|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TIỂU BỘ
TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2543 - 1999
Kinh Tập
Sutta Nipata
Chương
Bốn - Phẩm Tám
(I)
Kinh về Dục (Sn 151)
766.
Ai ao ước được dục,
Nếu
dục được thành tựu,
Chắc
tâm ý hoan hỷ,
Ðược
điều con người muốn.
767.
Nếu người có dục ấy,
Ước
muốn được sanh khởi,
Các
dục ấy bị diệt,
Bị
khổ như tên đâm.
768.
Ai tránh né các dục
Như
chân tránh đầu rắn,
Chánh
niệm vượt thoát được,
Ái
triền này ở đời.
769.
Người nào tham đắm dục,
Ruộng
đất, vàng, bò, ngựa,
Người
nô tỳ, phục vụ,
Nữ
nhân và bà con.
770.
Như người không sức lực,
Bị
các dục chinh phục,
Tai
họa dẫm đạp nó,
Khổ
đau bước theo nó,
Như
nước ùa tràn vào,
Chiếc
thuyền bị vỡ nát.
771.
Do vậy người thường niệm,
Từ
bỏ các loài dục,
Bỏ
dục, vượt bộc lưu,
Tát
thuyền đến bờ kia.
(II)
Kinh Hang Ðộng tám kệ (Sn 151)
772.
Chúng sanh vào trong hang,
Chấp
chặt bị bao trùm,
Người
có thái độ vậy,
Chìm
sâu trong si mê.
Hạnh
viễn ly với nó,
Như
vậy thật xa vời,
Các
dục ở trong đời,
Không
dễ gì đoạn tận.
773.
Dục cầu làm nhân duyên,
Bị
lạc hữu trói buộc,
Họ
rất khó giải thoát,
Không
thể có người khác,
Ðến
giải thoát cho mình,
Họ
cầu việc đã qua,
Họ
mong việc chưa lại;
Họ
tham đắm các dục,
Những
dục này hiện tại,
Và
những dục quá khứ.
774.
Ai tham đắm các dục,
Bị
trí buộc si mê,
Họ
xan tham keo kiết.
An
trú trên bất chánh,
Khi
rơi vào đau khổ,
Họ
sầu muộn than khóc,
Ở
đây sau khi chết,
Tương
lai sẽ thế nào?
775.
Do vậy ở tại đây,
Con
người cần học tập,
Những
gì mình biết được,
Là
bất chánh ở đời.
Do
nhân duyên như vậy,
Mà
sống không bất chánh,
Vì
rằng bậc Thánh nói:
Ngắn
thay, sanh mạng này.
776.
Ta thấy ở trên đời,
Loài
Người run, sợ hãi,
Ði
đến khát ái này,
Trong
những loại sanh hữu.
Phàm
những người thấp kém,
Than
van trước miệng chết,
Chưa
viễn ly khát ái,
Ðối
với hữu, phi hữu.
777.
Hãy nhìn những người ấy,
Run
sợ trong tự ngã,
Như
cá chỗ ít nước,
Trong
dòng sông khô cạn,
Thấy
được sự kiện này,
Hãy
sống không của ta,
Không
làm sự việc gì,
Khiến
tham đắm các hữu.
778.
Hãy nhiếp phục ước muốn,
Ðối
với hai cực đoan,
Nhờ
liễu tri các xúc,
Không
còn có tham đắm,
Cái
gì tự ngã trách,
Cái
ấy không có làm,
Bậc
trí không bị nhớp,
Bởi
những gì thấy nghe.
779.
Do liễu tri các tưởng,
Vượt
qua khỏi bộc lưu,
Bậc
Mâu-ni không nhiễm,
Ðối
với mọi chấp thủ,
Với
mũi tên rút ra,
Sở
hành không phóng dật,
Không
cầu mong đời này,
Không
mong ước đời sau.
(III)
Kinh Sân Hận tám kệ (Sn 153)
780.
Thật có một số người
Nói
lên với ác ý,
Và
thật cũng có người,
Nói
lên ý chân thật.
Dầu
có lời nói gì,
ẩn
sĩ không liên hệ,
Do
vậy bậc Mâu-ni,
Không
chỗ nào hoang vu.
781.
Người ước muốn dắt dẫn,
Thiên
trú điều sở thích,
Làm
sao từ bỏ được,
Ðiều
tà kiến của mình,
Khi
tự mình tác thành,
Quan
điểm riêng của mình,
Như
điều nọ được biết,
Hãy
để nó nói vậy.
782.
Người không có ai hỏi,
Lại
nói cho người khác,
Biết
đến những giới cấm,
Của
tự cá nhân mình.
Bậc
thiện xảo nói rằng,
Như
vậy không Thánh pháp,
Nếu
ai tự nói lên
Lời
tán thán tự ngã.
783.
Vị Tỷ-kheo an tịnh,
Sống
hết sức tịch tịnh,
Khi
tán thán giới đức,
Không
nói "Tôi là vậy".
Bậc
thiện xảo nói rằng
Như
vậy là Thánh pháp
Với
vị ấy đề cao,
Ở
đời, không khởi lên.
784.
Với những ai các pháp,
Ðược
sửa soạn tác thành,
Ðược
đặt ra phía trước,
Không
phải không tranh luận,
Khi
đã thấy lợi ích,
Trên
tự thân của mình,
Y
đấy, duyên dao động,
Ðạt
được sự tịch tịnh.
785.
Ðối với các thiên kiến,
Không
dễ gì vượt qua,
Thẩm
sát các pháp xong,
Mới
tác thành chấp trước.
Do
vậy là con người,
Ðối
với trú xứ ấy,
Có
khi quyết từ bỏ,
Có
khi chấp nhận Pháp.
786.
Vị tẩy sạch loại bỏ,
Không
tìm được ở đời,
Các
kiến được sửa soạn,
Ðối
với hữu, phi hữu.
Bỏ
man trá, kiêu mạn,
Vị
tẩy sạch loại bỏ,
Vị
ấy đi với gì,
Vị
ấy không chấp thủ.
787.
Với ai có chấp thủ,
Bị
chỉ trích trong Pháp,
Với
ai không chấp thủ,
Lấy
gì có thể nói?
Chính
đối với vị ấy,
Ngã,
phi ngã đều không,
Vị
ấy đã tẩy sạch,
Mọi
tà kiến ở đời.
(V)
Kinh Thanh Tịnh tám kệ (Sn 154)
788.
Ta thấy vị thanh tịnh,
Vị
tối thượng, không bệnh,
Sự
thanh tịnh con người,
Với
tri kiến, đạt được.
Nắm
giữ quan điểm này.
Xem
đấy là tối thượng,
Vị
này sẽ xem trí,
Là
tùy quán thanh tịnh.
789.
Nếu thanh tịnh con người,
Do
tri kiến đạt được,
Hay
với trí vị ấy,
Từ
bỏ sự đau khổ
Vị
ấy có sanh y,
Ngoài
Thánh đạo được tịnh,
Vị
ấy nói như vậy,
Do
tri kiến cá nhân.
790.
Bà-la-môn không nói,
Ngoài
Thánh đạo được tịnh,
Với
điều được thấy nghe,
Giới
đức, được thọ tưởng;
Với
công đức, ác đức,
Vị
ấy không nhiễm trước,
Từ
bỏ mọi chấp ngã,
Không
làm gì ở đời.
791.
Từ bỏ tri kiến cũ,
Y
chỉ tri kiến mới,
Ði
đến sự tham đắm,
Không
vượt qua ái dục;
Họ
nắm giữ chấp trước,
Họ
từ bỏ xa lánh,
Như
khỉ thả cành này,
Rồi
lại nắm cành khác,
792.
Người tự mình chấp nhận,
Các
chủng loại giới cấm,
Ði
chỗ cao chỗ thấp,
Sống
bị tưởng chi phối;
Người
có trí rộng lớn,
Nhờ
trí tuệ, quán pháp,
Có
trí, không đi đến
Các
pháp cao và thấp.
793.
Vị ấy đạt thù thắng,
Trong
tất cả các pháp,
Phàm
có điều thấy, nghe,
Hay
cảm thọ, tưởng đến;
Với
vị tri kiến vậy,
Sống
đời sống rộng mở,
Không
bị ai ở đời,
Có
thể chi phối được.
794.
Họ không tác thành gì,
Họ
không đề cao gì,
Họ
không có nói lên,
Ðây
tối thắng thanh tịnh,
Không
dính líu tham đắm,
Mọi
chấp trước triền phược,
Họ
không tạo tham vọng,
Bất
cứ đâu ở đời.
795.
Với vị Bà-la-môn
Ðã
vượt khỏi biên giới,
Sau
khi biết và thấy,
Không
có kiến chấp trước.
Tham
ái không chi phối,
Cũng
không tham, ly tham,
Vị
ấy ở đời này,
Không
chấp thủ gì khác.
(V)
Kinh Tối Thắng tám kệ (Sn 156)
796.
Ai thiên trú trong kiến,
Xem
kiến ấy tối thắng,
Ở
đời đặt kiến ấy,
Vào
địa vị tối thượng.
Người
ấy nói tất cả,
Người
khác là hạ liệt,
Do
vậy không vượt khỏi,
Sự
tranh luận ở đời.
797.
Khi nó thấy lợi ích,
Ðến
với tự ngã nó,
Ðối
với vật thấy nghe,
Giới
đức hay thọ tưởng;
Vị
ấy ở tại đấy,
Liền
chấp trước nắm giữ,
Nó
thấy mọi người khác,
Là
hạ liệt thấp kém.
798.
Người y chỉ kiến ấy,
Thấy
người khác hạ liệt,
Bậc
thiện nói như vậy,
Ðấy
là sự trói buộc;
Do
vậy đối thấy nghe,
Thọ,
tưởng hay giới cấm,
Bậc
Tỷ-kheo không có
Y
chỉ, nương tựa vào.
799.
Chớ có tác thành ra
Tri
kiến ở trên đời,
Từ
ở nơi chánh trí,
Hay
từ nơi giới đức,
Không
bận tâm so sánh,
Tự
ngã bằng người khác,
Không
có suy nghĩ đến,
Ðây
"liệt " hay đây "thắng".
800.
Ðoạn tận, từ bỏ ngã,
Không
chấp thủ sự gì,
Không
tác thành, dựng nên,
Nương
tựa ở nơi trí,
Chân
thật giữa tranh chấp
Không
theo phe phái nào,
Vị
ấy không đi theo
Một
loại tri kiến nào.
801.
Với ai, hay cực đoan,
Không
có hướng nguyện gì,
Với
hữu và phi hữu,
Hay
đời này đời sau,
Vị
ấy không an trú,
Tại
một trú xứ nào,
Từ
bỏ mọi chấp thủ,
Ðối
với tất cả pháp.
802.
Ðối vị ấy ở đây,
Những
gì được thấy nghe,
Ðược
cảm thọ tưởng đến,
Chút
suy tưởng cũng không;
Vị
Bà-la-môn ấy
Không
chấp thủ tri kiến,
Không
ai ở đời này
Có
thể chi phối được.
803.
Họ không tác thành gì,
Họ
không đề cao gì,
Các
pháp không được họ,
Chấp
trước nắm giữ gì
Không
một Phạm chí nào,
Bị
giới cấm dắt dẫn,
Ði
đến bờ bên kia,
Vị
ấy không trở lui.
(VI)
Kinh Già (Sn 158)
804.
Sinh mạng này ngắn thay,
Trong
trăm năm, rồi chết,
Nếu
ai sống hơn nữa,
Rồi
cũng chết vì già.
805.
Loài Người sầu vì ngã,
Mọi
chấp thủ vô thường,
Trống
không là đời này,
Thấy
vậy sống không nhà.
806.
Vì loài Người nghĩ rằng
Cái
này là của tôi,
Cái
ấy bị sự chết,
Làm
hoại diệt hư tàn.
Biết
vậy, bậc Hiền trí,
Không
gọi, không hướng đến,
Cái
này ngã của ta,
Cái
này là của ta.
807.
Như những gì hiện lên,
Trong
giấc ngủ mộng mị,
Con
người khi tỉnh dậy,
Không
còn thấy được gì.
Cũng
vậy ở đời này,
Người
được ưa, ái luyến,
Rồi
sẽ chết mất đi,
Không
ai còn thấy được.
808.
Các loại hạng người ấy
Ðược
thấy và được nghe,
Nên
họ được gọi tên,
Tên
này hay tên khác.
Với
người đã chết đi,
Chỉ
được gọi tên không,
Vì
chỉ có tên suông,
Sẽ
được còn tồn tại.
809.
Tham đắm cái của ta,
Họ
không có từ bỏ,
Sầu
khổ và than van,
Cùng
xan tham keo kiết.
Do
vậy bậc ẩn sĩ,
Sau
khi bỏ chấp thủ,
Ðã
sống một đời sống,
Thấy
được sự an ổn.
810.
Ðối với vị Tỷ-kheo
Sống
thanh vắng một mình,
Sống
tu tập tâm ý,
Hướng
đến hạnh viễn ly,
Nếp
sống vậy được nói,
Hòa
hợp với vị ấy,
Và
không nêu tự ngã,
Trong
hiện hữu của mình.
811.
Vị ẩn sĩ không tựa,
Không
y chỉ một ai,
Không
làm thành thương yêu,
Không
tác thành ghét bỏ.
Do
vậy trong sầu than,
Trong
xan tham keo kiết,
Như
nước trên lá cây,
Không
dính ướt làm nhơ.
812.
Giống như một giọt nước,
Không
dính ướt hoa sen,
Như
nước trên bông sen,
Khôn
dính ướt làm nhơ.
Ðối
với vật thấy nghe,
Ðược
cảm thọ tưởng đến,
Cũng
vậy bậc ẩn sĩ
Không
dính ướt tham đắm.
813.
Do vậy bậc tẩy sạch,
Không
có suy tư đến,
Ðiều
được thấy được nghe,
Ðược
cảm thọ tưởng đến.
Vị
ấy muốn thanh tịnh,
Không
có dựa gì khác,
Vị
ấy không tham đắm,
Cũng
không có ly tham.
(VII)
Kinh Tissametteyya (Sn 160)
814.
Tissa Metteyya,
Tôn
giả nói như sau:
Thế
Tôn hãy nói lên,
Sự
tai hại của người,
Ðắm
say về dâm dục,
Sau
khi nghe, chúng con
Sẽ
học tập lời Ngài,
Lời
dạy về viễn ly.
815.
Thế Tôn nói như sau:
Hỡi
này Metteyya,
Ai
đắm say dâm dục,
Quên
mất lời giảng dạy,
Rơi
vào đường tà vạy,
Nếp
sống ấy không thánh.
816.
Ai trước sống một mình,
Nay
rơi vào dâm dục,
Như
xe bị nghiêng ngã,
Người
ấy ở trong đời,
Ðược
gọi là phàm phu,
Ðược
gọi là hạ liệt.
817.
Tiếng tốt có từ trước,
Người
ấy bị tổn giảm,
Thấy
vậy hãy học tập,
Từ
bỏ sự dâm dục.
818.
Chi phối bởi suy tư,
Trầm
ngâm như kẻ nghèo,
Nghe
tiếng trách người khác,
Như
kẻ bị thất vọng.
819.
Bị người khác buộc tội,
Nó
làm các đao kiếm,
Trở
thành người tham lớn,
Chấp
thủ điều vọng ngôn.
820.
Ðược danh là Hiền trí,
An
trú sống một mình,
Nếu
rơi vào dâm dục,
Sầu
não như kẻ ngu.
821.
Thấy nguy hại như vậy,
Bậc
ẩn sĩ trước sau,
Kiên
trì sống cô độc,
Không
thực hành dâm dục.
822.
Hãy học tập viễn ly,
Ðây
hạnh thánh tối thượng,
Không
nghĩ mình tối thắng,
Dầu
gần được Niết-bàn.
823.
Sở hành bậc ẩn sĩ,
Trống
không, không mong dục,
Bậc
vượt khỏi bộc lưu,
Ðược
các người ở đời,
Bị
tham dục trói buộc,
Ganh
tị và thèm muốn.
(VIII)
Kinh Pasùra (Sn 161)
824.
Ở đây chính thanh tịnh,
Họ
thuyết giảng như vậy,
Họ
nói trong pháp khác,
Không
có sự thanh tịnh,
Họ
nói chỗ y chỉ,
Ở
đây là thanh tịnh,
Họ
rộng rãi an trú,
Trong
sự thật của mình.
825.
Những ai muốn tranh luận,
Sau
khi vào hội chúng,
Họ
công kích lẫn nhau,
Họ
gọi nhau là ngu,
Họ
đi đến người khác,
Và
khởi lên tranh luận,
Họ
muốn được tán thán,
Họ
gọi chúng thiện xảo.
826.
Ham mê thích tranh luận,
Ở
giữa các hội chúng,
Ước
muốn được tán thán,
Họ
sợ hãi thất bại,
Khi
bị đánh thất bại,
Họ
trở thành rủn chí,
Bị
chê, họ nổi giận,
Kẻ
tìm lỗi người khác.
827.
Khi các nhà thẩm sát,
Phê
bình các câu hỏi,
Tuyên
bố cuộc tranh luận,
Ði
đến chỗ thất bại,
Kẻ
nói lời hạ liệt,
Than
khóc và sầu não,
Họ
rên rỉ than van,
Nó
đã đánh bại ta.
828.
Giữa các vị Sa-môn,
Các
tranh luận khởi lên,
Trong
các tranh luận này,
Có
chiến thắng chiến bại.
Do
thấy rõ như vậy,
Không
vui thích tranh luận
Dầu
có được tán thán,
Cũng
không lợi ích gì.
829.
Hay trong tranh luận này,
Nó
được lời tán thán,
Sau
khi đã nói lên,
Chính
giữa các hội chúng.
Do
vậy nó vui cười,
Nó
tự hào kiêu hãnh,
Ðạt
được mục đích ấy,
Như
tâm ý nói lên.
830.
Cái làm nó cống cao,
Cũng
là đất hại nó,
Tuy
vậy nó vẫn nói,
Lời
cống cao kiêu mạn,
Khi
thấy được như vậy,
Hãy
đừng có tranh luận,
Bậc
thiện xảo nói rằng,
Thanh
tịnh không do vậy.
831.
Cũng như bậc anh hùng,
Nuôi
dưỡng đồ ăn vua,
La
hét muốn tìm cầu,
Một
địch thủ anh hùng,
Ôi
anh hùng hãy tránh,
Chỗ
nào có vị ấy,
Từ
trước đã không có,
Sự
đấu tranh như vậy.
832.
Những ai chấp tri kiến,
Tranh
luận về kiến ấy,
Tuyên
bố thuyết giảng rằng:
Chỉ
đây là sự thật,
Ông
hãy nói với họ,
Ở
đây không tranh luận,
Ông
hãy nói thêm rằng
Ở
đây không địch thủ.
833.
Cuộc chiến đấu đã tàn,
Những
ai sống như vậy,
Không
có sự va chạm,
Giữa
kiến này kiến khác,
Hỡi
này Pasùra!
Ông
được gì nơi họ,
Với
người không chấp thủ,
Một
sự gì tối thượng?
834.
Vậy Ông hãy đi đến,
Suy
tư ngẫm nghĩ kỹ,
Với
tâm ý suy tư,
Trên
những loại tri kiến,
Hãy
hoà đồng chung hợp,
Với
bậc đã tẩy sạch,
Ông
không có thể không
Cùng
vị ấy tiến bước.
(IX)
Kinh Màgandiya (SN 163)
Thế
Tôn:
835.
Sau khi thấy khát ái,
Bất
lạc và tham đắm,
Không
thể có ưa muốn,
Ðối
với sự dâm dục.
Sao,
với bao đầy tràn,
Nước
tiểu, phân uế này,
Ta
không có ước muốn,
Với
chân động chạm nó.
Màgandiya:
836.
Nếu Ngài không ước muốn:
Ngọc
báu như thế này,
Nữ
nhân được mong cầu,
Bởi
rất nhiều đế vương,
Hãy
nói như thế nào,
Là
tri kiến của Ngài,
Giới
cấm và sinh mạng,
Cùng
sự hữu phát sanh.
Thế
Tôn:
837.
Thế Tôn liền trả lời,
Cho
Màgandiya,
Với
Ta không có nói,
Ta
nói như thế này,
Sau
khi quán sát kỹ
Sự
chấp thủ trong pháp,
Trong
tất cả tri kiến,
Ta
không có chấp trước,
Ta
thấy sự cất chứa,
Tịch
tịnh trong nội tâm.
Màgandiya:
838.
Màgandiya nói:
Các
lý thuyết quyết định,
Ngài
nói vị ẩn sĩ,
Không
nắm giữ thuyết nào.
Còn
về ý nghĩa này,
Của
hai chữ nội tịnh,
Thế
nào là bậc Hiền trí,
Hiểu
biết hai chữ ấy?
Thế
Tôn:
839.
Thế Tôn nói như sau:
Này
Màgandiya,
Không
phải từ tri kiến,
Từ
truyền thống, từ trí,
Không
phải từ giới cấm,
Thanh
tịnh được đem đến.
Người
ta nói như vậy,
Nhưng
cũng không phải là
Không
kiến, không truyền thống,
Không
trí, không giới cấm,
Từ
bỏ tất cả chúng,
Không
chấp thủ sự gì,
Bậc
thiện không y chỉ,
Không
ước muốn sanh hữu.
Màgandiya:
840.
Màgandiya nói:
Nếu
không từ tri kiến,
Từ
truyền thống, từ trí,
Không
phải từ giới cấm,
Thanh
tịnh được đưa đến.
Người
ta nói như vậy,
Cũng
không phải không kiến,
Không
truyền thống, không trí,
Không
giới luật giới cấm,
Thanh
tịnh được đem đến
Con
nghĩ rằng pháp vậy,
Là
pháp kẻ ngu si,
Vì
rằng thật có người,
Nhờ
kiến đến thanh tịnh.
Thế
Tôn:
841.
Thế Tôn nói như sau:
Này
Màgandiya,
Nếu
y vẫn tri kiến,
Ông
còn tiếp tục hỏi,
Chính
do những chấp thủ,
Ði
đến sự ngu si,
Từ
đó, Ông không thấy,
Một
chút gì về tưởng,
Do
vậy, Ông chớ thấy,
Tất
cả là ngu si.
842.
Bằng ta thắng hơn ta,
Hay
thấp kém hơn ta,
Ai
suy nghĩ như vậy,
Do
vậy đấu tranh khởi,
Ai
không bị dao động
Bởi
ba vấn đề ấy,
Như
vậy, đối vị ấy,
Không
bằng, không thù thắng.
843.
Sao Bà-la-môn ấy
Lại
nói: "Ðây sự thật ",
Ðây
chính là nói láo,
Ðể
gây nên tranh luận,
Với
ai không hề có,
Bằng
nhau, không bằng nhau.
Do
đâu nó có thể,
Mắc
vào tranh luận được.
844.
Ðoạn tận mọi nhà cửa,
Sống
là kẻ không nhà,
Ẩn
sĩ không thân thiết,
Với
một ai ở làng,
Trống
không các dục vọng,
Không
xem trọng sự gì,
Không
nói chuyện tranh luận,
Với
một ai ở đời.
845.
Vị ấy sống viễn ly,
Mọi
sự việc ở đời,
Bậc
Long tượng không chấp,
Và
không nói đến họ.
Như
hoa sen có gai,
Sanh
ra ở trong nước,
Không
bị nước và bùn,
Mắc
dính và thấm ướt.
Như
vậy bậc ẩn sĩ,
Nói
an tịnh, không tham,
Không
bị dục và đời,
Mắc
dính và thấm ướt.
846.
Bậc trí, không do kiến,
Cũng
không do thọ tưởng,
Ði
đến sự kiêu mạn,
Không
có tham dự vào,
Không
để cho hành động,
Cho
truyền thống dắt dẫn,
Không
để bị chi phối,
Trong
trú xứ của ý.
847.
Người không ưa thích tưởng,
Không
có bị trói buộc,
Vị
được tuệ giải thoát,
Không
có sự si mê,
Và
những ai chấp thủ,
Tư
tưởng và tri kiến,
Người
ấy sống xung đột,
Với
mọi người ở đời.
(X)
Kinh Trước khi bị hủy hoại (Sn 166)
Người
hỏi:
848.
Người sống đời an tịnh,
Kiến
và giới thế nào?
Con
hỏi Gotama,
Là
bậc người tối thượng.
Thế
Tôn:
849.
Thế Tôn đáp như sau:
Ly
ái trước thân hoại,
Không
y chỉ ban đầu,
Không
y chỉ cuối cùng,
Không
kể đến vật giữa,
Không
có ưa thích nào.
850.
Không phẫn nộ, không sợ,
Không
khoa đại, không hối,
Nói
hòa nhã, không động,
Bậc
ẩn sĩ thận ngôn.
Không
ước vọng tương lai,
Không
sầu muộn quá khứ,
Thấy
viễn ly giữa xúc,
Không
để kiến dắt dẫn.
852.
Sống riêng, không man trá,
Không
thích, không xan tham,
Không
xông xáo nhàm chán,
Không
đi đến hai lưỡi.
853.
Không mê vật khả ái,
Cũng
không có quá mạn,
Nhu
hòa, nhưng ứng biện,
Không
vọng tín, không tham.
854.
Không tu tập vì lợi,
Không
được lợi, không sân,
Không
bị ái kích thích,
Không
đam mê các vị.
855.
Thường trú xả, chánh niệm,
Ở
đời, không nghĩ mình,
Bằng
hơn hay thua người,
Vị
ấy, không bồng bột.
856.
Không y chỉ một ai,
Biết
pháp, không y chỉ,
Vị
ấy không có ái,
Ðối
với hữu, phi hữu.
857.
Ta gọi vị an tịnh,
Không
mong cầu các dục,
Vị
ấy không triền phược,
Vượt
khỏi các tham trước.
858.
Vị ấy không con cái,
Thú
vật, ruộng, đất đai,
Không
có gì nắm lấy,
Là
ta, là không ta.
859.
Phàm phu có buộc tội,
Hoặc
Sa-môn, Phạm chí,
Vị
ấy không quan tâm,
Trong
lời nói không động,
860.
Không tham, không xan lẫn,
Ẩn
sĩ không nói cao,
Không
nói bằng, nói thấp,
Không
đi đến thời kiếp,
Vì
vị ấy vượt khỏi,
Sự
chi phối thời kiếp.
861.
Ai không có vật gì,
Không
có, không sầu muộn,
Không
đi đến các pháp,
Vị
ấy gọi an tịnh.
(XI)
Kinh Tranh luận (Sn 168)
Người
hỏi:
862.
Từ đâu được khởi lên,
Các
tranh luận, đấu tranh,
Than
van và sầu muộn,
Cùng
với tánh xan tham,
Mạn
và tăng thượng mạn,
Kể
cả với hai lưỡi,
Từ
đâu chúng sanh nhiều,
Mong
Ngài hãy nói lên.
Thế
Tôn:
863.
Từ ái sanh khởi nhiều,
Các
tranh luận, đấu tranh
Than
van và sầu muộn,
Cùng
với tánh xan tham,
Mạn
và tăng thượng mạn,
Kể
cả với hai lưỡi,
Các
tranh luận, đấu tranh,
Ðều
liên hệ xan tham,
Những
lời nói hai lưỡi,
Khởi
lên từ tranh luận.
Người
hỏi:
864.
Do những nhân duyên nào,
Khả
ái sanh ở đời?
Hay
những tham lam nào,
Ðược
lưu hành ở đời?
Ước
vọng và thành đạt,
Là
do nhơn duyên nào?
Khiến
loài Người được sanh,
Trong
thời gian tương lai?
Thế
Tôn:
865.
Do ước muốn là nhân,
Khả
ái sanh ở đời,
Hay
với những tham lam,
Ðược
lưu hành ở đời,
Ước
vọng và thành đạt,
Do
ước muốn làm nhân,
Khiến
loài Người được sanh,
Trong
thời gian tương lai.
Người
hỏi:
866.
Ước muốn sanh ở đời
Là
do nhân duyên nào?
Hay
cả những quyết định,
Do
nhân nào được sanh?
Phẫn
nộ và vọng ngữ,
Cùng
với cả nghi hoặc,
Hoặc
là những pháp nào,
Ðược
Sa-môn nói đến?
Thế
Tôn:
867.
Khả ý, bất khả ý,
Ðược
gọi vậy ở đời,
Do
y chỉ nơi chúng,
Ước
muốn được sanh khởi.
Sau
khi thấy trong sắc,
Cả
hữu và phi hữu,
Chúng
sanh mới làm được,
Những
quyết định ở đời.
868.
Phẫn nộ và vọng ngữ,
Cùng
với cả nghi hoặc,
Những
pháp này lưu hành,
Khi
pháp đôi có mặt,
Kẻ
nghi hãy học tập,
Trên
con đường chánh trí,
Sau
khi biết các pháp,
Do
Sa-môn thuyết giảng.
Người
hỏi:
869.
Khả ý, bất khả ý,
Là
do nhân duyên nào,
Do
cái gì không có,
Họ
không có hiện hữu.
Còn
về ý nghĩa này,
Về
phi hữu và hữu,
Hãy
nói cho chúng con,
Nguyên
nhân gì chúng sanh?
Thế
Tôn:
870.
Do nhân duyên cảm xúc,
Khả
ý, bất khả ý,
Nếu
không có cảm xúc,
Họ
cũng không hiện hữu,
Còn
về ý nghĩa này,
Về
phi hữu và hữu,
Ta
nói cho Ông rõ,
Nguyên
nhân này, chúng sanh.
Người
hỏi:
871.
Còn cảm xúc ở đời,
Do
nhân gì sanh khởi,
Hay
các loại chấp thủ,
Do
từ đâu sanh nhiều,
Do
cái gì không có,
Ngã
sở hữu không có,
Cái
gì không hiện hữu,
Khiến
không có cảm xúc?
Thế
Tôn:
872.
Do duyên danh và sắc,
Nên
có các cảm xúc,
Do
nhân các ước muốn,
Nên
có những chấp thủ,
Nếu
ước muốn không có,
Ngã
sở hữu cũng không,
Do
sắc không hiện hữu,
Khiến
không có cảm xúc.
Người
hỏi:
873.
Sở hành như thế nào,
Sắc
pháp không hiện hữu,
An
lạc và khổ đau,
Thế
nào không có mặt,
Hãy
nói lên cho con,
Không
có như thế nào,
Chúng
con muốn được biết,
Tâm
ý con nói vậy.
Thế
Tôn:
874.
Không có tưởng các tưởng,
Không
có tưởng vô tưởng,
Phi
tưởng cũng không có,
Vô
hữu tưởng cũng không.
Do
sở hành như vậy,
Sắc
pháp không hiện hữu,
Do
nhân duyên các tưởng,
Hý
luận được hình thành.
Người
hỏi:
875.
Ngài đã nói chúng con,
Những
điều chúng con hỏi,
Có
điều nữa hỏi Ngài,
Mong
Ngài trả lời cho,
Bậc
Hiền trí nói rằng,
Như
thế này tối thượng,
Nghĩa
là ở đời này,
Sự
thanh tịnh Dạ-xoa
Hay
là chúng muốn nói,
Có
điều gì khác nữa?
Thế
Tôn:
876.
Bậc Hiền trí nói rằng,
Như
thế là tối thượng,
Nghĩa
là ở đời này,
Sự
thanh tịnh Dạ-xoa,
Như
có người nói rằng,
Chính
là sự hoại diệt,
Lại
một số thiện nhân,
Nói
rằng: "Không dư y".
877.
Biết được những pháp ấy,
Ðều
nương tựa y chỉ,
Biết
vậy bậc ẩn sĩ,
Suy
tư trên y chỉ,
Biết
được, nên giải thoát,
Không
đi đến tranh luận,
Bậc
Hiền không tìm đến,
Cả
hữu và phi hữu.
(XII)
Những vấn đề nhỏ bé (Sn 171)
Người
hỏi:
878.
Mỗi người tự thiên chấp,
Về
tri kiến của mình,
Do
chấp thủ sai biệt,
Bậc
thiện xảo nói lên,
Ai
biết như thế này,
Vị
ấy biết được pháp,
Ai
chỉ trích điểm này,
Vị
ấy không hoàn toàn.
879.
Do chấp thủ như vậy,
Họ
tranh luận với nhau,
Họ
nói kẻ khác ngu.
Không
có khéo thiện xảo.
Trong
những lời nói này,
Lời
nói ai chân thật,
Hay
tất cả vị này,
Là
những bậc khéo nói?
Thế
Tôn:
880.
Nếu không có chấp thuận,
Pháp
của các người khác,
Nói
kẻ khác là ngu,
Tuệ
như vậy thấp kém.
Tất
cả là ngu si,
Có
tuệ thật thấp kém.
Tất
cả tri kiến này.
Ðều
chỉ là thiên chấp.
881.
Nếu các cuộc tranh luận,
Ðược
tri kiến gạn lọc,
Trí
tuệ được thanh tịnh,
Thiện
xảo trí sáng suốt,
Họ
không có một ai,
Là
trí tuệ hạ liệt,
Và
tri kiến của họ,
Ðược
hoàn toàn viên mãn.
882.
Ta không có nói rằng:
"Ðây
chính là sự thật".
Các
người ngu với nhau,
Cùng
nhau nói như vậy,
Với
tri kiến tự mình,
Họ
nói là chân thật,
Do
vậy các người khác,
Ðược
họ xem là ngu.
Người
hỏi:
883.
Một số người nói rằng:
"Ðây
mới là sự thật"
Họ
nói các người khác,
Là
trống không, giả dối,
Do
chấp thủ như vậy,
Họ
tranh luận đấu tranh,
Vì
sao bậc Sa-môn,
Không
cùng nói một lời?
Thế
Tôn:
884.
Sự thật chỉ có một,
Không
sự thật thứ hai,
Người
hiểu biết tranh luận,
Với
người có hiểu biết,
Nhưng
chân thật họ khen,
Chỉ
sự thật của họ,
Do
vậy bậc Sa-môn,
Không
cùng nói một lời.
Người
hỏi:
885.
Vì sao họ nói lên,
Những
chân thật sai khác,< |