KINH
TÌ-KHEO NA-TIÊN
C.-
Phần Tìm hiểu Nghĩa Ý (tt)
III.-
Vấn-đề: Phân-biệt các điều thiện, ác .
124.-
Năm điều thiện và năm điều ác là những gì?
Đề-mục
quan-trọng thứ ba là vấn-đề phân-biệt các điều thiện
ác, tiếp theo các đề-tài: (I) tại sao đi tu làm sa-môn và
(II) tái-sanh Luân-hồi, vừa xét qua. Nhắc lại: cuối tiểu-mục
số 019, Phần Phỏng-dịch, khi Vua Di-Lan hỏi, ''người một
lòng niệm Chánh-Pháp, ... siêng làm các điều thiện, phải
chăng sẽ khỏi tái-sanh?'', Na-Tiên đáp, ''Phải '', rồi trong
hai tiểu-mục số 020 và 021, có kể ra năm điều thiện và
năm điều ác như sau:
a.-
Năm điều thiện là: (1) thành-tín, (2) hiếu-thuận, (3) tinh-tấn,
(4) nhứt-tâm và (5) trí-huệ;
b.-
Năm điều ác là: (1) tham-dâm, (2) giận-hờn, (3) mê ngủ, (4)
vui-đùa, (5) nghi-ngờ.
Năm
điều thiện vừa kể, khi ta xét qua nội-dung và tìm hiểu
về Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, thì thấy cũng tương-tợ
với Ngũ căn, tức là năm nguồn-gốc làm phát-sanh ra các điều
thiện. Còn năm điều ác thì dường như Na-Tiên nhắc đến
Ngũ cái, tức là năm sự ngăn-che, năm cái nắp úp lên che
đậy (Pali: Nivarana). Cái gì bị che-đậy? Đó là Trí-Huệ
bị ngũ-cái che-mờ. Ngũ cái gồm có: (1) Tham-lam, (2) Giận-hờn,
(3) Thụy-miên, Hôn-trầm (=mê ngủ), (4) Trạo, Hối (vọng-động
và hối-tiếc), và (5) Nghi; năm cái nắp đó úp lên khiến
Trí-huệ bị mờ.
Về
ảnh-hưởng của năm điều thiện có thể phá tan được năm
điều ác, nơi cuối tiểu-mục số 021, trang 18, Na-Tiên đưa
ra một thí-dụ cụ-thể về viên ngọc thanh-thủy-châu của
nhà Vua, có thể lọc sạch được nước bùn làm cho nước
trở nên tinh-khiết để uống.
Thế
nào là thiện, ác?, ta chẳng tìm thấy một định-nghĩa tổng-quát
của hai chữ đối-nghịch nầy trong sách ''Tì-kheo Na-Tiên''.
Thông-thường, điều thiện, còn gọi là điều lành, là điều
có lợi cho kẻ khác và cũng lợi cho đường tu của mình.
Những gì gây tổn-hại cho người, dầu có lợi về vật-chất
cho mình, đều được xem là điều ác, còn được gọi là
điều bất-thiện, chắc-chắn có hại cho đường tu của mình.
Trở
lại với tiểu-mục số 020, Phần Phỏng-dịch, trả lời câu
hỏi: Các điều thiện là những gì?, Na-Tiên có kể tới cả
sáu điều: (1) thành-tín, (2) hiếu-thuận, (3) tinh-tấn, (4)
niệm thiện, (5) nhứt-tâm, (6) trí-huệ. Nhưng điều (4) về
''niệm thiện'' có lẽ hơi dư-thừa, vậy nên xin tạm giữ
lại năm điều thôi. Tiếp theo, Na-Tiên định-nghĩa và cho
thí-dụ về mỗi điều thiện vừa kể, như sau:
1.-
Thành-tín: là tin có Phật, có Kinh-Pháp, có Tăng-Ni, có A-la-hán;
tin có đời nầy, đời sau; tin làm lành gặp lành, làm ác
gặp ác. Như thế, đó là niềm tin, chẳng còn vướng chút
nghi-ngờ nào, vào ngôi Tam-Bảo, vào sự tái-sanh Luân-hồi,
và vào Luật Nhân-Quả.
2.-
Hiếu-thuận (tiểu-mục số 023): là tuân theo Ba mươi bảy
Phẩm Kinh (Trợ Đạo), vì 37 phẩm Kinh nầy đều đặt căn-bản
nơi sự hiếu-thuận. Khoan bàn về 37 Phẩm Trợ Đạo, ta thấy
ngay có sự ''chẳng chỉnh'' trong lời Na-Tiên, hay đúng hơn,
trong cách phiên-dịch lời nói của Na-Tiên ra chữ Hán. ''Chẳng
chỉnh'' ở điểm nào? Chữ Hiếu-thuận vốn là một danh-từ
trong Nho-giáo, chỉ các bổn-phận của con đối với cha-mẹ.
Mặc dầu các bổn-phận nầy đều đặt căn-bản trên các
điều thiện, nhưng chẳng vì thế, nếu dùng ở đây, danh-từ
Hiếu-thuận sẽ gây hiểu-lầm là các điều thiện chỉ qui
gọn vào các bổn -phận làm con trong gia-đình. Vả lại, khi
xét đến nội-dung, ta thấy 37 Phẩm Trợ-Đạo bàn về các
vấn-đề khác, đâu phải chỉ có hiếu và thuận.
So
với bản dịch của N.K.G. Mendis, trong quyển The Questions of
King Milinda, ấn bản BPS, Tích-Lan, năm 1993, điều thiện thứ
hai nầy được ghi là Morality, tương-đương với danh-từ Hán-Việt
là Đạo-đức, (tức là Giới-đức, Giới-luật, Đức-hạnh)
thì có phần hợp-lý hơn.
3.-
Tinh-tấn: Nơi tiểu-mục số 022, Na-Tiên chẳng định-nghĩa
thế nào là tinh-tấn mà liền đưa ra hai thí-dụ: (1) các vị
tu-hành thấy người đi trước chứng-đắc các đạo-quả
thì noi gương để nỗ-lực tu-hành theo; (2) nước sông tràn
ngập hai bên bờ, dân-chúng chẳng dám lội qua; nhưng khi thấy
một người khác từ xa đến, biết cách vượt qua, nên dân
ở đó bắt chước lội qua theo. Sự bắt chước để noi gương
các người đi trước đã thành-công, còn cần có một sự
cố-gắng gia-công hơn lên; nỗ-lực đó mới chính là nghĩa
của sự tinh-tấn.
Mãi
đến tiểu-mục số 032, Na-Tiên mới đưa ra một định-nghĩa
rất rõ-ràng và đầy-đủ về tinh-tấn: giữ điều lành,
giúp cho điều lành thêm lớn, đó là tinh-tấn. Na-Tiên lấy
thí-dụ đưa thêm quân tiếp-viện giúp binh-đội đang yếu-thế
ở mặt trận, để thắng được; thí-dụ nầy rất phù-hợp
với Vua Di-Lan, vì Vua cũng là vị tướng tài-giỏi.
4.-
Nhứt-tâm (tiểu-mục số 034): cũng chẳng thấy Na-Tiên đưa
ra định-nghĩa của chữ nhứt-tâm, mà chỉ nói đến tầm
quan-trọng của sự-việc nầy làm nơi nương-tựa cho việc
phát-sanh các điều thiện, thí-dụ như (1) tòa lâu-đài cần
có nền-móng để dựng lên; như (2) ba quân dàn ra để bảo-vệ
đức Vua khi ra trận. Và Na-Tiên kết-luận: Trong các đìều
thiện, nhứt-tâm làm căn-bản; các người học Đạo trước
nhứt nên qui về nhứt-tâm...
Nhơn
dịp nầy, xin thêm vào đây định-nghĩa của sự nhứt-tâm:
sự tập-trung tâm-ý, gom vào một điểm duy-nhứt. Nói cách
khác, có sự nhứt-tâm, khi tâm an-định, chú-ý thật cao-độ
vào một việc duy-nhứt, chẳng lảng-xao vì các việc khác;
chẳng nghe, chẳng thấy gì ở bên ngoài. Thí-dụ: đang đọc
Kinh, chú-ý vào lời Kinh, hiểu nghĩa Kinh, nghĩ đến việc
áp-dụng lời Kinh vào sự tu-hành. Còn nếu ''miệng đang đọc-tụng
mà cái bụng lại đi chợ'' thì chẳng hề có sự nhứt-tâm.
5.-
Trí-huệ (tiểu-mục số 035): Na-Tiên nhắc lại lời mình đã
nói khi trước về Trí-huệ ở tiểu-mục số 019, trí-huệ
cắt-đứt được sự tham-ái, cũng như ta gặt lúa, cắt các
cọng lúa vậy. Đây là khả-năng của Trí-huệ đoạn-trừ
được tất cả các phiền não. Tận-trừ các phiền-não tức
là dẹp hết các điều bất-thiện, khiến cho các điều thiện
có cơ-hội để nẩy sanh và phát-triển, đó là công-năng
lớn của Trí-huệ trong công-cuộc tu-hành.
Sau
khi kể năm điều thiện, từ Thành-tín cho đến Trí-huệ ở
tiểu-mục số 020, trang 18, thì nơi tiểu-mục số 040, Na-Tiên
lại kể năm điều thiện một lần nữa, gồm có: (1)tin-tưởng,
(2) giới-luật, (3) tinh-tấn, (4) trí-huệ, (5) nhứt-tâm niệm
Đạo.
So-sánh
hai tiểu-mục kể trên, ta thấy trong hai lần, lời nói của
Na-Tiên có sự lập-lại, nhưng chẳng giống hẳn nhau. Nay,
nếu sắp-xếp lại có thứ-tự, để cho dễ hiểu, ta có thể
kể năm điều thiện đó là: (1) niềm tin; (2) giới-luật;
(3) tinh-tấn; (4) nhứt-tâm; (5)Trí-huệ, mà vẫn tôn-trọng
được ý-tưởng của tác-giả quyển ''Tì-kheo Na-Tiên'', trong
hai lần phát-biểu ở hai tiểu-mục trước và sau.
Và
có lẽ nhờ đó mà lời văn được ''chỉnh'' hơn, khi chữ
Giới-luật thay thế cho chữ Hiếu-thuận, như đã được ghi
trong Hán-tạng.
Năm
điều thiện vừa nói, được Tì-kheo Na-Tiên ví như năm vị
thuốc dùng để chữa bịnh. Bịnh gì? Na-Tiên nói: Căn bịnh
cũng như các điều ác. Ta thấy rõ, với thí-dụ nầy nơi
tiểu-mục số 040, công-năng và hiệu-quả của năm điều
thiện là diệt trừ các điều ác, để chấm dứt vĩnh-viễn
các nỗi Khổ trong thân-phận của chúng-sanh. Nhắc lại, nơi
tiểu-mục số 021, Na-Tiên ví năm điều thiện với viên thanh-thủy-châu
lọc nước và năm điều ác như nước bùn.
*
125.-
Kinh Thập-Thiện kể mười điều thiện cụ-thể hơn.
Năm
điều thiện ghi trong sách ''Tì-kheo Na-Tiên'', tuy đầy-đủ
nhưng còn quá trừu-tượng, chưa cho thấy rõ hành-động cụ-thể
nào gây ra điều thiện, thái-độ nào tạo nên việc ác. Có
một bản Kinh trong Hán-Tạng, Kinh Thập Thiện-nghiệp-đạo,
kể rõ mười hành-vi cụ-thể trong đời sống hằng ngày tạo
nên thiện-nghiệp, giúp người tu-hành được tái-sanh lên
cõi Trời. (Kinh Thập-Thiện là bản Kinh số 600 trong Đại-Tạng,
do Ngài Học-Hỉ [ Siksananda, phiên-âm: Thực-Soa Nan-Đà] dịch
từ chữ Phạn ra Hán-văn). Mười điều thiện đó là: (1)
chẳng sát-sanh; (2) chẳng trộm-cắp; (3) chẳng tà-hạnh; (4)
chẳng nói dối; (5) chẳng nói lưỡi hai chiều; (6) chẳng nói
lời thô-ác; (7) chẳng nói lời vô-nghiã; (8) chẳng tham-lam;
(9) chẳng giận-dữ; và (10) chẳng có tà-kiến.
Thiện
Nhựt xin ghi thêm vào đây mười điều thiện nầy để bổ-túc
cho lời chỉ-dạy của Tì-kheo Na-Tiên về các điều thiện
và ác.
*
126.-
Phải làm điều thiện từ trước.
Giờ
đây, xin ''nhảy'' đến tiểu-mục số 062, để nghe Tì-kheo
Na-Tiên trả lời câu hỏi sau đây của vua Di-Lan:
- Người
muốn làm điều thiện, nên làm trước ngay, hay là để sau
nầy mới làm?
- Phải
làm ngay từ trước, để đến sau mới làm thì chẳng ích-lợi
chi.
Rồi
Na-Tiên đưa ra ba thí-dụ chứng minh sự cần-thiết phải làm
ngay trước các điều thiện, chẳng chần-chờ: (1) đang khát
mới sai người đào giếng, làm sao có nước ngay để uống
liền? (2) đang đói mới đi cầy ruộng, làm sao có cơm để
ăn liền? (3) bị kẻ thù xâm-lăng, rồi mới lo tuyển binh,
luyện tướng, sao kịp chiến-đấu nữa? Và Na-Tiên kết-luận:
Người ngu bỏ điều thiện, làm điều ác, rồi sau nầy ngồi
đó khóc than, có ích vào đâu. Kẻ nào dứt bỏ điều trung-chánh,
theo điều bất-chánh, đến lúc sắp chết, sẽ hối-hận về
sau.
*
127.-
Trót gây điều ác, nay phải làm gì?
Lại
''nhảy'' thêm ba bước nữa đến tiểu-mục số 084, tiểu-mục
số 089, và tiểu-mục số 090, để xét đến vấn-đề: trót
gây tội-ác, giờ phải làm gì?
Vua
Di-Lan thắc-mắc, nơi tiểu-mục số 084:
- Sa-môn
các khanh thường nói, con người tại thế-gian làm việc ác
trong trăm năm, đến khi gần chết mà biết niệm Phật, thì
được tái-sanh lên cõi Trời. Ta chẳng thể tin lời nầy.
Lại nữa, sa-môn các khanh còn nói, giết một mạng sanh-vật,
đến lúc chết sẽ sa-đọa vào địa-ngục. Ta cũng chẳng
tin được lời nầy.
Để
thuyết-phục Vua, Na-Tiên đưa ra một thí-dụ rất ý-nhị:
cầm hòn đá nhỏ để trên mặt nước, đá chìm; còn lấy
chiếc thuyền chở đầy khẳm các hòn đá lớn, thuyền lại
nổi. Tại sao? Vì thuyền có sức chở nặng được. Thuyền
ví như Chánh-Pháp; niệm Phật theo đúng Chánh-Pháp, thì có
thể cứu-vãn được người có tội khỏi bị sa địa-ngục.
Vua
Di-Lan lại hỏi, nơi tiểu-mục số 089:
- Người
làm điều thiện được phước lớn, rồi làm điều ác thì
bị tai-ương lớn chăng?
Câu
trả lời của Na-Tiên, mới nghe qua, dễ làm ta ngạc-nhiên:
- Người
làm điều thiện được phước lớn; rồi làm điều ác thì
bị tai-ương nhỏ.
Ta
có thể thắc-mắc, tự hỏi: hễ làm điều thiện rồi, thì
rồi dầu có làm điều ác gì đi nữa cũng chỉ bị tai-ương
nhỏ mà thôi chăng? Chẳng phải như vậy đâu! Lời giải-đáp
của Na-Tiên có hai phần: (1) làm điều lành nhỏ có thể được
phước lớn, như trong Kinh có nói đến trường-hợp của kẻ
cụt tay chơn, dâng cúng một bó hoa lên Đức Phật, được
phước lớn trong 91 kiếp chẳng bị đọa địa-ngục; (2) người
siêng làm lành, nếu trót làm điều ác, sở dĩ bị tai-ương
nhỏ, là do biết ăn-năn hối-cải, tội tiêu dần đi. Thiện-Nhựt
thiển nghĩ, về điểm (1), người cụt tay dâng bó hoa cúng-dường
Đức Phật, sở dĩ được hưởng phước-báu lớn, là vì
Đức Phật chính là một phước-điền to-lớn và quí-báu
nhứt trong các loại ruộng phước, hễ ai gieo nhân bố-thí
nơi Ngài, thì sẽ được quả-báo vô-cùng sâu-rộng. Về điểm
(2), sở dĩ tai-ương nhỏ đến với người biết hằng ngày
ăn-năn, hối-cải việc bất-thiện trót làm, là vì tâm của
người ấy càng ngày càng trở nên thanh-tịnh, khiến cho nghiệp-báo
xấu-ác nặng-nề chẳng có đủ cơ-duyên để trổ quả.
Nơi
tiểu-mục số 090, Vua lại hỏi:
- Người
trí làm điều ác, kẻ ngu cũng làm điều ác, thì ai chịu
tội nặng hơn.
- Kẻ
ngu làm ác bị tai-ương lớn, còn người trí làm ác chịu
tai-ương nhỏ.
Câu
trả lời nầy làm Vua ngạc-nhiên chẳng ít, vì thông-thường
trách-nhiệm nặng sẽ đè lên người có trí biết điều quấy
mà còn cố làm; và người ngu chẳng biết tội, lẽ ra phải
chịu hình-phạt nhẹ hơn. Nhưng lời giải-thích tiếp theo
của Na-Tiên rất chi là hữu-lý. Na-Tiên lấy thí-dụ, có thanh
sắt nung đỏ, kẻ bị phỏng tay nhiều chính là người chẳng
biết đó là thanh sắt bị đốt; còn người trí biết trước,
dại gì nắm lâu để tay bị phỏng nặng. Nhưng cái lý sâu-xa
của sự-kiện: ''cùng làm ác, người trí bị tai-ương nhẹ
hơn người ngu'' là ở điểm biết hối lỗi. Người trí biết
lỗi mình, nên ngày ngày sám-hối, khiến tâm sớm thanh-tịnh
lại. Còn người ngu, vì chẳng biết hậu-quả nặng-nề của
tội-ác, lại chẳng biết sám-hối, thì còn lắm tai-ương
sẽ đến nữa với mình, đó là chưa kể hiện đang bị khồ-sở
vì hành-vi ác đã trót làm.
-----*-----
IV.-
Vấn-đề: Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo.
128.-
Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo gồm có những gì?
Nhắc
lại: nơi tiểu-mục số 020, trả lời câu Vua hỏi, ''các điều
thiện là những gì?'', Na-Tiên có nói đến năm điều thiện,
trong đó có điều thiện thứ hai là sự Hiếu-thuận. Đến
tiểu-mục số 023, Na-Tiên định nghĩa chữ Hiếu-thuận là
''tất cả các điều thiện. Ba mươi bảy Phẩm Kinh đều đặt
căn-bản nơi sự hiếu-thuận''. Lời giải-thích ''hơi lòng-vòng''
nầy của Na-Tiên, khiến người đọc thêm bỡ-ngỡ, vì hai
lẽ sau đây: (1) như đã xét qua nơi Phần Tìm hiểu về Nghĩa
Ý (tiểu-mục số 124-2), chữ Hiếu-thuận chẳng thích-hợp
bằng chữ Giới-luật, để chỉ điều thiện thứ hai; (2)
Na-Tiên nói đến 37 Phẩm Kinh mà chẳng chỉ rõ là các Phẩm
Kinh nào.
Nếu
được phép ''nói lại'' chỗ Na-Tiên đã kể ra năm điều
thiện, Thiện-Nhựt sẽ xin ''nói lại'' như vầy: (1) thành-tín,
(2) giới-đức, (3) tinh-tấn, (4) nhứt-tâm, (5) trí-huệ; và
điều (2): Giới-đức làm căn-bản cho 37 Phẩm Trợ-Đạo.
Như thế có lẽ rõ-ràng hơn, khi chỉ ra đích-xác 37 Phẩm
Kinh là các Phẩm Kinh nào.
Danh-từ
chánh-thức của Bắc-Tông là Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo,
còn gọi là 37 Bồ-đề-phần; tiếng Pali là Bojjhanga.
Do
đâu mà có con số 37? Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo gồm có:
1.-
Tứ niệm-xứ: bốn lãnh-vực giữ chánh-niệm 4 pháp;
2.-
Tứ Chánh-cần: bốn nỗ-lực làm điều lành thêm lớn 4 pháp;
3.-
Tứ Như-ý-túc: bốn tâm-nguyện được đầy-đủ 4 pháp;
4.-
Ngũ căn: năm nguồn-gốc phát-sanh các điều thiện 5 pháp;
5.-
Ngũ lực: năm sức mạnh làm phát-sanh điều thiện 5 pháp;
6.-
Thất giác-chi: bảy yếu-tố của sự giác-ngộ 7 pháp;
7.-
Bát Chánh-đạo: con đường chơn-chánh tám ngành 8 pháp;
Cộng
lại: 37 pháp.
So-sánh
với ''37 Phẩm Kinh'' nói ở tiểu-mục số 023 vừa nêu trên,
ta thấy rõ bảy nhóm của Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo liên-quan
rất chặt-chẽ với bảy nhóm của Ba mươi bảy Phẩm Kinh,
được nói trong sách ''Tì-kheo Na-Tiên'', tuy tên gọi mỗi nhóm
có khác, nhưng nội-dung mỗi nhóm, ở hai bên, vẫn từa-tựa
nhau.
Giờ
đây, xin đi sâu vào chi-tiết của mỗi nhóm, trong Ba mươi
bảy Phẩm Kinh mà đúng lý ra ta phải gọi là Ba mươi bảy
Phẩm Trợ Đạo.
*
129.-
Tứ niệm-xứ: bốn lãnh-vực để giữ chánh-niệm.
Nơi
tiểu-mục số 024, Phần Phỏng-dịch, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:
- Bốn
sự dừng-ý là những gì?
Na-Tiên
gọi Tứ niệm-xứ là Bốn sự dừng-ý, và giải-thích:
- Đức
Phật dạy: ''Một là quán thân, thì thân dừng lại; hai là
quán sự đau-đớn thì sự đau-đớn ngừng lại; ba là quán
tâm-ý, thì ý dừng lại; bốn là quán pháp, thì pháp dừng
lại. Đó là bốn phép quán dừng-ý.''
Lời
giải-thích nầy của Na-Tiên đã dựa trên bản Kinh Niệm-xứ,
một bản Kinh rất quan-trọng dạy cách giữ gìn chánh-niệm,
khi tu-tập thiền-quán (Kinh Satipatthana, Trung-Bộ Kinh, bản kinh
số 10; Pali: Satipatthana, Majjhima Nikaya, 10). Bốn lãnh-vực quán-niệm
mà ta cần giữ chánh-niệm là: (1) quán thân; (2) quán thọ;
(3) quán tâm và (4) quán pháp. Như thế, nơi lãnh-vực thứ
hai: quán thọ, Na-Tiên đã dùng chữ ''sự đau-đớn'' để
chỉ một loại cảm-thọ, được nói trong Kinh Niệm-xứ.
Lại
nữa, Na-Tiên bảo, (hễ) ''quán thân thì thân dừng lại...'',
chữ ''dừng'' nầy có nghĩa là các tư-tưởng, các ý-nghĩ
trong tâm, lúc đang quán thân, đều dừng, đều trụ lại,
chẳng còn chạy bông-lông, bị xao-lãng về các vấn-đề khác.
Đấy là công-năng của việc quán, khiến cho chánh-niệm khởi
lên và an-trú ngay trong lãnh-vực đang quán-chiếu; nói cách
khác, khi quán thân thì giữ được chánh-niệm an-trụ lại
trên ý-niệm thân-thể và vắng bóng các ý-tưởng khác. Đó
là phương-pháp đào-luyện sự tập-trung tư-tưởng trong các
phép quán-niệm, khiến cho tâm trở nên thanh-tịnh để sớm
đi vào thiền-định.
*
130.-
Bốn sự đoạn-ý chẳng phải là Tứ Chánh-cần .
Nhóm
thứ hai Bốn sự đoạn-ý trong Ba mươi bảy Phẩm Kinh được
Na-Tiên nói đến nơi tiểu-mục số 025, chắc chắn chẳng
phải là nhóm thứ hai: Tứ Chánh-cần, tức là bốn nỗ-lực
làm cho các điều thiện tăng-trưởng thêm lên, được nói
trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo.
Thế
nào là đoạn-ý? Na-Tiên giải-thích:
-...
khi đã phân-biệt được bốn sự dừng-ý rồi, thì chẳng
nhớ nghĩ đến nữa, đó là bốn sự đoạn-ý...
Theo
sự giải-thích như vậy, thì đoạn-ý có nghĩa là chẳng nhớ
nghĩ đến nữa. Phải chăng Na-Tiên muốn nói, hễ khi tâm-ý
đã dừng lại được rồi, thì đừng nhớ nghĩ gì đến các
việc khác nữa. Nếu đúng như thế, thì bốn sự đoạn-ý
được Na-Tiên nói đến, thật ra, vẫn còn nằm trong lãnh-vực
Tứ niệm-xứ của Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo; vì khi ta
tu-tập quán-niệm mà giữ được chánh-niệm an-trú, thì mọi
tư-tưởng khác đều vắng bóng, chỉ còn lưu lại có đề-tài
thiền-quán duy-nhứt nơi tâm-ý đang tập-trung.
Và
ta có thể kết-luận: nhóm thứ nhứt dừng-ý và nhóm thứ
hai đoạn-ý, do Na-Tiên nói đến trong Ba mươi bảy Phẩm Kinh,
cũng chỉ là một nhóm mà thôi, vì dừng ý rồi đoạn ý chỉ
là một hành-vi duy-nhứt của tâm: bỏ các ý khác để chỉ
chọn một ý mà quán-niệm.
Thế
nào là Tứ Chánh-cần trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo? Đó
là bốn nỗ-lực để khiến các điều ác bị tiêu-diệt và
đồng thời làm gia-tăng thêm lên các điều thiện. Tứ Chánh-cần
là tên khác của Tinh-tấn.
Bốn
nỗ-lực nào?
1.-
Điều ác đã sanh, phải cố dứt-trừ;
2.-
Điều ác chưa sanh, phải cố ngăn-ngừa đừng cho sanh;
3.-
Điều thiện chưa sanh, phải cố làm nẩy-sanh ra;
4.-
Điều thiện đã sanh, phải cố làm tăng-trưởng thêm.
Có
được như thế thì mới mong có ngày dứt hết các ác-nghiệp
và chẳng còn bị nghiệp dẫn-dắt đi tái-sanh trong cõi Luân-hồi
lận-đận.
Nhân
đây, xin nhắc đến tiểu-mục số 036, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:
- Phải
chăng các loại Kinh trước sau có dạy nhiều điều khác nhau,
nhưng cũng đều chung một hướng là nhằm diệt tất cả các
điều ác?
Câu
trả lời của Na-Tiên được kèm một thí-dụ cụ-thể:
- Dĩ
nhiên, Kinh Phật dạy nhiều loại thiện, nhưng cũng chỉ hướng
về nhằm diệt mọi điều ác. Ví như Vương phát bốn đạo
binh ra đi chiến-đấu, ý lúc khởi-hành là để công-kích
địch-quân, diệt tất cả mọi điều ác vậy.
Thí-dụ
về đánh giặc nầy được nhà Vua tán-thưởng nhiệt-liệt:
- Lành
thay! Na-Tiên nói Kinh thật vô cùng thích-thú!
*
131.-
Phải chăng Bốn niệm thần-túc là Tứ Như-ý-túc?
Nơi
tiểu-mục số 026, Vua Di-Lan hỏi:
- Bốn
niệm thần-túc là những gì?
Câu
trả lời của Na-Tiên lại liên-quan đến bốn sự thần-thông,
mà các bực đắc đạo-quả A-la-hán đã chứng được:
- Thứ
nhứt là mắt có thể nhìn thấy thấu-triệt. Hai là tai có
thể nghe rõ được thấu-triệt. Ba là cò khả-năng biết rõ
tâm-trạng của kẻ khác. Bốn là thân-thể có khả-năng bay
cao.
Bốn
khả-năng siêu-phàm đó thường được gọi trong Kinh-sách
là bốn thần-thông: (1) thiên-nhãn-thông, (2) thiên-nhĩ thông,
(3) tha-tâm-thông, và (4) thần-túc-thông (bay cao). Muốn đắc
được bốn thần-thông nầy, theo lời Na-Tiên có nói trước
đó ở tiểu-mục số 025, là khi đạt được bốn sự đoạn-ý
thì liền đạt được bốn niệm thần-túc.
Thế
còn Tứ Như-ý-túc trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo là những
gì? Đó là bốn điều tâm-nguyện khi tu-hành mong đạt được
sự thành-công đầy-đủ trọn-vẹn:
1.-
Dục như-ý-túc: mong muốn được thành-tựu hoàn-toàn chí-nguyện
tu-hành của mình;
2.-
Tinh-tấn như-ý-túc: nỗ-lực thật dõng-mãnh để đạt trọn-vẹn
chí-nguyện tu-hành của mình, dầu phải hy-sanh thân-mạng;
3.-
Nhứt-tâm như-ý-túc: một lòng chuyên-chú đến chí-nguyện
tu-hành, chẳng hề để cho tâm tán-loạn, bị cảnh bên ngoài
quyến-rủ.
4.-
Quán như-ý-túc: dùng trí-huệ quán-sát chí-nguyện tu-hành
của mình, thấu rõ sự nguy-hiểm của đường ác và sự lợi-lạc
của đường lành.
Như
thế, có sự khác-biệt rõ rệt giữa Bốn niệm thần-túc
trong sách Tì-kheo Na-Tiên với Tứ Như-ý-túc trong Ba mươi bảy
Phẩm Trợ-Đạo.
*
132.-
Năm căn và năm lực là những gì?
Nơi
hai tiểu-mục số 027 và 028, Vua Di-Lan hỏi:
- Thế
nào là năm căn và năm lực?
Na-Tiên
đã dùng năm giác-quan (mắt, tai, mữi, lưỡi, và thân) làm
năm căn, và năm sự kềm-chế các giác-quan làm năm lực, để
trả lời. Na-Tiên nói:
- Thứ
nhứt, mắt thấy sắc đẹp, sắc xấu, ý chẳng dính-mắc.Thứ
hai, tai nghe tiếng tốt, lời mắng, ý chẳng dính mắc, v.v...
đó là năm căn. Một là kềm-chế mắt; hai là kềm-chế tai,
... để cho ý khỏi bị sa-đoạ, đó là năm lực.
Nhưng
trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, ngũ căn, ngũ lực, lại
được kể ra như sau:
1.-
Tín-căn, niềm tin nơi Chánh-Pháp, và Tín-lực, sức mạnh của
niềm tin đó, có được nhờ sự tu-tập;
2.-
Tấn-căn, nỗ-lực diệt-trừ điều ác để gia-tăng điều
thiện, và Tấn-lực, sức mạnh của sự cố-gắng bền-bỉ
đó;
3.-
Niệm-căn, tâm nhớ nghĩ luôn luôn đến lục niệm: (1) niệm
Phật, (2) niệm Pháp, (3) niệm Tăng, (4) niệm Giới, (5) niệm
Thí, (6) niệm Thiên. Còn Niệm-lực là sức mạnh của niệm-căn
được tu-tập thêm vững-bền.
4.-
Định-căn, tâm luôn an-trú trong chánh-niệm. Định-lực là
sức mạnh đưa tâm an-tịnh vào các cõi thiền-định.
5.-
Huệ-căn, trí sáng phát-giác các phiền-não, vọng-tưởng.
Huệ-lực là sức mạnh của trí-huệ quét sạch vọng-tưởng,
cắt đứt phiền-não.
So-sánh
năm căn, năm lực ở hai nơi, sách ''Tì-kheo Na-Tiên'' nầy với
Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, ta thấy có sự khác-biệt; nhưng
nếu xét theo ''nghĩa gốc'' của chữ căn = nguồn-gốc làm
phát-sanh, thì cả hai nơi đều hợp-lý cả: (1) năm giác-quan,
được gọi là năm căn, vì từ các nơi đó phát-sanh ra sự
hay-biết về cảnh bên ngoài; (2) từ tín-căn đến huệ-căn
được gọi là năm căn, vì từ các nơi đó phát-sanh ra các
điều lành. Hóa ra, chẳng có sự chống-đối giữa hai loại
năm căn.
Mặt
khác, lời đáp của Na-Tiên nói, năm lực là năm sự kềm-chế
các giác-quan, chẳng để cho ý bị dính-mắc và sa-đoạ, khiến
ta nhớ lại sự phòng-vệ các căn, sự hộ-trì các căn đã
được chúng ta bàn qua về Lý Mười hai Nhân-Duyên, tại hai
Nhân-duyên: Xúc và Thọ. Khi các căn (mắt, tai, mũi...) được
phòng-vệ, hộ-trì, thì sự tiếp-xúc (Xúc) với cảnh-vật
bên ngoài chẳng lôi-kéo cảm-thọ (Thọ) chạy theo con đường
ác; điều nầy cho ta thấy rõ sự kềm-chế đó là năm lực
ở các giác-quan, tạo nên sức mạnh diệt điều ác và tăng
thêm điều lành, cũng giống nhau với tấn-căn trong Ba mươi
bảy Phẩm Trợ-Đạo. (Xin xem lại tiểu-mục số 120, Phần
Tìm hiểu Nghĩa Ý.)
Hơn
nữa, xem lại tiểu-mục số 040, ta thấy có một sự trùng-hợp
giữa năm điều thiện của Na-Tiên kể ra, rất giống nhau
với năm căn và năm lực trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo.
*
133.-
Bảy Giác-ý hay là Bảy Giác-chi?
Nơi
tiểu-mục số 029, Na-Tiên kể bảy yếu-tố của sự giác-ngộ,
gọi đó là Bảy Giác-ý, và trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo
thì được gọi là Thất Giác-chi:
Bảy
Giác-ý Thất Giác-chi
1.-
Ý giác-ý
2.-
Phân-biệt giác-ý
3.-
Tinh-tấn giác-ý
4.-
Khả giác-ý
5.-
Ý giác-ý
6.-
Định-giác-ý
7.-
Hộ giác-ý 1.- Trạch-pháp
2.-
Tinh-tấn
3.-
Hỉ
4.-
Khinh-an
5.-
Niệm
6.-
Định
7.-
Xả.
Nhận-xét
đầu-tiên về bản đối-chiếu nầy là thứ-tự trước sau
của mỗi yếu-tố chẳng giống nhau ở hai cột; nhưng điều
nầy chẳng quan-trọng, miễn sao có đủ bảy thành-phần là
được. Nhận-xét thứ hai là tên gọi của vài yếu-tố khác
nhau, chẳng biết có sự sai-biệt về nội-dung hay không. Ta
sẽ xét qua ý-nghĩa của mỗi yếu-tố, dựa theo tên gọi trong
Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo.
1.-
Yếu-tố thứ nhứt là Trạch-pháp, sự lựa chọn một pháp-môn
thích-hợp với căn-cơ của mình để tu-tập theo. Yếu-tố
trạch-pháp nầy lại bao gồm được cả hai yếu-tố: (1) ý
giác-ý và (2) phân-biệt giác-ý trong lời giải-đáp của Na-Tiên:
(1) chữ ''ý giác-ý'', nhứt là chữ ''ý'' còn chưa diễn-tả
đầy đủ nghiã-lý bằng chữ ''pháp'' trong chữ pháp-môn;
(2) chữ phân-biệt trong Phân-biệt giác-ý, đâu có đủ ý-nghĩa
bằng chữ Trạch: vừa lựa và vừa chọn lấy một pháp-môn
để tu-tập.
2.-
Yếu-tố thứ hai là Tinh-tấn lại được Na-Tiên xếp vào
yếu-tố thứ ba. Thứ-tự nầy chẳng quan-trọng, khi cả hai
cột đều có nói đến sự tinh-tấn, nỗ-lực tu-tập rất
cần-thiết, sau khi đã chọn được pháp-môn thích-hợp với
mình, để tu-tập hầu sớm đắc giác-ngộ.
3.-
Yếu-tố thứ ba là Hỉ, sự vui mừng vì thấy pháp-môn mình
chọn đưa đến các kết-quả khả-quan. Hỉ giác-chi được
Na-Tiên gọi là Khả giác-ý, xếp vào yếu-tố thứ tư. Theo
nghĩa trong chữ Hán, Hỉ là mừng; Khả là ''có thể, vừa
ý, đáng thích'', thì kể ra cũng gần nghĩa với nhau.
4.-
Yếu-tố thứ tư là Khinh-an, sự nhẹ-nhàng, sảng-khoái của
thân-tâm, trước sự tu-tập hướng về giác-ngộ có kết-quả
khả-quan. Khinh-an tương-đương với yếu-tố thứ năm ỷ giác-ý.
Chữ ỷ, nghĩa gốc trong chữ Hán-Việt là dựa vào; ở đây,
có nghĩa là tâm dựa vào nơi sảng-khoái về thể-xác để
được vui-vẻ mà sớm đắc được định-lực. Nếu chẳng
quá chú-trọng đến từ-ngữ, ta thấy nếu dùng tiếng khinh-an
để thay-thế cho tiếng ỷ, thì vừa nhẹ-nhàng lại vừa thanh-lịch
hơn.
5.-
Yếu-tố thứ năm là Niệm, tức là chánh-niệm luôn luôn nhớ
nghĩ đến pháp-môn đang tu-tập. Yếu-tố quan-trọng nầy giúp
hành-giả luôn chú-tâm đến việc tu-tập trong mọi thời,
lại chẳng thấy nói đến trong Bảy Giác-ý, khiến cho lời
Na-Tiên giải-thích còn thiếu-sót.
6.-
Yếu-tố thứ sáu là Định được nói đến ở cả hai bản
Bảy Giác-ý và Thất Giác-chi. Đó là định-lực đưa tâm-trí
hành-giả vào các cõi thiền-định, để phát-triển được
Huệ sớm đưa đến bờ giác-ngộ.
7.
Yếu-tố sau cùng là Xả giác-chi, tức là tâm bình-đẳng,
biết buông-xả, chẳng dính-mắc, gặp việc thuận chẳng mến-thích,
gặp chuyện nghịch chẳng oán-than. Na-Tiên dùng chữ ''Hộ''
vào trong Hộ giác-ý, yếu-tố sau cùng của Bảy giác-ý, theo
thiển-kiến, chẳng diễn-tả được hết ý-nghĩa của yếu-tố
Xả. Tại sao? Vì ý-niệm Xả chính là đỉnh cao của sự giác-ngộ:
người đã giác-ngộ rồi, tâm an-nhiên, tự-tại, giải-thoát
khỏi mọi ràng-buộc, điều ác chẳng vướng-mắc mà ngay
cả điều thiện cũng chẳng ôm-ấp, thì còn có điều chi
trong
cái tâm-trạng rỗng-rang, vắng-vẻ đó để mà còn bảo-vệ
hộ-trì nữa?
*
134.-
Bát Chánh-Đạo là những gì?
Nơi
tiểu-mục số 030, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:
- Thế
nào là tám loại đạo-hạnh?
Ta
hãy sắp xếp câu trả lời của Na-Tiên, song song với các
yếu-tố của con đường tám ngành Bát Chánh-Đạo, được
kể rõ-ràng và đầy-đủ trong Kinh Chuyển Pháp-Luân, là bản
Kinh đầu-tiên của Đức Phật, sau khi Ngài thành Đạo, giảng
tại vườn Lộc-Uyển cho năm anh em ông Kiều-Trần-Như nghe.
Tám
loại đạo-hạnh Bát Chánh-Đạo
1.-
Trực-kiến
2.-
Trực-niệm
3.-
Trực-ngữ
4.-
Trực-mạng
5.-
Trực-nghiệp
6.-
Trực phương-tiện
7.-
Trực-ý
8.-
Trực-định 1.- Chánh tri-kiến
2.-
Chánh tư-duy
3.-
Chánh-ngữ
4.-
Chánh-mạng
5.-
Chánh-nghiệp
6.-
Chánh tinh-tấn
7.-
Chánh-niệm
8.-
Chánh-định.
Nhận-xét
đầu-tiên là chữ Chánh, nơi cột hai, được chữ Trực, nơi
cột một, thay-thế. Y-nghĩa của hai chữ ấy gần tương-đương
nhau: ''ngay-thẳng, chơn-chánh, đứng-đắn'', cho nên chẳng
có chi đáng nói. Về nội-dung của mỗi ngành, ta nên xét từng
môn: từ chánh tri-kiến cho đến chánh-định.
1.-
Chánh-tri-kiến, sự thấy-nghe, hay-biết, thật chơn-chánh đứng-đắn,
có thể xem tương-đương với Trực-kiến nơi cột một.
2.-
Chánh tư-duy, sự suy-nghĩ, phán-xét đứng-đắn, thì khó lòng
được xem cùng nghĩa với chữ trực-niệm. Thông-thường,
động-từ niệm có nghĩa là luôn nhớ-nghĩ trong lòng; như
thế, trực-niệm, chỉ có nghĩa là ''nhớ nghĩ thẳng-thắn''
chẳng diễn-tả hết được các khả-năng đứng-đắn và
bao-quát của Trí-huệ là suy-nghĩ và phán-đoán.
Hai
môn: Chánh tri-kiến và Chánh tư-duy được xếp vào môn thứ
ba, Huệ-học, trong ba môn học vô-lậu Giới, Định, Huệ.
3.-
Chánh-ngữ, Chánh-mạng, Chánh-nghiệp có thể được xem như
tương-đương với Trực-ngữ, Trực-mạng, Trực-nghiệp nơi
cột một, nếu nghĩa của chữ Trực, ngoài ý ngay-thẳng ra,
được mang thêm ý-nghĩa của sự đứng-đắn, chơn-chánh.
Chánh-ngữ là lời nói chơn-chánh, chẳng thô-ác, chẳng đâm-thọc,
các ý-nghĩa nầy có thể được bao gồm trong Trực-ngữ. Chánh-mạng
là cách sanh-sống bằng các nghề-nghiệp chơn-chánh, thật-thà,
chẳng gian-xảo, chẳng độc-ác, rất phù-hợp với chữ trực-mạng.
Chánh-nghiệp là những hành-động của thân, miệng, và tâm-ý
đều đứng-đắn, chơn-chánh, chẳng gây ra ác-nghiệp và vì
thế chữ Trực-nghiệp có thể xem tương-đương với chữ
Chánh-nghiệp.
Ba
môn: Chánh ngữ, Chánh-mạng, Chánh-nghiệp được xếp vào
môn học thứ nhứt, Giới-học, trong ba môn học vô-lậu.
4.-
Nơi mục số (6), Chánh tinh-tấn khác khá xa với Trực phương-tiện;
vì Tinh-tấn có nghĩa là nỗ-lực giữ-gìn và làm tăng-trưởng
điều thiện; còn Phương-tiện là những phương-pháp tiện
dụng, dùng để thi-hành hầu đạt được mục-tiêu. Tuy nhiên,
có điểm tương-đồng giữa hai ý-niệm: Tinh-tấn và Phương-tiện,
là các nỗ-lực đã cố-gắng để đạt được mục-tiêu,
mặc dầu mục-tiêu có thể khác nhau. Và mục-tiêu của Tinh-tấn
được nói rõ: tăng điều thiện; còn mục-tiêu của Trực
phương-tiện vẫn để bỏ ngõ. Dầu sao đi nữa, trong lắm
sách giáo-lý Phật-học, nhiều vị đại-sư đã chẳng ngại
dùng từ-ngữ Chánh phương-tiện để thay thế cho danh-từ
Chánh Tinh-tấn khi giảng về Bát Chánh-Đạo.
Môn
Chánh tinh-tấn có thể được đem xếp vào cả hai môn Giới
và Định, vì sự nỗ-lực có thể thi-hành trong việc giữ-gìn
Giới-luật, hoặc để áp-dụng vào việc tu-tập Thiền-định.
5.-
Chánh-niệm nơi mục số (7) được xếp ngang hàng với Trực-ý.
Đúng lý ra, nên đem chữ Trực-niệm ở mục số (2), cột
một, xuống ngang với Chánh-niệm thì hay biết mấy; vì chữ
Trực-ý chẳng thể nào thay-thế cho chữ Chánh-niệm được:
Trực-ý chỉ là một ý ngay-thẳng; trong khi Chánh-niệm lại
là ý chủ-chốt, qui-tụ hết các ý-tưởng khác về một trọng-điểm
đang được quán-chiếu. Bước đầu đi vào định-lực là
phải có chánh-niệm và giữ chánh-niệm luôn sáng-tỏ, cái
điều mà một ý ngay-thẳng, trực-ý, dù mạnh đến đâu cũng
chưa thể làm được.
6.-Chánh-định
và Trực-định chẳng chống-đối nhau, vì cả hai đều nói
lên định-lực chơn-chánh, trái hẳn với tà-định của bàng-môn
ngoại-đạo.
Hai
môn Chánh-niệm và Chánh-Định thuộc về môn Định-học trong
ba môn học vô-lậu: Giới, Định, Huệ.
*
135.-
Lấy tám loại đạo-hạnh (Bát Chánh-Đạo) làm căn-bản tu-hành.
Nơi
gần cuối tiểu-mục số 031, Na-Tiên có nói:
- Chư
đệ-tử Phật cầu Đạo... nhân biết sự khổ-nhọc ở thế-gian,
nên mới dứt bỏ mọi ham-muốn mà một lòng niệm tám loại
đạo-hạnh.
Như
thế, trong Ba mươi bảy Phẩm Trợ-Đạo, Na-Tiên đã chọn
lấy Bát Chánh-Đạo, ( mà Na-Tiên gọi là tám loại đạo-hạnh)
làm căn-bản tu-hành. Lấy Bát Chánh-Đạo làm căn-bản tu-hành
cũng tựa như trong hai thí-dụ Na-Tiên đưa ra ngay trước đó:
(1) kiến-trúc-sư trước khi xây một thành-trì, cần phải
lượng-định nền móng; (2) người diễn trò trước khi diễn
phải dọn dẹp mặt đất cho bằng phẳng.
Thường
nghe nói, Chánh-Pháp có tám vạn bốn ngàn pháp-môn,, nay Na-Tiên
mách cho vua Di-Lan sự chọn lựa pháp-tu giản-dị và đầy-đủ
như thế, quả là điều rất đáng tán-thưởng, vì thế nhà
Vua đã khen-ngợi:
- Lành
thay! Lành thay!
-----*-----
V.-
Vấn-đề: Trí - Huệ .
Trước
khi bước sang Vấn-đề V: Trí-huệ, Thiện Nhựt thấy cần
nhắc lại sự liên-tục trong ý-tưởng khi tóm-tắt lại nội-dung
của quyển ''Tì-kheo Na-Tiên'', vì các câu hỏi của vua Di-Lan
nêu lên đều tùy hứng, gặp đâu hỏi đó, chẳng theo một
thứ-tự nào.
- Thắc-mắc
đầu-tiên của vua Di-Lan là tại sao đi tu làm sa-môn? Điều
nầy ta đã xét qua tại Vấn-đề I: đi tu làm sa-môn.
- Trước
lời đáp của Na-Tiên, đi tu để khỏi chịu khổ mãi vì tái-sanh
Luân-hồi, Vua Di-Lan muốn biết: thế nào là tái-sanh? Điều
nầy ta đã xét qua tại Vấn-đề II: tái-sanh trong cõi Luân-hồi.
- Trước
câu hỏi của vua Di-Lan, người niệm Chánh-Pháp và siêng làm
điều thiện có khỏi phải sanh lại không?, Na-Tiên đã giải-thích
sự phân-biệt giữa các điều thiện-ác. Điều nầy ta đã
xét qua tại Vấn-đề III: phân-biệt các điều thiện và điều
ác.
- Trong
khi nói về các điều thiện, Na-Tiên có bàn đến Ba mươi
bảy Phẩm Kinh làm căn-bản cho các điều thiện. Điều nầy
ta vừa mới xét qua xong, tại Vấn-đề IV: Ba mươi bảy Phẩm
Trợ-Đạo.
- Và
sau đây là Vấn-đề V: Trí-huệ. Do niệm Chánh-Pháp và siêng
làm các điều lành, mà hành-giả biết sống luôn luôn theo
đúng các đạo-hạnh của Bát Chánh-Đạo, nhờ đó mà phát-triển
được Trí-Huệ. Rồi lại nhờ có Trí-Huệ mà cắt đứt
mọi phiền-não, diệt-trừ hết các điều ác, nên được
giác-ngộ và giải-thoát khỏi cảnh Luân-hồi.
Năm
vấn-đề trên đây được sợi dây đường-lối tu-hành luồn
xuyên qua và kết-chặt lại một mối, giúp cho việc Tìm hiểu
Nghĩa Ý của quyển ''Tì-kheo Na-Tiên'' có lớp-lang thứ-tự,
vượt qua được dễ-dàng các câu hỏi quá nhiều và tùy hứng
của Vua Di-Lan.
*
136.-
Vấn-đề Trí-Huệ được đặt ra ở đây như thế nào?
Cuộc
vấn-đáp giữa Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên về vấn-đề Trí-huệ,
rải-rác qua nhiều câu hỏi, tại các tiểu-mục:
- số
019: Thú-vật có trí chăng?
-
số 035: Trí-huệ là như thế nào?
-
số 039: Khả-năng hiểu-biết của Trí-huệ như thế nào?
-
số 090: Người trí, kẻ ngu cùng làm ác, ai nặng tội hơn?
-
số 094,: Trí-huệ tư-duy đến các sự-việc cao-thâm.
-
số 095: Thế nào là Tinh-thần, Trí-huệ, và Tự-nhiên.
Như
thế, chỉ trong sáu tiểu-mục rời-rạc, Trí-huệ được xét
đến ở
Như
thế, chỉ hai khiá-cạnh: (1) về mặt lý-thuyết: (a) Thế nào
là Trí-huệ; (b) khả-năng hiểu-biết của Trí-huệ ra sao;
(c) Trí-huệ với Tinh-thần và Tự-nhiên; (2) về mặt sự-kiện
cụ-thể: (a) thú-vật có trí không; (b) người trí với kẻ
ngu cùng làm ác, ai chịu tội nặng hơn?
*
137.-
Thế nào là Trí-Huệ?
Nơi
tiểu-mục số 035, Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:
- Trí-huệ
là như thế nào?
- Tôi
đã có nói trước rồi (tiểu-mục số 019), trí-huệ có khả-năng
cắt đứt các nghi-ngờ, làm sáng tỏ các việc thiện...
Rồi
Na-Tiên đưa ra thêm hai thí-dụ: (1) như cầm đèn vào nhà tối,
ánh-sáng (tượng-trưng cho trí-huệ) đẩy lùi bóng tối (tượng-trưng
cho sự ngu-mê); (2) như cầm dao bén (tượng-trưng cho trí-huệ)
chặt cây (tượng-trưng cho các điều ác). Trước đây nơi
cuối tiểu-mục số 019, Na-Tiên có ví Trí-huệ như cái lưỡi-hái
cắt các bó luá (tượng-trưng cho các điều ác). Qua ba thí-dụ
trên, Na-Tiên muốn chỉ rõ hiệu-năng của Trí-huệ là phá
bỏ, dứt trừ sự Vô-minh (ngu-mê), sự nghi-ngờ và tiêu-diệt
được các điều ác.
Đến
tiểu-mục số 039, Vua Di-Lan hỏi về khả-năng hiểu-biết
của Trí-huệ, như sau:
- Người
có trí-huệ sáng-suốt có biết hết muôn sự-vật chăng, hay
có chỗ còn chưa hiểu-biết kịp?
Câu
trả lời của Na-Tiên phân-biệt ra hai trường-hợp:
- (1)
với người thường, họ biết được điều chưa học và
chưa kịp hiểu; đồng thời cũng biết được điều đã học
và đã hiểu;
- (2)
với bực trí-giả, họ thấy rõ con người và vạn-vật đều
phải qua đi, qui về KHÔNG, chẳng được tự-tại. Vì lòng
ham muốn vui-sướng con người đã gieo trồng nguồn-gốc của
Khổ; người trí biết như thế, và tòng theo đó mà tiến
đến Khổ-Huệ, biết rõ-ràng sự vô-thường, sự thành-bại,
cho nên Trí-huệ khác với người thường.
Ta
thấy rõ: sự khác-biệt về Trí-huệ giữa hai hạng người,
chính là sự thấu-đáo về nỗi Khổ, đưa đến Khổ-Huệ,
cái Trí-Huệ sáng-suốt biết rõ nguồn-gốc của Khổ và cách
diệt-trừ dứt-khoát Khổ. Nếu sự suy-đoán của Thiện-Nhựt
chẳng lầm-lẫn thì đó chính là Trí-huệ Bát-Nhã Ba-la-mật
(Sanskrit: Prajnà Paramitra; Pali: Pannà Paramitta), cái Trí-huệ
toàn-hảo đưa đến bờ giác-ngộ.
Tiếp
theo đó, Vua lại hỏi:
- Người
có trí-huệ rồi, thì ngu-si ở vào đâu?
- Người
có trí-huệ thì ngu-si tự tiêu-diệt hết. Ví như người cầm
đèn vào trong nhà tối, phòng sáng lên, tức màn tối đen bị
tiêu-diệt.
Thí-dụ
trí-huệ như ánh-sáng, ngu-si như bóng tối nầy được Na-Tiên
đưa ra hơn một lần. Nó rất đúng-đắn, dễ thấy và dễ
hiểu. Nhưng lời vấn-đáp liền sau đó, giữa Vua Di-Lan và
Tì-kheo Na-Tiên, lại có chỗ chẳng được hoàn-toàn hợp-lý.
Chẳng hợp-lý ở điểm nào? Xin hãy đọc kỹ lại lời vấn-đáp
giữa hai người:
- Trí-huệ
cũng lại như vậy, người có trí thì ngu-si tất tiêu-diệt.
- Thế
còn trí-huệ của trí-giả nay lại ở đâu?
- Người
dùng trí để làm công-việc, làm xong thì trí-huệ liền tiêu-diệt,
nhưng sự-việc mà trí-huệ đã làm thì còn đó. Ví như ban
đêm viết thơ bên đèn, viết xong tắt đèn, nhưng bức thơ
còn đó. Bực trí-giả cũng lại như thế, làm xong việc đã
làm, trí-huệ liền tiêu-diệt, nhưng việc làm thành-tựu vẫn
tiếp-tục còn tại đó.
Thí-dụ
''viết thơ ban đêm bên đèn'' nầy rất đáng tán-thưởng.
Tuy nhiên, theo thiển-kiến của Thiện-Nhựt, chỗ chẳng hoàn-toàn
hợp-lý là khi Na-Tiên bảo, làm xong việc đã làm, thì trí-huệ
liền tiêu-diệt. Làm sao mà trí-huệ tiêu-diệt đi được,
khi mà khả-năng suy-tư, phán-đoán của nó vẫn còn đó, nơi
tâm-trí của trí-giả? Có chăng là khi làm xong việc đã làm,
thì trí-huệ đã hoàn-tất nhiệm-vụ của nó nên nó đâu
cần tự lộ-bày ra nữa. Vả lại, người có trí có bao giờ
lại đem khoe trí-huệ của mình ra đâu, vì nếu làm như thế,
thì lại hóa ra kiêu-hợm, thiếu khiêm-tốn, và có một thái-độ
''chẳng khôn-ngoan'' chút nào cả. Nếu Na-Tiên nói, ''làm xong
việc đã làm, trí-huệ chẳng lộ-bày ra nữa'', có lẽ chính-xác
hơn là khi Na-Tiên nói, ''làm xong việc đã làm, thì trí-huệ
liền tiêu-diệt.''
Tiểu-mục
số 094, Vua Di-Lan có hỏi:
- Bực
đã đắc Đạo có khả-năng suy-nghĩ đến tất cả các sự-việc
cao-xa thâm-diệu chăng?
Na-Tiên
đáp, Dĩ nhiên là có, và nói thêm, các Kinh Phật thật hết
sức thâm-ảo về mọi sự-việc... đều phải do Trí-huệ
đoán-định ra.
Tiếp
theo là tiểu-mục số 095: Tinh-thần, Trí-huệ và Tự-nhiên,
quá vắn-tắt, chẳng thấy Na-Tiên chỉ cho thấy rõ mối tương-quan
giữa ba điều đó. Na-Tiên chỉ cắt-nghĩa rất sơ-lược:
- Tinh-thần
chủ về sự hiểu-biết; trí-huệ thông-hiểu được Đạo;
còn Tự-nhiên là hư-không chẳng có người.
Thật
ra, giữa ba ý-niệm: tinh-thần, trí-huệ và tự-nhiên, có một
mối tương-quan mà người trí-giả cần nên xét qua, vì ích-lợi
của sự tu-tập. Theo lời của Na-Tiên, tinh-thần đây chủ
về sự hiểu-biết, tức là Thức trong Duy-Thức-học. Nhờ
có sự hiểu-biết đứng-đắn, chơn-chánh mà trí-huệ phát-triển
hướng về Đạo. Còn về danh-từ Tự-nhiên, Na-Tiên giải-thích
là hư-không chẳng có người, thì Thiện-Nhựt xin thú-nhận
chẳng hiểu rõ được tư-tưởng của vị Tì-kheo lỗi-lạc
nầy. Phải chăng Na-Tiên muốn nói đến Thiên-nhiên, hoặc
ám-chỉ vào chữ Pháp-giới dùng trong Kinh-sách, tức là muôn
sự-sự vật-vật trong vũ-trụ. Nếu đó là Pháp-giới, thì
theo Trí-huệ của bực trí-giả đã giác-ngộ, vũ-trụ nầy
chính là cái hư-không rỗng-rang, chẳng có Ngã, chẳng có người.
Tại sao? Vì muôn sự-vật đều mang hình-tướng hỗn-hợp,
chẳng có bất cứ sự-vật nào tự-nhiên tự mình mà sanh
ra lấy một mình được; nếu phân-tách hình-tướng hỗn-hợp
đó ra các thành-tố, thì có gì tồn-tại nữa đâu, chẳng
qua chỉ còn lại một cái thể Không rỗng-rang, vắng-vẻ,
bao-trùm lên tất cả muôn loài? Một khi tinh-thần đã hiểu-biết
bản-thể trống-rỗng và vô-ngã của vũ-trụ, của tự-nhiên,
là như thế, thì trí-huệ sẽ hướng về Đạo tìm con đường
giải-thoát ra khỏi mọi ràng-buộc, trong đó sự chấp-thủ
vào cái Ta, cái Ngã là nặng-nề nhứt.
Mấy
dòng trên đây là một cố-gắng liều-lĩnh của Thiện Nhựt
để ráng tìm hiểu tiểu-mục về Tinh-thần, Trí-huệ và Tự-nhiên
đã quá giản-lược lại vô-cùng bí-hiểm, kính mong người
đọc nên dè-dặt và rộng-lượng tha cho tội ''bạo gan.''
*
138.-
Trí-huệ với Bản-năng, và với Nghiệp-lực .
Nơi
cuối tiểu-mục số 019, Vua Di-Lan hỏi:
- Trâu,
ngựa, thú-vật nuôi trong nhà có trí hay chẳng có trí?
-
Trâu, ngựa, thú-vật nhà đều có trí cả, nhưng tâm chẳng
đồng.
Xin
đồng-ý với Na-Tiên về điểm thú-vật cũng có trí-huệ,
nhưng trí-huệ ấy chẳng phát-triển được như trường-hợp
của loài người. Thú-vật có tâm hay không, thì ta chẳng thể
có câu trả lời nầy chung cho mọi loài; đối với các loài
thú-vật nuôi trong nhà, nhứt là những con vật như khỉ, chó,
voi, két, rất khó mà quả-quyết chúng chẳng có tâm. Điều
chắc-chắn là nơi các hạng chúng-sanh thấp-kém nầy, cuộc
sống tùy theo bản-năng nhiều hơn là nương vào trí-năng.
Tiểu-mục
số 090: Người trí, kẻ ngu cùng làm ác, ai nặng tội hơn?
đã được xét qua rồi, nhưng nay tại đây xin có thêm một
cái nhìn khác về phương-diện hành-nghiệp (hành-động cố-ý,
đã tạo nên nghiệp).
Cả
hai người làm lỗi đều có gây ra ý-nghiệp, nhưng người
trí biết thành-tâm sám-hối, nên ngày qua ngày, ý-nghiệp sẽ
nhẹ đi, bớt được ảnh-hưởng của nghiệp-lực; còn kẻ
ngu kia vì cố-tâm hành-động nên ý-nghiệp vẫn còn nguyên
đó, chỉ chờ đủ cơ-duyên đưa đến nghiệp-quả nặng-nề.
Chung qui, nhờ trí-huệ biết sám-hối, tâm mới trở nên thanh-tịnh
hơn, và do đó mà có cơ chịu tai-ương nhẹ bớt đi được.
Lẽ
ra, bàn về Trí-huệ được nói trong quyển ''Tì-kheo Na-Tiên''
đến đây cũng tạm đủ; nhưng có một đoạn văn trong sách,
rất dài-dòng, nói về Trí nhớ, tuy không liên-quan đến Trí-huệ
nhiều, nhưng nội-dung lại thuộc về Trí-năng, tưởng nên
nhân đây đem ra xét luôn: đó là hai tiểu-mục số 081 và
số 082.
*
139.-
Trí nhớ và các cách nhớ lại của con người.
Một
trong những khả-năng quan-trọng của Tâm-trí con người là
nhớ lại các việc đã xảy ra trong quá-khứ. Khả-năng nầy
trong khoa Tâm-lý hiện-đại gọi là Ký-ức (ký= ghi chép; ức=
nhớ nghĩ). Cùng với tuổi già, trí-óc lu mờ đi khiến cho
ký-ức trở nên yếu-ớt và có người già-cả lại bị bịnh
mất trí nhớ, trở nên lú-lẫn.
Vua
Di-Lan hỏi Tì-kheo Na-Tiên nơi tiểu-mục số 081:
- Con
người có khả-năng nào để nhớ lại được các sự-việc
đã xảy ra thật lâu-xa chăng?
Câu
trả lời của Na-Tiên lại trỏ vào một trường-hợp đặc-biệt:
- Người
ta lúc ưu-sầu hay nhớ đến các sự-việc xảy từ lâu-xa.
Nếu
sự ưu-sầu khiến ta nhớ lại, thì sự mừng-rỡ, háo-hức
cũng có thể gợi lại trong đầu hình-ảnh cũ. Nhưng xét cho
cùng kỳ lý, dĩ-vãng đã qua rồi, chẳng có cách chi mà diễn-tả
lại đúng trăm phần trăm cho được, vì lẽ hình-ảnh cũ
được nhắc lại thật-sự chỉ là sự tái-tạo, với nhiều
thêm bớt, tô bóng hoặc bôi đen, và thái-độ cùng tình-cảm
của người nói lẫn người nghe lại chính là tình-cảm và
thái-độ đương-thời, chớ chẳng thể nào phù-hợp hoàn-toàn
với khung-cảnh ngày trước. Đó là điều mà Vua Di-Lan và
Tì-kheo Na-Tiên đã nhận-định tiếp theo:
- Ngay
bây giờ, Ta có nhớ lại, nhưng chẳng giống đúng hẳn.
- Có
thể là chẳng giống đúng, bởi vì Đại-Vương đã tưởng-tượng
thêm ra.
Kế
đó, sang qua tiểu-mục tiếp theo, số 082, Tì-kheo Na-Tiên đã
vì vua Di-Lan mà kể ra 16 cách để nhớ lại việc cũ. Rất
khó sắp-xếp cho có thứ-tự cả 16 cách nhớ nầy: nào là
vì việc cũ là một đại-sự nên được nhớ dai, nào là
vì khổ-sở, vì nghĩ đến điều lành mà hồi-tưởng lại
cảnh cũ, nào là vì được nhắc lại, vì có tính-toán, có
ghi chép, có chỉ-dạy cho kẻ khác, có mắc nợ-nần, v.v...
mà chẳng quên việc xưa. Xét cho kỹ 16 ''cách nhớ'' đó, hầu
hết chẳng phải thật-sự là những ''cách'' đã làm cho ta
nhớ lại được, mà chỉ là những ''dịp'', những ''lúc'',
nào mình được nhắc-nhở để nhớ ra lại. Trong khoa Tâm-lý-học
ứng-dụng vào việc giáo-dục, có vài cách để dạy học-sinh
nhớ dai. Xin tạm kể ra ba bốn điều, để phụ vào 16 ''cách''
của Na-Tiên:
1.-
Cách để nhớ dai đầu-tiên là phải chịu khó ôn lại. Điều
đã học, dầu được ghi chép cẩn-thận, nếu lâu lâu chẳng
giở ra xem lại, thì có thể quên đi mất. Vì thế, phương-châm
của giáo-dục là sự lập-lại thật nhiều lần, sự thường
ôn lại cho nhuần.
2.-
Muốn nhớ kỹ một từ-ngữ lạ, thì phải vận-dụng các
giác-quan cùng một lúc: tai nghe tiếng Thầy dạy, miệng lẩm-bẩm
nhắc lại tiếng đó, tay viết lên giấy chữ đó, và mắt
nhìn vào cho kỹ. Như thế, sau nầy rủi có quên, thì cả mấy
giác-quan đó sẽ giúp cho việc cố nhớ lại.
3.-
Khi muốn nhớ dai nhiều điều cùng một lúc, nên sắp-xếp
các điều ấy thành một hay hai ''câu thiệu'', rồi học thuộc
lòng, sau nầy sẽ nhớ lại được đủ hết. Thí-dụ, 21 tỉnh
miền Nam Việt-Nam ngày xưa được ghi trong hai câu thiệu nầy:
Gia,
Châu, Hà, Rạch, Trà, Sa, Bến, Long, Tân, Sóc;
Thủ,
Tây, Biên, Mỹ, Bà, Chợ, Vĩnh, Gò, Cần, Bạc, Cấp.
Sau
khi học thuộc lòng nhiều lần, hễ phải kể lại 21 tỉnh
ấy, chỉ cần nhớ lại hai câu thiệu và thêm vào:
Gia-định,
Châu-đốc, Hà-tiên, Rạch-giá, Trà-vinh, Sa-đéc,
Bến-tre,
Long-xuyên, Tân-an, Sóc-trăng;
Thủ-dầu-một,
Tây-ninh, Biên-hoà, Mỹ-tho, Bà-rịa, Chợ-lớn,
Vĩnh-long,
Gò-công, Cần-thơ, Bạc-liêu và Cấp (Vũng-Tàu).
Đó
là cách nhớ nhiều việc trong một lần.
4.-
''Trí nhớ ở đầu ngón tay'': học chữ Nho, một chữ có nhiều
nét ngoằn-ngoèo, khi học chữ mới, đưa ngón tay trỏ vẽ
chữ ấy lên trên không-khí nhiều lần, sau nầy muốn nhớ
lại, lấy ngón tay cứ vẽ lại, sẽ dễ nhớ. Ap-dụng lối
nhớ nầy tại các tủ đựng áo ở nhà trường dành cho mỗi
học-sanh, mỗi trò có một ống khoá-số, mà bí-số (số bí-mật)
dành riêng chỉ người xử-dụng biết mà thôi: dùng ngón tay
mở tới mở lui nhiều lần, hằng ngày thì quen tay. Bỏ lâu
chẳng dùng, như trong thời-gian nghỉ hè, đi học trở lại,
quên mất bí-số, thì cứ lấy ngón tay xoay tới xoay lui một
lát, may ra sẽ nhớ lại bí-số của mình...
Còn
nhiều ''thuật'' khác nữa, tùy theo sự tưởng-tượng phong-phú
của từ cá-nhơn, nhưng với 16 cách nhớ của Na-Tiên đã quá
nhiều rồi, Thiện-Nhựt chỉ dám kể thêm 4 cách nữa cho chẵn
... hai chục!
Trước
khi chấm dứt Phần Tìm hiểu về vấn-đề Trí-Huệ, lại
một lần nữa, Thiện-Nhựt xin nhắc lại:
1.-
Giáo-lý nhà Phật tuy rất bao-quát nhưng có thể thu-gọn lại
về mặt thực-hành vào ba môn: Giới-Định-Huệ. Nhờ giữ
giới thanh-tịnh mà hành-nghiệp được trong-sáng, khiến thân-tâm
an-tịnh, tâm sớm vào định-lực. Nhờ có định-lực mạnh-mẽ
mà Trí-huệ phát-triển, diệt-trừ các phiền-não, chướng-ngại,
sớm đến nơi giác-ngộ và giải-thoát.
2.-
Việc giác-ngộ và giải-thoát phải tự-mình thực-hiện lấy,
chẳng thể nào trông-chờ vào sự cứu-rỗi của bất cứ
ai. Và trong nỗ-lực nầy, hành-giả phải nhờ vào Trí-huệ
sẵn-có nơi mình, được tăng-trưởng thêm dọc theo con đường
tu-tập. Vì lẽ đó, vấn-đề Trí-huệ là vấn-đề hàng đầu
mà người học Phật phải lưu-tâm đến.
3.-
Phật-học có rất nhiều pháp-môn, từ niệm Phật vãng-sanh,
giữ giới đầu-đà, tu-tập các cấp thiền-định, trì-chú
theo mật-tông, v.v... có pháp-môn Bát-nhã (Trí-huệ) chủ-trương
dùng các khả-năng của Trí-huệ tu-tập hầu sớm đắc Đạo.
Nhưng việc đi sâu vào các chi-tiết của pháp-môn nầy lại
nằm ngoài lãnh-vực Tìm hiểu quyển ''Tì-kheo Na-Tiên'', vì
thế, Thiện-Nhựt chỉ nói lướt qua; người đọc muốn biết
thêm, xin chịu phiền tìm đọc bản Kinh căn-bản của pháp-môn
đó là bản Tâm-Kinh Bát-nhã Ba-la-mật, chỉ có võn-vẹn 260
chữ mà thôi.
-----*-----
VI.-
Vấn-đề: Các loại cảm-thọ .
140.-
Ba loại cảm-thọ: lạc-thọ, khổ-thọ và xả-thọ .
Mở
đầu quyển Trung của ''Kinh Na-Tiên Tì-kheo'', tác-giả bàn
về các loại cảm-thọ nơi tiểu-mục số 042, rất dài. Nhận-xét
sơ-khởi là cuộc vấn-đáp giữa nhà Vua Di-Lan và vị Tì-kheo
Na-Tiên đã đi quá sâu vào các chi-tiết nhỏ, hơi vụn-vặt,
khiến cho người đọc khó lòng nhận ra được đại-cương
và tầm quan-trọng của các cảm-thọ đối với việc tu-tập
để đi đến sự giác-ngộ và giải-thoát.
Để
tìm hiểu tiểu-mục rắc-rối nầy, trước hết xin tóm-tắt
cuộc vấn-đáp và lời giải-thích của Na-Tiên về các cảm-thọ;
sau đó sẽ đưa ra các nhận-xét về tiểu-mục đó:
A.-
Tóm-tắt tiểu-mục số 042, về các cảm-thọ:
1.-
Vua Di-Lan đặt vấn-đề: Con người cảm thấy vui, thì thiện
hay bất thiện? Con người cảm thấy khổ, thì thiện hay bất-thiện?
2.-
Na-Tiên chẳng trả lời ngay câu hỏi nầy, mà đưa ra một
thí-dụ: tay trái nắm thanh sắt nung nóng đỏ, tay phải nắm
hòn băng lạnh-buốt, cả hai tay đều bị phỏng cả. Rồi
Na-Tiên hỏi: ''Cả hai tay bị nóng hay bị lạnh?'' Khi nghe vua
Di-Lan đáp: ''Một tay nóng, một tay lạnh, cùng bị phỏng cả'',
thì Na-Tiên lại bảo: ''Cả hai tay đều nóng!''
3.-
Chẳng hiểu được lời đáp của Na-Tiên, Vua xin giải-thích
thêm. Na-Tiên chẳng giải-thích thêm ''tại sao khi bị phỏng,
cả hai tay đều nóng'' mà lại bảo rằng, trong Kinh Phật có
nói đến việc đó và kể ra ba mươi sáu sự-việc gây nên
các loại cảm-thọ vui, buồn, và chẳng vui chẳng buồn:
(a)
sáu việc khiến cho lòng mừng: mắt thấy có chỗ hợp với
sự mong-cầu, nên lòng mừng; và khi, tai nghe tiếng, mũi ngửi
mùi, miệng nếm vị, thân rờ vật, tâm nghĩ đến ý, nếu
tất cả cảm-nhận đều hợp với sự mong-cầu, thì mừng
trong lòng;
(b)
sáu việc bên ngoài khiến trong lòng mừng: mắt thấy sắc
đẹp, tai nghe tiếng tốt, mũi ngửi mùi thơm, miệng nếm vị
ngon, thân chạm vật trơn-láng, tâm-ý nghĩ điều yêu-thích,
nếu biết tất cả các cảm-nhận đó đều vô-thường, thì
lòng sanh ra mừng;
(c)
sáu việc bên trong khiến lòng buồn: khi bên trong lòng chẳng
mong-muốn mà mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm-ý phải cảm-nhận
từ bên ngoài các điều bất-như-ý, thì sanh buồn lòng;
(d)
sáu việc bên ngoài khiến lòng người chẳng mừng: thấy sắc
xấu, nghe tiếng ác, ngửi mùi thúi, nếm vị đắng, thân chạm
vật thô-cứng, tâm nhớ điều oán-ghét, thì sanh lòng chẳng
vui;
(e)
sáu việc khiến lòng chẳng mừng cũng chẳng rầu: sáu giác-quan
cảm nhận các sự-việc chẳng đáng buồn cũng chẳng đáng
vui thì trong lòng cũng chẳng mừng cũng chẳng rầu;
(f)
sáu việc bên ngoài khiến cho lòng sầu: mắt thấy cái chết,
nghĩ ra được lẽ vô-thường, tự-hỏi sao mình có được
ý-niệm nầy rồi mà sao còn chưa đắc-đạo, vì thế lòng
buồn. Nghe tiếng tốt hay xấu, ngửi mùi thơm hay thúi, nếm
vị ngọt hay đắng, chạm vật thô hay láng, nhớ việc thương
hay ghét, vẫn giữ thái-độ thản-nhiên, lại nghĩ mình đã
có ý-niệm đó rồi, cớ sao lại chưa đắc-đạo, nên lòng
buồn.
4.-
Khi Na-Tiên kể xong ba mươi sáu việc đó, vua Di-Lan lại khen:
''Lành thay! Lành thay!'', rồi chuyển sang hỏi đến vấn-đề
khác. Chẳng biết nhà Vua có hiểu tại sao Na-Tiên kể 36 sự-việc
đó với dụng-ý gì hay không?
B.-
Nhận xét:
1.-
Nếu chỗ tóm-tắt trên đây theo sát được ý-tưởng trong
bản nguyên-tác của ''Kinh Na-Tiên Tì-kheo'', thì quả thị,
tiểu-mục số 042 trên đây đã ghi lại một cuộc đàm-luận
giữa hai người: ''ông nói gà, bà nói vịt!'' Sao dám nói hỗn-hào
như thế? Vì:
- Na-Tiên
chẳng đáp thẳng vào vấn-đề do vua Di-Lan nêu ra từ đầu:
''cảm-thọ vui và buồn là thiện hay bất-thiện?''
- Thí-dụ
''bị phỏng tay'' của Na-Tiên chẳng thấy có mối liên-quan
nào lớn với cảm-thọ. Bị phỏng tay là một cảm-giác. Còn
khi bị phỏng tay thì lòng buồn, khổ, đó mới là một cảm-thọ.
Cảm-giác khác cảm-thọ: cảm-giác là mức-độ cảm-xúc của
cơ-thể trước một sự-kiện kích-thích từ bên ngoài. Cảm-thọ
là một tình-cảm do một cảm-giác gây ra trong lòng. Một đằng,
cảm-giác xảy trên thân; một đằng, cảm-thọ diễn ra trong
tâm. Như thế, một tay bị nóng mà phỏng, một tay bị buốt
mà phỏng, thì đó chỉ là hai cảm-giác thôi, có ăn nhằm
chi đến cảm-thọ. Nếu có nói thêm rằng khi bị phỏng, bị
rát ở da, thì đau, nên buồn lòng, bấy giờ sự buồn lòng
đó mới là một cảm-thọ thực-sự. Do đó, ta có thể kết-luận
rằng, thí-dụ bị phỏng tay chẳng liên-quan chi nhiều đến
cảm-thọ, ngoài cái cảm-giác bị đau rát ở ngoài da.
2.-
Đến việc kể ra ba mươi sáu cảm-thọ, ta cũng chẳng thấy
Tì-kheo Na-Tiên nói có cảm-thọ nào thiện, cảm-tho nào bất-thiện
để trả lới câu hỏi của vua Di-Lan đã đặt ra lúc khởi
đầu. Thật ra, căn-cứ theo bản dịch của N.K.G. Mendis ở
quyển The Questions of King Milinda, Luận-tạng có kể 36 thể-thức
của các cảm-thọ, như sau:
- sáu
loại lạc-thọ có liên-quan đến đời thế-tục;
-
sáu loại lạc-thọ có liên-quan với sự xuất-thế;
-
sáu loại khổ-thọ có liên-quan đến đời thế-tục;
-
sáu loại khổ-thọ có liên-quan với sự xuất-thế;
-
sáu loại xả-thọ có liên-quan đến đời thế-tục;
-
sáu loại xả-thọ có liên-quan với sự xuất-thế;
Ba
mươi sáu loại cảm-thọ nầy trải qua ba thời: quá-khứ,
hiện-tại và vị-lại, nhơn lên thành một trăm lẻ tám loại
cảm-thọ. Trong 108 loại nầy, loại nào là thiện, loại nào
là bất-thiện; ta cũng chẳng thấy Mendis nêu ra để trả lời
câu hỏi của vua Di-Lan.
Nhưng
với một chút lý-luận, ta có thể trông thấy rõ được loại
nào thiện, loại nào bất-thiện. Những cảm-thọ khổ và
lạc nào có liên-quan đến đời thế-tục, vướng phải sự
chấp-thủ thì đó là bất-thiện. Còn những cảm-thọ khổ
và lạc có liên-quan đến sự từ-bỏ của việc xuất-thế,
và tất cả xả-thọ thì đó là thiện. Tại sao vậy? Như
đã biết qua khi xét về Lý Mười hai Nhân-Duyên, vì có Lục-nhập
(= sáu giác-quan) nên có Xúc, vì có Xúc, nên có Thọ, vì có
Thọ nên có Ai, vì có Ai nên có Thủ, tức là sự chấp-thủ;
và vì có chấp-thủ nên mới bị lôi-cuốn mãi trôi lăn trong
vòng Luân-hồi, đó chẳng phải là bất-thiện hay sao?
3.-
Nếu được cho phép, Thiện Nhựt xin liều-lĩnh ráng viết
lại cái tiểu-mục số 042 cho ngắn gọn mà ý-nghĩa cũng tạm
khá đầy-đủ, như vầy:
Vua
Di-Lan hỏi Na-Tiên:
- Con
người khi cảm thấy vui hay buồn, thì thiện hay bất-thiện?
Na-Tiên
đáp:
- Có
ba loại cảm-thọ: lạc-thọ, khổ-thọ và xả-thọ. Lạc-thọ
và khổ-thọ nào có liên-quan đến đời thế-tục, vướng
phải sự chấp-thủ thì trở nên bất-thiện. Các xả-thọ
cùng các cảm-thọ lạc và khổ
nào
có liên-quan đến sự từ-khước, rời bỏ các ràng-buộc
của đời thế-tục, và chẳng chấp-thủ, thì trở nên thiện.
Vua
hỏi tiếp:
- Thế
nào là lạc-thọ, là khổ-thọ, là xả-thọ?
- Lạc-thọ
là cảm-thọ vui; khổ-thọ là cảm-thọ buồn, và xả-thọ
là cảm-thọ chẳng vui mà cũng chẳng buồn.
Vua
lại hỏi:
- Cảm-thọ
với cảm-giác khác nhau ra làm sao?
- Khi
các giác-quan tiếp-xúc với cảnh bên ngoài, có phản- ứng
trên thân-thể, đó là cảm-giác. Cảm-giác có thể là đau,
là sướng, hoặc chẳng sướng chẳng đau. Khi cảm-giác được
truyền vào tâm, có sự cảm-nhận ở tâm, đó là cảm-thọ.
Cảm-thọ vui (lạc-thọ) khi tâm thoải-mái và thân cảm thấy
sướng; cảm-thọ buồn (khổ-thọ) khi thân khó chịu và tâm
bứt-rứt. Cảm-giác chẳng đau, chẳng sướng thường đưa
đến trong tâm một cảm- nhận trung-hoà, nên thường gọi
là xả-thọ. Nhưng chữ xả trong Phật-học lại có nghĩa rộng
hơn: gặp việc như ý, chẳng vui thích quá; gặp việc chẳng
vừa ý, chẳng oán-ghét quá, đó là tâm xả, tâm quân-bình,
thản-nhiên, chẳng quá xúc-động. Trong sự tu- hành, giữ được
tâm an-nhiên, xả-bỏ muôn sự-việc mà biết chẳng cố-chấp
điều gì cả thì tâm sớm được giải-thoát...
-----*-----
VII.-
Vấn-đề: Đắc Đạo và cõi Niết-bàn.
141.-
Vấn-đề đắc Đạo trong quyển ''Tì-kheo Na-Tiên''
Mục-tiêu
của người tu-hành là sớm đắc Đạo; vấn-đề nầy được
cứu-xét trong cuốn ''Tì-kheo Na-Tiên'' rải rác trong ba quyển:
Thượng, Trung, và Hạ. Các câu hỏi tùy hứng của vua Di-Lan
về vấn-đề đắc Đạo và cõi Niết-bàn, dàn trải qua các
tiểu-mục sau đây:
số
041: Vì sao bực đắc Đạo còn sống phải chịu khổ?
số
046: Chẳng có thời-gian đối với bực đã đắc Đạo;
số
065: Niết-bàn là vượt qua chẳng trở lại.
số
066: Đắc Đạo Niết-bàn
số
067: Dầu chưa đắc, cũng biết Niết-bàn là sướng;
số
074: Có Niết-bàn chăng?
số
080: Bực đắc Đạo khác với kẻ chưa đắc Đạo;
số
086: Bực La-hán có thể bay lên trời Đại-Phạm;
số
088: Dùng bảy việc để học biết Đạo;
số
091: Sức thần-túc;
số
092: Ngưng hơi thở;
số
094, trang 75: Tư-duy đến các việc cao-thâm.
Để
việc Tìm hiểu Nghĩa Ý cho có lớp-lang, sự sắp-xếp lại
các tiểu-mục vừa kể rất cần-thiết, theo thứ-tự sau đây:
a.-
từ lúc mới học Đạo,
b.-
đến lúc đắc Đạo, được những khả-năng nào;
c.-cõi
Niết-bàn ra sao?
d.-
bao giờ nhập vào cõi Niết-Bàn;
*
142.-
Làm cách nào để học biết Đạo?
Giờ
đây, xin bắt đầu với tiểu-mục số 088:
Vua
hỏi Na-Tiên:
- Con
người dùng bao nhiêu việc để học biết Đạo?
- Dùng
bảy việc để học biết Đạo.
Rồi
Na-Tiên kể ra: (1) phân-biệt điều lành, việc ác; (2) tinh-tấn;
(3) vui Đạo; (4) chế-phục tâm-ý theo điều lành; (6) nhứt-tâm;
(7) gặp mọi cảnh-ngộ chẳng yêu-ghét. Bảy điều nầy, Na-Tiên
nói thêm, bất-tất phải dùng hết, điều quan-trọng nhứt
là hễ biết phân-biệt thiện-ác, thì cũng đủ. Nghe nói thế,
Vua hỏi thêm:
- Nếu
chỉ dùng một việc mà biết được Đạo, tại sao lại nói
chi đến cả bảy việc?
Na-Tiên
trả lời bằng một thí-dụ rất hay: như cầm con dao còn đựng
trong hộp thì đâu có thể cắt đứt vật chi được; lòng
con người tuy sáng-suốt hiểu rõ, nhưng cũng nên hội đủ
sáu việc kia lại thì mới thành Trí. Nghe xong, vua khen: Lành
thay!
Nhưng
Thiện-Nhựt lại ''thày-lay'' nhắc thêm rằng: muốn biết Đạo
và học Đạo, hành-giả chỉ cần tuân-thủ ba điều: Giới-Định-Huệ
thôi, và ba điều nầy sẽ đưa đến Trí-Huệ sáng-suốt để
thấy rõ-ràng con đường Đạo giải-thoát.
*
143.-
Bực đắc Đạo khác kẻ chưa đắc Đạo ở điểm nào?
Trở
ngược lại với tiểu-mục số 080, ta thấy:
Vua
hỏi Na-Tiên:
- Bực
đã đắc đạo và người chưa đắc đạo khác nhau ra sao?
- Kẻ
chưa đắc đạo còn tâm ham-muốn; còn bực đã đắc đạo
thì hết tham-tâm, ... chẳng vì khoái-lạc, chỉ cần ăn để
nuôi mạng sống...
Như
thế, đặc-điểm của người đắc Đạo, theo Na-Tiên, là
dứt được Tâm tham. Tham-dục đứng đầu trong tam độc, nghĩa
là ba món độc-hại mà người đắc Đạo đã diệt trừ xong:
tham, sân và si.
Nhưng
người đắc Đạo chẳng những chỉ dứt bỏ ba độc mà thôi,
các bực ấy còn được hoàn-toàn giải-thoát nữa. Cái chi
được giải-thoát và giải-thoát khỏi những gì? Sự giải-thoát
có hai phương-diện: (1) tâm giải-thoát, (2)trí-huệ giải-thoát.
Tâm được giải-thoát khỏi các phiền-não chướng, tức là
các trở ngại do phiền-não gây ra; kể chung là: tham, sân,
si, mạn, nghi và ác-kiến. (Mạn là kiêu-căng, phách-lối; ác-kiến
là các tà-kiến: thường-kiến, đoạn-kiến, ngã-kiến, thân-kiến).
Trí-huệ được giải-thoát khỏi các sở-tri-chướng, tức
là các trở ngại do các kiến-thức sai-lầm gây nên vì quá
ôm-chặt.
Người
đắc Đạo lại còn đạt được các quả-vị nữa. Nam-Tông
có bốn quả-vị: (1) Tu-đà-huờn, (2) Tư-đà-hàm, (3) A-na-hàm,
và (4) A-la-hán. Bắc-Tông có các cấp Bồ-tát: (1) Thập tín,
Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi-hướng, Thập điạ, (2)
Đẳng-giác, (3) Diệu-giác. Quả-vị cao nhứt là quả-vị Vô-thượng
Chánh-đẳng Chánh-giác, tức là quả-vị Phật.
Và
đây là đặc-điểm quan-trọng nhứt của bực đã đắc Đạo
là mình tự biết mình được giải-thoát, được sống tự-tại,
nhưng chẳng bao giờ phô-trương rằng mình đã đắc được
Đạo
nầy hay Quả kia.
*
144.-
Bực đắc Đạo có những khả-năng nào?
Đối
với thường-nhơn, bực đắc Đạo chắc phải có nhiều khả-năng
hơn người chưa tu-hành, và muốn biết vị ấy có các ''tài
phép'' gì mà họ còn chưa có được. Vì lẽ đó, nơi tiểu-mục
số 086, Vua Di-Lan mới hỏi Na-Tiên:
- Sa-môn
các khanh bảo, bực đắc A-la-hán có thể bay lên cõi Trời
Đại-Phạm trong thời-gian một người co-duỗi cánh tay thôi,
Ta chẳng thể tin lời ấy được, tại sao vượt qua bao nhiêu
ngàn muôn ức dặm như thế mà đến được nhanh-chóng vậy?
Na-Tiên
chẳng trả lời thẳng, mà mời Vua thử nghĩ đến thành-phố
A-lệ-tán, cách đây hơn tám vạn dặm. Vua liền nghĩ trong
đầu đến thành-phố ấy. Khi Vua nghĩ xong, Na-Tiên bảo:
- Đại-Vương
đã đi qua tám vạn dặm rồi trở về đây, sao mà nhanh thế?
Khen
lối giải-thích nầy của Na-Tiên, Vua nói: ''Lành thay!'' Như
thế, cái khả-năng bay đi xa và nhanh của bực đắc Đạo,
theo Na-Tiên, chỉ là sự nhanh-chóng của tư-tưởng có thể
vượt qua không-gian chỉ một khoảnh-khắc của cái co-duỗi
cánh tay. Phải chăng ''thần-thông'' biết bay trong không-gian
chỉ thực-hiện được bằng tư-tưởng mà thôi? Nghi-vấn
nầy được Na-Tiên ''phá bỏ'' nơi tiểu-mục số 091, khi vua
hỏi:
- Con
người có khả-năng dùng thân-thể nầy bay lên từng trời
thứ bảy cõi Đại-Phạm-thiên và đến xứ Bắc-câu-lư-châu
rồi trở về chăng?
- Có
thể được. (...) Bực đắc Đạo muốn nhảy đến từng Trời
thứ bảy cõi Đại-Phạm-thiên và đến xứ Bắc-câu-lư-châu
cũng được như-ý vậy.
Theo
Na-Tiên, bực đắc Đạo còn có thể luyện-tập thân-thể,
ngay cả việc ngưng hơi thở cũng được như ý muốn nữa.
Nơi tiểu-mục số 092, Na-Tiên nói:
- ...
Còn với bực học Đạo có khả-năng chế-phục thân miệng,
trì giữ Kinh-giới, do sự nhứt-tâm mà đắc được Tứ-Thiền,
do đó liền ngưng được hơi thở ra vào.
Về
các khả-năng siêu-phàm của các bực đắc Đạo, Thiện-Nhựt
xin dựa vào lời giảng trong Kinh-sách, có vài nhận-xét như
sau:
1.-
Khi thành Đạo tại Bồ-đề đạo-tràng, Đức Phật có đủ
tam minh: (1) túc-mạng-minh, nhớ lại được hết các kiếp
trước; (2) thiên-nhãn-minh, thấy rõ các chúng-sanh chết nơi
đây, sanh lại nơi kia; (3) lậu-tận-minh, biết rõ đã dứt
hết các phiền-não.
2.-
Có sáu thần-thông, gọi là lục thông: (1) thiên-nhãn-thông,
(2) thiên-nhĩ-thông, (3) túc-mạng-thông, (4) tha-tâm-thông, (5)
thần-túc-thông, và (6) lậu-tận-thông.
3.-
Với các tiến-bộ khoa-học hiện-đại về không-gian, vấn-đề
Thần-túc-thông (thân bay trong không-gian) có thể được nhìn
dưới một khiá-cạnh khác: thần-thông nầy phải chăng cũng
chỉ là một phương-tiện di-chuyển đặc-biệt do các tu-hành
đã luyện-tập được, nhưng rất tiếc là các bực đắc
Đạo chơn-chánh chẳng bao giờ chịu khó thi-triển cho ta thấy
để phá-tan mọi sự ngờ-vực.
4.-
Việc ngưng hơi thở hẳn trong một thời-gian thật dài tuy
chẳng thể thực-hiện được, nhưng nơi thiền-giả đã đắc
các mức Thiền-định cao-cấp, hơi thở trở nên thật tế-nhị,
cơ-hồ chẳng còn nghe thấy đến.
*
145.-
Bực đắc Đạo suy-tư đến các điều cao-thâm.
Ngoài
các khả-năng siêu-phàm ra, các bực đắc Đạo còn hiểu thấu
rành-rẽ các lời nói bí-ẩn cao-xa thâm-diệu trong Kinh-Luận
nữa. Đó là điều mà Vua Di-Lan muốn Tì-kheo Na-Tiên khẳng-định:
- Bực
đã đắc Đạo có khả-năng suy-nghĩ đến tất cả các sự-việc
cao-xa thâm-diệu chăng?
- Dĩ
nhiên, các bực ấy có đủ khả-năng tư-duy mọi việc thâm-ảo.
Kinh Phật thật hết sức là thâm-ảo về mọi sự-việc, chẳng
thể nào đo-lường nổi, tất cả mọi sự-việc ấy đều
phải do trí-huệ đoán-định ra.
Điều
mà Na-Tiên gọi ''chẳng thể đo-lường nổi'', phải chăng
nằm trong loại các vấn-đề mà Đức Phật đã xem như bất
khả tư-nghì, tức là các vấn-đề xuất-thế-gian mà con người
thế-tục chẳng thể dùng lời-lẽ ở thế-gian hiểu cho tường-tận
được. Các điều đó, bực đắc Đạo có đủ khả-năng
để thông-đạt được. Và đối với chúng ta còn đang học
Đạo, tưởng cũng đừng quá thắc-mắc về các vấn-đề
siêu-hình, cứ bình-tâm tu-tập mãi, sẽ có ngày bừng sáng
lên mà giác-ngộ được.
*
146.-
Niết-bàn là gì?
Trước
khi trả lời câu hỏi trên, có liên-quan đến các tiểu-mục
số 046; số 065; số 066; số 074, bàn đến Niết-bàn, ta hãy
tìm hiểu nghĩa gốc của chữ nầy.
Tiếng
Phạn (Sanscrit: Nirvana; Pali: Nibbàna) được phiên-âm ra tiếng
Hán-Việt bằng hai cách: (1) Nê-hoàn, hoặc (2) Niết-bàn; nhưng
từ-ngữ Niết-bàn được thông-dụng hơn. Chữ Niết-bàn có
nghĩa gốc như sau: Nir là ra khỏi; Vana là khu rừng u-tối;
như vậy, theo nghĩa đen thì ''đắc Niết-bàn'' là ra khỏi
khu rừng âm-u; và theo nghĩa rộng là lià bỏ được nơi đen-tối,
phiền-muộn. Nghĩa chuyên-môn trong Phật-học, Niết-bàn là
cảnh-giới an-tịch vắng-vẻ, chẳng còn khổ-sở, trỏ vào
tâm-trạng của hành-giả đã diệt-trừ xong tất cả các phiền-não
và các chướng-ngại, sống trong cảnh an-nhiên, tự-tại. Đừng
lầm khi cho rằng Niết-bàn là một nơi chốn xa-xôi nào đó,
hết khổ, chỉ có sướng thôi, mà người tu-hành mong đi đến
đấy.
Phật-học
phân-biệt hai loại Niết-bàn: (1) Hữu-dư Niết-bàn, cảnh-giới
của bực đắc quả-vị A-la-hán, chẳng còn tái-sanh nữa,
dứt trừ hết phiền-não nơi tâm, còn tấm thân nầy sống
an-nhiên và tự-tại; (2) Vô-dư Niết-bàn, cảnh-giới an-tịch
của hành-giả đắc A-la-hán, sau khi trút bỏ tấm thân thể-xác
đã dứt hết nghiệp-báo. Chữ ''dư,'' trong Hữu-dư, là dư-y,
là các nghiệp-báo còn sót lại; vô-dư là vô-dư-y là đã
dứt sạch hết các nghiệp-báo.
Giờ
đây xin quay lại với tiểu-mục số 074, Phần Phỏng-dịch:
Có Niết-bàn chăng? Vua Di-Lan hỏi Na-Tiên:
- Nghĩ
cho kỹ, có Niết-bàn chăng?
- Xét
cho kỹ thì có Niết-bàn.
- Na-Tiên
có thể chỉ cho Ta thấy Đức Phật ở tại xứ-sở nào nơi
Niết-bàn chăng?
- Chẳng
thể chỉ cho thấy được... Ví như có người đốt lửa to
lên, rồi dập tắt... thì ta đâu thể chỉ rõ ánh lửa sáng
hiện ở chỗ nào được.
Lời
đối-đáp nầy cho thấy rõ: Niết-bàn chẳng phải là nơi
chốn, để có thể chỉ bằng tay cho mắt thấy được. (Điều
nhận-xét nầy đã có ở một đoạn trước.)
Trở
lại tiểu-mục số 046 về Thời-gian, Na-Tiên có nói:
- Đối
với bực đã đắc Nê-hoàn (Niết-bàn) thì chẳng có thời-gian
dài lâu; đối với kẻ chưa đắc đạo còn phải sống đi
chết lại thì có thời-gian lâu dài...
Đây
là đặc-tánh thường-hằng của Niết-bàn, một ý-niệm siêu-thế
có tánh-cách phi-thời-gian-tính: Niết-bàn ở đó, còn đó,
mãi-mãi như vậy là như vậy.
Đặc-tánh
phi thời-gian-tính của Niết-bàn rất gần với ý-nghĩa của
''Đạo Niết-bàn là vượt qua, chẳng trở lại'' được nói
tại tiểu-mục số 065, Phần Phỏng-dịch:
Vua
hỏi Na-Tiên:
- Đạo
Niết-bàn là vượt qua đi mà chẳng còn có chỗ nào trở lại
nữa chăng?
- Đạo
Niết-bàn chẳng còn chỗ nào là có trở lại nữa. Người
ngu-mê cứ mãi lo cho tấm thân trong ngoài, thích được ngồi
êm; cho nên chẳng thể đắc độ-thoát khỏi sanh, già, bịnh,
chết. Người hiền-trí học Đạo, trong ngoài thân chẳng vướng-mắc:
chẳng ân-ái, chẳng ham-muốn nên chẳng có bào-thai; chẳng
có bào-thai thì chẳng sanh, già, bịnh, chết; hễ chẳng sanh,
già, bịnh, chết thì chẳng sầu lo, nội-tâm chẳng đau-đớn,
tức liền đắc đạo Niết-bàn.
Nhà
Vua lại tò-mò hỏi, nơi tiểu-mục số 066:
- Các
người học Đạo tất đắc được Niết-bàn hết cả chăng?
- Chẳng
đắc được Niết-bàn hết tất cả. Các bực học đạo chơn-chánh,
hướng về điều thiện, niệm điều thiện, phụng-hành điều
thiện, chỗ chẳng đáng niệm, chẳng đáng phụng-hành thì
lìền lià xa, dứt bỏ; người như thế thì đắc Niết-bàn.
Và
nơi tiểu-mục tiếp theo, số 067, Vua cũng tò-mò hỏi thêm
Na-Tiên về người chưa đắc Niết-bàn:
- Người
chưa đắc được Niết-bàn, có thể biết Niết-bàn là điều
sướng-khoái chăng?
- Dĩ
nhiên, người tuy chưa đắc được Niết-bàn cũng biết Niết-bàn
là sướng-khoái.
Vì
lý-do nào, chưa chứng thấy mà lại biết chắc? Tại vì, theo
lời Na-Tiên, thấy người đi trước đắc Niết-bàn được
sung-sướng, kẻ đi sau biết chắc Niết-bàn là an-vui. Và Na-Tiên
đưa ra một thí-dụ tương-tự rất xác-đáng: cũng như thấy
kẻ bị cắt chơn tay đang la-khóc, thì ta biết ngay rằng, hễ
bị chặt tay chơn là có đau-khổ, mặc dầu thân-thể của
mình vẫn còn lành-lặn. Vậy, tuy tự mình chưa chứng thấy,
chưa có được kinh- nghiệm bản-thân, nhưng thấy kẻ khác
đang vui hưởng an-lạc trong cảnh-giới Niết-bàn, thì mình
cũng biết chắc Niết-bàn là sướng-khoái.
*
147.-
Sống đến bao giờ mới ''nhập Niết-bàn''?
Ngoài
ý-kiến sai-lầm cho rằng Niết-bàn là một nơi chốn ra, thường-nhơn
lại còn lầm-tưởng ''đắc Niết-bàn'' hoặc ''nhập Niết-bàn''
là chết đi; họ còn chưa hiểu được Niết-bàn ở tại đây
và ngay bây giờ. Như đã biết, Phật-học phân-biệt Hữu-dư
Niết-bàn với Vô-dư Niết-bàn ở chỗ là người còn sanh-hoạt
tại thế-gian, vẫn đắc được Niết-bàn, một khi được
giải-thoát khỏi mọi phiền-não ràng-buộc, sống cuộc đời
an-nhiên tự-tại. Có lẽ, vì thường thấy khi một vị cao-tăng
nào qua đời, ng