|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TIỂU BỘ
TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2543 - 1999
Kinh Tập
Sutta Nipata
Chương
Ba - Ðại Phẩm
(I)
Kinh Xuất Gia (Sn 72)
Ananda:
405.
Xuất gia, tôi tán thán,
Như
Pháp nhãn xuất gia,
Sau
khi Ngài quán sát,
Chấp
thuận hạnh xuất gia.
406.Trói
buộc, sống gia đình,
Tụ
hội mọi bụi đời,
Phóng
khoáng, đời xuất gia,
Thấy
vậy nên xuất gia.
407.
Sau khi Ngài xuất gia,
Thân
ác nghiệp Ngài tránh,
Từ
bỏ lời nói ác,
Mạng
sống Ngài thanh tịnh.
408.
Phật đi đến Vương Xá,
Ðến
chỗ núi bao vây,
Tại
nước Ma-kiệt-đà,
Ngài
sống hạnh khất sĩ,
Mang
theo thật đầy đủ,
Các
tướng tốt quang minh.
409.
Bình Sa vương thấy Ngài,
Ðứng
trên sân lầu thượng,
Thấy
đầy đủ tướng tốt,
Bèn
nói lên lời này:
410.
Các Ông hãy chăm sóc
Người
đẹp, lớn, thanh tịnh,
Thành
tựu với hạnh đức,
Chỉ
nhìn vừa một tầm.
411.
Mắt nhìn xuống, chánh niệm,
Gia
đình không hạ tiện,
Hãy
cho sứ giả theo,
Tỷ-kheo
sẽ đi đâu?
412.
Ðược sai, sứ giả ấy
Ði
theo sau lưng Ngài,
Tỷ-kheo
sẽ đi đâu?
Trú
xứ sẽ chỗ nào?
413.
Khất thực, từng nhà một,
Căn
hộ trì chế ngự,
Bình
bát được mau đầy,
Tỉnh
giác và chánh niệm.
414.
Sau khi đi khất thực,
Ẩn
sĩ ra khỏi thành,
Leo
lên Pandava,
Sẽ
trú xứ tại đấy.
415.
Thấy vị ấy đến chỗ,
Các
sứ giả ngồi chờ,
Còn
một vị đi về,
Kể
lại chuyện vua hay.
416.
Ðại vương, Tỷ-kheo ấy,
Phía
đông Pandava,
Ngồi
như cọp, bò chúa,
Như
sư tử trong hang.
417.
Nghe sứ giả, đức vua
Với
cỗ xe thù thắng,
Vội
vàng ra khỏi thành,
Ði
đến Pandava.
418.
Ði được, vua đi xe,
Rồi
xuống xe đi bộ,
Ðức
vua tiến lại gần,
Và
vào chỗ Ngài ở.
419.
Ngồi xuống, vua nói lên
Lời
hỏi thăm chào đón,
Lời
lẽ chào đón xong,
Vua
nói lên nghĩa này.
420.
Người thanh niên tuổi trẻ,
Ngây
thơ, bước vào đời,
Ðẹp
cao được đầy đủ,
Thiện
sanh dòng Sát-ly.
421.
Trang hoàng binh đội ngũ,
Trước
mắt cả binh đoàn,
Tài
sản ta cho Người,
Hãy
hưởng và trả lời
Về
vấn đề thọ sanh.
Thế
Tôn:
422.
Trên sườn núi Tuyết sơn,
Sống
dân tộc đoạn trực,
Tài
sản nghị lực đủ,
Ở
xứ Kosala.
423.
Dòng họ thuộc mặt trời,
Sanh
tộc là Thích-ca,
Từ
bỏ gia tộc ấy,
Thưa
vua, Ta xuất gia,
Ta
không có tha thiết,
Ðối
với các loại dục.
424.
Thấy nguy hiểm trong dục,
Bỏ
chúng, là an ổn,
Ta
sẽ đi, tinh tấn,
Ý
Ta, được hoan hỷ.
(II)
Kinh Tinh Cần (Sn 74)
Thế
Tôn:
425.
Bên sông Ni-liên-thuyền,
Ta
tinh cần tinh tấn,
Cố
gắng, Ta thiền định,
Ðạt
an ổn khổ ách.
426.
Ác ma đến gần Ta,
Nói
lên lời từ mẫn,
Ông
ốm không dung sắc,
Ông
đã gần chết rồi.
427.
Cả ngàn phần, Ông chết,
Chỉ
một phần còn sống,
Hãy
sống, sống tốt hơn,
Sẽ
làm các công đức.
428.
Như Ông sống Phạm hạnh,
Hãy
đốt lửa tế tự,
Hãy
chất chứa công đức,
Ông
tinh tấn làm gì?
429.
Khó thay, đường tinh tấn,
Khó
làm, khó đạt được.
Ác
ma đứng gần Phật,
Nói
lên những kệ này.
430.
Thế Tôn đã đáp lại
Lời
Ác ma như sau:
Bà
con ác phóng dật,
Ngươi
đến đây làm gì?
431.
Với công đức nhỏ bé,
Ta
đâu có cần đến?
Với
ai cần công đức,
Ác
ma đáng nói chúng.
432.
Ðây có tín, tinh tấn,
Và
Ta có trí tuệ,
Như
vậy, Ta tinh tấn,
Sao
Ngươi hỏi Ta sống?
433.
Gió này làm khô cạn,
Cho
đến các dòng sông,
Làm
sao khô cạn máu,
Khi
Ta sống tinh tấn?
434.
Dầu máu có khô cạn,
Mật,
đàm Ta khô cạn,
Dầu
thịt có hủy hoại,
Tâm
Ta càng tịnh tín,
Ta
lại càng vững trú,
Niệm,
tuệ và thiền định.
435.
Do Ta sống như vậy,
Ðạt
được thọ tối thượng,
Tâm
không cầu các dục,
Nhìn
chúng sanh thanh tịnh.
436.
Dục, đội quân thứ nhất.
Thứ
hai, gọi bất lạc,
Thứ
ba, đói và khát,
Thứ
tư, gọi tham ái.
437.
Năm, hôn trầm thụy miên,
Thứ
sáu, gọi sợ hãi,
Thứ
bảy, gọi nghi ngờ,
Tám,
dèm pha ngoan cố.
438.
Lợi, danh và cung kính,
Danh
vọng được tà vạy,
Ai
tự đề cao mình,
Hủy
báng các người khác.
439.
Ôi, này Na-mu-ci,
Ðây
là quân đội Ngươi,
Ðây
quân đội chiến trận,
Của
dòng họ Kanhà,
Kẻ
nhát, không thắng Ngươi,
Ai
thắng Ngươi, được lạc.
440.
Ta mang cỏ munja,
Vững
thay, đây đời sống,
Thà
Ta chết chiến trận,
Tốt
hơn, sống thất bại.
441.
Bị thấy đắm ở đây,
Số
Sa-môn, Phạm chí,
Không
biết được con đường,
Bậc
giới đức thường đi.
442.
Thấy khắp quân đội dàn,
Ác
ma trên lưng voi,
Ta
bước vào chiến trận,
Không
để ai chiếm đoạt.
443.
Ðội ngũ quân nhà Ngươi,
Ðời
này và chư Thiên,
Không
một ai thắng nổi,
Ta
đến Ngươi với tuệ,
Như
hòn đá dập nát,
Chiếc
bát chưa nung chín.
444.
Nhiếp phục được tâm tư,
Khéo
an trú chánh niệm,
Ta
sẽ đi bộ hành,
Nước
này qua nước khác,
Ðể
huấn luyện rộng rãi,
Cho
những người đệ tử.
445.
Không phóng dật, tinh cần,
Họ
hành lời Ta dạy,
Dầu
Ngươi không muốn vậy,
Họ
vẫn sẽ đi tới,
Chỗ
nào họ đi tới,
Chỗ
ấy không sầu muộn.
Ác-ma:
446.
Bảy năm, ta bước theo,
Chân
theo chân Thế Tôn,
Không
tìm được lỗi lầm,
Nơi
Thế Tôn chánh niệm.
447.
Như quạ bay xung quanh,
Hòn
đá như đống mỡ,
Có
thể có gì mềm?
Có
thể có gì ngọt?
448.
Không tìm được gì ngọt,
Quạ
từ đó bay đi,
Như
quạ mổ hòn đá,
Ta
bỏ Gotama.
449.
Bị sầu muộn chi phối,
Cây
đàn rơi khỏi nách,
Kẻ
Dạ-xoa ác ý,
Tại
đấy liền biến mất.
(III)
Kinh Khéo Thuyết (Sn 78)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana... Thế Tôn nói
như sau:
- Thành
tựu bốn chi phần, này các Tỷ-kheo, lời nói được khéo
nói, không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người
trí quở trách. Thế nào là bốn? Ở đây, này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo chỉ nói lời khéo nói, không nói lời vụng nói; chỉ
nói lời đúng pháp, không nói lời phi pháp; chỉ nói lời
khả ái, không nói lời phi khả ái; chỉ nói lời đúng sự
thật, không nói lời không đúng sự thật. Thành tựu với
bốn chi phần này, này các Tỷ-kheo, lời nói là được khéo
nói không phải vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người
trí quở trách.
Thế
Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong bậc
Ðạo Sư lại nói thêm như sau:
450.
Bậc Thiện nhân nói lên,
Lời
khéo nói tối thượng,
Thứ
hai, nói đúng pháp,
Thứ
ba, nói khả ái
Không
nói phi khả ái,
Thứ
tư, nói chân thật
Không
nói không chân thật.
Rồi
Tôn giả Vangìsa từ chỗ ngồi đứng dậy đắp y vào một
bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
- Ý
nghĩ này đến với con, bạch Thiện Thệ.
- Hãy
nói lên ý kiến ấy, này Vangìsa!.
Rồi
Tôn giả Vangìsa, trước mặt Thế Tôn, nói lên lời tán thán
với những bài kệ thích ứng:
Vangìsa:
451.
Hãy nói lên lời nói,
Không
thiêu đốt tự ngã,
Không
làm hại người khác,
Lời
nói ấy khéo nói.
452.
Hãy nói lời khả ái,
Nói
lời khiến hoan hỷ,
Không
mang theo ác hại,
Khiến
người khác ưa thích.
453.
Chân thật, lời bất tử,
Ðây
thường pháp là vậy,
Họ
nói, bậc Thiện nhân,
An
trú trên chân thật,
Trên
mục đích, trên pháp.
454.
Lời gì đức Phật nói,
An
ổn, đạt Niết-bàn,
Ðoạn
tận các khổ đau,
Ðấy
lời nói tối thượng.
(IV)
Kinh Sundarika Bhàradvàja (Sn 80)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở phía dân chúng Kosala, trên bờ sông Sundarikà.
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja đốt lửa thiêng
trên bờ sông Sundarikà và đang cử hành các tế lễ lửa.
Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradavàja, sau khi đốt lửa thiêng,
sau khi cử hành các lễ tế lửa, từ chỗ ngồi đứng dậy
và ngó xung quanh bốn phương nghĩ rằng: "Ai có thể ăn đồ
ăn còn lại của lễ tế tự này?".
Rồi
Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja thấy Thế Tôn ngồi dưới một
gốc cây, không bao xa, đầu che trùm lại; thấy vậy, tay trái
cầm đồ tế tự còn lại, tay mặt cầm cái bình nước, đi
đến Thế Tôn. Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja
liền mở đầu ra. Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja nghĩ rằng:
"Ðầu trọc là vị này. Một kẻ đầu trọc là vị này",
và muốn đi trở lại. Rồi Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja suy
nghĩ: "Ở đây, cũng có một số Bà-la-môn trọc đầu. Vậy
ta hãy đi đến vị này và hỏi về thọ sanh". Rồi Bà-la-môn
Sundaikabhàradvàja đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói với
Thế Tôn:
- Thọ
sanh của Tôn giả là thế nào?
Rồi
Thế Tôn nói với Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja những bài kệ:
Thế
Tôn:
455.
Ta không phải Phạm chí,
Cũng
không phải con vua,
Cũng
không phải buôn bán,
Không
phải là ai hết,
Do
liễu tri giai cấp,
Của
các hàng phàm phu,
Ta
kẻ trí ở đời,
Bộ
hành, không sở hữu.
456.
Mang áo Tăng-già-lê,
Ta
sống, không gia đình,
Với
tóc được cạo sạch,
Tự
ngã được an tịnh,
Ở
đời Ta không nhiễm,
Với
các thiếu niên nào,
Không
xứng đáng, Ông hỏi,
Hỏi
Ta về thọ sanh.
Bà-la-môn:
457.
Thật sự, thưa Tôn giả,
Các
vị Bà-la-môn
Thường
hỏi Bà-la-môn,
Có
phải người Phạm chí?
Thế
Tôn:
Nếu
Ông nói lên rằng:
Ông
là Bà-la-môn,
Và
nếu Ông hỏi Ta
Không
phải Bà-la-môn,
Vậy
Ta sẽ hỏi Ông
Về
Sàvitti này,
Gồm
có mười hai câu,
Và
hai mươi bốn chữ.
Bà-la-môn:
458.
Do y tựa vào gì,
Các
ẩn sĩ, loài Người,
Sát-đế-lị
Phạm chí,
Ðã
tổ chức tế đàn,
Cho
các hàng chư Thiên,
Rộng
rãi trong đời này?
Thế
Tôn:
Vị
nào đạt cứu cánh,
Vị
nào hiểu Vệ-đà,
Trong
lễ tế đàn này,
Thọ
hưởng đồ cúng dường,
Ta
tuyên bố, nói rằng
Lễ
ấy được tăng thịnh.
Bà-la-môn:
459.
Chắc chắn tế đàn ấy,
Cúng
dường được tăng thịnh.
Vì
chúng ta thấy được,
Vị
am hiểu Vệ-đà,
Nếu
chúng ta không thấy,
Ðược
một ngưòi như Ông,
Một
người khác thọ hưởng
Ðồ
cúng dường tế đàn.
Thế
Tôn:
460.
Vì Ông, này Phạm chí,
Ðến
Ta vì cần thiết,
Với
mục đích rõ ràng,
Vậy
nay Ta hỏi Ông,
Ông
có thể tìm được
Một
bậc trí ở đây,
An
tịnh, không sân hận,
Không
khổ, không tầm cầu?
Bà-la-môn:
461.
Tôi vui trong tế đàn,
Tôn
giả Gotama,
Tôi
tha thiết ao ước,
Ðược
cúng dường tế đàn,
Nhưng
tôi không được biết,
Tôn
giả hãy dạy tôi!
Hãy
nói lên cho tôi,
Chỗ
cúng dường tăng thịnh.
Thế
Tôn:
Vậy
này Bà-la-môn,
Hãy
lắng tai mà nghe,
Ta
nay sẽ vì Ông,
Tuyên
thuyết pháp vi diệu.
462.
Chớ hỏi về thọ sanh,
Hãy
hỏi về hạnh đức,
Thật
vậy, từ củi gỗ,
Một
ngọn lửa được sanh,
Từ
gia đình thấp kém,
Bậc
ẩn sĩ, có trí,
Ðược
huấn luyện thuần thục,
Ðược
xấu hổ chế ngự.
463.
Ðược chân thật huấn luyện,
Ðược
nhiếp phục chế ngự,
Bậc
đạt đến hiểu biết,
Phạm
hạnh được viên thành,
Hãy
đúng thời cúng dường,
Ðồ
cúng dường vị ấy.
Vậy
vị Phạm chí nào
Muốn
nguyện cầu công đức,
Hãy
tổ chức tế đàn,
Với
cúng dường như vậy.
464.
Những vị nào, bỏ dục,
Du
hành, không gia đình,
Khéo
chế ngự nhiếp phục,
Như
con thoi trực chỉ.
Ðúng
thời đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự,
Vị
Phạm chỉ cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy,
Hãy
tổ chức tế đàn,
Với
cúng dường như vậy.
465.
Những vị đã ly tham,
Các
căn khéo định tĩnh,
Như
trăng được giải thoát,
Khỏi
nanh vuốt Ràhu,
Hãy
đúng thời cúng dường,
Ðồ
cúng dường vị ấy,
Vậy
vị Phạm hạnh nào,
Muốn
nguyện cầu công đức,
Hãy
tổ chức tế đàn,
Với
cúng dường như vậy.
466.
Không tham dính vật gì,
Họ
du hành ở đời,
Luôn
luôn giữ chánh niệm,
Từ
bỏ ngã sở kiến,
Hãy
đúng thời cúng dường,
Ðồ
cúng dường vị ấy.
Vậy
vị Phạm chí nào,
Muốn
cầu nguyện công đức,
Hãy
tổ chức tế đàn,
Với
cúng dường như vậy.
467.
Ai từ bỏ các dục,
Tự
nhiếp phục, du hành.
Ai
biết sự chấm dứt,
Của
sanh và sự chết,
Tịch
tịnh và mát lạnh.
Mát
lạnh như nước hồ.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
468.
Bình đẳng kẻ bình đẳng,
Xa
lánh không bình đẳng,
Như
Lai chứng đạt được,
Trí
tuệ không giới hạn,
Không
bị dính, uế nhiễm,
Ðời
này hay đời sau.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
469.
Trong ai không man trá,
Không
sống với kiêu mạn,
Ai
không có tham dục,
Không
của ta, không cầu,
Phẫn
nộ được đoạn trừ,
Tự
ngã thật tịch tịnh,
Vị
Bà-la-môn ấy,
Cấu
uế, sầu muộn đoạn,
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
470.
Ai đoạn diệt hoàn toàn
Mọi
trú xứ của ý,
Không
còn có nắm giữ,
Sự
vật gì ở đời,
Không
còn có chấp thủ,
Ðời
này hay đời sau.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
471.
Tâm ai thật định tĩnh,
Vượt
khỏi được bộc lưu,
Rõ
biết được Chánh pháp,
Với
tri kiến tối thượng,
Lậu
hoặc được đoạn trừ,
Mang
thân này tối hậu.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
472.
Với ai, các hữu lậu,
Và
lời nói thô ác,
Ðược
đoạn tận chấm dứt,
Không
còn có tồn tại,
Vị
ấy đạt hiểu biết,
Giải
thoát mọi khía cạnh.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
473.
Giữa những người nhiễm trước,
Vị
ấy không nhiễm trước,
Giữa
chúng sanh kiêu mạn,
Vị
ấy không kiêu mạn,
Liễu
tri được đau khổ,
Kể
cả ruộng và đất.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
474.
Không dựa vào ước vọng,
Vị
ấy thấy viễn ly,
Vượt
qua sự hiểu biết,
Cùng
tri kiến người khác,
Ðối
với mọi sở duyên,
Vị
ấy đều không có,
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
475.
Vị ấy chứng tri được
Các
pháp gần hay xa,
Ðược
đoạn trừ, chấm dứt,
Không
còn có hiện hữu,
An
tịnh, không chấp thủ,
Ðược
hoàn toàn giải thoát
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
476.
Thấy được sự đoạn tận,
Sanh
diệt các kiết sử,
Trừ
được đường tham dục,
Không
còn lại dư tàn.
Thanh
tịnh, không lỗi lầm,
Không
cấu uế, không nhiễm.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
477.
Ai không thấy tự ngã,
Với
tự ngã của mình,
Ðịnh
tâm và chánh trực,
Kiên
trì không dao động,
Vị
ấy không có dục,
Không
cứng cỏi, phân vân.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
478.
Với ai không còn nữa,
Nguyên
nhân của si mê,
Biết
rõ và thấy rõ,
Ðối
với hết thảy pháp,
Và
mang nặng thân này,
Thân
này thân cuối cùng.
Chứng
đạt Chánh Ðẳng Giác,
Vô
thượng an ổn xứ,
Ðạt
cho đến như vậy,
Bậc
Dạ-xoa thanh tịnh.
Như
Lai thật xứng đáng,
Ðồ
cúng dường tế tự.
Bà-la-môn:
479.
Ðây đồ con cúng dường,
Ðồ
cúng dường chân thật,
Con
đã tìm thấy được,
Bậc
trí đức như vậy,
Phạm
thiên hãy chứng giám,
Thế
Tôn hãy chấp nhận,
Thế
Tôn hãy thọ hưởng,
Ðồ
cúng dường của con.
Thế
Tôn:
480.
Ta không có thọ dụng
Ðồ
ăn từ kệ tụng,
Hỡi
này Bà-la-môn,
Ðây
không phải là pháp,
Của
những người có trí,
Chư
Phật đều từ bỏ,
Ca
hát các bài kệ,
Chỗ
nào pháp an trú,
Hỡi
này Bà-la-môn,
Ðấy
chính là truyền thống.
481.
Ông cần phải cúng dường,
Ðồ
ăn, đồ uống khác,
Bậc
Ðại sĩ toàn vẹn,
Ðoạn
tận các lậu hoặc,
Ðã
đoạn tận trao hối,
Không
còn bị dao động,
Ngài
chính là thửa ruộng,
Cho
người cầu công đức.
Bà-la-môn:
482.
Thế Tôn, con muốn biết,
Người
có tin như con,
Ai
có thể hưởng thọ,
Ðồ
cúng dường của con,
Trong
khi lễ tế đàn,
Con
phải tìm đến ai?
Lời
Ngài dạy thế nào,
Con
sẽ đạt cho được.
Thế
Tôn:
483.
Với ai, không xông xáo,
Với
ai, tâm không động,
Giải
thoát khỏi các dục,
Với
ai bỏ hôn trầm,
484.
Lãnh đạo kẻ biên giới,
Thiện
xảo trong sanh tử,
Ẫn
sĩ đầy đủ tuệ,
Ðã
đến lễ tế đàn.
485.
Nhiếp phục kiêu ngạo xong,
Hãy
chắp tay đảnh lễ,
Cúng
dường đồ ăn uống,
Cúng
dường vậy tăng trưởng.
Bà-la-môn:
486.
Ngài là bậc Giác Ngộ,
Xứng
đáng được cúng dường,
Ngài
là ruộng phước đức,
Vô
thượng, không gì hơn,
Vị
tiếp nhận cúng dường,
Xứng
đáng toàn thế giới.
Bố
thí cho Tôn giả,
Kết
quả thật to lớn.
Rồi
Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja bạch Thế Tôn:
- Thật
vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì
bị quăng ngã xuống, hay phơi bày ra những gì bị che kín,
hay chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào
trong bóng tối để những ai có mặt có thể thấy sắc. Cũng
vậy, Chánh pháp được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện
trình bày giải thích. Con nay quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp,
quy y chúng Tỷ-kheo. Hãy cho con được xuất gia với Tôn giả
Gotama. Hãy cho con thọ đại giới.
Và
Bà-la-môn Sundarikabhàradvàja... trở thành một vị A-la-hán.
(V)
Kinh Màgha (Sn 86)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, trên núi Gijjhakàta. Rồi thanh
niên Màgha đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế
Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời
chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, thanh niên Màgha bạch Thế Tôn:
- Thưa
Tôn giả Gotama, con là người bố thí, là thí chủ, rộng rãi,
mong muốn được yêu cầu. Con tầm cầu tài sản đúng pháp,
sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp, với những tài sản thâu
hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng pháp, con cho một nguời,
con cho hai người, con cho ba người, con cho bốn người, con
cho năm người, con cho sáu người, con cho bảy người, con cho
tám người, con cho chín người, con cho mười người, con cho
hai mươi người, con cho ba mươi người, con cho bốn mươi người,
con cho năm mươi người, con cho một trăm người, con cho nhiều
hơn nữa. Thưa Tôn giả Gotama, con cho như vậy, con bố thí
như vậy, con có được nhiều phưóc đức không?
- Này
thanh niên, Con cho như vậy, Con bố thí như vậy Con được
nhiều phước đức. Này thanh niên, ai là người bố thí, là
người thí chủ rộng rãi, mong muốn được yêu cầu, ai tầm
cầu tài sản đúng pháp sau khi tầm cầu tài sản đúng pháp,
với những tài sản thâu hoạch đúng pháp, tạo dựng đúng
pháp, ngưòi ấy cho một người... cho một trăm người, cho
nhiều hơn nữa, người ấy được nhiều công đức.
Rồi
thanh niên Màgha nói lên lời Thế Tôn những bài kệ:
Thanh
niên Màgha:
487.
Thanh niên Màgha thưa:
Tôn
giả Gotama,
Con
hỏi bậc Hiền hòa,
Mặc
cà sa không nhà,
Ai
ưa muốn được cầu,
Là
thí chủ, gia chủ
Mong
muốn được phước đức,
Bố
thí, mong cầu phước.
Ở
đây, thí người khác,
Ðồ
ăn và đồ uống,
Tại
đâu nên bố thí,
Ðể
đồ cúng được tịnh.
Thế
Tôn:
488.
Thế Tôn bèn trả lời:
Này
thanh niên Màgha,
Ai
ưa muốn được cầu,
Là
thí chủ, gia chủ,
Mong
muốn được phước đức,
Bố
thí, mong cầu phước,
Ở
đây, thí người khác
Ðồ
ăn và đồ uống,
Người
ấy cần phải thí,
Người
xứng đáng cúng dường.
Màgha:
489.
Thanh niên Màgha thưa:
Tôn
giả Gotama,
Ai
ưa muốn được cầu,
Là
thí chủ, gia chủ,
Mong
muốn được phước đức,
Bố
thí, mong cầu phước,
Ở
đây, thí người khác
Ðồ
ăn và đồ uống,
Thế
Tôn hãy nói con
Nên
cúng dường cho ai?
Thế
Tôn:
490.
Những ai sống ở đời,
Thật
sự không nhiễm trước,
Hoàn
toàn không sở hữu,
Tự
ngã được nhiếp phục,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
491.
Những ai đã chặt đứt,
Mọi
kiết sử trói buộc,
Nhiếp
phục được giải thoát,
Không
dao động, mong cầu.
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
492.
Những ai đã giải thoát
Mọi
kiết sử trói buộc,
Nhiếp
phục được giải thoát,
Không
khổ, không mong cầu,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
493.
Vị nào đã đoạn tận,
Tham,
sân và cả si,
Các
lậu hoặc đã đoạn,
Phạm
hạnh đã thành tựu,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
494.
Ai sống không man trá,
Và
không có kiêu mạn,
Những
vị sống không tham,
Không
ngã sở, không cầu,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
495.
Những ai đối với ai,
Không
rơi vào hệ lụy,
Vượt
khỏi được bộc lưu,
Du
hành không ngã sở,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự,
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
496.
Với ai không tham ái,
Một
vật gì ở đời,
Không
ái hữu, phi hữu,
Ðời
này hay đời sau,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
497.
Những ai từ bỏ dục,
Sống
không có gia đình,
Khéo
léo biết chế ngự,
Như
con thoi, chính trực,
Ðúng
thời, đối vị ấy.
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
498.
Những ai, ly tham ái,
Các
căn khéo định tĩnh,
Như
mặt trăng thoát khỏi,
Nanh
vuốt của Ràhu,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
499.
Những ai được an tịnh,
Ly
tham, ly phẩn nộ,
Sau
khi bỏ đời này,
Không
còn có sanh thú,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
500.
Ðoạn sanh tử đã xong,
Không
còn chút dư tàn,
Nghi
ngờ và phân vân,
Tất
cả được nhiếp phục,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
501.
Những ai sống ở đời
Tự
mình làm hòn đảo,
Không
có vật sở hữu,
Giải
thoát được trọn vẹn,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự.
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
502.
Những ai ngay đời này,
Như
thật rõ biết được,
Ðây
đời sống cuối cùng,
Không
còn có tái sanh,
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
503.
Ai đạt tuệ tối thượng,
Ưa
thiền, giữ chánh niệm,
Ðạt
được sự giác ngộ,
Chỗ
quy ngưỡng nhiều người.
Ðúng
thời, đối vị ấy,
Hãy
cúng đồ tế tự,
Vị
Phạm chí cầu phước,
Hãy
bố thí như vậy.
Màgha:
504.
Thật sự câu con hỏi,
Không
trống không, vô ích,
Thế
Tôn nói cho con,
Những
ai đáng cúng dường.
Ở
đây Ngài đã biết,
Sự
thật như thế nào.
Như
vậy chính là pháp,
Ngài
được biết như vậy.
505.
Rồi thanh niên Màgha,
Lại
thưa thêm như sau:
Ai
ưa muốn được cầu,
Là
thí chủ, gia chủ,
Mong
muốn được phước đức,
Bố
thí, mong cầu phước,
Ở
đây, thí người khác,
Ðồ
ăn và đồ uống,
Thế
Tôn hãy nói con,
Pháp
tế tự hoàn toàn.
Thế
Tôn:
506.
Thế Tôn nói Màgha,
Hãy
tế đàn, tế tự,
Phải
làm cho trong sạch,
Hoàn
toàn mọi tâm tư,
Ðối
người lễ tế đàn,
Ðối
tượng là đồ cúng,
Hãy
an trú ở đây,
Từ
bỏ sự sân hận.
507.
Vị ấy đoạn tận tham,
Nhiếp
phục cả sân hận,
Tu
tập tâm từ bi,
Vô
lượng khắp tất cả,
Với
hạnh không phóng dật,
Ngày
đêm luôn tu tập,
Cùng
khắp mọi phương hướng,
Biến
mãn vô lượng tâm.
Màgha:
508.
Ai trong sạch, giải thoát,
Ai
còn bị trói buộc,
Ai
với tự thân mình,
Ði
đến Phạm Thiên giới?
Vì
không biết, con hỏi.
Hãy
nói lên, ẩn sĩ,
Mong
Thế Tôn chứng giám,
Cho
con ngày hôm nay,
Con
được thấy Phạm thiên,
Ngài
đối với chúng con,
Thật
sự Ngài ngang bằng,
Với
Phạm thiên không khác,
Ôi!
Bậc chói hào quang,
Làm
thế nào được sanh,
Lên
cảnh giới Phạm thiên?
Thế
Tôn:
509.
Thế Tôn đáp Màgha:
Ai
tổ chức tế đàn,
Ðầy
đủ cả ba phần,
Tế
đàn ấy tăng thịnh,
Với
những người được cúng.
Xứng
đáng được cúng dường.
Tế
đàn như vậy xong,
Chơn
chánh muốn được cầu,
Ta
nói vị ấy sanh,
Tại
cảnh giới Phạm thiên.
Khi nói
được như vậy, thanh niên Màgha bạch Thế Tôn:
- Thật
vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!.
Thật
vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama!... Từ nay cho đến mạng
chung, con trọn đời quy ngưỡng.
(VI)
Kinh Sabhiya (Sn 91)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng
các con sóc. Lúc bấy giờ, du sĩ Sabhiya, một du sĩ ngoại đạo,
được một Thiên nhân trước kia là bà con huyết thống, nói
lên những câu hỏi sau đây: "Này Sabhiya, vị Sa-môn hay Bà-la-môn
nào, khi được hỏi những câu hỏi này, trả lời cho Ông,
thời Ông hãy sống Phạm hạnh với người ấy".
Rồi
du sĩ Sabhiya, sau khi học những câu hỏi ấy từ vị Thiên
nhân ấy, phàm có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có hội chúng,
có đồ chúng, bậc đạo sư đồ chúng được biết đến,
có danh vọng, các ngoại đạo sư, được quần chúng ái mộ,
như Pùrana Kacsapa, Makkhali Gosàla, Ajita Kesa Kambali, Pakudha Kacàyana,
Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nàtaputta, Sabhiya đi đến các vị
ấy và hỏi những câu hỏi ấy. Các vị ấy, được du sĩ
Sabhiya hỏi những câu hỏi ấy, không có thể giải đáp. Do
không có thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận,
bất mãn. Họ vặn hỏi trở lại du sĩ Sabhiya. Rồi du sĩ Sabhiya
suy nghĩ như sau: "Các vị Tôn giả, Sa-môn, Bà-la-môn ấy có
hội chúng, có đồ chúng, bậc đạo sư, đồ chúng được
biết đến, có danh vọng, có ngoại đạo sư, được quần
chúng ái mộ, như Pùrana Kassapa... Nigantha Nàtaputta. Các vị
ấy được ta hỏi những câu hỏi không có thể giải đáp.
Do không có thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận,
bất mãn họ vặn hỏi trở lại ta. Vậy ta haỹ trở lui đời
sống hạ liệt, thọ hưởng các dục". Rồi du sĩ Sabhiya suy
nghĩ như sau: "Có Sa-môn Gotama này, có hội chúng, có đồ chúng,
bậc lãnh đạo hội chúng, được biết đến, có danh vọng,
sáng lập ra giáo phái, được quần chúng ái mộ, vậy ta hãy
đi đến Sa-môn Gotama và hỏi những câu hỏi này. Rồi du sĩ
ngoại đạo Sabhiya suy nghĩ như sau: "Các vị Tôn giả Sa-môn,
Bà-la-môn ấy đã già, đã lớn tuổi, đã đến tuổi trưởng
thượng, đã đi quá nửa đời người, đã đạt đến mức
cuối tuổi thọ, là những bậc trưởng lão, được nhiều
người biết đến, xuất gia đã lâu ngày, có hội chúng, có
đồ chúng, bậc lãnh đạo hội chúng, được biết đến,
có danh vọng, các ngoại đạo sư được quần chúng ái mộ,
như Pùrana Kassapa... Nigantha Nàtaputta. Các vị ấy được ta
hỏi những câu hỏi, không có thể giải đáp. Do không có
thể giải đáp, họ biểu lộ phẩn nộ, sân hận, bất mãn.
Và họ vặn hỏi trở lại ta. Không biết Sa-môn Gotama có thể
trả lời những câu hỏi này của ta. Sa-môn Gotama còn trẻ
và mới được xuất gia". Rồi du sĩ ngoại đạo Sabhiya suy
nghĩ như sau: "Không nên gạt bỏ, không nên khinh thường một
Sa-môn vì vị ấy còn trẻ tuổi; nếu vị Sa-môn còn trẻ,
nhưng vị ấy có đại thần, đại uy lực. Vậy ta hãy đi
đến Sa-môn Gotama và hỏi những câu hỏi này".
Rồi
du sĩ ngoại đạo Sabhiya bộ hành ra đi đến Ràjagaha, tiếp
tục bộ hành, đi đến Vương Xá Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng
các con sóc, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên những
lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên du sĩ Sabhiya nói lên với Thế Tôn những
bài kệ:
Sabhiya:
510.
Sabhiya nói rằng:
Tôi
đến, có nghi ngờ,
Hy
vọng có thể hỏi
Những
câu hỏi với Ngài.
Mong
Ngài chấm dứt được,
Những
câu hỏi cho tôi.
Những
câu được tôi hỏi,
Hãy
thứ lớp giải đáp.
Thế
Tôn:
511.
Thế Tôn đáp du sĩ:
Ông
từ xa đi đến,
Hy
vọng có thể hỏi,
Những
câu hỏi với Ta,
Ta
sẽ chấm dứt được,
Những
câu hỏi cho Ông
Những
câu được Ông hỏi,
Ta
thứ lớp giải đáp.
512.
Du sĩ Sabhiya,
Hãy
hỏi Ta câu hỏi,
Tuỳ
theo ý Ông muốn,
Ông
hỏi câu hỏi nào,
Ta
sẽ chấm dứt được,
Câu
hỏi ấy cho Ông.
Rồi
du sĩ Sabhiya suy nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu
thay! Ta không bao giờ có được cơ hội, đối với các Sa-môn,
Bà-la-môn khác. Nay cơ hội này được Sa-môn Gotama tạo ra
cho ta, hân hoan, hoan hỷ, phấn chấn, hỷ lạc " Sabhiya hỏi
Thế Tôn câu hỏi:
Sabhiya:
513.
Sabhiya hỏi rằng:
Tôn
giả Gotama,
Do
đạt được những gì,
Ðược
gọi là Tỷ-kheo?
Nhờ
gì, gọi nhu hòa?
Thế
nào gọi chế ngự?
Và
phải như thế nào,
Ðược
gọi bậc Giác ngộ?
Ðược
con hỏi như vậy,
Mong
Thế Tôn trả lời.
Thế
Tôn:
514.
Thế Tôn bèn đáp lại:
Hỡi
này Sabhiya,
Ai
chính với con đường,
Do
tự mình tạo ra,
Ði
đến sự tịch mịch,
Vượt
qua các nghi hoặc,
Từ
bỏ, đoạn tận hẳn
Cả
hữu và phi hữu,
Phạm
hạnh đã thành tựu,
Tái
sanh đã đoạn tận,
Vị
ấy được xứng danh,
Gọi
là vị Tỷ-kheo.
515.
Vị trú xả, chánh niệm,
Tại
bất cứ chỗ nào,
Vị
không làm hại ai,
Cùng
khắp cả thế giới,
Vượt
bộc lưu, tịnh ý,
Không
có bị dao động,
Vị
nào không đột khởi,
Vị
ấy gọi nhu hòa.
516.
Vị nào có các căn,
Ðược
huấn luyện tu tập,
Cả
nội và cả ngoại,
Trong
tất cả thế giới,
Vị
nào thông suốt được
|