|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TIỂU BỘ
TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2543 - 1999
Kinh Tập
(Sutta Nipata)
Mục Lục
Giới
thiệu
Chương
Một - Phẩm Rắn (Uragavagga)
1.
Kinh Rắn
2.
Dhaniya
3.
Kinh Con Tê Ngưu Một Sừng
4.
Kinh Kasibbàradvàja, Người Cày Ruộng
5.
Kinh Cunda
6.
Kinh Bại Vong
7.
Kinh Kẻ Bần Tiện
8.
Kinh Từ Bi
9.
Kinh Hemavata
10.
Kinh Alavaka
11.
Kinh Kinh Thắng Trận
12.
Kinh Vị ẩn sĩ
Chương
Hai - Tiểu Phẩm
1.
Kinh Châu Báu
2.
Kinh Hôi Thối
3.
Kinh Xấu Hổ
4.
Kinh Ðiềm Lành Lớn
5.
Kinh Sùciloma
6.
Kinh Hành Chánh Pháp
7.
Kinh Pháp Bà La Môn
8.
Kinh Chiếc Thuyền
9.
Kinh Thế Nào Là Giới
10.
Kinh Ðứng Dậy
11.
Kinh Ràhula
12.
Vangiụsa
13.
Kinh Chánh Xuất Gia
14.
Kinh Dhammika
Chương
Ba - Ðại Phẩm
1.
Kinh Xuất Gia
2.
Kinh Tinh Cần
3.
Kinh Khéo Thuyết
4.
Kinh Sundarika Bhàradvàja
5.
Kinh Màgha
6.
Kinh Sabhiya
7.
Kinh Sela
8.
Kinh Mũi Tên
9.
Kinh Vàsettha
10.
Kinh Kokàliya
11.
Kinh Nàlaka
12.
Kinh Hai Pháp Tùy Quán
Chương
Bốn - Phẩm Tám
1.
Kinh Về Dục
2.
Kinh Hang Ðộng Tám Kệ
3.
Kinh Sân Hận Tám Kệ
4.
Kinh Thanh Tịnh Tám Kệ
5.
Kinh Tối Thắng Tám Kệ
6.
Kinh Gìa Tám Kệ
7.
Kinh Tissametteyya
8.
Kinh Pasùra
9.
Kinh Màgandiya
10.
Kinh Trước Khi Bị Hủy Hoại
11.
Kinh Tranh Luận
12.
Sự Tập Hợp Nhỏ Bé
13.
Những Vấn Ðề To Lớn
14.
Kinh Tuvataka
15.
Kinh Chấp Trượng
16.
Kinh Sàriputta
Chương
Năm - Trên Ðường Ðến Bờ Bên Kia
1.
Bài Kệ Mở Ðầu
2.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Ajita
3.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Tissametteyya
4.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Punnaka
5.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Mettagù
6.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Dhotaka
7.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Upasiụva
8.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Nanda
9.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Hemaka
10.
Cau Hỏi Của Thanh Niên Todeyya
11.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Kappa
12.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Jatukanniụ
13.
Câu Hỏi Của ThanhNiên Bhadràvudha
14.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Udaya
15.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Posàla
16.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Magharàja
17.
Câu Hỏi Của Thanh Niên Pingiya
18.
Kết Luận
Giới
Thiệu Kinh Tập (Sutta Nipata)
Hoà
thượng Thích Minh Châu
Tập
Sutta Nipatà là kinh thứ 5, trong 15 kinh thuộc Bộ Khuddaka Nipàta
tức là Tiểu Bộ Kinh. Bộ Tiểu Bộ Kinh gồm có 15 kinh:
Khuddakapàtha
(Tiểu Tụng Kinh),
Dhammapada
(Pháp Cú),
Udàna
(Phật Tự Thuyết Kinh, Cảm Hứng Ngữ),
Itivuttaka
(Như Thị Ngữ Kinh, Phật Thuyết Như Vậy),
Vimànavatthu
(Thiên Cung Sự Kinh),
Petavatthu
(Ngạ Quỷ Sự Kinh),
Theragàthà
(Trưởng Lão Tăng Kệ),
Therigàthà
(Trưởng Lão Ni Kệ),
Jàtaka
(Bổn Sanh),
Mahàniddesa
(Ðại Nghĩa Tích),
Cùlaniddesa
(Tiểu Nghĩa Tích),
Patisambhidàmagga
(Vô Ngại Giải Ðạo),
Apadàna
(Thí Dụ Kinh),
Buddhavamsa
(Phật Sử) và
Cariyàpitaka
(Tiểu Nghĩa Kinh, Sở Hạnh Tạng).
Theo một
phân loại khác, Luật Tạng, Luận Tạng và tất cả kinh chưa
được sưu tập vào 4 Bộ Nikàyà chính, lập thành Tiểu Bộ
Kinh. Các vị thọ trì Trường Bộ Kinh không chấp nhận các
kinh Khuddakapàtha, Cariyàpitaka và Apadàna, và phân loại các
kinh khác vào Luận Tạng. Các vị thọ trì Trung Bộ Kinh không
chấp nhận tập Khuddakapàtha, nhưng chấp nhận các kinh còn
lại và phân loại chúng vào Kinh tạng. Theo truyền thống Miến
Ðiện, 4 tập khác được cộng thêm vào, như Milindapanha, Suttasamgaha,
Petakopadesa và Nettipakarana.
Kinh
Tập này gồm có 5 Chương:
Chương
I, Phẩm Rắn (Uragavagga) gồm có 12 kinh;
Chương
II, Tiểu Phẩm gồm có 14 kinh.
Chương
III, Ðại Phẩm gồm có 12 kinh;
Chương
IV, Phẩm Tám gồm có 16 kinh; và
Chương
V, PhẩmTrên Con Ðường Ðến Bờ Bên Kia, gồm có 17 kinh
tất cả.
Tổng
cộng kinh này có 5 Chương và 71 bài kinh.
Ðặc
biệt của tập này gồm những kinh có thể được xem là những
kinh xưa nhất, cổ nhất, nghĩa là gần với thời đức Phật
nhất. Chúng tôi dựa trên một số yếu tố để xác nhận
tánh chất thật sự nguyên thủy của Bộ Suttànipàta này,
về cả hai mặt Văn cú và Nội dung.
Trước
hết, Tập Suttanipàta viết bằng một thể văn Pàli xưa nhất
và cổ kính nhất, so sánh với các thể văn chúng ta thường
được gặp trong các Bộ Dìgha Nikàya (Trường Bộ), Majjhima
Nikàya (Trung Bộ), Samyutta Nikàya (Tương Ưng Bộ), Anguttara Nikàya
(Tăng Chi Bộ). Nhiều thể văn gần với văn Vedà (Vệ Ðà)
được tìm thấy rất nhiều trong tập này, nhưng không tìm
thấy trong các tập khác, như các danh từ và động từ số
nhiều: sitàse, upatthitàse, caramàse. Các hình thức chủ
cách số nhiều và sử dụng cách số ít của một số danh
từ như: vinicchayà thế cho vinicchayàni, lakkhanà
thế cho lakkhanàni, mantà thế cho mantàya.
Ngoài ra, chúng ta thường gặp các nguyên mẫu Vedà như vippahàtane,
sampayàtave, unnametave rất ít khi được tìm thấy trong các
tập kinh khác. Nhiều khi chúng ta thấy một số danh từ đặc
biệt như chữ datthu thế cho disvà, atisìtvà
thế cho atikkamivà, maga thế cho miga, tumo
thế cho so v.v... Những danh từ này rất gần với tiếng
Vệ đà không tìm thấy ở các bộ kinh khác. Như vậy, chứng
tỏ Tập Suttanipàta được viết trong thời kỳ xưa nhất của
ngôn ngữ Pàli, chưa được trau chuốt lưu loát, nhiều âm
điệu như ngôn ngữ Pàli sau này. Giá trị cổ kính của ngôn
ngữ Pàli trong tập này đánh giá tánh chất nguyên thủy của
tập Suttanipàta.
Một
yếu tố nữa giúp chúng ta biết giá trị cổ kính của tập
này là một số kinh của tập này được tìm thấy trong các
bộ kinh khác, và chứng tỏ các kinh khác đã sưu tầm một
số kinh hiện có trong bộ Suttanipàta. Ví dụ kinh Seta (Sn. 548-573)
được tìm thấy trong Majjhima Nikàya M.i. 146; kinh Vàsettha (Sn.
594-656) được tìm thấy cũng trong Majjhima Nikàya M.ii. 196.
Ngoài
ra, tập Suttanipàta có ghi chép lại một vài giai đoạn trong
đời sống tìm đạo và học đạo của Thái tử, những mẫu
chuyện này rất giản dị và mộc mạc, không có xen lẫn thần
thông phù phép với những hình ảnh thật đơn sơ và tươi
đẹp.
Kinh
Xuất gia (Sn. 405-424) diễn tả cuộc gặp gỡ giữa Thái tử
với Vua Bimbisàra, khi Thái tử vừa mới xuất gia. Vua Bimbisàra
đứng trên lầu nhìn xuống thấy Thái tử đang đi khất thực.
"Bình
Sa Vương thấy Ngài,
Ðứng
trên sân lầu thượng
Thấy
đầy đủ tướng tốt,
Bèn
nói lên lời này." (409)
Sau khi
sai sứ giả đi theo để tìm chỗ Thái tử, Vua Bimbisàra liền
đi đến gặp Thái tử và thưa:
"Ngài
thanh niên tuổi trẻ,
Ngây
thơ, bước vào đời,
Cao
đẹp được viên mãn,
Thiện
sanh giòng Sát lỵ...
Tài
sản ta cho ngươi.
Hãy
hưởng và trả lời." (420-421)
Và Thái
tử dứt khoát trả lời :
"Giòng
họ thuộc mặt trời
Sanh
tộc là Thích Ca,
Từ
bỏ gia tộc ấy,
Thưa
vua Ta xuất gia.
Ta
không có thiết tha,
Ðối
với các loại dục,
Thấy
nguy hiểm trong dục,
Bỏ
chúng, là an ổn;
Ta
sẽ đi, tinh tấn,
Ý
Ta được hoan hỷ." (423-424)
Kinh Tinh
Tấn tiếp theo nói lên sự cám dỗ của Ác ma. Khi Thái tử
ngồi dưới cây Bồ đề tu hành, Ác ma đến gần, nói lên
giọng từ mẫn :
"Ngươi
ốm, không dung sắc
Nhà
ngươi gần chết rồi,
Cả
ngàn phần, ngươi chết;
Chỉ
một phần còn sống.
Hãy
sống, sống tốt hơn,
Sẽ
làm các công đức." (426-427)
Thái
tử trả lời từ tốn, nhưng không kém phần nghị lực :
"Bà
con ác phóng dật,
Ngươi
đến đây làm gì?
Với
công đức nhỏ bé,
Ta
đâu có cần đến!
Ðây
có tín, tinh tấn,
Và
Ta có trí tuệ,
Như
vậy Ta tinh tấn
Sao
ngươi hỏi Ta sống." (431-432)
Và Thái
tử nói lên quyết tâm chiến đấu của mình :
"Ôi
này Ma Nu Ci!
Ðây
là quân đội ngươi,
Ðây
quân đội chiến trận
Của
giòng họ Kanhà,
Kẻ
nhát, không thắng ngươi
Ai
thắng ngươi được lạc.
Ta
mang cỏ Munja
Vững
thay, đáng đời sống
Thà
Ta chết chiến trận
Tốt
hơn sống thất bại." (439-440)
Và cuối
cùng, Ác ma thất bại trước dũng chí của Thái tử và vừa
bỏ đi vừa than:
"Bảy
năm ta bước theo
Chân
theo chân Thế Tôn,
Không
tìm được lỗi lầm
Nói
Thế Tôn chánh niệm,
Như
quạ bay xung quanh,
Hòn
đá như đống mỡ."
"Có
thể có gì mềm?
Có
thể có gì ngọt?
Không
tìm được vị ngọt
Quạ
từ đó bay đi!
Như
quạ mổ hòn đá
Ta
bỏ Gotama." (446-448)
Câu chuyện
thứ ba nói về ẩn sĩ Asita (A Tư Ðà) đoán tướng cho Thái
tử. Asita thấy Chư thiên vui mừng liền hỏi duyên cớ. Chư
thiên đáp :
"Tại
xứ Lâm tì ni
Trong
làng các Thích Ca,
Có
sanh vị Bồ tát
Báu
tối thắng, vô tỷ.
Ngài
sanh, đem an lạc
Hạnh
phúc cho loài người,
Do
vậy chúng tôi mừng
Tâm
vô cùng hoan hỷ.
Ngài,
chúng sanh tối thượng
Ngài,
loài người tối thắng,
Bậc
Ngưu Vương loài người
Thượng
Thủ mọi sanh loại.
Ngài
sẽ chuyển Pháp luân,
Trong
khu rừng ẩn sĩ,
Rống
tiếng rống sư tử,
Hùng
mạnh, nhiếp loài thú." (683-684)
Ðạo
sư Asita liền vội vàng đi đến Kapilavatthu để được chiêm
ngưỡng Thái tử.
"Sau
khi thấy Thái tử,
Chói
sáng như lửa ngọn,
Thanh
tịnh như Sao ngưu
Vận
hành giữa hư không
Sáng
chiếu như mặt trời
Giữa
trời thu mây tịnh
Ẩn
sĩ tâm hoan hỷ
Ðược
hỷ lạc rộng lớn." (687)
Khi thấy
Thái tử chói sáng như mặt trời, khi nghĩ đến viễn ảnh
chánh pháp được tuyên thuyết, nghĩ đến phận mình già yếu,
A Tư Ðà đã phát khóc.
"Khi
vị ấy nghĩ đến
Số
mệnh của tự mình,
Số
mệnh không tốt đẹp,
Vị
ấy rơi nước mắt"... (691)
Trước
sự lo lắng của các vị Thích Ca, ẩn sĩ A Tư Ðà giải tỏa
mối lo lắng:
"Thấy
họ Thích lo lắng
Vị
ẩn sĩ trả lời:
Ta
không thấy bất hạnh
Xảy
đến cho Thái tử
Ðối
với (Thái tử) ấy,
Chướng
ngại sẽ không có.
Vị
này không hạ liệt,
Chớ
có lo lắng gì.
Thái
tử này sẽ chứng
Tối
thượng quả Bồ đề,
Sẽ
chuyển bánh xe Pháp
Thấy
thanh tịnh tối thắng
Vì
lòng từ thương xót,
Vì
hạnh phúc nhiều người,
Và
đời sống Phạm hạnh
Ðược
truyền bá rộng rãi
Thọ
mạng ta ở đời
Còn
lại không bao nhiêu
Ðến
giữa đời sống Ngài,
Ta
sẽ bị mệnh chung.
Ta
sẽ không nghe Pháp
Bậc
tinh cần vô tỷ
Do
vậy ta sầu não,
Bất
hạnh và khổ đau." (692-694)
Yếu
tố thứ tư xác nhận sự cổ kính của Kinh Tập này là một
số câu văn, một số ví dụ, một số hình ảnh được diễn
tả, đã trở thành những câu cách ngôn dân gian.
Biển
lớn thì im lặng. Khe nước thời chảy ồn. Cái gì trống
kêu to. Cái gì đầy thì yên lặng. Những ví dụ này cho chúng
ta thấy những kẻ ít hiểu biết thì hay nói nhiều, những
kẻ hiểu biết nhiều thời thường im lặng như 2 câu kệ
sau đây :
"Hãy
học các giòng nước,
Từ
khe núi vực sâu
Nước
khe núi chảy ồn
Biển
lớn đầy im lặng." (720)
"Cái
gì trống kêu to,
Cái
gì đầy, im lặng,
Ngu
như ghè vơi nước
Bậc
Trí như ao đầy." (721)
Với
những kẻ hay nói, họa sẽ tự miệng sanh, như câu kệ khéo
diễn tả dưới đây:
"Phàm
con người đã sanh,
Sanh
với búa trong miệng,
Kẻ
ngu khi nói bậy,
Tự
chặt đứt lấy mình." (657)
Hình
ảnh sau đây, có vẻ trào phúng, nói đến đàn quạ thấy
hòn đá lầm tưởng là miếng thịt mỡ, đến mổ để tìm
cái gì ngọt, khi mổ xong biết mình lầm liền bay đi. Câu
kệ châm biếm Ác ma đi theo đức Phật để tìm cơ hội hại
Ngài, cuối cùng hại Ngài không được nên bỏ đi.
"Như
quạ bay xung quanh
Hòn
đá như đống mỡ.
"Có
thể có gì mềm?"
"Có
thể có gì ngọt?" (447)
"Không
tìm được gì ngọt
Quạ
từ đó bay đi
Như
quạ mổ hòn đá
Ta
bỏ Gotama." (448)
Một
câu kệ nữa nói đến sóng biển không sanh ở giữa biển
đại dương, cho chúng ta biết, kẻ đã giải thoát bao giờ
cũng trầm tĩnh yên lặng, như bài kệ sau đây:
"Như
chính giữa trung ương
Của
biển cả đại dương,
Sóng
biển không có sanh,
Biển
hoàn toàn đứng lặng
Cũng
vậy, vị tỷ kheo,
Ðứng
lặng không giao động
Không
có sự bồng bột
Náo
nức ở giữa đời." (920)
Ðức
Phật khuyên các người xuất gia, nên sống riêng một mình
tinh tấn tu hành, như con tê giác chỉ có một sừng, sống
một mình trong rừng.
"Do
thân cận giao thiệp
Thân
ái từ đấy sanh,
Tùy
thuận theo thân ái,
Khổ
này có thể sanh.
Nhìn
thấy những nguy hại,
Do
thân ái sanh khởi,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng". (36)
"Như
nai trong núi rừng
Không
gì bị trói buộc,
Tự
đi chỗ nó muốn
Ðể
tìm kiếm thức ăn,
Như
các bậc hiền trí
Thấy
tự do giải thoát,
Hãy
sống riêng một mình
Như
tê ngưu một sừng." (37)
Khi đức
Phật thuyết pháp, giới thiệu đạo mới của Ngài, Ngài phải
đương đầu với hai hệ thống xã hội rất hùng mạnh đang
ngự trị trên xã hội Ấn Ðộ bấy giờ, tức là tổ chức
Sa môn và tổ chức Bà la môn. Mỗi hệ thống có một số
giáo chủ cầm đầu với hội chúng, với chủ thuyết, với
phương pháp tu hành sai biệt và nhiều khi mâu thuẫn nhau. Ðức
Phật đã mạnh dạn loại bỏ những gì Ngài xem là trở ngại
cho con người giác ngộ và giải thoát, và tự mình vạch ra
một con đường mới mẻ đặc biệt của Ngài.
Trước
hết, đức Phật không chấp nhận đời sống người tu hành
mà còn đoán số, đoán mộng, bói toán, ăn các đồ ăn do
kệ tụng đem lại :
"Ta
không có thọ dụng
Ðồ
ăn từ kệ tụng,
Hỡi
này Bà la môn,
Ðây
không phải là pháp,
Của
những người có trí.
Chư
Phật đều từ bỏ,
Ca
hát các bài kệ." (480)
"Chớ
có dùng bùa chú,
Anthava
Vedà,
Chớ
tổ chức đoán mộng,
Coi
tướng và xem sao,
Mong
rằng đệ tử Ta,
Không
đoán tiếng thú kêu
Không
chữa bệnh không sanh,
Không
hành nghề lang băm." (927)
Ðức
Phật cũng không chấp nhận cầu mong điềm lành. Các chư Thiên
hỏi đức Phật làm thế nào được điềm lành (Mangalam),
đức Phật trả lời bằng 48 hành động tốt, vì chỉ có
hành động lành là điềm lành tối thượng, như kinh Mangala
sutta đã khéo diễn tả :
"Không
thân cận kẻ ngu
Như
gần gũi bậc trí,
Ðảnh
lễ người đáng lễ
Là
điềm lành tối thượng." (259)
"Học
nhiều nghề nghiệp giỏi,
Khéo
huấn luyện, học tập
Nói
những lời khéo nói.
Là
điềm lành tối thượng." (261)
"Hiếu
dưỡng mẹ và cha
Nuôi
dưỡng vợ và con
Làm
nghề không rắc rối,
Là
điềm lành tối thượng." (262)
"Bố
thí, hành đúng pháp,
Săn
sóc các bà con,
Làm
nghiệp, không lỗi lầm,
Là
điềm lành tối thượng." (263)
"Chấm
dứt, từ bỏ ác,
Chế
ngự đam mê rượu,
Trong
pháp không phóng dật,
Là
điềm lành tối thượng." (264)
"Kính
lễ và hạ mình
Biết
đủ và biết ơn
Ðúng
thời, nghe chánh pháp
Là
điềm lành tối thượng." (265)
Như vậy,
đức Phật bác bỏ sự tin tưởng ở điềm lành và khuyến
khích làm các hạnh lành, vì các hạnh lành là điềm lành
tối thượng.
Thêm
một bước nữa, đức Phật không chấp nhận quan điểm của
các Bà la môn, tin tưởng ở thuyết thọ sanh tử cho mình là
giai cấp đáng tôn trọng nhất, chỉ vì sanh ra từ miệng Phạm
thiên và do vậy các giai cấp Sát đế lỵ, Phệ xá và Thủ
đà phải tôn trọng phục vụ giai cấp Bà la môn. Ðức Phật
chống lại quan điểm thọ sanh này và tuyên bố rằng chỉ
do hành động mới đánh giá giá trị con người, xem con người
có đáng tôn trọng hay không.
"Bần
tiện không vì sanh.
Phạm
chí không vì sanh,
Do
hành, thành bần tiện,
Do
hành thành Phạm chí." (136)
"Không
phải do thọ sanh (*)
Ðược
gọi Bà la môn!
Không
phải do thọ sanh,
Gọi
phi Bà la môn
Chính
do sự hành động,
Ðược
gọi Bà la môn
Chính
do sự hành động
Gọi
phi Bà la môn." (Trung Bộ Kinh)
(*)
thọ sanh: đẻ
Bước
thêm một bước nữa, đức Phật bác bỏ các luận thuyết,
các triết lý suông, vì chúng không thể đưa con người đến
giải thoát, an tịnh. Có đến 63 luận thuyết thịnh hành trong
thời đức Phật và đức Phật đều bác bỏ chúng, vì chúng
chỉ gây thêm tranh luận :
"Các
Sa môn tranh luận,
Có
đến 63 thuyết,
Các
ngôn thuyết văn tự
Y
đây, các tưởng khởi." (538)
"Ai
thiên trú trong kiến,
Xem
kiến ấy tối thắng
Ở
đời đặt kiến ấy
Vào
địa vị tối thượng,
Người
ấy nói tất cả,
Người
khác là hạ liệt,
Do
vậy không vượt khỏi
Sự
tranh luận ở đời." (796)
"Những
ai muốn tranh luận
Sau
khi vào hội chúng,
Chúng
công kích lẫn nhau,
Chúng
gọi nhau là ngu
Cái
làm nó cống cao
Cũng
là đất hại nó,
Tuy
vậy nó vẫn nói
Lời
cống cao kiêu mạn." (830)
"Không
phải từ tri kiến
Từ
truyết thống, từ trí
Không
phải từ giới cấm,
Thanh
tịnh được đem đến." (839)
"Ngươi
đã có cuồng tín,
Không
đưa đến thanh tịnh
Vì
đã có thiên vị,
Với
tri kiến tác thành." (910)
Sau khi
bác bỏ mê tín dị đoan, tà kiến, truyền thống, điềm lành,
các luận thuyết, tế thần, tế lửa, v.v... Ðức Phật tự
mình xây dựng con đường giải thoát, giác ngộ của mình.
Và tập Suttanipàta sưu tầm cho chúng ta thấy, những bài kệ
diễn tả đức Phật, sai khác với các ngoại đạo sư hiện
tại như thế nào.
Trước
hết, Ngài là bậc có mắt, cakkhumantu, có pháp nhãn thấy rõ
tất cả :
"Ðức
Phật thật có mắt
Ðối
với tất cả pháp. (161)
"Bậc
có mắt xuất hiện
Ðời
này và thiên giới
Quét
sạch mọi u ám,
Ðộc
cư, chứng an lạc." (956)
"Vị
ấy Chánh đẳng giác
Hỡi
này Bà la môn,
Bậc
có mắt thấy được
Trong
tất cả các pháp." (992)
Ðức
Phật là vị có một cái nhìn sáng suốt, một sự hiểu biết
thấu triệt, thấy đau khổ trong các chủ thuyết, không chấp
nhận chủ thuyết nào, tìm đến chân lý, Ngài thấy được
sự an tịnh nội tâm.
"Với
Ta không có nói!
Ta
nói như thế này,
Sau
khi quan sát kỹ
Sự
chấp thủ trong pháp
Trong
tất cả tri kiến.
Ta
không có chấp trước,
Ta
thấy sự cất chứa
Tịch
tịnh trong nội tâm." (837)
"Ai
đã chặt sanh hữu,
Không
còn gieo giống thêm,
Sanh
hữu đã đoạn tận,
Không
còn muốn thọ sanh,
Ðược
gọi là ẩn sĩ
Một
mình đi im lặng,
Bậc
ẩn sĩ đã thấy
Con
đường tịch tịnh ấy." (208)
Nếp
sống đức Phật giới thiệu là một nếp sống của vị ẩn
sĩ, Mâu ni, một vị đã từ bỏ gia đình sống không gia đình,
không có trú xứ nào.
"Thân
mật, sinh sợ hãi,
Trú
xứ sanh bụi bậm
Không
trú xứ, không thân
Hình
ảnh bậc ẩn sĩ." (207)
Một
vị đã nhiếp phục tham ái và ái dục, không để ái dục
chi phối.
"Vị
ấy sống viễn ly
Mọi
sự việc ở đời...
Như
hoa sen có gai,
Sinh
ra ở trong nước,
Không
bị nước và bùn
Mắc
dính và thân ướt,
Như
vậy bậc ẩn sĩ
Nói
an tịnh, không tham,
Không
bị dục và đời,
Mắc
dính và thấm ướt." (845)
Một
vị ẩn sĩ không có thiếu thốn, không có tri kiến, không
có tà kiến, từ bỏ các chủ thuyết và không có tranh luận
với ai ở đời.
"Chính
đối với vị ấy,
Ngã,
phi ngã đều không
Vị
ấy đã tẩy sạch,
Mọi
tà kiến ở đời." (787)
"Một
số người nói rằng
Ðây
mới là sự thật,
Chứng
nói các người khác,
Là
trống không giả dối.
Do
chấp thủ như vậy,
Chúng
tranh luận đấu tranh,
Vì
sao bậc Sa môn.
Không
cùng nói một lời." (88)
"Thường
trú xả, chánh niệm,
Không
nghĩ mình bằng người.
Hơn
người thua kém người
Vị
ấy không bồng bột." (855)
Sống
đời sống viễn ly, không tham đắm vật gì, vị ẩn sĩ sống
đời sống vô hữu, không có "Ta"; không có "của Ta", thực
hành hạnh vô ngã một cách tốt đẹp.
"Vị
ấy không con cái,
Thú
vật, ruộng, tài sản,
Không
có gì nắm lấy,
Là
ta, là không ta." (858)
"Ai
không có vật gì,
Không
có, không sầu muộn,
Không
đi đến các pháp
Vị
ấy gọi an tịnh." (861)
"Không
nghĩ: "đây của tôi"
Không
nghĩ: "đây của người"
Người
không có tự ngã
Không
sầu gì không ngã." (951)
Nhờ
thực hành vô ngã, vị ẩn sĩ đi đến an tịnh trong nội tâm:
"Hãy
giữ được an tịnh
Về
phía từ nội tâm,
Ðã
không có tự ngã,
Từ
đâu có vô ngã!" (919)
Và đích
cuối cùng của con đường tu hành, đối với vị ẩn sĩ là
"Niết bàn tịch tịnh".
"Từ
bỏ lòng tham dục,
Ðây
tỷ kheo có tuệ,
Chứng
bất tử tịch tịnh,
Niết
bàn giới, thường trú!" (204)
Một
điểm son đáng chú ý là tập này có một số kinh rất được
phổ thông, và được chư Tăng các nước Nam Tông tụng đọc
thường xuyên như kinh Ratanasutta (kinh Châu Báu), kinh Mangalasutta
(kinh Ðiềm Lành) và kinh Mettasutta (kinh Từ Bi). Ngoài ra có
nhiều bài kinh ngắn gọn, ý tứ hàm xúc, tán thán hạnh ẩn
sĩ làm nổi bật đặc điểm của kinh này là tán dương ở
đời sống của vị xuất gia tầm đạo, như kinh Rắn, kinh
Vị ẩn sĩ, kinh Ràhula, kinh Dhammika, kinh Nàlaka, kinh Paràbhida,
kinh Tuvataka, kinh Attadanda, kinh Sàriputta. Những kinh này phần
lớn đề cập đến hạnh ẩn sĩ, và như vậy làm nổi bật
bối cảnh an tịnh tu hành mà Kinh Tập này đề cao một cách
đặc biệt.
Hòa
Thượng Thích Minh Châu
Thiền
Viện Vạn Hạnh
Sài
Gòn, 1978 (PL. 2522)

|