|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TIỂU BỘ
TẬP I
Khuddhaka Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2543 - 1999
Kinh Phật
Tự Thuyết (Udàna)
Mục Lục
Chương
01-03
Chương
1: Phẩm Bồ Ðề
Chương
2: Phẩm Muccalinda
Chương
3: Phẩm Nanda
Chương
04-05
Chương
4: Phẩm Meghiya
Chương
5: Phẩm Trưởng Lão Sona
Chương
06-08
Chương
6: Phẩm Sanh Ra Ðã Mù
Chương
7: Phẩm Nhỏ
Chương
8: Phẩm Pataligamiya
Giới Thiệu
Hoà
thượng Thích Minh Châu
Kinh
Udàna, được dịch là Phật tự thuyết kinh, nghĩa là những
kinh này đức Phật tự nói, do cảm xúc mạnh đột khởi,
không ai thỉnh Phật thuyết. Cũng có khi dịch là "Vô vấn
tự thuyết", nghĩa là không có người hỏi đức Phật tự
nói. Có khi được dịch là "Những lời cảm hứng", nghĩa
là lời nói đột khởi, do cảm xúc mạnh thúc đẩy, khi đức
Phật tự mình chứng kiến những sự việc xảy ra xung quanh.
Theo tập Upanishads, chữ Udàna có nghĩa là các hơi thở sinh
mệnh (pràna, apàna, sumàna, vyàna, udàna), ở trung tâm cổ họng
được phát ra.
Tập
này gồm tám chương. Mỗi chương có 10 kinh. Như vậy có tám
mươi kinh tất cả. Ðể tiện tìm kiếm, khi viết "I, 2" thời
hiểu là chương I, kinh số 2; khi ghi "IV, 7", thời hiểu là
chương IV kinh 7 v.v... Mỗi kinh gồm hai phần, phần đầu văn
xuôi, ghi nhận một câu chuyện do đức Phật chứng kiến hay
do các tỷ kheo kể lại, và phần thứ hai là lời cảm hứng
của đức Phật, phần lớn là bằng những bài kệ (gàthà),
chỉ có 1, 2 bài kinh Udàna được chép bằng văn xuôi.
Trước
hết là một số kinh do liên hệ đến đời sống của đức
Phật, như ba kinh đầu, Phẩm Bồ Ðề diễn tả đức Phật
khi mới thành đạo, ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ
Ðề, suy tưởng đến lý 12 nhân duyên, thuận chiều và nghịch
chiều rồi nói lên cảm hứng. (xem I. 1, 2, 3). Kinh II, 1 nói
đến tích đức Phật ngồi nhập định gặp mưa to gió lớn,
có con rắn Mucalinda quấn thân mình chung quanh đức Phật để
che chở cho Ngài. Kinh IV, 5 đề cập đến tích đức Phật
bị các vị xuất gia, tại gia, vua chúa đến làm phiền nhiễu
nên Ngài bỏ đi vào núi một mình và sống với một con voi,
con voi này cũng bị đàn voi quấy rầy nên đến sống một
mình với đức Phật. Sự tích khi đức Phật từ bỏ thọ
hành và tuyên bố sau ba tháng sẽ nhập Niết bàn được kinh
VI, 1 diễn tả. Và cũng được diễn tả là bữa cơm cuối
cùng do thợ rèn Cunda cúng dường đức Phật. Sau bữa cơm
ấy, đức Phật nhuốm bệnh và không bao lâu đức Phật nhập
Niết bàn. Những sự tích trên giúp chúng ta có thêm một số
tài liệu về lịch sử đức Phật.
Song
song với các sự tích về đời sống đức Phật, tập Udàna
nói đến khá nhiều về các đệ tử của đức Phật, như
Sàriputta, Moggallàna, Kaccàna, Subbùti, Mahakassapa, Nanda... Mahakassapa
bị bệnh tu định luôn 7 ngày để trị bệnh (Kinh III, 7);
Nanda ban đầu mê các tiên nữ nên tu hành, sau bị các đồng
Phạm hạnh chỉ trích nên tinh tấn tu hành chứng được quả
A la hán (III, 2); Sàriputta ngồi nhập định bị quỷ Dạ xoa
đánh trên đầu (IV. 4, 7); 500 tỷ kheo do Yasoja cầm đầu làm
ồn bị đức Phật đuổi đi, sau tinh tấn tu hành, chứng được
quả A la hán (III, 3). Ðức Phật khen tôn giả Lakunlaka Bhaddiya
trong dung sắc xấu xí nhưng đã chứng quả giải thoát (VII,
5) Tôn giả Dabba Mallaputta nhập định hỏa giới tự thiêu
trước chúng Tăng, không để lại tro tàn gì (VIII, 9, 10).
Tiếp
đến là các đệ tử tại gia, như nữ cư sĩ Visàkhà hai lần
đến yết kiến đức Phật, một lần vì có sự việc cần
phải giải quyết với Vua Pasenadi (II, 9), một lần có đứa
cháu trai chết nên đến báo cáo đức Phật (VIII, 8). Sự tích
500 cung nữ của Vua Udena, trong ấy có Sàmavati bị chết thiêu
cũng được đề cập. Vua Pasenadi nước Kosala được nói đến
nhiều lần và một lần vua hỏi đức Phật có thể biết
được các người tu hành có chứng quả hay không, thời đức
Phật trả lời với những người như Vua Pasenadi sống trong
dục lạc, khó lòng biết được quả chứng của các nhà tu
hành (VI, 2).
Bao
giờ cũng vậy, giữa đức Phật và các ngoại đạo cũng có
những va chạm, những xung khắc, và các tích này được nghe
nhận khá nhiều trong tập Udàna. Trước hết là sự kiện
khi Như Lai chưa xuất hiện thời các ngoại đạo được quần
chúng cung kính cúng dường, nhưng khi Như Lai xuất hiện, thời
sự cung kính cúng dường bị chấm dứt (Vi, 9; II, 9). Cũng
vì vậy, ngoại đạo thù hằn đức Phật và chúng Tăng, giết
kỹ nữ tên Sundarì đem chôn ở Jetavana để vu oan cho chúng
Tăng (IV, 8). Và dân chúng ở Thùma do ngoại đạo xúi dục
đổ cỏ và rác xuống giếng để ngăn đức Phật không được
uống nước (VII, 9).
Thường
thường đức Phật dùng một vài hình ảnh châm biếm để
nói đến các ngoại đạo. Chúng ta nhớ câu chuyện các người
mù rờ voi, diễn tả các ngoại đạo mỗi người chấp chặt
chủ thuyết của mình (VI, 4). Cũng mỉa mai là câu chuyện một
du sĩ ngoại đạo, tìm dầu cho vợ mình sắp sinh đẻ, vào
kho vua uống quá nhiều dầu để đem về cho vợ, nhưng vì
uống quá nhiều dầu nên bị đau đớn, lăn lộn, khốn khổ
(II, 6). Ngoài ra nhiều vấn đề xã hội, rất bình thường
cũng được nói đến. Như đức Phật thấy đứa con nít hành
hạ con rắn (II, 3), các dân chúng Vương xá tranh nhau người
kỹ nữ (VI, 8), dân Sàvatthi quá đắm say về dục (VII, 3, 4)
cũng được đức Phật đề cập và nói lên lời cảm hứng.
Trong
80 kinh của tập Udàna, 80 trường hợp được ghi nhận là
đức Phật thốt lên những lời cảm hứng, sau khi cảm thấy
xúc động trước một số sự kiện, và chính những lời
cảm hứng mới thật là quan trọng trong tập Udàna này. Vì
đây là dịp đức Phật nói lên quan điểm của mình đối
với những sự việc đã xảy ra ở xung quanh; và chính những
quan điểm ấy đã trở thành những giáo lý chính đức Phật
đã giảng dạy và trình bày. Chúng ta đã tìm được những
pháp và tùy pháp đức Phật đã thuyết giảng ngay qua các
lời cảm hứng ấy.
Trước
hết là lý 12 nhân duyên hay lý duyên khởi được trình bày
ba lần, trong ba kinh đầu I. 1, 2, 3, thuận chiều, nghịch chiều,
thuận chiều và nghịch chiều, từ vô minh duyên hành, hành
duyên thức, thức duyên danh sắc cho đến duyên sanh, lão tử,
sầu bi khổ ưu não. Quá trình sanh tử của con người, từ
quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai được
khéo cô động trong thuyết duyên khởi. Bao giờ cũng vậy,
đức Phật nhắm trong dây chuyền sanh tử, hai pháp "dục" và
"ái" rất là quan trọng. Và do vậy nhiều lời cảm hứng đề
cập đến dục và ái. Trong kinh VII, 4, dân chúng Sàvatthi quá
đắm say về dục nên đức Phật đã than :
"Bị
mù bởi các dục,
Bị
lưới dục bao phủ,
Bị
ái dục bao trùm,
Lại
còn bị trói buộc,
Bởi
trói buộc phóng dật,
Như
cá mắc miệng lưới,
Chúng
đi đến già chết,
Như
con bê bú sữa,
Ði
đến với mẹ nó."
Với
ái, có thân yêu là có đau khổ. Khi Visakhà đến than với
đức Phật có đứa cháu trai mới chết, đức Phật đã nói
: "Những ai có 100 quả thân yêu là có 100 đau khổ; 90 người
thân yêu là 90 người đau khổ... cho đến 1 người thân yêu
là 1 người đau khổ." (VIII, 8)
"Sầu
than và đau khổ,
Sai
biệt có ở đời,
Duyên
thân ái chúng có,
Không
thân ái chúng không.
Do
vậy, người an lạc,
Người
không có sầu muộn
Là
những ai ở đời,
Không
có người thân ái,
Do
vậy ai tha thiết,
Ðược
không sầu, không tham,
Chớ
làm thân, làm ái,
Với
một ai ở đời".
Dục
và ái đã có mặt, thời có sanh y, có sự tiếp nối một
đời sống, nên có sanh y là có đau khổ :
"Giữa
làng, tại núi rừng,
Cảm
thọ khổ và lạc,
Chớ
quy về tự mình,
Chớ
quy về người khác.
Các
xúc được cảm thọ,
Là
do duyên sanh y.
Với
vị không sanh y,
Do
đâu, xúc cảm thọ?!" (II, 4)
Khi đức
Phật từ bỏ thọ hành (VI, 1) Ngài muốn cắt đứt mọi hành
động sanh hữu :
"Bậc
ẩn sĩ từ bỏ,
Các
hành động sanh hữu,
Sanh
hữu có cân lượng,
Sanh
hữu không có cân lượng.
Ưa
thích hướng nội tâm,
Thật
định tỉnh an tịnh,
Phá
đổ ngã sanh hữu,
Như
cởi thoát áo giáp."
Trong
những kinh, đức Phật tán thán các đệ tử tu thiền định
vì đó là con đường đưa đến giải thoát. Trong kinh III,
5, Ngài Mục Kiền Liên ngồi thiền định tu thân hành niệm
được đức Phật nói lên cảm hứng :
"Thân
hành niệm an lập,
Sáu
xúc xứ chế ngự,
Tỷ
kheo thường thiền định,
Tự
chứng tri Niết bàn."
Trong
kinh III, 4, Ngài Xá Lợi Phật ngồi thiền định, để niệm
trước mặt, không xa Thế Tôn bao nhiêu và Thế Tôn nói lên
lời cảm hứng :
"Như
ngọn
núi bằng đá,
Không
động khéo an trú,
Cũng
vậy vị tỷ kheo,
Ðoạn
diệt được ngu si,
Như
ngọn núi bằng đá,
Không
có bị giao động."
Ngài
Tu Bồ Ðề (Sudhùti), tu định không tầm (avitakkam samàdhim)
và được Thế Tôn tán thán và nói lời cảm hứng :
"Với
ai tâm quét sạch,
Nội
tâm khéo cắt đứt,
Không
còn chút dư tàn,
Vượt
qua ái nhiễm ấy.
Ðạt
được tưởng vô sắc,
Vượt
khỏi bốn ách nạn,
Không
đi đến thọ sanh". (Kinh VI, 7)
Nhưng
đức Phật ấy nhận thấy đối với chúng sanh, khó thấy
là vô ngã, khó thấy là sự thật. Nên đức Phật thường
dạy cho các đệ tử một cái nhìn "vô ngã":
"Trên
dưới, khắp tất cả
Ðược
giải thoát hoàn toàn,
Không
còn có tùy quán
"Cái
này chính là tôi".
Giải
thoát vậy vượt giòng,
Trước
chưa từng vượt qua,
Không
còn có rơi rớt.
Vào
sanh tử thọ sanh".
Mục
đích cuối cùng của sự tu hành là giải thoát Niết bàn và
trong tập Udàna có nhiều kinh và lời cảm hứng đề cập
đến trạng thái Niết bàn, một trạng thái khó lấy danh từ
để diễn tả.
Bàhiya
Darucìriya tu tập, tưởng mình đã chứng quả A la hán nhờ
đức Phật dạy cho:
"Vậy
này Bàhiya, ngươi cần phải học tập như sau: "Trong cái thấy
sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe.
Trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng. Trong cái
thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri... Như vậy, này Bàhiya,
nhà ngươi cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, như với
ngươi, trong thấy chỉ là cái thấy, trong cái nghe chỉ là
cái nghe, trong cái thọ tưởng sẽ chỉ là cái thọ tưởng,
trong cái thức tri sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiya,
ngươi không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya ngươi không
là chỗ ấy. Do vậy, này Bàhiya, ngươi không là đời này,
không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là
đoạn tận khổ đau" (Kinh I, 10).
Ðoạn
sau đây cũng là đoạn diễn tả Niết bàn trong lời cảm hứng
bằng văn xuôi (VIII, 1).
"Này
các tỷ kheo, có xứ này (Ayatana), tại đấy không có đất,
không có nước, không có lửa, không có gió; không có hư không
vô biên xứ; không có thức vô biên xứ; không có vô sở hữu
xứ; không có phi tưởng phi phi tưởng xứ, không có đời
này; không có đời sau, không có cả hai mặt trăng mặt trời.
Do vậy, này các tỷ kheo, Ta tuyên bố không có đến, không
có đi, không có trú, không có diệt, không có sanh, không có
an trú, không có chuyển vận, không có sở duyên. Ðây là sự
đoạn tận khổ đau."
Ðoạn
tiếp cũng diễn tả trạng thái Niết bàn:
"Này
các tỷ kheo, có sự không sanh, không hiện hữu, không bị
làm, không hữu vi. Này các tỷ kheo, nếu không có cái không
sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở
đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sanh, hiện hữu
bị làm, hữu vi. Vì rằng, này các tỷ kheo, có cái không sanh,
không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có trình
bày sự xuất ly khỏi sự sanh, hiện hữu, bị làm, hữu vi".
(VIII, 3)
Ðây
cũng là lời cảm hứng của Phật về trạng thái Niết bàn
giải thoát:
"Cái
gì có nương tựa, cái ấy có giao động, cái gì không nương
tựa, cái ấy không giao động. Không có giao động thời có
khinh an. Có khinh an thời không có thiên về. Không có thiên
về, thời không có đến và đi. Không có đến và đi, thời
không có diệt và sanh. Không có diệt và sanh, thời không có
đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Ðây
là sự đoạn diệt khổ đau". (VIII, 4)
Như vậy
trong tập Udàna này, ngang qua các câu cảm hứng do đức Phật
thuyết lên một số giáo lý căn bản được đề cập một
số pháp môn tu hành được đề cao và mục đích tối hậu
trong sứ mệnh hoằng pháp của đức Phật cũng được diễn
tả đến.
Hòa
thượng Thích Minh Châu
Thiền
viện Vạn Hạnh
Sài
Gòn, 1982 (PL. 2526)

|