ðể
không có khổ khác,
Giống
như đau khổ này.
Thế
Tôn:
1093.
Thế Tôn nói Kap-pa,
Những
ai đứng giữa nước,
Trong
dòng nước mạnh chảy,
Giữa
sợ hãi lớn lao,
Ta
nói Ông hòn đảo,
Cho
những ai đang bị,
Già
và chết chinh phục.
1094.
Hòn đảo vô song này,
Không
sở hữu, chấp trước,
Ta
nói Ông Niết-bàn,
Già
chết được đoạn diệt,
1095.
Biết vậy, giữ chánh niệm,
Hiện
tại đạt mát lạnh,
Không
rơi vào ma lực,
Không
tùy tùng theo ma.
(XII)
Câu hỏi của thanh niên Jatukanni (Sn 212)
Jatukanni:
1096.
Ja-tu-kan-ni nói:
Ðược
nghe bậc anh hùng,
Không
tham đắm dục vọng,
Nên
con đã đến đây,
Ðể
hỏi bậc vô dục,
Ðã
thoát khỏi bộc lưu,
Bậc
sanh với con mắt,
Hãy
nói đường an tịnh,
Thế
Tôn hãy như thật,
Nói
cho con được biết.
1097.
Chinh phục dục vọng xong,
Thế
Tôn sống ở đ |