|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TIỂU BỘ
TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2543 - 1999
Kinh Tập
Sutta Nipata
Chương
Hai - Tiểu Phẩm
(I)
Kinh Châu Báu (Ratana Sutta) (Sn 39)
222.
Phàm ở tại đời này,
Có
sanh linh tụ hội,
Hoặc
trên cõi đất này,
Hoặc
chính giữa hư không
Mong
rằng mọi sanh linh,
Ðược
đẹp ý vui lòng,
Vậy,
hãy nên cẩn thận,
Lắng
nghe lời dạy này.
223.
Do vậy các sanh linh,
Tất
cả hãy chú tâm,
Khởi
lên lòng từ mẫn,
Ðối
với mọi loài, người.
Ban
ngày và ban đêm,
Họ
đem vật cúng dường,
Do
vậy không phóng dật,
Hãy
giúp hộ trì họ.
224.
Phàm có tài sản gì,
Ðời
này hay đời sau,
Hay
ở tại thiên giới,
Có
châu báu thù thắng,
Không
gì sánh bằng được,
Với
Như Lai, Thiện Thệ
Như
vậy, nơi Ðức Phật,
Là
châu báu thù diệu,
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
225.
Ðoạn diệt và ly tham,
Bất
tử và thù diệu,
Phật
Thích Ca Mâu-Ni,
Chứng
pháp ấy trong thiền.
Không
gì sánh bằng được,
Với
pháp thù diệu ấy.
Như
vậy, nơi Chánh pháp,
Là
châu báu thù diệu,
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
226.
Phật Thế Tôn thù thắng,
Nói
lên lời tán thán,
Pháp
thiền định trong sạch,
Liên
tục không gián đoạn,
Không
gì sánh bằng được,
Pháp
thiền vi diệu ấy,
Như
vậy, nơi Chánh pháp,
Là
châu báu thù diệu
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
227.
Tám vị bốn đôi này,
Ðược
bậc thiện tán thán,
Chúng
đệ tử Thiện Thệ,
Xứng
đáng được cúng dường.
Bố
thí các vị ấy,
Ðược
kết quả to lớn.
Như
vậy, nơi Tăng chúng,
Là
châu báu thù diệu.
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
228.
Các vị lòng ít dục,
Với
ý thật kiên trì,
Khéo
liên hệ mật thiết,
Lời
dạy Gotama!.
Họ
đạt được quả vị,
Họ
thể nhập bất tử,
Họ
chứng đắc dễ dàng,
Hưởng
thọ sự tịch tịnh,
Như
vậy, nơi tăng chúng,
Là
châu báu thù diệu,
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
229.
Như vậy cột trụ đá,
Khéo
y tựa lòng đất,
Dầu
có gió bốn phương,
Cũng
không thể dao động,
Ta
nói bậc chơn nhân,
Giống
như ví dụ này.
Vị
thể nhập với tuệ,
Thấy
được những Thánh đế,
Như
vậy, nơi Tăng chúng,
Là
châu báu thù diệu.
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
230.
Những vị khéo giải thích,
Những
sự thật Thánh đế,
Những
vị khéo thuyết giảng,
Với
trí tuệ thâm sâu,
Dầu
họ có hết sức,
Phóng
dật không tự chế,
Họ
cũng không đến nỗi,
Sanh
hữu lần thứ tám.
Như
vậy, nơi Tăng chúng,
Là
châu báu thù diệu.
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
231.
Vị ấy nhờ đầy đủ,
Với
chánh kiến sáng suốt,
Do
vậy, có ba pháp,
Ðược
hoàn toàn từ bỏ.
Thân
kiến và nghi hoặc,
Giới
cấm thủ cũng không;
Ðối
với bốn đọa xứ,
Hoàn
toàn được giải thoát;
Vị
ấy không thể làm,
Sáu
điều ác căn bản.
Như
vậy, nơi Tăng chúng,
Là
châu báu thù diệu.
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
232.
Dầu vị ấy có làm
Ðiều
ác gì đi nữa,
Với
thân hay với lời,
Kể
cả với tâm ý,
Vị
ấy không có thể
Che
đậy việc làm ấy,
Vị
ấy được nói rằng,
Không
thể thấy ác đạo.
Như
vậy, nơi Tăng chúng,
Là
châu báu thù diệu.
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
233.
Ðẹp là những cây rừng
Có
bông hoa đầu ngọn,
Trong
tháng ba nóng bức,
Những
ngày hạ đầu tiên,
Pháp
thù thắng thuyết giảng,
Ðược
ví dụ như vậy,
Pháp
đưa đến Niết-bàn,
Pháp
hạnh phúc tối thượng.
Như
vậy, nơi Ðức Phật,
Là
châu báu thù diệu
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
234.
Cao thượng, biết cao thượng,
Cho,
đem lại cao thượng,
Bậc
vô thượng thuyết giảng,
Pháp
cao thượng thù thắng.
Như
vậy, nơi đức Phật,
Là
châu báu thù diệu.
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
235.
Nghiệp cũ đã đoạn tận,
Nghiệp
mới không tạo nên,
Với
tâm tư từ bỏ,
Trong
sanh hữu tương lai.
Các
hột giống đoạn tận,
Ước
muốn không tăng trưởng,
Bậc
trí chứng Niết-bàn,
Ví
như ngọn đèn này.
Như
vậy, nơi Tăng chúng,
Là
châu báu thù diệu.
Mong
với sự thật này,
Ðược
sống chơn hạnh phúc.
236.
Phàm ở tại đời này,
Có
sanh linh tụ hội,
Hoặc
trên cõi đất này,
Hoặc
chính giữa hư không,
Hãy
đảnh lễ đức Phật,
Ðã
như thực đến đây,
Ðược
loài Trời, loài Người,
Ðảnh
lễ và cúng dường.
Mong
rằng với hạnh này,
Mọi
loài được hạnh phúc.
237.
Phàm ở tại nơi này,
Có
sanh linh tụ hội,
Hoặc
trên cõi đất này,
Hoặc
chính giữa hư không.
Hãy
đảnh lễ Chánh pháp,
Ðã
như thực đến đây,
Ðược
loài Trời, loài Người,
Ðảnh
lễ và cúng dường.
Mong
rằng với hạnh này,
Mọi
loài được hạnh phúc.
238.
Phàm ở tại nơi này,
Có
sanh linh tụ hội,
Hoặc
trên cõi đất này,
Hoặc
chính giữa hư không.
Hãy
đảnh lễ chúng Tăng
Ðã
như thực đến đây,
Ðược
loài Trời, loài Người,
Ðảnh
lễ và cúng dường.
Mong
rằng với hạnh này,
Mọi
loài được hạnh phúc.
(II)
Kinh Hôi Thối (Amagandha) (Sn 42)
Bà-la-môn:
239.
Các bậc Thiện chơn chánh,
Ăn
hạt giống cây thuốc,
Ăn
đậu đũa, đậu rừng,
Ăn
lá, ăn rễ cây,
Ăn
trái các dây leo,
Nhận
được thật đúng pháp.
Vị
ấy không nói láo,
Vì
các dục thúc đẩy.
240.
Ôi ngài Kassapa,
Ai
ăn các món ăn,
Do
người khác bố thí,
Khéo
làm, khéo chưng dọn,
Trong
sạch và thù thắng;
Ăn
lúa gạo thơm ngon.
Ai
ăn uống như vậy
Là
ăn thịt hôi thối.
241.
Này bà con Phạm thiên,
Chính
Ngài tuyên bố rằng:
Ta
không ăn đồ thối,
Ðể
nuôi sống thân Ta.
Nhưng
Ngài ăn món ăn
Bằng
lúa gạo thơm ngon,
Ăn
thịt các loài chim,
Nấu
ăn thật khéo léo
Ta
hỏi Kassapa:
Ý
nghĩa sự kiện này,
Ngài
định nghĩa thế nào,
Là
ăn đồ hôi thối?
Ðức
Phật Kassapa:
242.
Sát sanh và hành hình,
Ðả
thương và bắt trói,
Trộm
cắp và nói láo,
Man
trá và lừa đảo,
Giả
bộ kẻ học thức,
Ði
lại với vợ người,
Ðây
là đồ ăn thối,
Ăn
thịt không phải thối.
243.
Ở đời, các hạng người,
Không
chế ngự lòng dục,
Ðam
mê các vị ngon,
Liên
hệ đến bất tịnh,
Theo
chủ nghĩa hư vô,
Bất
chánh khó hướng dẫn,
Ðây
là ăn đồ thối,
Ăn
thịt không phải thối.
244.
Ai thô bạo, dã man,
Sau
lưng nói gièm pha,
Phản
bạn không từ bi,
Lại
cống cao ngạo mạn,
Tánh
không có bố thí,
Không
cho ai vật gì,
Ðây
là ăn đồ thối,
Ăn
thịt không phải thối,
245.
Phẫn nộ và kiêu mạn,
Cứng
đầu và chống đối
Man
trá và tật đố,
Nói
vô ích, huênh hoang,
Kiêu
mạn và quá mạn,
Thân
mật với kẻ ác,
Ðây
là ăn đồ thối,
Ăn
thịt không phải thối,
246.
Ác giói, nợ không trả,
Làm
người điểm chỉ viên,
Làm
những nghề dối trá,
Ở
đây, kẻ giả vờ,
Ở
đây người bần tiện,
Những
người làm ác nghiệp,
Ðây
là ăn đồ thối,
Ăn
thịt không phải thối.
247.
Ở đời đối hữu tình,
Người
không biết kiềm chế,
Lấy
cướp sở hữu người,
Chú
tâm làm hại người,
Ác
giới và tàn nhẫn
Ác
ngữ, thiếu lễ độ,
Ðây
là ăn đồ thối,
Ăn
thịt không phải thối,
248.
Hạng tham ô, thù nghịch,
Tìm
cách để giết hại,
Luôn
luôn hướng về ác,
Sau
chết sanh tối tăm,
Chúng
sanh ấy rơi vào,
Ðịa
ngục đầu xuống trước.
Ðây
là ăn đồ thối,
Ăn
thịt không phải thối,
249.
Không phải do cá thịt,
Cùng
các loại nhịn ăn,
Không
phải do lõa thể,
Ðầu
trọc và bện tóc,
Không
do tro trét mình,
Mặc
da thú khô cứng,
Không
phải do săn sóc,
Nuôi
dưỡng lửa tế tự,
Không
do nhiều khổ hạnh,
Ðể
được chứng bất tử,
Không
bùa chú tế tự,
Các
tế đàn thời tiết,
Làm
con người trong sạch,
Nếu
nghi hoặc chưa đoạn.
250.
Do sống hộ trì căn,
Với
các căn nhiếp phục,
Vững
trú trên Chánh pháp,
Thích
chân trực, hiền hòa,
Vượt
khỏi các tham ái,
Ðoạn
tận mọi khổ đâu,
Bậc
trí không nhiễm dính,
Ðiều
được thấy, được nghe.
251.
Nhiều lần, Thế Tôn thuyết,
Ý
nghĩa lời dạy này,
Bậc
bác học kệ chú,
Thâm
hiểu ý nghĩa ấy.
Bậc
ẩn sĩ nói lên,
Với
những kệ tuyệt diệu,
Bậc
không ăn đồ thối,
Ðộc
lập, khó hướng dẫn.
252.
Nghe xong những lời dạy,
Lời
Thế Tôn khéo nói,
Chấm
dứt ăn đồ thối,
Ðoạn
tận mọi khổ đau,
Vị
ấy đảnh lễ Phật,
Với
tâm ý nhún nhường,
Thỉnh
cầu được cho pháp,
Xuất
gia tại nơi đây.
(III)
Kinh Xấu Hổ (Sn 45)
253.
Ai mở miệng tuyên bố:
Tôi
là bạn của anh,
Sở
hành vượt xấu hổ,
Lại
khinh chán bạn mình,
Không
chịu khó gắng làm,
Công
việc có thể làm.
Cần
biết người như vậy,
Không
phải bạn của tôi.
254.
Ai đối với bạn hữu,
Chỉ
làm với lời nói,
Lời
nói đẹp, khả ái,
Nhưng
chỉ lời nói suông,
Bậc
trí biết người ấy,
Người
chỉ nói, không làm.
255.
Người luôn luôn chú ý,
Nghi
ngờ sự thiếu sót,
Tìm
kiếm các nhược điểm,
Người
ấy không phải bạn,
Với
ai có thể nắm,
Như
con nằm trên ngực,
Người
ấy mới thật bạn,
Không
bị ai chia ly.
256.
Ai mong lợi ích quả,
Tu
tập các sự kiện,
Ðem
lại sự hân hoan,
Tu
tập sự an lạc,
Ðem
lại thưởng, tán thán,
Gánh
trách nhiệm làm người.
257.
Uống xong vị viễn ly,
Uống
xong vị an tịnh,
Không
sợ hãi, không ác,
Hưởng
vị ngọt, pháp hỷ.
(IV)
Kinh Ðiềm Lành Lớn (Kinh Ðại Hạnh Phúc - Mahamangala Sutta)
(Sn 46)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông
Anàthapindika. Rồi một Thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với
dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế
Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Ðứng một bên, vị Thiên nhân ấy với bài kệ bạch Thế
Tôn:
Thiên
nhân:
258.
Nhiều Thiên nhân và Người,
Suy
nghĩ đến điềm lành,
Mong
ước và đợi chờ,
Một
nếp sống an toàn,
Xin
Ngài hãy nói lên
Về
điềm lành tối thượng.
Thế
Tôn:
259.
Không thân cận kẻ ngu,
Nhưng
gần gũi bậc trí,
Ðảnh
lễ người đáng lễ
Là
điềm lành tối thượng.
260.
Ở trú xứ thích hợp,
Công
đức trước đã làm,
Chân
chánh hướng tụ tâm,
Là
điều lành tối thượng.
261.
Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Khéo
huấn luyện học tập,
Nói
những lời khéo nói
Là
điềm lành tối thượng.
262.
Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi
dưỡng vợ và con,
Làm
nghề không rắc rối
Là
điềm lành tối thượng.
263.
Bố thí, hành đúng pháp,
Săn
sóc các bà con,
Làm
nghiệp không lỗi lầm
Là
điềm lành tối thượng.
264.
Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế
ngự đam mê rượu,
Trong
pháp, không phóng dật
Là
điềm lành tối thượng.
265.
Kính lễ và hạ mình,
Biết
đủ và biết ơn,
Ðúng
thời, nghe Chánh pháp
Là
điềm lành tối thượng.
266.
Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
Yết
kiến các Sa-môn,
Ðúng
thời, đàm luận pháp,
Là
điềm lành tối thượng.
267.
Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy
được lý Thánh đế,
Giác
ngộ quả Niết bàn
Là
điềm lành tối thượng.
268.
Khi xúc chạm việc đời,
Tâm
không động, không sầu,
Không
uế nhiễm, an ổn
Là
điềm lành tối thượng.
269.
Làm sự việc như vậy,
Không
chỗ nào thất bại,
Khắp
nơi được an toàn,
Là
điềm lành tối thượng.
(V)
Kinh Sùciloma (Sn 47)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú tại Gayà, ở Tamkitamanca tại trú xứ của
Dạ-xoa Sùciloma. Lúc bấy giờ, Dạ-xoa Khara, Dạ-xoa Sùciloma
đi qua Thế Tôn không bao xa. Dạ-xoa Khara nói với Dạ-xoa Sùciloma:
Ðây là Sa-môn. Ðây không phải là Sa-môn. Ðây là Sa-môn hay
là Sa-môn giả hiệu. Rồi Dạ-xoa Sùciloma đi đến Thế Tôn,
sau khi đến cọ xát thân Thế Tôn. Thế Tôn tránh né thân
của mình, rồi Dạ-xoa Sùciloma nói với Thế Tôn:
- Có
phải Sa-môn sợ ta?
- Này
Hiền giả, Ta không sợ Ông, nhưng xúc phạm với Ông là ác.
- Này
Sa-môn, ta sẽ hỏi Ngài, nếu Ngài không trả lời cho ta, ta
sẽ làm cho tâm Ngài điên loạn, hay bóp nát quả tim của Ngài,
hay nắm chân của Ngài, ta sẽ quăng qua bờ bên kia sông Hằng.
- Này
Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên,
với chư Thiên, Ác ma và Phạm Thiên, trong quần chúng Sa-môn,
Bà-la-môn với chư Thiên và loài Người, lại có thể làm
cho tâm Ta điên loạn hay bóp nát quả tim của Ta, hay nắm chân
của Ta, sẽ quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này
Hiền giả, Ông cứ hỏi Ta như ý Ông muốn.
Rồi
Dạ-xoa Sùciloma với câu kệ nói với Thế Tôn:
Sùciloma:
270.
Từ những nguyên nhân nào,
Tham
và sân khởi lên?
Không
ưa thích, ưa thích,
Sợ
hãi từ đâu sanh?
Từ
đâu được sanh khởi,
Các
suy tầm của ý,
Như
đứa trẻ độc ác,
Thả
cho con quạ bay?
Thế
Tôn:
271.
Từ những nguyên nhân này,
Tham,
sân được khởi lên,
Không
ưa thích, ưa thích,
Sợ
hãi từ đây sanh,
Từ
đây được sanh khởi,
Các
suy tầm của ý,
Như
đứa trẻ độc ác,
Thả
cho con quạ bay.
272.
Sự hiện hữu của ngã,
Chính
do thân ái sanh,
Như
các loại cây bàng,
Do
thân cây bàng sanh.
Sự
triền phược các dục,
Thật
rộng lớn vô cùng,
Như
cây Màluvà,
Tỏa
rộng lan khắp rừng.
273.
Hãy nghe! Này Dạ-xoa,
Những
ai được rõ biết
Từ
đâu, khiến sanh khởi,
Họ
tẩy sạch nhân ấy.
Họ
vượt qua dòng nước,
Chảy
mạnh khổ vượt này,
Trước
chưa được vượt qua,
Không
còn có tái sanh.
(VI)
Kinh Hành Chánh Pháp (Sn 49)
274.
Pháp hạnh và Phạm hạnh,
Ðược
gọi là tối thượng hạnh,
Nếu
là người xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà.
275.
Nếu bản tánh lắm mồm,
Ưa
làm hại như thú,
Ðời
sống ấy ác độc,
Làm
ngã tăng bụi trần.
276.
Tỷ-kheo ưa cãi nhau,
Bị
vô minh che đậy,
Không
biết pháp luật dạy,
Pháp
do Phật tuyên thuyết.
277.
Bị vô minh lãnh đạo,
Hại
bậc tu tập ngã,
Không
biết đường ô nhiễm,
Ðưa
đến cõi địa ngục.
278.
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Rơi
vào chỗ đọa xứ,
Ði
đầu thai chỗ này,
Ðến
đầu thai chỗ khác,
Ði
từ tối tăm này,
Ðến
chỗ tối tăm khác.
Vị
ấy sau khi chết,
Rơi
vào chỗ khổ đau.
279.
Như hố phân đầy tràn,
Sau
nhiều năm chất chứa,
Cũng
vậy, kẻ uế nhiễm,
Thật
khó lòng gột sạch.
280.
Hỡi này các Tỷ-kheo,
Hãy
biết người như vậy,
Hệ
lụy với gia đình,
Ác
dục, ác tư duy,
Ác
uy nghi cử chi,
Ác
sở hành, hành xứ.
281.
Tất cả đều đồng tình,
Tránh
xa ngưòi như vậy,
Hãy
thổi nó như bụi,
Hãy
quăng nó như rác.
282.
Hãy đuổi kẻ nói nhiều,
Kẻ
Sa-môn giả hiệu,
Sau
khi đuổi ác dục,
Ác
uy nghi hành xứ.
283.
Hãy giữ mình trong sạch,
Chung
sống kẻ trong sạch,
Sống
thích đáng, chánh niệm,
Rồi
hòa hợp, sáng suốt,
Hãy
chấm dứt khổ đau.
(VII)
Kinh Pháp Bà-la-môn (Sn 50)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông
Anàthapindika. Rồi nhiều Bà-la-môn đại phú ở Kosala già yếu,
cao niên, trưởng lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã
gần mãn cuộc đời, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên
với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, các Bà-la-môn đại phú ấy
bạch Thế Tôn:
- Thưa
Tôn giả Gotama, hiện nay còn có những Bà-la-môn nào được
thấy là theo pháp Bà-la-môn của những Bà-la-môn thời xưa?
- Này
các Bà-la-môn, hiện nay không còn thấy các Bà-la-môn theo pháp
Bà-la-môn của các Bà-la-môn thời xưa?
- Lành
thay, Tôn giả Gotama hãy nói cho pháp Bà-la-môn của các Bà-la-môn
thời xưa. Nếu Tôn giả Gotama không thấy gì phiền phức.
- Vậy
này các Bà-la-môn, hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói.
- Thưa
vâng, Tôn giả.
Các
Bà-la-môn đại phú ấy vâng đáp Thế Tôn, Thế Tôn nói như
sau:
284.
Các ẩn sĩ thời xưa,
Chế
ngự, sống khắc khổ,
Bỏ
năm dục trưởng dưỡng,
Hành
lý tưởng tự ngã.
285.
Phạm chí, không gia súc,
Không
vàng bạc lúa gạo,
Học
hỏi là tài sản,
Họ
che chở hộ trì,
Kho
tàng tối thượng ấy.
286.
Ðồ ăn được sửa soạn,
Ðược
đặt tại ngưỡng cửa,
Với
lòng tin, họ soạn
Ðể
cúng bậc Thánh cầu.
287.
Với vải mặc nhiều màu,
Với
giường nằm trú xứ,
Từ
quốc độ giàu có,
Họ
đảnh lễ Phạm chí.
288.
Không bị ai xâm phạm
Là
Phạm chí thời ấy,
Không
bị ai chiến hại,
Họ
được pháp che chở,
Không
ai ngăn chận họ,
Tại
ngưỡng cửa gia đình.
289.
Từ trẻ đến bốn tám,
Các
Phạm chí thời xưa,
Họ
sống hành Phạm hạnh,
Tầm
cầu minh và hạnh.
290.
Các vị Bà-la-môn,
Không
đến giai cấp khác,
Không
mua người làm vợ,
Chung
sống trong tình thương,
Họ
đi đến với nhau,
Trong
niềm hoan hỷ chung.
291.
Ngoại trừ thời gian ấy,
Thời
có thể thụ thai,
Là
người Bà-la-môn,
Không
đi đến giao cấu.
292.
Họ tán thán Phạm hạnh,
Giới,
học thức, nhu hòa,
Khắc
khổ và hòa nhã,
Bất
hại và nhẫn nhục.
293.
Vị tối thắng trong họ,
Là
Phạm thiên, nỗ lực,
Vị
ấy không giao hợp,
Cho
đến trong cơn mộng.
294.
Ở đời, bậc có trí,
Học
theo hạnh vị ấy,
Họ
tán thán Phạm hạnh,
Giới
đức và nhẫn nhục.
295.
Họ xin cơm, sàng tọa,
Vải
mặc, bơ và dầu,
Thâu
nhiếp thật đúng pháp,
Họ
tổ chức tế tự,
Trong
lễ tế tự ấy,
Họ
không giết bò cái.
296.
Như mẹ và như cha,
Như
anh, như bà con,
Bò
là bạn tối thượng,
Từ
chúng, sanh được vị.
297.
Bò cho ăn, cho sức,
Cho
dung sắc, cho lạc
Biết
được lợi ích này,
Họ
không giết hại bò.
298.
Họ đoan trang thân lớn,
Có
dung sắc, danh xưng,
Bản
tánh là nhiệt tình,
Trong
hành thiện dứt ác,
Họ
còn sống ở đời,
Dân
chúng hưởng an lạc.
299.
Giữa họ có đảo lộn,
Họ
thấy vật nhỏ nhen.
Thấy
huy hoàng nhà vua,
Thấy
trang sức phụ nữ.
300.
Các cỗ xe khéo làm,
Thắng
với ngựa thuần thục,
Trang
hoàng với tấm thảm,
Nhiều
sắc lại nhiều màu.
Các
trú xứ phòng ốc,
Khéo
chia, khéo ngăn cách.
301.
Ðàn bà mập vây quanh,
Chúng
người đẹp hầu hạ,
Bà-la-môn
tham đắm,
Tài
sản lớn của người.
302.
Ðọc các bài kệ tụng,
Họ
đến Okkàla,
Ngài
được tài sản lớn,
Ngài
được lúa gạo nhiều.
Hãy
thiết lập tế đàn,
Vì
tài sản ngài lớn,
Hãy
thiết lập tế đàn,
Vì
tiền bạc ngài lớn.
303.
Rồi vua, bậc lãnh tụ,
Vương
chủ các xa binh,
Ðược
các Bà-la-môn
Nhiếp
phục và cảm hóa,
Tổ
chức các tế đàn,
Về
ngựa và về người,
Quăng
con nêm, nước thánh,
Với
các cửa then cài.
Lễ
tế đàn này xong,
Họ
cho các Phạm chí,
Rất
nhiều loại tài sản.
304.
Bò, giường nằm, áo mặc,
Nữ
nhân trang sức đẹp,
Các
cỗ xe khéo làm,
Thắng
với ngựa thuần thục,
Trang
hoàng với tấm thảm,
Nhiều
sắc lại nhiều màu.
305.
Các trú xứ đẹp đẽ,
Khéo
chia, khéo ngăn cách,
Ðầy
các loại lúa gạo,
Họ
cho các Phạm chí,
Rất
nhiều là tài sản.
306.
Ở đây, được tài sản,
Phạm
chí thích cất chứa,
Lòng
dục chúng thỏa mãn,
Khát
ái càng tăng trưởng,
Họ
lại đọc kệ tụng,
Họ
đến Okkàka.
307.
Như nước, đất và vàng,
Tài
sản và lúa gạo,
Cũng
vậy là các bò,
Ðối
với các loài, người.
Chúng
là những vật dụng,
Cần
thiết cho hữu tình.
Hãy
thiết lập tế đàn,
Vì
tài sản ngài lớn,
Hãy
thiết lập tế đàn,
Vì
tiền bạc ngài lớn?
308.
Rồi vua, bậc lãnh tụ,
Vương
chủ các xa binh,
Ðược
các Bà-la-môn,
Nhiếp
phục và cảm hóa,
Tổ
chức các tế đàn,
Trăm
ngàn bò bị giết
309.
Không phải với bàn chân,
Cũng
không phải với sừng.
Con
bò hại một ai,
Chúng
được khéo nhiếp phục
Như
con dê, con cừu,
Chúng
cho nhiều ghè sữa,
Tuy
vậy, vua ra lệnh,
Nắm
sừng bắt lấy chúng,
Giết
chúng bằng dao gươm.
310.
Rồi chư Thiên, Tổ tiên,
Ðế
Thích, A-tu-la,
Với
các hàng Dạ-xoa,
Ðồng
thanh cùng la lớn,
Như
vậy là phi pháp,
Khi
gươm giết hại bò.
311.
Trước đã có ba bệnh,
Dục,
ăn không đủ già,
Do
giết hại muôn thú,
Chúng
lên đến chín tám.
312.
Trượng phạt phi pháp này,
Từ
xưa truyền đến nay,
Vật
vô tội bị giết,
Còn
người lễ tế đàn,
Thối
thất khỏi Chánh pháp,
313.
Vậy tùy pháp cổ này,
Bị
bậc trí khiển trách,
Chỗ
nào lễ tế đàn,
Như
vậy, được xem thấy,
Quần
chúng liền chỉ trích,
Các
vị lễ tế đàn.
314.
Như vậy, pháp bị hoại,
Hạng
Thủ-đà, Phệ-xá,
Bị
phân ly chia rẽ,
Các
hạng Sát-đế-lị
Bị
chia năm, chẻ bảy
Còn
vợ khinh rẽ chồng.
315.
Các Sát-lị hoàng tộc,
Các
bà con Phạm thiên,
Cùng
với hạng người khác,
Ðược
gia tộc che chở,
Họ
bỏ quên sanh chủng,
Họ
rơi vào các dục.
Khi nghe
nói vậy, các Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn;
- Thật
vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Thưa Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì
bị quăng ngã xuống, trình bày rõ những gì bị che kín chỉ
đường cho kẻ bị lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong
bóng tối đễ những ai có mắt có thể nhìn thấy sắc. Cũng
vậy, Pháp được Tôn giả Gotama với nhiều pháp môn trình
bày giải thích. Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama quy y Pháp,
quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận chúng con làm đệ
tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, chúng con trọn đời
quy ngưỡng.
(VIII)
Kinh Chiếc Thuyền (Sn 55)
316.
Từ vị nào một người,
Rõ
biết được Chánh pháp,
Hãy
đảnh lễ vị ấy,
Như
chư Thiên, Inda,
Vị
ấy được đảnh lễ,
Tâm
tư sanh hoan hỷ,
Nghe
nhiều, học hỏi nhiều,
Thuyết
trình chơn diệu pháp.
317.
Vị sáng suốt chú tâm,
Suy
tư và quán sát
Thực
hành pháp tuỳ pháp,
Trở
thành vị hiểu biết,
Thông
minh và thận trọng,
Không
phóng dật, vị ấy,
Theo
gương vị như vậy.
318.
Ai phục vụ kẻ ngu,
Ngu
si, tâm bé nhỏ,
Mục
đích chưa đạt được,
Lại
ganh tị tật đố,
Chính
ở đây Chánh pháp,
Không
phát triển tu tập,
Chưa
vượt thoát nghi hoặc,
Người
ấy bị tử vong.
319.
Như người nhảy xuống sông,
Dòng
sông nước ngập tràn,
Nước
sông, nhớp đục ngầu,
Dòng
nước chảy nhanh mạnh
Người
ấy bị lôi cuốn,
Theo
dòng nước trôi đi,
Làm
sao nó có thể,
Giúp
người khác vượt dòng.
320.
Cũng vậy, với người nào,
Pháp
không được tu tập,
Không
quán sát ý nghĩa,
Của
những vị nghe nhiều,
Tự
mình không rõ biết,
Nghi
hoặc chưa vượt qua,
Làm
sao nó có thể,
Giúp
người khác thiền định.
321.
Như người được leo lên,
Chiếc
thuyền mạnh vững chắc,
Ðược
trang bị đầy đủ,
Mái
chèo và tay lái;
Người
như vậy ở đây,
Giúp
nhiều người ngược dòng,
Rõ
biết những phương tiện,
Thiện
xảo và sáng suốt.
322.
Như vậy, bậc sáng suốt,
Luôn
luôn tự tu tập,
Bậc
nghe nhiều hiểu nhiều,
Không
còn bị dao động,
Vị
ấy giúp đỡ được,
Các
người khác tu thiền,
Làm
khởi lên nguyên nhân,
Tha
thiết muốn nghe pháp.
323.
Do vậy, hãy thân cận,
Bậc
chân nhân hiền sĩ,
Bậc
sáng suốt, có trí,
Bậc
nghe nhiều học nhiều.
Sau
khi biết mục đích,
Cố
gắng khéo hành trì,
Rõ
biết được Chánh pháp,
Vị
ấy được an lạc.
(IX)
Kinh Thế Nào là Giới (Sn 56)
324.
Thế nào là giới đức?
Thế
nào là chánh hạnh?
Cần
phải làm tăng trưởng.
Thân
khẩu ý nghiệp nào?
Ðể
người chánh nhập cuộc,
Ðạt
được đích tối thượng?
325.
Kính lễ bậc trưởng thượng,
Không
ganh tị một ai,
Cần
phải biết thời gian,
Ðể
yết kiến Ðạo sư,
Biết
được đúng thời khắc,
Thuyết
pháp bắt đầu giảng,
Hãy
cẩn thận lắng nghe,
Lời
giảng được khéo nói.
326.
Hãy đi đến đúng thời,
Trước
mặt vị Ðạo Sư,
Từ
bỏ tánh cứng đầu,
Với
thái độ khiêm tốn,
Hãy
nhớ nghĩ ức niệm,
Hãy
chơn chánh hành trì,
Mục
đích và Chánh pháp,
Chế
ngự và Phạm hạnh
327.
Vui thích trong Chánh Pháp
Hoan
hỷ trong Chánh Pháp,
An
trú trên Chánh pháp,
Biết
phân tích Chánh pháp,
Sở
hành không làm gì,
Có
lời uế nhiễm pháp,
Chịu
hướng dẫn lãnh đạo,
Lời
trung thực khéo nói.
328.
Bỏ cười đùa, lắm miệng,
Khóc
than và sân hận,
Làm
những điều man trá,
Lừa
đảo, tham, kiêu mạn,
Bồng
bột và bạo ngôn,
Cứng
rắn và đam mê,
Sống
từ bỏ tất cả,
Ly
say đắm, kiên trì.
329.
Thức tri được cốt lõi,
Những
lời đươc khéo nói,
Ðươc
nghe khéo thức tri,
Cốt
lõi của thiền định,
Với
con người hấp tấp,
Lại
phóng dật buông lung,
Trí
tuệ, đều được nghe,
Không
có thể tăng trưởng.
330.
An vui thích Chánh pháp,
Do
bậc Thánh tuyên thuyết,
Họ
trở thành vô thượng,
Về
lời ý và nghiệp,
Họ
an tịnh nhu hòa,
An
trú trên thiền định,
Chứng
đạt được cốt lõi,
Pháp
được nghe, trí tuệ.
(X)
Kinh
Ðứng Dậy (Sn 57)
331.
Hãy đứng dậy, ngồi dậy,
Với
người mộng ích gì?
Kẻ
bệnh ngủ làm gì?
Khi
mũi tên phiền lụy.
332.
Hãy đứng dậy, ngồi dậy,
Hãy
kiên trì học tập,
Ðạt
cho được an tịnh,
Ðừng
để cho thần chết,
Biết
Ông là phóng dật,
Mê
hoặc, chinh phục Ông.
333.
Chư Thiên và loài Người,
Sống
y chỉ tầm cầu,
Hãy
vượt ái dục này,
Chớ
để thời khắc qua,
Khi
thời khắc đã qua,
Bị
sầu khổ địa ngụ.
334.
Phóng dật là bụi nhơ,
Bụi
do phóng dật khởi,
Với
minh, không phóng dật,
Tự
mình rút mũi tên
(XI)
Kinh Ràhula (Sn 58)
Thế
Tôn:
335.
Thường chung sống người hiền,
Thầy
có khinh miệt không?
Người
cầm đuốc loài Người,
Ðược
thầy tôn trọng không?
Ràhula:
336.
Thường chung sống người hiền,
Con
không có khinh miệt.
Người
cầm đuốc loài Người,
Thường
được con tôn trọng.
Thế
Tôn:
337.
Bỏ năm dục trưởng dưỡng,
Khả
ái và đẹp ý,
Với
lòng tin xuất gia,
Hãy
trở thành con người,
Làm
chấm dứt khổ đau.
338.
Thân cận với bạn lành,
Sống
trú xứ xa vắng,
Viễn
ly không ồn ào,
Hãy
tiết độ ăn uống
339.
Y áo, đồ khất thực,
Vật
dụng và sàng tọa,
Chớ
có tham ái chúng,
Chớ
trở lui đời này.
330.
Chế ngự trong giới bổn,
Phòng
hộ trong năm căn,
Hãy
tu tập niệm thân,
Sống
với nhiều nhàm chán.
341.
Hãy từ bỏ tịnh tướng,
Hệ
lụy với tham ái,
Tu
tập tâm bất tịnh,
Nhất
tâm, khéo định tĩnh.
342.
Hãy tu tập vô tướng,
Bỏ
đi, mạn tùy miên,
Do
nhiếp phục kiêu mạn,
Ngươi
sẽ sống an tịnh.
Như vậy,
Thế Tôn thường giáo giới Tôn giả Ràhula với những bài
kệ này.
(XII)
Kinh Vangìsa (Sn 59)
Như
vầy tôi nghe:
Một
thời Thế tôn sống ờ Alavi, tại điện Aggàlava. Lúc bấy
giờ, giáo sư thọ sư của Tôn giả Vangìsa, tên là Nigrodhakappa
tại điện Aggalava, mệnh chung không bao lâu. Rồi Tôn giả
Vangìsa, trong khi thiền định độc cư, tư tưởng sau đây
được khởi lên: "Không biết bậc giáo thọ sư của ta có
hoàn toàn nhập Niết-bàn hay không hoàn toàn nhập Niết-bàn?".
Rồi Tôn giả Vangìsa vào buổi chiều, từ thiền tịnh đứng
dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi
ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Vangìsa
bạch Thế Tôn:
- Ở
đây, bạch Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, con khởi
lên tư tưởng như sau: "Không biết bậc giáo thọ sư của
con có hoàn toàn nhập Niết Bàn hay không, hoàn toàn nhập Niết-bàn?"
Rồi
Tôn giả Vangìsa, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một
bên vai, chấp tay vái chào Thế Tôn và với bài kệ, nói lên
với Thế Tôn:
Vangìsa:
343.
Con hỏi bậc Ðạo Sư,
Bậc
trí tuệ tối thượng,
Ai
chặt đứt nghi hoặc,
Ngay
trong đời hiện tại?
Tại
Aggàlava,
Tỷ-kheo
đã mệnh chung,
Có
danh vọng danh xưng,
Nhập
Niết bàn tịch tịnh.
344.
Nigrodhakappa,
Chính
là tên vị ấy,
Chính
Thế Tôn đặt tên,
Cho
vị Phạm chí ấy,
Vị
ấy đảnh lễ Ngài,
Sống
tầm cầu giải thoát,
Tinh
cần và tinh tấn,
Kiên
cố thấy Chánh Pháp.
345.
Bạch Thích Ca, chúng con
Ðệ
tử Ngài, tất cả
Chúng
con đều muốn biết
Bậc
Pháp nhãn biến tri,
An
trú tại chúng con,
Sẵn
sàng để được nghe,
Ngài
Ðạo sư chúng con,
Ngài
là bậc Vô thượng.
346.
Hãy đoạn nghi chúng con,
Cho
con biết vị ấy,
Ðã
được tịch tịnh chưa
Bậc
trí tuệ rộng lớn,
Hãy
nói giữa chúng con,
Bậc
có mặt cùng khắp,
Như
Thiên chủ Ðế Thích,
Lãnh
đạo ngàn chư Thiên.
347.
Phàm những cột gút gì,
Ở
đây, đường si ám,
Dự
phần với vô trí,
Trú
xứ cho nghi hoặc;
Gặp
được đức Như Lai,
Họ
đều không còn nữa.
Mắt
này mắt tối thắng,
Giữa
cặp mắt loài Người.
348.
Nếu không có người nào,
Ðoạn
trừ các phiền não,
Như
gió thổi tiêu tan
Các
tầng mây dưới thấp,
Màn
đen tức bao trùm,
Tất
cả toàn thế giới,
Những
bậc có hào quang,
Không
có thể chói sáng.
349.
Bậc trí là những vị
Tạo
ra những ánh sáng,
Con
xem Ngài như vậy.
Ôi!
Bậc trí sáng suốt,
Chúng
con đều cùng đến,
Bậc
tu hành thiền quán,
Giữa
hội chúng, chúng con,
Hãy
nói về Kappa!
350.
Hãy gấp phát tiếng lên,
Tiếng
âm thanh vi diệu,
Như
con chim thiên nga,
Giương
cổ lên để hót,
Phát
âm từng tiếng một,
Với
giọng khéo ngân nga,
Tất
cả bạn chúng con,
Trực
tâm nghe lời Ngài.
351.
Vị đoạn tận sanh tử,
Không
còn chút dư tàn,
Vị
tẩy sạch phiền não,
Con
cầu Ngài thuyết pháp,
Kẻ
phàm phu không thể
Làm
theo điều nó muốn.
Bậc
Như Lai làm được,
Ðiều
được ước định làm,
352.
Câu trả lời của Ngài
Thật
đầy đủ tr |