KINH
TÌ-KHEO NA-TIÊN
C.-
Phần Tìm hiểu Nghĩa Ý
098.-
Xuất-xứ của quyển Tì-kheo Na-Tiên.
Kinh
Tì-kheo Na-Tiên được kết-tập trong Hán-Tạng, Càn-Long Đại-Tạng-Kinh,
quyển thứ 108, từ trang 706 đến trang 753, chẳng có tên Dịch-giả
ra Hán-văn, chỉ thấy ghi là sưu-tập vào đời Đông-Tấn
(Trung-hoa). Tác-giả của quyển Kinh, theo truyền-thuyết, là
Ngài Long-Thọ (Nagarjuna), vị Tổ-sư thứ 14 của Thiền-tông
Ấn-độ. Tên quyển Kinh trong Tạng Pali là Milinda panha (Vua
Di-lan hỏi Đạo), thuộc Tiểu-Bộ-Kinh (Khuddaka Nikaya). Cũng
theo truyền-thuyết, Ngài Long-Thọ muốn mượn tên Tì-kheo Na-Tiên
(Pali: Nagasena) để tự ám-chỉ mình; còn tên Di-lan (Pali: Milinda)
lại ám-chỉ đức Vua Ménandre, để nhơn cuộc đối-đáp giữa
hai người mà trình-bày Giáo-lý dưới hình-thức giản-dị,
dễ hiểu, và nhứt là để giúp ta dứt bỏ được các mối
hoài-nghi về Chánh-Pháp.
Kinh
Milinda panha được dịch ra rất nhiều thứ tiếng. Tại Việt-Nam
trước đây, đại-cư-sĩ Đoàn-Trung-Còn có dựa theo bản dịch
Pháp-văn, phối-hợp với bản Hán-văn, cho xuất-bản quyển
Na-Tiên Tì-Kheo Kinh, đã được rất nhiều cơ-sở Phật-giáo
tái-bản và ấn-tống.
Quyển
Tì-kheo Na-Tiên nầy được gọi là Kinh, có lẽ vì đã được
ghi trong Kinh-Tạng, Tiểu-Bộ-Kinh. Nhưng xét theo văn-từ, quyển
nầy vốn là một bộ Luận, được một bậc đại-sư sáng-tác;
các vị kết-tập Kinh-Tạng gọi đó là Kinh, chắc cũng chẳng
ngoài lý-do là đề-cao cùng tán-thán tác-phẩm nầy. Trải
qua năm tháng, quyển ''Kinh'' được sự hâm-mộ nồng-nhiệt
của mọi người Phật-tử khắp thế-giới.
Thiện-Nhựt
mạo-muội phỏng-dịch từ Hán-tạng ra tiếng Việt thông-thường
ngày nay. Vì tôn-trọng chánh-văn trong Đại-Tạng, tôi giữ
nguyên các danh-từ chuyên-môn Phật-học dùng trong bản dịch
Hán-văn, và xin được phép nói rõ lại các chữ ấy theo các
thuật-ngữ ngày nay, trong Phần Tìm hiểu Nghĩa Chữ và Nghĩa
Ý, tách riêng ra khỏi Phần Phỏng-dịch.
*
099.-
Bố-cục quyển Tì-kheo Na-Tiên .
Tuy
Kinh Tì-kheo Na-Tiên được chia ra làm ba quyển: thượng, trung,
hạ; nhưng xét kỹ về ý-tưởng trong các quyển đó chẳng
thấy có điểm khác-biệt sâu-sắc nào để chia thành ba cuốn;
vả lại, các câu hỏi vua Di-Lan nêu lên trong ba quyển ấy
thường được lập đi lập lại đôi ba lần. Vì lẽ đó,
Thiện Nhựt xin đề-nghị xem toàn-bộ quyển sách như một
cuốn và chia ra làm ba phần chánh:
1.-
Tiền-kiếp của Tì-kheo Na-Tiên và Vua Di-Lan (từ tiểu-mục
số 001 đến số 008, bản Phỏng-dịch).
2.-
Các câu vấn-đáp giữa Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên. Đây là
phần chánh, chiếm gần hết quyển sách (từ tiểu-mục số
009 đến số 096).
3.-
Tâm-trạng hoan-hỉ của Na-Tiên và Di-Lan sau cuộc đàm-luận
(tiểu-mục số 097).
Sau
đây, xin tóm lược ba phần chánh đó.
*
100.-
Tóm-lược về Tiền kiếp của Na-Tiên và Di-Lan .
Vào
một thời kia, Đức Phật ngụ tại chùa Kỳ-viên, nước Xá-vệ,
có đông-đảo các vị Tì-kheo, Tì-kheo-ni và hơn vạn dân-chúng
tham-dự để nghe giảng Pháp. Nhận thấy hôm ấy, tâm-trạng
của đại-chúng chẳng an, Đức Phật liền rời tịnh-xá đi
vào rừng tòng an-tịnh, để niệm Đạo. Vào lúc ấy có Tượng-vương
(voi chúa) cũng rời bầy voi đang đùa nghịch, đi tìm nơi thanh-vắng.
Tượng-vương trông thấy Đức Phật liền qùi xuống làm lễ.
Đức Phật vì Tượng-vương nói Pháp, nhờ đó tâm Tượng-vương
khai-ngộ. Kể từ đó, Tượng-vương thừa-sự Đức Phật
và quanh-quẩn bên cạnh Ngài luôn. Về sau, khi Đức Phật nhập
Niết-bàn, Tượng-vương mến-tiếc và đến chùa Ca-La-Hoàn
nghe chư Tăng tụng Kinh vào các ngày trai. Khi thọ-mạng hết,
Tượng-vương được tái-sanh lại làm người, con trai trong
một gia-đình Bà-la-môn. (Xin xem lại các tiểu-mục số 001,
002, và 003).
Lớn
lên, người con trai ấy nhớ đến Kinh Phật được nghe ở
đời trước, mới rời nhà, lên non học Đạo. Cùng với một
tu-sĩ Bà-la-môn khác, anh kết làm bạn thiện-tri-thức với
nhau. Một người nguyện kiếp sau sẽ làm vua một nước; một
người nguyện sẽ làm sa-môn. Như lời họ ước-nguyện, trong
kiếp sau, một người sanh ra làm Thái-tử tên là Di-Lan, tại
một nước ở ven biển; còn một người tái-sanh lại ở huyện
Kế-Tân, nước Thiên-Trúc (Ấn-độ xưa), khi sanh ra có áo
cà-sa quấn quanh mình, được cha-mẹ đặt tên là Na-Tiên.
Do
đó, tiền-kiếp của Na-Tiên là Tượng-vương; còn tiền-kiếp
của vua Di-Lan là một tu-sĩ theo đạo Bà-la-môn. (Xin xem lại
tiểu-mục số 004 nơi bản Phỏng-dịch).
*
101.-
Na-Tiên đắc quả A-la-hán .
Năm
mười sáu tuổi, Na-Tiên thọ giới Sa-di với người cậu là
vị sa-môn tên Lâu-Hán; vị nầy đã đắc được đạo-quả
A-la-hán. Na-Tiên học thông Kinh-Kệ, giữ-gìn Giới-luật thanh-tịnh,
đến năm 20 tưổi được thọ giới Đại-Sa-môn. Vào ngày
Rằm, Na-Tiên đến chùa Hoà-Thiền-Tự để dự lễ Bố-tát,
đọc tụng Kinh-Giới. Vị Thượng-Tọa trụ-trì nhận thấy
Na-Tiên qùi giữa các vị Tì-kheo đều đã đắc quả A-la-hán,
thuyết Kinh thí-dụ, giữa các hột gạo trắng có lộn hột
gạo đen, đó là Na-Tiên, còn chưa đắc quả A-la-hán. Na-Tiên
buồn rầu, cúi lạy xin sám-hối và đi ra khỏi chùa.
Na-Tiên
lại theo học với Sư Ca-Duy-Viết, là một thiền-sư hơn tám
mươi tuổi, tánh rất nghiêm-khắc. Buổi sáng, Na-Tiên mang
bình bát của Sư-phụ đi đến nhà một cư-sĩ thường hay
cúng-dường thực-phẩm cho chư Tăng. Sư Ca-Duy-Viết ra lịnh
cho Na-Tiên phải ngậm một ngụm nước mặn trong khi đến
nhà vị cư-sĩ đó. Đến nơi, vị cư-sĩ dâng hiến thực-phẩm
quí-giá. Thể theo lời yêu-cầu của vị cư-sĩ, Na-Tiên thuyết
kinh cho nghe, như thế là Na-Tiên phạm điều cấm-đoán của
Sư Ca-Duy-Viết, vì phải nhổ ngụm nước mặn ra để nói
Pháp. Sau thời Pháp, cả hai, người nói lẫn người nghe, đều
chứng quả Tu-đà-huờn. Trở về chùa, Na-Tiên bị trục-xuất
vì vi-phạm giới cấm của Thầy, mặc dầu thuyết-pháp thành-công
có hiệu-quả lớn. Na-Tiên lạy Thầy, rời chùa, lên non, ẩn
tu. Chẳng bao lâu, nhờ tinh-tấn hành Thiền, Na-Tiên chứng
quả A-la-hán, đắc được các thần-thông.
Na-Tiên
trở lại chùa Hoà-Thiền-Tự, với tư-cách A-la-hán, lạy sám-hối
với chư Tăng; rồi ra đi, châu-du khắp nơi để giảng-dạy
Kinh-Pháp. Chẳng bao lâu, danh-tiếng của Na-Tiên vang dội gần
xa; biện-tài luận-đàm được mọi người kính-phục; đệ-tử
theo học Đạo rất đông-đảo, có nhiều vị nhờ đó mà
đắc được các Thánh-quả. (Xin xem các tiểu-mục số 005,
006, 007, 008)
*
102.-
Sa-môn Dã-Hoà-La bị vua Di-Lan hỏi bí .
Vua
Di-Lan cai-trị nước Xá-Kiệt (Pali: Sàgalà) rất giàu-có, đất-đai
phì-nhiêu, dân-chúng hiền-lành, việc buôn-bán rất thạnh-vượng.
Nhà Vua tuổi trẻ tài cao, văn-võ tinh-thông, thường bàn-luận
về các Kinh-kệ ngoại-đạo đủ loại.
Một
hôm, nhơn đi du-ngoạn ra ngoài thành, Đức Vua thấy còn sớm,
muốn tìm một bực tu-hành đắc đạo để thưa hỏi về các
Kinh cao và khó. Các quan mời Vua đến gặp vị sa-môn Dã-Hoà-La
được nổi tiếng là bực có đức-hạnh cao. Vua hỏi vị
sa-môn:
- Vì
sao Khanh cạo râu, cắt tóc, rời bỏ gia-đình đi tu? Khanh theo
đạo nào?
- Tôi
học hạnh trung-chánh của đạo Phật, đời nầy được phước,
đời sau cũng được phước. Vì lẽ đó, tôi xuống tóc, cạo
râu, rời bỏ gia-đình, đi tu làm sa-môn.
- Các
người còn mặc áo trắng, tu tại-gia mà theo đúng hạnh trung-chánh
đó, có được phước đời nầy và đời sau không?
- Các
người tu tại nhà, theo đúng hạnh trung-chánh của đạo Phật,
cũng được phước ấy trong đời nầy và cả về đời sau.
- Thế
thì, tại sao Khanh lại bỏ cả gia-đình đi tu?
Sa-môn
Dã-Hoà-La im lặng, trả lời chẳng được. Các quan hầu-cận
liền nói: ''Đức Vua đắc-thắng. Nhà Vua đã thắng vị đạo-nhơn.''
Nhà
Vua có vẻ tự-mãn, quay lại hỏi các quan:
- Còn
có vị sa-môn nào khác đủ sức cùng Ta đối-đáp về các
Kinh cao và khó chăng?
Viên
quan hầu-cận tên Triêm-Di-Lợi tâu:
- Có
một vị Tì-kheo tên là Na-Tiên, vừa đến nước Xá-Kiệt
nầy, nổi tiếng là thông-đạt các Kinh-Kệ của Đức Phật,
giải-đáp mọi nghi-ngờ rất thông-suốt, có thể cùng nhà
Vua bàn-luận về các Kinh cao và khó.
Vua
liền sai Triêm đi thỉnh Tì-kheo Na-Tiên đến hội-kiến.
(Xin
xem lại các tiểu-mục số 009, 010, 011).
Trước
khi kể tiếp, Thiện Nhựt xin mở ngoặc để tìm hiểu thêm
về hạnh trung-chánh mà Sa-môn Dã-Hoà-La nói đến. Hạnh, còn
đọc là hành, nghĩa là làm; chữ đức-hạnh có nghĩa là lối-sống,
là hạnh-kiểm, đứng-đắn, theo con đường lành; chữ giới-hạnh
có nghĩa là đời- sống đúng theo giới-luật nhà Phật, tránh
mọi điều răn-cấm. Trung-chánh có nghiã: trung là ở thẳng
ngay chính giữa, chẳng nghiêng qua hai bên, chánh là chơn-chánh,
ngay-thẳng, đứng-đắn.
Hạnh
trung-chánh được nói ở đây tức là lối sống theo đúng
với Giới-luật do Đức Phật đặt ra: Ngũ Giới cho người
tu tại nhà, Cụ-túc-giới cho các tì-kheo và tì-kheo-ni tu trong
chùa. Nhưng, theo sự suy-đoán của Thiện-Nhựt, có lẽ dịch-giả
bản Hán-văn đã dùng ba chữ hạnh trung-chánh để nói đến
con đường Trung-Đạo và cả Bát-Chánh-Đạo ghi trong bản
Kinh Chuyển-Pháp-Luân, là bản Kinh đầu-tiên của Đức Phật
thuyết-giảng tại vườn Lộc-Uyển. Con đường Trung-Đạo
là con đường ở giữa, chẳng nghiêng qua bên tham-muốn các
lợi-dưỡng, các thú vui vật-chất, mà cũng chẳng ngã sang
bên tu-hành ép-xác. Thực-hiện con đường Trung-Đạo đó,
thì phải theo đúng tám ngành của Bát-Chánh-Đạo. Bát-Chánh-Đạo
gồm có: (1) chánh-kiến, sự thấy-biết chơn-chánh (2) chánh
tư-duy, sự suy-nghĩ đứng-đắn; (3) chánh-ngữ, lời nói ngay
thật; (4) chánh mạng, lối mưu-sanh đúng-đắn với nghề-nghiệp
chơn-chánh; (5) chánh nghiệp, giữ gìn thân-nghiệp chẳng làm
quấy, khẩu-nghiệp nói lời chơn-chánh; ý-nghiệp suy-tư đứng-đắn;
(6) chánh tinh-tấn, nỗ-lực làm điều thiện hơn thêm lên;
(7) chánh-niệm, biết giữ-gìn tư-tưởng trong tâm thanh-tịnh;
và (8) chánh-định, tâm-ý an-trụ đứng-đắn.
Xin
đóng dấu ngoặc lại và kể tiếp.
*
103.-
Vua Di-Lan thử-thách Tì-kheo Na-Tiên .
Khi
quan Triêm-Di-Lợi đến mời, Na-Tiên liền cùng chư tì-kheo
tới nơi vua đang ngự. Từ xa, nhìn đoàn tì-kheo di-chuyển,
nhà Vua trông thấy một vị sa-môn đi đứng trang-nghiêm, thân-tướng
đẹp-đẽ, đoán ngay đó là Na-Tiên. Triêm-Di-Lợi đến gần
bên Vua, tâu rằng, vị tì-kheo Na-Tiên vừa đến, và chỉ ngay
chính người mà Đức Vua dự-đoán là Na-Tiên. Lòng Vua rất
mừng, nhưng tâm ngài lại cảm thấy xao-xuyến. Ngài tự nghĩ:
''Tâm ta đang bàng-hoàng trước mặt Na-Tiên, chắc là Na-Tiên
sẽ thắng ta.''
Sau
khi xưng tên và các lời thăm hỏi xã-giao, cuộc đàm-luận
bắt đầu. Vua Di-Lan liền dùng một câu hỏi khó, hỏi Na-Tiên:
- Na-Tiên!
Ai là Na-Tiên? Đầu, mắt, tai... là Na-Tiên chăng?
Mỗi
câu vua hỏi, Na-Tiên đều đáp:
- Chẳng
phải là Na-Tiên.
(Để
tránh sự trùng-điệp với Phần Phỏng-dịch, tại đây, Thiện
Nhựt chẳng thuật lại đầy-đủ các chi-tiết hỏi và đáp
giữa hai người, xin độc-giả chịu phiền xem lại tiểu-mục
số 013, Phần Phỏng-dịch).
Rồi
Na-Tiên hỏi ngược lại Đức Vua:
- Xe
là gì? Trục xe, vành bánh xe, căm xe... có phải là xe chăng?
Mỗi
câu Na-Tiên hỏi về các bộ-phận của chiếc xe, Vua đều
trả lời:
- Chẳng
phải là xe.
Na-Tiên
liền hỏi câu chót:
- Vậy
cái gì mới thật là xe?
Đức
Vua im lặng, chẳng đáp được.
Na-Tiên
liền kết-luận bằng cách trích-dẫn một đoạn Kinh Phật,
hiệp-tụ các bộ-phận (...) đó lại, là nguyên-nhân để
có được chiếc xe; con người cũng vậy, hễ hiệp-tụ các
bộ-phận trong thân-tâm lại thì thành ra con người, được
đặt tên để gọi là Na-Tiên.
Vua
khen: ''Lành thay! Lành thay!''
Nhà
Vua lại hỏi một câu rất khó, để thử-thách sự lanh-trí
của Na-Tiên. Vua nói:
- Ta
có điều muốn hỏi.
- Xin
Đại-Vương cứ hỏi.
- Ta
đã hỏi xong.
- Tôi
cũng đã đáp xong.
- Đáp
những gì đâu?
- Đại-Vương
hỏi tôi những gì đâu?
Đến
đây, Thiện Nhựt lại xin ngưng việc tóm-tắt bản Phỏng-dịch,
và một lần nữa, xin mở dấu ngoặc để nêu lên chỗ Vua
Di-Lan đã thử-thách Na-Tiên về những điểm nào.
Trước
nhứt là câu hỏi: Ai là Na-Tiên? Nghĩa sâu-kín của câu hỏi
đó là: Vậy chớ cái gì mới thật là Na-Tiên? Bản-chất
của con người là gì? Nơi thân-tâm con người, có cái gì
là cái Ta, là bản-ngã không? Hoặc nói theo những người còn
mê-tín, trong thân-tâm nầy, có cái linh-hồn tồn-tại mãi
qua thời-gian chăng?
Các
câu trả lời của Na-Tiên, cùng lời kết-luận trích dẫn
Kinh Phật đều qui về một vấn-đề căn-bản của Giáo-lý
nhà Phật: lý vô-ngã, trong thân-tâm con người chẳng hề có
cái Ta, chẳng hề có cái bản-ngã. Tuy Na-Tiên chẳng nói rõ
ra, nhưng ta biết thân-tâm con người chỉ là sự tập-hợp
của năm uẩn: sắc-uẩn là phần vật-chất, gọi là thân,
và bốn uẩn kia, thọ, tưởng, hành, thức- uẩn thuộc về
phần tinh-thần, tức là tâm. Chẳng hề thấy trong thân-tâm
nầy, đâu là ông chủ gọi là Ta, đâu là linh-hồn, gọi là
phần hồn của Ta cả, chỉ có các uẩn tập-hợp lại mà
thôi. Đó là lý-lẽ vững-chắc chứng-minh Chơn-lý vô-ngã
của Phật-học.
Na-Tiên
đã vượt qua dễ-dàng chỗ Vua thử-thách bằng cách hỏi ngược
lại: Xe là gì? Cái gì trong xe là xe? Vua chẳng trả lời được,
như thế Na-Tiên đã thắng. Rất tiếc, nhà Vua chẳng hỏi
thêm chi-tiết về lý vô-ngã nữa, để chúng ta được dịp
học-hỏi về cách Na-Tiên giải các mối nghi-ngại còn sót
lại về Chơn-Lý quan-trọng nầy.
Nhưng
nhà Vua lại đưa ra thêm một câu hỏi rất khó, nếu ai mà
lớ-quớ, chẳng nhanh-trí như Na-Tiên, thì liền lọt vào cạm-bẫy
ngay. Hỏi mà chẳng nêu câu hỏi là hỏi làm sao? Đáp mà chẳng
nói ra lời, là đáp cách nào? Vua và Na-Tiên đang so gươm trí-huệ
với nhau đấy!
Nhà
Vua muốn hỏi Na-Tiên mà chẳng nêu câu hỏi lên, tức là Nhà
Vua muốn hỏi gì? Hai đằng hiện đang bàn-luận về giáo-pháp,
thế thì câu Nhà Vua muốn hỏi là câu hỏi thuộc về Pháp
(Dharma, giáo-pháp) chớ gì. Tại sao Vua lại chẳng nói đó
là câu hỏi về Pháp. Bởi lý-lẽ rất cao-siêu là Pháp vốn
Không, tức là Pháp vốn rỗng-rang, chẳng chứa đựng gì,
chẳng dính mắc gì, chẳng có hình-tướng gì, thì làm sao
diễn-tả ra bằng lời nói được. Nếu có nói ra câu hỏi
về Pháp, tức là mặc-nhiên phủ-nhận tánh-chất rỗng-rang
của Pháp rồi, đâu nêu lên được chỗ Pháp-Không trong giáo-lý,
lại còn khoác thêm cho Pháp một hình-tướng ngôn-từ.
Na-Tiên
quả là nhanh-trí, biết ngay chỗ ẩn-ý của nhà Vua, nên mới
đáp là, đã đáp xong, mà chẳng nêu rõ là đáp những gì.
Nếu Na-Tiên vô-tình hỏi lại Vua, Vua vừa nói: đã hỏi rồi,
là hỏi gì đâu? thì Na-Tiên liền rơi vào cạm-bẫy của Vua,
chờ đợi một câu hỏi về Pháp bằng ngôn-từ. Pháp vốn
là Không, sao diễn ra bằng hình-tướng của lời nói để
hỏi thành câu hỏi, hóa ra còn chưa hiểu được điểm giáo-lý
rất quan-trọng nầy của nhà Phật sao?
Trở
lại câu hỏi đầu-tiên Ai là Na-Tiên? Y-nghĩa sâu-xa của tiểu-mục
số 013, là vấn-đề Ngã-không, trong Giáo-Lý Nam-Tông. Câu
hỏi của Vua và cách đáp của Na-Tiên ở tiểu-mục số 015,
liên-quan đến vấn-đề Pháp-không, trong Giáo-lý Bắc-Tông.
Cả hai vấn-đề khó-khăn nầy đều được Na-Tiên vượt
qua một cách xuất-sắc. Và xuất-sắc hơn nữa là tác-giả
quyển Tì-kheo Na-Tiên nầy, đã trình-bày hai vấn-đề cực-kỳ
tế-nhị ấy dưới hình-thức hết sức đơn-giản, dễ hiểu
và đầy hứng-thú!
*
104.-
Thái-độ trong khi bàn-luận Giáo-pháp.
Còn
một vấn-đề cực-kỳ quan-trọng mà các người ưa thảo-luận
về giáo-pháp nên lưu-tâm. Đó là thái-độ thích-nghi của
những người tham-dự cuộc bàn-luận về các vấn-đề tôn-giáo.
(Tiểu-mục
số 014, bản Phỏng-dịch, là một đoạn văn hết sức thiết-yếu,
kính mong người đọc xem lại kỹ và suy-gẫm thêm).
Sau
khi thử-thách Tì-kheo Na-Tiên, Vua Di-Lan mới ngỏ ý muốn cùng
Sư bàn-luận về Giáo-Pháp. Bằng lời nói bộc-trực, Na-Tiên
thẳng-thắn nói:
- Nếu
Vua dùng trí-huệ để hỏi tôi, thì có thể cùng nhau bàn-luận.
Nếu Vua dùng ý lời vương-giả kiêu-quí, thì chẳng thể cùng
Vua bàn-luận được.
Sự
phân-biệt giữa lời nói của trí-huệ và lời nói của vương-giả
đã được Na-Tiên trình-bày rất minh-bạch. Lời nói ngay-thẳng,
chơn-chánh, hướng về Chơn-lý, có thua có thắng, thất-bại
chẳng chút giận-hờn, là lời nói của bực trí-giả. Lời
nói kiêu-quí, phóng theo cảm-nghĩ riêng, gặp chỗ chẳng vừa
ý thì trừng-phạt, đó là lời nói của bực vương-giả.
Đức
khiêm-cung của nhà Vua cũng được biểu-lộ ra rất rõ-ràng,
đáng cho ta khâm-phục, khi Ngài đáp:
- Nguyện
dùng lời nói của bực trí-giả, chẳng dùng lời nói của
vương-giả, chẳng giữ ý-nghĩ vương-giả trong lời mình nói...
khiến cho lòng mình chẳng mang sợ-hãi, thành-tâm cùng được
khai-ngộ.
Nhơn
vấn-đề quan-trọng nầy, Thiện Nhựt, theo thiển-ý của mình,
xin thưa thêm một vài điều:
1.-
Kinh-sách Phật-học thường nhắc đến lời Phật dạy là
phải tránh các cuộc hí-luận. Thế nào là hí-luận? Hí là
vui-đùa. Luận là bàn-cãi. Thường thấy, tiếp theo các buổi
trà-dư tửu-hậu, nhiều người tự-nhận là bực ''trí-thức
hiểu Đạo'' ngồi nhâm-nhi tách trà, bàn-luận nhau với lời-lẽ
dao to búa lớn mà ý-nghĩa lại rỗng-tuếch, phê-bình vị đại-sư
nầy, khen-ngợi vị thiền-giả kia, từ Đông sang Tây, hết
kim đến cổ; đó là ... bàn-luận chơi cho vui, vậy thôi, chớ
nào phải đi tìm Chơn-lý, để rút lấy kinh-nghiệm tu-tập.
Thế cho nên, Đức Phật mới gọi là hí-luận và dạy ta cần
phải tránh.
2.-
Kinh-sách Phật-học phân-biệt hai loại Chơn-lý: (1) sự-thật
ở thế-gian, có thể đúng nơi nầy, vào lúc nầy, mà có thể
chẳng hợp với chỗ kia, vào một thời khác, cho nên gọi
đó là tục-đế, nghĩa là sự-thật tương-đối trong đời
sống thế-tục; (2) sự-thật đúng muôn đời và khắp mọi
nơi, đưa con người tu-hành đến nơi giác-ngộ và giải-thoát;
vì thế cho nên mới gọi là chơn-đế, nghĩa là sự-thật
tuyệt-đối, thuộc lãnh-vực xuất-thế-gian. Dùng lời-lẽ
của thế-gian khó mà vươn lên đến tận Chơn-lý tuyệt-đối
của lãnh-vực xuất-thế. Bởi thế cho nên, người hiểu-biết
bao giờ cũng nghĩ là mình chưa hề nắm vững được Chơn-đế,
nên phải giữ thái-độ khiêm-hoà, chẳng dám liều-lĩnh bảo
rằng điều mình nói là sự-thật duy-nhứt và tối-thượng.
Trái lại, tâm-trạng người ấy nên mở rộng ra đón nhận
tạm-thời lời-lẽ của người đối-thoại, hẹn với lòng
mình sẽ truy-cứu và soát-xét kỹ lại các chỗ đúng cùng
sai, hầu rút lấy kinh-nghiệm tu-tập cho bản-thân.
3.-
Thái-độ thích-nghi trong khi luận-bàn về Giáo-lý là phải
thành-khẩn trong tư-tưởng và lời nói:
a.-
Về phiá người thưa hỏi, ở vào vị-thế của người đi
học Đạo, cần phải giữ lễ-độ đối với người mà mình
thưa-thỉnh. Thái-độ đứng-đắn là nêu ra các câu hỏi cho
rõ-ràng, chú-trọng đến chỗ mình còn nghi-ngờ chưa được
giải rõ. Và khi nghe lời giảng-giải, phải lắng lòng, chú-tâm,
chẳng vội chấp-nhận, cũng chẳng bài-bác ngay, nếu có chỗ
chưa kịp hiểu, thì xin được minh-chứng thêm bằng các thí-dụ
cụ-thể trong đời sống hằng ngày.
b.-
Về phiá người được hỏi, chẳng bao giờ để khởi lên
trong lòng mình một chút ý-nghĩ tự-hào cỏn-con nào rằng
mình biết Đạo hơn người kia, nếu chẳng đáng làm Thầy
thì cũng là người đi trước. Và khi giảng-giải, phải tùy
theo căn-cơ của người nghe mà dùng lời-lẽ giản-dị, rõ-ràng,
dễ hiểu, kèm theo các thí-dụ trong thực-tế.
4.-
Trong một cuộc thảo-luận về các vấn-đề đạo-giáo, có
hai điều mà kẻ hỏi và người đáp cần nên tránh, thì mới
xứng-danh là một cuộc thảo-luận đứng-đắn và hữu-ích.
a.-
Về phía người hỏi, chớ bao giờ có hậu-ý muốn dồn kẻ
đối-thoại vào ... ngỏ bí. Trên địa-hạt tâm-linh, có nhiều
vấn-đề mà chính Đức Phật đã gọi là bất-khả tư-nghì,
nghĩa là chẳng thể nghĩ-bàn được với lời-lẽ của thế-gian.
Đừng đòi-hỏi có cho được những bằng-cớ thật cụ-thể,
tai nghe mắt thấy, có thực-nghiệm của khoa-học chứng-minh,
rồi mới chấp-nhận. Điều mình chẳng tin được, trong khung-cảnh
thời-gian và không-gian hiện-tại, chưa chắc hẳn là chẳng
thể nào có được, biết đâu đó lại là một sự-thật
tại một cảnh-giới khác, vào một thời khác. Thế cho nên,
thái-độ khoa-học chơn-chánh là phải tỏ ra dè-dặt, chớ
vội bác-bỏ hoàn-toàn mà chẳng cứu-xét kỹ lại khả-năng
thông-hiểu của trí-óc con người.
b.-
Về phía người đóng vai-trò hướng-dẫn, tưởng cũng chẳng
nên đưa ra ''tối-hậu-thơ'': tôi nói như thế, có tin thì
tu theo, còn chẳng tin, thì cứ giữ lấy quan-niệm của mình
vậy. Người thưa hỏi thành-tâm muốn được giải chỗ còn
hoài-nghi, nghe câu nói đó rất chán-nản, và đạo-tâm vì
thế mà lùi sụt. Lại nữa, cũng đừng nên dùng luôn câu
nói quá dễ-dàng nầy: tôi nói thế, đạo-hữu cứ đọc đi,
tụng đi, thi-hành theo đi, rồi sẽ có ngày hiểu rõ được
ý-nghĩa sâu-xa mà đạo-hữu muốn hỏi. Người hỏi đang chờ
đợi một vài câu khuyên thực-tế, đôi lời giảng-giải
gọn-gàng về ý-nghĩa chỗ còn đang thắc-mắc, làm sao mà
tiếp-tục đọc-tụng thêm được, nếu chỗ hồ-nghi còn chưa
được giải-toả. Tưởng chẳng có chi là đáng hổ-thẹn
khi chính mình nhận thấy mình còn chưa đủ lời-lẽ để
phân-tách điều đang được hỏi, sao lại chẳng thành-thật
nhìn nhận sự thiếu-sót của mình và mời người hỏi tìm
đến một bực cao-minh khác?
5.-
Và trong mọi trường-hợp, chớ chẳng cứ là chỉ trong các
dịp thảo-luận mà thôi, luôn luôn nên giữ thái-độ cởi-mở,
đón nhận mọi lý-lẽ, -- tin hay chẳng chịu tin, đó là quyền
tự-do tư-tưởng riêng bên trong của mình -- hãy lắng nghe
để cho người đối-thoại có đủ cơ-hội trình-bày lập-trường.
Thái-độ đáng trách nhứt là cố-chấp, ôm giữ khư khư các
ý-kiến, các cảm-nghĩ cá-nhơn, và cả các thành-kiến!
Thiện
Nhựt xin thành-tâm sám-hối đã quá dài-dòng khi nêu ra nhiều
ý-kiến thô-thiển của mình. Xin đóng dấu ngoặc lại và
quay về kể tiếp câu chuyện giữa vua Di-Lan và tì-kheo Na-Tiên.
*
105.-
Dọc đường, Triêm-Di-Lợi được Na-Tiên khai-ngộ .
Lúc
bấy giờ trời sắp tối, nhà Vua muốn quay về cung. Hôm sau,
Vua sai quan hầu-cận Triêm-Di-Lợi đi thỉnh Na-Tiên đến đền
vua để cúng-dường trai-tăng và thưa hỏi về Phật-pháp.
Na-Tiên cùng với tám mươi vị tì-kheo lên đường đến hoàng-cung.
Dọc
đường, Triêm-Di-Lợi nhớ lại cuộc nói chuyện hôm qua giữa
Vua và Na-Tiên, mới thưa cùng Na-Tiên:
- Bạch
Ngài, hôm qua, Ngài có bảo, chẳng có gì là Na-Tiên cả, tôi
còn chưa hiểu, mong Ngài chỉ-dạy thêm cho.
- Theo
ông, thì cái gì là Na-Tiên?
- Có
lẽ hơi thở ra vào chính là Na-Tiên.
- Hơi
thở có ra mà chẳng vào, thì con người thế nào?
- Hơi
thở ra mà chẳng vào lại, mạng sống con người chấm dứt.
- Thế
thì, các người thổi kèn, thổi ống bể lò rèn, thổi tù-và,
khi thổi hơi ra, hơi đó có trở vào chăng?
- Bạch,
không?
- Các
người thổi đó có vì thế mà chết đi chăng?
- Bạch,
không; họ chẳng vì thế mà chết. Xin Ngài chỉ-dạy rõ thêm.
- Hơi
thở ra vào là một phần-việc ở trong cơ-thể; cũng như trong
tâm có ý thì lưỡi nói ra lời; đó là phần-việc của tâm
và của lưỡi. Mỗi bộ-phận trong thân-tâm đều có phần-việc
cả, khi nhìn kỹ lại thì là Không, là rỗng-rang, chẳng có
gì là Na-Tiên cả.
Triêm-Di-Lợi
nghe xong, tâm liền khai-ngộ.
(Tiểu-mục
số 017, bản Phỏng-dịch, vừa được nhắc lại trên đây,
nhằm nêu lên lý-do tại sao chẳng có gì là Na-Tiên cả, và
để giải-thích thêm lý vô-ngã: trong thân-tâm do năm uẩn
tập-hợp lại nầy, chẳng hề có cái gì gọi là ''Ta'',''Ngã''
cả. Bình-dân còn mê-tín tin-tưởng rằng mỗi người có một
linh-hồn bất-diệt, cứ đầu-thai lại làm người trải qua
nhiều kiếp sống chết. ''Ta'' chẳng có, mà cả ''linh-hồn''
cũng chẳng có; chẳng qua vì mê-tín, vì tà-kiến, mà vướng-mắc
phải ý-tưởng sai-lầm nầy là coi trong thân-tâm như có cái
''Ta'', có cái ''linh-hồn''. Tà-kiến đó gọi là thân-kiến,
hoặc ngã-kiến.)
Sau
khi, chư Tăng an-toạ, Đức Vua tự tay sới cơm và sớt thực-phẩm
dâng-hiến lên cho Tì-kheo Na-Tiên. Tiếp theo bữa thọ-trai,
nhà Vua sai mang áo ca-sa và giầy ra cúng-dường Tăng-đoàn.
Kế đó, nhà Vua truyền lịnh cho các quí-nhơn trong hậu-cung
phải ra ngoài thượng-điện, ngồi sau màn, để theo dõi cuộc
pháp-đàm giữa Ngài và Ti-kheo Na-Tiên. (Đây là hảo-ý rất
đáng khen của nhà Vua muốn cho các phi-tần trong hậu-cung cũng
có dịp học-hỏi thêm về Chánh-Pháp).
*
106.-
Sắp-xếp lại các loại câu hỏi về Giáo-Pháp .
Đến
đây, Thiện-Nhựt vừa kể xong Phần I của quyển Tì-kheo Na-Tiên.
Tiếp theo xin tóm-tắt Phần II của quyển sách là phần quan-trọng
nói đến các câu hỏi và lời giải-đáp giữa Di-Lan và Na-Tiên.
Rất
khó sắp-xếp lại các vấn-đề đạo-pháp mà Vua Di-Lan đã
lần-lượt nêu lên để hỏi Tì-kheo Na-Tiên. Nhiều câu hỏi
được nhắc đi nhắc lại nhiều lần ở nhiều đoạn khác
nhau. Thí-dụ như vấn-đề đi tu làm sa-môn, vấn-đề tái-sanh,
vấn-đề Trí-huệ, v.v...
Tổng-cộng
tất cả có hơn 80 câu hỏi, có thể tạm chia làm mười vấn-đề
sau đây:
I.-
Tại sao đi tu làm sa-môn?
II.-
Sự tái-sanh, nghiệp-lực, và thuyết Luân-hồi;
III.-
Phân-biệt các điều thiện và ác;
IV.-
37 Phẩm Trợ Đạo;
V.-
Trí-huệ;
VI.-
Các loại cảm-thọ;
VII.-
Đắc Đạo và cõi Niết-bàn;
VIII.-
Phật;
IX.-
Con ''Người'' và lý-thuyết vô-ngã;
X.-
Các câu hỏi linh-tinh về kiến-thức tổng-quát.
Nơi
Bản Mục-Lục có ghi rõ các tiểu-mục và các trang có liên-quan
đến mười vấn-đề vừa nêu trên đây.
Trong
Phần Tìm hiểu Nghĩa Ý, Thiện Nhựt xin mạn phép chẳng theo
đúng thứ-tự từng trang một, trong Bản Phỏng-dịch, mà lại
lần-lượt xét theo các vấn-đề nêu trên đây; xin người
đọc chịu phiền tra-cứu lại chánh-văn trong bản Phỏng-dịch,
nếu thấy cần.
-----*-----
I.-
Vấn-đề: Đi tu làm Sa-môn
107.-
Tại sao đi tu làm sa-môn?
Vấn-đề
tu-hành, đối với người còn tại nhà và đối với các bực
đã xuất-gia, là vấn-đề quan-trọng bực nhứt; vì lẽ đó
vua Di-Lan đã nêu lên câu hỏi nầy, trước với vị sa-môn
Dã-Hoà-La, và sau đó lại đặt vấn-đề ấy với Tì-kheo
Na-Tiên, hơn một lần.
Nơi
tiểu-mục số 010, phần Phỏng-dịch, nhà Vua hỏi sa-môn Dã-Hoà-La,
vì sao cạo đầu đi tu làm sa-môn. Vị sư nầy đáp:
- Chúng
tôi học hạnh trung-chánh của đạo Phật, đời nầy được
phước, đời sau cũng được phước; vì lẽ đó, tôi xuống
tóc, cạo râu, mặc áo cà-sa làm sa-môn.
Lý-do
đi tu làm sa-môn, ở đây, được Sư Dã-Hoà-La nêu lên là
để được phước đời nầy và đời sau. Đó là tu phước.
Phước đó là phước gì? ''Được phước'' là cuộc sống
trong hiện-tại và trong tương-lai được nhiều may-mắn, sung-sướng,
thí-dụ như được giàu-có, thoát khỏi mọi tai-nạn, thân-tâm
được an-lạc và gia-quyến chẳng bị khổ-sở, v.v. Sự hưởng-thọ
hạnh-phước đó được xem như ''phần thưởng'' để bù-đắp
cho công khó-nhọc đã tu-hành; ''phần-thưởng'' ấy được
gọi là ''phước'', đều dành cho cả hai hạng người tu tại-gia
và bực xuất-gia, khi đã noi theo đúng ''hạnh trung-chánh''.
Hạnh-phước đó do đâu mà có? Đó là vì trong đời nầy
tu-hành, tránh các điều ác, làm nhiều điều lành, tạo nên
thiện-nghiệp, nên theo Luật Nhân-quả được hưởng phước
lành, ngay trong hiện-đời được kẻ khác mến-yêu, kính-nễ,
và trong kiếp vị-lai, được sanh lại vào nơi cao-sang, quyền-quí.
Nhưng
mục-đích tu-hành của bực xuất-gia chơn-chánh, ngoài việc
được phước như người tu tại-gia, còn cao-sâu hơn nữa.
Cao-sâu ở điểm nào? Bực xuất-gia đã lià cuộc sống ràng-buộc
trong gia-đình, đi tu cốt là để được giải-thoát? Sao gọi
là giải-thoát, ai hay cái gì ràng-buộc mình mà phải tìm sự
giải-thoát? Đã mang thân-tâm năm uẩn nầy thì phải chịu
khổ, cái khổ chẳng chừa một ai, từ lúc sanh ra, lớn lên,
già, bịnh, chết; thương nhau chẳng gặp nhau; ghét nhau phải
gần nhau, cầu mà chẳng được; các nỗi Khổ đã được
kể đầy-đủ trongKhổ-đế nơi bản Kinh Chuyển Pháp-Luân.
Chính vì muốn đời nầy tránh các nỗi Khổ đó và đời
sau chẳng phải mang lại các nỗi Khổ đó nữa, mà các bực
xuất-gia mới tu-tập theo hạnh sa-môn. (Xin xem lại các tiểu-mục
số 018; số 085, bản Phỏng-dịch).
Vả
lại, phước mà người tu tại-gia được hưởng đời nầy
và cả đời sau nữa, là phước hữu-lậu, (hữu = có; lậu
= rỉ chảy) hưởng riết rồi có ngày sẽ cạn, và khi hết
phước sẽ phải bị khổ-sở trở lại, nhứt là còn chưa
được giải-thoát vì phải tái-sanh lại trong cảnh Luân-hồi.
Còn phước mà bực tu-hành mong được hưởng là phước được
giải-thoát hoàn-toàn, vượt khỏi vòng sanh-tử của Luân-hồi.
Phước đó gọi là phước vô-lậu, (vô = chẳng có), hưởng
hoài chẳng bao giờ dứt, vì một khi đã được hoàn-toàn
giải-thoát rồi thì chứng được vô-sanh, (vô = chẳng có,
sanh = ở đây là tái-sanh, sanh trở lại); chẳng còn phải
lận-đận trong việc chết đi, sống lại, chết đi ... nữa,
để chịu Khổ.
Với
sự phân-biệt giữa hai loại phước, hữu-lậu và vô-lậu,
cùng mục-đích thấp và cao giữa hai hạng tu-hành tại-gia
và xuất-gia, giờ đây ta thấy rõ vì sao Sư Dã-Hoà-La đã
''thua'' vua Di-Lan. Sư thất-bại trong cuộc đối-đáp, chỉ
vì Sư chưa phân-biệt được phước hữu-lậu của kẻ tu
tại nhà, với phước vô-lậu của bực xuất-gia; và nhứt
là mục-đích cao-cả của việc xuất-gia: giải-thoát khỏi
cảnh Luân-hồi, tránh mọi sự Khổ, chớ chẳng phải chỉ
mong được sung-sướng trong đời nầy và đời sau mà thôi
đâu.
Và
đây cũng là dịp để ta phân-biệt thêm việc tu phước và
việc tu huệ. Tu huệ khác với tu phước ở chỗ là nhằm
phát-triển Trí-Huệ, khi theo đúng Tam Vô-lậu-học (= ba môn
học vô-lậu, giúp ta đến nơi giác-ngộ và giải-thoát: Giới,
Định, Huệ). Nhờ giữ Giới thanh-tịnh, thân-tâm thường
an-lạc, nên tâm dễ đắc Định. Nhờ tâm an-định mà Trí-Huệ
được phát-triển. Nhờ Trí-Huệ sáng-suốt mới cắt đứt
được các loại phiền-não, chấm-dứt sự luyến-ái, mà chứng
được vô-sanh, vĩnh-viễn thoát khỏi vòng lẩn-quẩn khổ-sở
của Luân-hồi.
Đức
Phật được tôn-xưng là bực Lưỡng-Túc-Tôn, tức là vị
đã thực-hiện đầy-đủ cả hai Phước và Huệ (lưỡng=
hai; túc= đầy-đủ; tôn = tôn-trọng).
*
108.-
Có mấy hạng sa-môn?
Nơi
tiểu-mục số 018, Tì-kheo Na-Tiên có nêu lên bốn hạng người
đi tu theo hạnh sa-môn: (1) người vì nợ-nần; (2) người vì
sợ quan-quyền; (3) người vì nghèo-khó; và (4) người muốn
dứt bỏ mọi khổ-nhọc đời nầy, đời sau. Và Tì-kheo Na-Tiên
cho biết, mình đi tu làm sa-môn là vì cầu Đạo.
Ba
hạng người trước đi tu, chỉ vì muốn trốn tránh, hoặc
nợ-nần, hoặc bị rắc-rối ở cửa quan, hoặc vì quá nghèo-khó.
Trốn việc đời mới đi tu, mục-đích nầy chẳng mấy chính-đáng.
Cũng như các người vì thất-vọng, tình-duyên dở-dang, sự-nghiệp
tiêu-tan, mới vào chùa để tìm nguồn an-ủi; việc xuất-gia
như thế khó mà bền lâu được; hễ nỗi đau-khổ được
nguôi-ngoai rồi là khó mà chẳng nhớ và quay lại với việc
đời ở thế-gian. Sự xuất-gia cần được đặt trên căn-bản:
thấy rõ và hiểu thấu các nỗi Khổ ở thế-gian, quyết lòng
cắt đứt mọi ràng-buộc ở gia-đình và xã-hội, để tìm
cho bằng được con đường giải-thoát. Có vì cầu Đạo,
thì đạo-tâm mới vững-bền, tinh-tấn tu đến ngày giác-ngộ.
(Về
ý-nghĩa của hai chữ sa-môn và tì-kheo, xin người đọc chịu
phiền xem lại Phần Tìm hiểu Nghĩa Chữ.)
-----*-----
II.-
Vấn-đề: Tái-sanh Luân-hồi
109.-
Vấn-đề tái-sanh được nêu lên nhiều lần trong quyển Tì-kheo
Na-Tiên .
Đề-mục
quan-trọng thứ nhì, thường được nhắc đi nhắc lại trong
quyển ''Tì-kheo Na-Tiên'' nầy là vấn-đề tái-sanh. Xuyên qua
bản Phỏng-dịch, ta thấy Vua Di-Lan đã nêu vấn-đề nầy
tất cả mười bốn lần, mỗi lần với một khía-cạnh khác,
và rải-rác khắp quyển sách:
Các
tiểu-mục số 019; số 037; số 038; số 043; số 044; số 045;
số 047; số 049; số 050; số 070; số 071, 072; số 073; và số
087.
Theo
các tiểu-mục vừa được liệt-kê trên đây, quyển ''Tì-kheo
Na-Tiên'' đã xét vấn-đề tái-sanh dưới các khía-cạnh sau
đây:
1.-
Tại sao phải sanh trở lại? Ai phải sanh trở lại, còn ai
thì chẳng phải sanh trở lại nữa? Người hết tái-sanh lại
có tự-biết đìều đó chăng? Vua hỏi Na-Tiên có biết mình
còn phải tái-sanh nữa không?
2.-
Khi tái-sanh, dùng thân cũ hay có thân mới? Chỗ đã làm thiện-ác
nay đi về đâu? Thân mới có mang theo nghiệp cũ chăng? Thế
nào là Danh-Sắc triển-chuyển theo thời-gian, tòng theo các
nguyên-nhân dây chuyền?
3.-
Cái ''gốc sanh-tử '' của con người là gì?
4.-
Chết cùng lúc, có đến nơi tái-sanh cùng một lúc không?
5.-
Thế-gian có sự-vật nào tự-nhiên mà sanh ra chăng?
*
110.-
Thắc-mắc lớn: Chết rồi, đi về đâu?
Trước
khi tìm hiểu Nghĩa Ý của các tiểu-mục nói trên, xin được
phép xét qua hai điểm thắc-mắc lớn thường thấy: (1) Chết
rồi, sẽ đi về đâu? (2) Có ''hiện-tượng'' tái-sanh thật-sự
hay không?
Với
mạng sống hiện nay trung-bình vào khoảng sáu, bảy mươi năm,
con người thường thắc-mắc tự-hỏi: Khi chết rồi, sẽ
đi về đâu? Khoa-học, trong hiện-trạng, còn chưa có câu trả
lời dứt-khoát. Tùy theo giáo-lý và tín-điều riêng-biệt,
đối với hiện-tượng ''sau cái chết'', các tôn-giáo đã
có lắm cách giải-thích khác nhau.
Phật-giáo
khẳng-định với thuyết Luân-hồi rằng, chúng-sanh sau đời
sống hiện-tại, tùy theo sự dẫn-dắt của nghiệp-lực, do
các hành-vi thiện-ác đã qua gây nên, mà tái-sanh lại vào
một trong sáu nẻo: ba đường dữ: (1)địa-ngục, (2) ngạ-quỉ
và (3)súc-sanh) và ba đường lành: (4) cõi Người, (5) cõi Thần,
và (6) cõi Trời). Chỉ trừ những bực tu-hành đắc-đạo,
nghiệp-lực đã dứt hẳn và chứng được vô-sanh (vô= chẳng;
sanh= sanh lại, ở đây là tái-sanh) an-nghỉ trong cảnh vắng-lặng
của Niết-bàn vĩnh-cửu, mới chẳng còn tái-sanh nữa.
(Với
sự trình-bày quá sơ-lược về lý-thuyết Luân-hồi như trên
đây, chắc-chắn chẳng thể nào giải-tỏa được nỗi thắc-mắc
to-lớn về câu hỏi ''Chết rồi, đi về đâu?'' Tuy nhiên căn-bản
của vấn-đề có liên-quan đến các cảnh-giới ngoài vòng
thế-tục, như cảnh địa-ngục, cảnh Trời, cho nên chẳng
thể dùng lời-lẽ và bằng-cớ cụ-thể ở cõi đời nầy
mà minh-chứng được. Thái-độ khôn-khéo đối với mọi lý-thuyết
là nên cởi-mở, chẳng bác-bỏ hẳn, mà cũng chẳng chấp-nhận
ngay, cứ nên ... để bỏ ngỏ, ''chờ và xem''! ).
*
111.-
Có ''hiện-tượng'' tái-sanh hay không?
Câu
hỏi về tái-sanh vừa nêu trên đây rất khó mà có hẳn một
lời đáp rõ-ràng, thẳng-thắn với đầy-đủ các chứng-minh
của khoa-học hiện-đại được. Tại sao? Vì ''hiện-tượng''
tái-sanh diễn ra chẳng phải chỉ ở tại thế-gian nầy, mà
còn ở các cảnh-giới khác, ở bên kia thế-giới nữa. (Gọi
là ''hiện-tượng'', một biến-cố thật-sự có xảy ra trong
một khung-cảnh không-gian và thời-gian nào đó). Cũng vì lẽ
đó, trong quyển ''Tì-kheo Na-Tiên'', ta đâu thấy ''vấn-đề
việc tái-sanh có thật hay không?'' được đặt ra; trái lại,
tác-giả xem đó là một sự-việc dĩ-nhiên, và mặc-nhiên
chấp-nhận rằng hiện-tượng tái-sanh là có thật, rồi bàn
ngay đến các khía-cạnh khác của tái-sanh như, ai phải tái-sanh,
khi tái-sanh cái gì còn, cái gì mất, v.v... Phải chăng đó
là một thái-độ dựa theo một sự tin-tưởng tiên-thiên,
chẳng cần chứng-minh, cứ xem vấn-đề tái-sanh là một hiện-tượng
thiên-nhiên, một sự-việc tự-nhiên, hễ chết đi rồi tất
phải có sanh trở lại trong vòng Luân-hồi. Đó cũng tựa như
đối với loài thảo-mộc, hễ già cỗi, có trái, có hột,
thì hột giống sẽ nẩy mầm sanh cây khác để tiếp-tục
chủng-loại mãi mãi.
Hiện-tượng
tái-sanh có thật hay chẳng có thật? Quả tình, với khả-năng
trí-óc của con người trong hiện-tại đây chẳng thể nào
trả lời chính-xác và dứt-khoát được. Tại sao? Thử phân-tách
việc tái-sanh ra làm ba giai-đoạn: (1) có một cá-thể chết
đi tại thế-gian nầy; (2) cá-thể đó, trong thời-gian chẳng
còn có mặt ở thế-gian, được biến-đổi tại một cảnh-giới
nào đó, để có được một thân-tâm mới khác; (3) sự sanh
ra đời của một cá-thể sau khi được biến-đổi, hoặc
ở thế-gian, hoặc ở một cảnh-giới khác. Trong ba giai-đoạn
đó, trí-óc con người ở thế-gian, chỉ nhận-thấy rõ ràng
được có hai: một, khi chết và một, khi sanh. Còn việc quả-quyết
rằng chính cá-thể đã chết nay sanh lại dưới thân-thể
mới nầy, thì vượt khỏi sự hiểu-biết của tâm-trí bình-thường.
Thế cho nên, chẳng thể nào có được một câu trả lời
dứt-khoát bằng lời-lẽ của thế-tục.
Giáo-lý
Phật-học căn-cứ trên lời dạy của Đức Phật Thích-ca
mâu-ni tuyên-bố khi Ngài đắc đạo tại Bồ-đề đạo-tràng
rằng, với thiên-nhãn-thông, Ngài nhìn thấy chúng-sanh chết
nơi nầy tái-sanh lại nơi kia, trong vòng Luân-hồi khổ-sở
và lẩn-quẩn. Lời tuyên-bố rất rõ-ràng nầy căn-cứ trên
kinh-nghiệm bản-thân của Đức Phật ngay sau khi Ngài vừa
được giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn. Lời tuyên-bố ấy
giải-tỏa được nỗi thắc-mắc ''Chết rồi, đi về đâu?''
cho những ai tin-tưởng vào Giáo-lý nhà Phật; và dĩ nhiên
đối với một bực đại-sư như tác-giả quyển ''Na-Tiên
Tì-kheo Kinh'' nầy, thì việc tái-sanh được xem như một sự-thật
có thật chẳng cần phải bàn-cãi nữa; và vì lẽ đó mà
quyển sách nầy đã chẳng đặt lại vấn-đề tái-sanh có
thật hay là chẳng có thật.
Đối
với những ai cứu-xét vấn-đề ấy theo nhãn-quan lạnh-lùng
và khách-quan của khoa-học, chỉ có việc tin hay là chẳng
tin vào lời tuyên-bố của Đức Phật mà thôi; nhưng xin được
phép nhắc lại lần nữa, đối với các người chưa tin hay
chẳng tin, chớ vội bác-bỏ, nên có một thái-độ dè-dặt,
bỏ-ngỏ, ''chờ và xem''.
*
112.-
Cái gì mất, cái gì còn, khi chết đi?
Con
người ở thế-gian khi nhìn vào người chết, biết rõ thân-xác
ấy sẽ tan-rả, còn phần tâm-linh, vốn vô-hình, chẳng biết
chắc được rồi sẽ ra thế nào, còn hay mất.
Đối
với người mê-tín, phần ''linh-hồn'' vốn bất-diệt sẽ
thoát ra khỏi thân-xác và đi đầu-thai, hoặc sanh trở lại
ở thế-gian, hoặc được lên Thiên-đàng, hay bị đọa xuống
địa-ngục. Sự tin-tưởng vào một ''linh-hốn bất-diệt ''
chưa thấy được chứng-minh đầy-đủ với bằng-cớ cụ-thể,
cho nên Phật-học xem đấy là một tà-kiến được gọi là
thường-kiến, nghĩa là một ý-kiến sai-lầm cho rằng nơi
thân-tâm con người đã có sẵn một phần tinh-túy, cốt-lõi,
chẳng hề biến-diệt; đã là ''người'' rồi, thì bao giờ
cũng là ''người'' mãi, cho dầu sống tại đây, hay hiện-diện
nơi các cảnh-giới khác.
Trái
ngược hẳn với thường-kiến, có đoạn-kiến, cũng là một
tà-kiến cho rằng, một khi chết đi, thì cùng với sự tan-rã
của thân-thể, phần tâm-linh cũng tan-rã và tiêu-diệt theo,
chẳng còn gì tồn-tại cả: chết là hết! Đây là sự tin-tưởng
của phần đông dân-chúng thiển-cận thấy thây chết vô-tri
nằm bất-động, liền cho đó chẳng còn gì nữa cả.
Thường-kiến
và đoạn-kiến đều phủ-nhận việc tái-sanh, bác-bỏ việc
tu-hành trong hiện-đời và sẽ đưa đến hậu-quả tai-hại:
sống-chết mãi trong thân-phận khổ nhiều, sướng ít của
chúng-sanh.
*
113.-
Tại sao phải tái-sanh lại? Ai phải tái-sanh lại, còn ai chẳng
phải tái-sanh nữa?
Sau
khi trình-bày hai điểm thắc-mắc lớn về cái chết và tái-sanh,
(chẳng thấy sách ''Tì-kheo Na-Tiên'' nầy có bàn đến), giờ
đây xin được tiếp-tục tóm-lược và tìm hiểu ý-nghĩa
các tư-tưởng nêu trong cuộc đàm-luận giáo-pháp giữa nhà
vua và vị tu-sĩ.
Nơi
tiểu-mục số 019, Phần Phỏng-dịch, Vua Di-Lan có hỏi Na-Tiên:
- Ai
còn phải tái-sanh lại, và ai chẳng còn sanh lại?
Na-tiên
đáp:
- Người
quyến-luyến niềm ân-ái nhiều, lắm sự ham-muốn thì sanh
lại ở đời sau; người đã dứt sạch sự ân-ái, bỏ hết
mọi ham-muốn, thì đời sau chẳng phải sanh trở lại.
Câu
trả lời của Tì-kheo Na-Tiên rất rõ-ràng và dứt-khoát: ai
còn (1)quyến-luyến sự ân-ái, (2)lắm sự ham-muốn, thì phải
tái-sanh trở lại ở đời sau. Quyến-luyến sự ân-ái là
gì? Ân-ái trỏ vào mối tình giữa vợ-chồng, hoặc sự tríu-mến
giữa nam-nữ. Sự ham-muốn, ở đây, chỉ vào tất cả những
tham-vọng và đòi-hỏi còn chưa được thoả-mãn; một cách
tổng-quát, còn sự ham-muốn là còn muốn được sống lâu
thêm nữa, để có thể được hưởng-thọ những điều mình
hằng mơ-ước.
Vua
Di-Lan lại hỏi thêm:
- Còn
người một lòng niệm Chánh-Pháp, niệm thiện, có trí-huệ
và siêng làm điều thiện, cũng chẳng sanh lại đời sau, phải
không?
Na-Tiên
đáp:
- Người
lấy nhứt-tâm niệm Chánh-Pháp, niệm thiện, niệm trí-huệ,
và các điều lành khác, nhờ đó đời sau chẳng phải sanh
trở lại.
Nhứt-tâm
niệm Chánh-Pháp, niệm thiện, niệm trí-huệ và các điều
lành, là cách thứ hai để khỏi phải tái-sanh lại chịu khổ
trong cõi Luân-hồi. Nhứt-tâm niệm Chánh-Pháp nghĩa là gì?
Đó là: một lòng cố chuyên-chú nhớ nghĩ đến Chánh-Pháp
và tuân-hành theo. Chánh-Pháp dạy ta ba môn học vô-lậu: Giới,
Định, Huệ; và tuân-hành theo Chánh-Pháp thì phải giữ giới
(trong đó có sự dứt hẳn việc dâm-dục) cho tâm thanh-tịnh,
để sớm đắc định-lực và phát-triển trí-hưệ. Đây là
việc tu huệ như ta đã biết ở tiểu-mục số 107, vừa nói
ở trên. Nhờ trí-huệ mà cắt đứt mọi sự tham-luyến, do
đó mới chấm-dứt được sự tái-sanh; theo như lời Na-Tiên
giải-thích tiếp theo: ''Vương từng thấy việc gặt lúa chăng?
Tay trái cầm bó lúa. Tay phải cắt đứt các cọng lúa. Trí-huệ
con người cắt đứt được sự tham-ái, cũng như ta gặt lúa,
cắt lúa vậy...''
*
114.-
Người hết tái-sanh lại có tự-biết điều đó chăng?
Từ
tiểu-mục số 019, ta phải nhảy đến tiểu-mục số 038,Phần
Phỏng-dịch, để có thể trả lời câu hỏi vừa nêu trong
tiểu-mục số 114 trên đây. Vua hỏi Na-Tiên:
- Có
người chẳng sanh lại ở đời sau không, và có tự-biết
được việc chẳng sanh lại ấy chăng?
- Dĩ
nhiên, có người như thế, tự biết mình chẳng còn tái-sanh.
Và
Na-Tiên đưa ra một thí-dụ về người nông-phu có lúa dự-trữ
năm trước, năm nay chẳng trồng lúa nữa, thì tự biết mình
chắc-chắn chẳng có lúa mới. Thí-dụ giản-dị nầy hàm
chứa một ý-tưởng sâu-xa. Y-tưởng gì? Hễ có gieo mạ, trồng
lúa, thì mới có thóc mới. Gieo mạ đây hàm chứa ý-tưởng
hễ gieo nhân, thì có quả là thóc mới. Người dứt hẳn sự
tham-ái, việc dâm-dục, bỏ mọi ham muốn, thì chẳng gieo nhân
nữa, nên đâu còn phải chịu hậu-quả phải tái-sanh vào
đời sau; nào có khác chi kẻ nông-phu kia chẳng gieo mạ thì
làm gì có lúa mới để phải gặt vào năm tới.
Rồi
Na-Tiên kết-luận:
- Người
đã đắc-đạo cũng lại như thế, tự biết rằng đã dứt
bỏ ân-ái, sướng-khổ, chẳng còn tham-tâm, do đó biết rõ
đời sau chẳng sanh lại.
*
115.-
Vua hỏi Na-Tiên có biết mình còn phải tái-sanh nữa không?
Tại
tiểu-mục số 044, nhà Vua hỏi thẳng Na-Tiên:
- Na-Tiên
nay có sanh trở lại đời sau không?
Đây
là một câu hỏi thẳng-thắn, chờ đợi một câu trả lời
minh-bạch rằng ''có'' hay ''không có''. Nhưng câu trả lời
của Na-Tiên dường như chẳng đáp-ứng đúng hẳn vào hậu-ý
của nhà Vua. Tại sao? Na-Tiên đáp:
- Lời
Đại-Vương hỏi tôi đây, trước tôi đã đáp rồi: Nếu
như tôi còn có sự lưu-luyến về ân-ái, thì đời sau sẽ
sanh trở lại; còn nếu dứt được sự ân-ái, thì tôi chẳng
sanh lại nữa.
Đáp
như thế, mới nghe qua, tưởng như đó là lời nói ''phân hai''
chẳng quả-quyết rằng mình đã dứt được sự ân-ái để
khỏi tái-sanh, mà cũng chẳng nói chắc rằng mình vẫn còn
sự ân-ái. Nhưng nếu ta nghĩ sâu-xa thêm một chút nữa, sẽ
thấy chỗ thành-thật và khéo-léo của Tì-kheo Na-Tiên trong
lời đáp. Thành-thật ở chỗ nào? Việc chấm-dứt sự ân-ái
của mình, chính mình mình biết lấy, có nói thẳng ra, lấy
chi làm bằng-cớ, rồi ai ''làm chứng'' cho mình? Vì lẽ đó,
Na-Tiên mới dùng chữ ''nếu'' trong câu trả lời. Khéo-léo
ở chỗ nào? Nếu nói toạc ra rằng đã từ lâu mình dứt
hẳn sự ân-ái và nay mình đã chứng-đắc được vô-sanh
rồi, (chẳng còn tái-sanh nữa), thì đó là lời -- tuy thành-thật
-- nhưng vẫn mang ít nhiều sự khoe-khoang mình đã đắc-đạo.
Ngày
nay, ta thấy lắm hành-giả thiếu chơn-chánh rêu-rao đã chứng
đắc đạo nầy quả kia, tưởng nên xem kỹ lại lời đáp
của Na-Tiên.
*
116.-
Khi tái-sanh, dùng thân cũ hay có thân mới?
Xin
trở lại tiểu-mục số 037, Phần Phỏng-dịch, để cứu-xét
vấn-đề vừa nêu.
Vua
hỏi Na-Tiên:
- Người
chết rồi đi theo hướng các ngỏ thiện và ác, có phải lấy
thân-tâm cũ sanh ra lại, hay là dùng thân-tâm mới?
- Cũng
chẳng phải lấy thân-tâm cũ sanh ra lại, mà cũng chẳng phải
lià bỏ thân-tâm cũ.
Câu
trả lời nầy của Na-Tiên rất thâm-sâu, tưởng nên suy-gẫm
thêm cho cẩn-thận, vì có liên-quan đến hai vấn-đề: tái-sanh,
và khi chết đi, cái gì còn, cái gì mất.
Trước
hết, ta nên xét qua chữ ''thân-tâm''. Trong Phật-học, chữ
thân-tâm trỏ vào sự kết-hợp của năm uẩn (còn gọi là
năm ấm, tức là năm nhóm): sắc-uẩn, thọ-uẩn, tưởng-uẩn,
hành-uẩn, và thức-uẩn, tạo nên một cá-thể (tức là một
chúng-sanh). Sắc-uẩn là phần vật-chất, thân, tức là thân-thể,
do bốn đại có: (1) chất cứng (gọi là điạ, đất), (2)
chất lỏng (thủy, nước), (3) chất khí (phong, gió) và (4)
hơi nóng (hoả, lửa) mà lập thành. Còn tâm là phần tinh-thần
do sự tập-hợp của bốn uẩn: thọ-uẩn (các tình-cảm),
tưởng-uẩn (các tri-giác), hành-uẩn (các ý-nghĩ biến-chuyển
bên trong) và thức-uẩn (các sự hiểu-biết). Như mọi người
đều biết chắc, khi chết đi, phần thân tan rã, các yếu-tố
trở về với bốn đại. Còn phần tâm, vì lúc sống phải
dựa theo phần vật-chất của thân mà sanh-hoạt, nên khi thân
mất, thì tâm cũng tan-rã theo. Vấn-đề quan-trọng là các
yếu-tố của tâm, có yếu-tố nào còn, yếu-tố nào mất,
và đi về đâu? Giáo-lý nhà Phật, cả hai tông Nam và Bắc
đều cho rằng các yếu-tố của tâm khi chết đi thì liền
hòa tan vào hư-không. Riêng giáo-lý Bắc-tông nói rõ hơn, trong
thức-uẩn có một phần của A-lại-da-thức, còn gọi là tạng-thức,
chịu ảnh-hưởng của nghiệp-lực dẫn-dắt đến một trong
sáu nẻo thiện-ác của Luân-hồi. Nghiệp-lực là gì? Đó
là ảnh-hưởng của các hành-động cố-ý đã qua của cá-thể
lúc còn sống, vẫn còn tồn-tại tiềm-tàng, nay phát-động
lại và đưa đến việc tái-sanh; vì lẽ đó nên Bắc-Tông
còn gọi thức A-lại-da là nghiệp-thức, nơi tàng-trữ ảnh-hưởng
các hành-nghiệp (hành-vi cố-ý cũ). Sự tồn-tại của thức
A-lại-da sở dĩ có được là vì thức nầy chứa các chủng-tử
(= hột giống); (chủng-tử chỉ là một tiếng suông thôi,
được dùng tượng-trưng, để chỉ ảnh-hưởng của hành-động
cố-ý cũ).
Kế
đến là chữ Nghiệp, tiếng Sanskrit là Karma, tiếng Pali là
Kamma, bao gồm ảnh-hưởng của (1)thân-nghiệp, hành-động
cố-ý của thân, (2)khẩu-nghiệp, lời nói cố-ý, (3)ý-nghiệp,
tư-tưởng cứ đeo đuổi mãi trong lòng. Một hành-vi cố-ý
dầu đã qua rồi, nhưng ảnh-hưởng của nó có thể phát-động
trong hiện-tại, cũng như trong tương-lai; vì lẽ đó nghiệp-lực
mới phát-sanh dẫn-dắt đi theo các ''ngỏ thiện và ác'', như
lời của Vua Di-Lan nói, khi hỏi Tì-kheo Na-Tiên.
Trở
lại câu trả lời của Na-Tiên, ''chẳng phải thân-tâm cũ
sanh lại, mà cũng chẳng phải lià bỏ thân-tâm cũ'', ta thấy
Tì-kheo Na-Tiên muốn nhấn mạnh đến mối liên-quan mật-thiết
giữa thân-tâm cũ và thân-tâm mới: (1) thân-tâm mới đây
chẳng phải hoàn-toàn là do thân-tâm cũ sanh trở lại, nhưng
phải chịu ảnh-hưởng nặng-nề của thân-tâm cũ; (2) giữa
thân-tâm cũ và thân-tâm mới vừa có sự liên-tục, vừa có
sự biến-đổi.
Về
điểm (1), ai ai cũng biết chắc, chẳng thể nào bảo rằng
một thân-tâm cũ khi gần chết và một thân-tâm mới khi sanh
ra, cả hai đều chỉ là một thân-tâm cho được.
Về
điểm (2), sự liên-tục giữa hai thân-tâm, với sự biến-đổi
giữa thân-tâm cũ để trở thành thân-tâm mới, Tì-kheo Na-Tiên
đưa ra năm thí-dụ để chứng-minh. Thí-dụ thứ nhứt là,
trong khi sống, thân-tâm lúc còn bé khác hơn thân-tâm lúc trưởng-thành,
tuy khác nhưng vẫn là một, với các sự biến-đổi theo năm
tháng lớn lên. Thí-dụ thứ hai là, có sự liên-tục giữa
hai thân-tâm cũ và mới, chẳng hề có một cá-thể nào khác
xen vào giữa hai thân-tâm ấy; cũng ví như người học sách
thì kẻ ngồi bên cạnh chẳng thể nhận lấy công đọc sách
của người ấy được. Thí-dụ thứ ba: cũng ví như người
đã phạm tội, đâu có thể bắt kẻ vô-tội chịu hình-phạt
thay cho mình được. Thí-dụ thứ tư: lại ví như ngọn đèn
có đủ dầu cháy đến sáng, từ đầu hôm, đến nửa đêm
cho đến gần sáng, vẫn là một ngọn đèn, mặc dầu ánh-sáng
lu-mờ hay tỏ- rạng mỗi lúc có khác nhau. Thí-dụ thứ năm:
sự biến-đổi của sữa, từ sữa tươi, qua kem, qua bơ rồi
thành phó-mát; làm sao lấy phó-mát để biến trở ngược
lại thành sữa tươi cho được.
Năm
thí-dụ kể trên được Tì-kheo Na-Tiên dùng để chứng-minh
sự biến-đổi trong tinh-thần con người: ''Tinh-thần con người
cứ triển-chuyển tiếp nối nhau... một cái đi thì một cái
đến. Con người tòng theo tinh-thần từ lúc sanh ra cho tới
già, đến khi chết, tinh-thần lại một lần nữa hướng về
nẻo sanh, rồi triển-chuyển liên-tục mãi...''
Lời
giải-đáp của Tì-kheo Na-Tiên được vua Di-Lan khen ngợi là
Lành thay! Lành thay!, nhưng trí thiển-cận của Thiện-Nhựt
thấy còn chưa được thoả-mãn hoàn-toàn. Tại sao? Na-Tiên
dùng chữ tinh-thần để chỉ sự liên-tục giữa thân-tâm
cũ và thân-tâm mới, danh-từ nầy quá tổng-quát, còn chưa
được rõ-ràng bằng lời giải-đáp trong Giáo-lý Bắc-Tông:
trong phần tâm-linh, có yếu-tố thức; trong yếu-tố thức,
có phần A-lại-da thức dung chứa các chủng-tử (= ảnh-hưởng
của các hành-động cố-ý cũ) vẫn còn tiềm-tàng chờ đủ
cơ-duyên để tái phát-động, khiến cho xảy ra việc tái-sanh
dưới một thân-tâm mới còn chịu ảnh-hưởng nặng-nề của
thân-tâm cũ. Nếu bảo rằng, chắc gì thức A-lại-da còn tồn-tại
khi chết đi, thì Thiện-Nhựt chẳng đủ khả-năng để chứng-minh
được sự tồn-tại đó; nhưng trí nông-cạn của mình vẫn
thấy rằng một hành-vi cố-ý đã xảy ra, ảnh-hưởng của
nó chẳng thể nào tiêu-diệt hết được. Dầu có gọi ảnh-hưởng
đó là gì, nghiệp-lực hoặc Karma, hay Kamma, gì gì đi nữa,
ảnh-hưởng ấy vẫn còn đó, trừ khi cơ-duyên chưa đầy-đủ
nên chưa kịp phát-sanh, hay chẳng phát-sanh được mà thôi.
Nếu hành-giả chuyên-tâm làm việc thiện, thì các việc ác
đâu có cơ-hội nẩy sanh cho mình, và các điều thiện mình
làm cũng có thể thay-đổi được ảnh-hưởng của các hành-vi
sai-lầm cũ.
Tuy
cuối tiểu-mục số 037, Vua Di-Lan có lời khen: Lành thay! Lành
thay! như thế, nhưng Thiện-Nhựt phỏng-đoán nhà Vua chưa hẳn
hoàn-toàn thỏa-mãn, vì tiếp theo nơi tiểu-mục số 043, nhà
Vua đặt lại vấn-đề một lần nữa, với Tì-kheo Na-Tiên:
- Con
người chết rồi, khi sanh lại ở đời sau, là ai vậy?
- Danh
và Thân sanh lại ở đời sau.
- Danh
cũ và Thân cũ của người ấy sanh lại chăng?
- Chẳng
phải như vậy. Chẳng phải Danh cũ, cũng chẳng phải Thân
cũ đã giữ lấy thân-tâm nầy ở đời nay làm điều thiện
ác cho đến đời sau, mà sanh ra lại đâu.
- Như
khiến dùng thân-tâm nầy làm điều thiện, điều ác ở đời
nầy, rồi đời sau chẳng sanh lại, thì cứ hết sức làm
điều thiện, điều ác cũng được thoát hết, chẳng phải
chịu khổ lại nữa hay sao?
- Nơi
đời nầy làm đìều thiện, thì đời sau chẳng sanh lại
nữa, liền được giải-thoát. Còn người chẳng ngừng làm
điều thiện, điều ác thì phải sanh lại về sau, cho nên
chẳng được giải-thoát.
Đọc
tới đây, ta thấy lời giải-đáp của Na-Tiên còn vấp phải
hai chỗ chẳng được rõ-ràng: (1) chẳng nói rõ Danh là gì?
và Thân là gì? (2) bảo: chẳng phải Danh, Thân cũ đã giữ
lấy thân-tâm nầy, mà sanh lại đời sau. Về điểm (1), mãi
đến trang 35 Bản Phỏng-dịch, nơi tiểu-mục số 045, ta mới
thấy định-nghĩa của hai danh-từ Danh và Thân. Về điểm
(2), câu trả lời còn chưa trọn-vẹn của Na-Tiên: ''chẳng
phải thân-tâm cũ sanh trở lại'', đã khiến Vua Di-Lan vội
rút ra một hệ-luận (sai-lầm): nếu thân-tâm cũ chẳng sanh
lại, thì cứ việc hết-sức làm các điều ác, rồi cũng
được thoát hết.
Nhưng
mục-đích của tiểu-mục số 043 đang cứu-xét đây chẳng
phải là nhắc lại cái gì còn, cái gì mất của thân-tâm
cũ, khi thân-tâm mới sanh ra? mà để chứng-minh rằng: thân-tâm
cũ là căn-bản cho việc tái-sanh lại. Như thế nghĩa là sao?
Na-Tiên đã dùng một loạt sáu thí-dụ cụ-thể để chứng-minh
một cách gián-tiếp: căn-bản của việc tái-sanh, chính là
vì thân-tâm đời nầy làm các điều thiện-ác cho nên phải
tái-sanh lại.
Sáu
thí-dụ nào? Đó là: (1) trộm trái cây; (2) trộm thóc; (3)
đốt lửa cháy nhà; (4) đốt đuốc cháy thành; (5) tiền sính-lễ
cưới vợ; (6) sữa chua. Đọc kỹ lại sáu thí-dụ đó --
mà Na-Tiên đã khéo chọn trong các việc tranh-tụng mà nhà
Vua thường gặp phải khi phân-xử -- ta thấy ở mỗi thí-dụ
có sự tranh-chấp giữa một người đã gieo nhân, và một
người dành lấy việc gặt quả: (1) một anh trồng cây, còn
một anh hái trộm quả; (2) một người gieo mạ trồng luá,
bị kẻ kia gặt hết thóc, (3) chú nọ đốt lửa sưởi ấm,
lại để lửa bốc lan ra đã cháy nhà mình còn thiêu luôn
ngôi lầu bên cạnh; (4) tên kia đốt đuốc sáng để ăn cơm
ở nhà mình, để lửa bùng lên thiêu hủy luôn cả một thành-phố;
(5) cậu nầy mang sính-lễ xin cưới một cô bé, bị chàng
nọ cưới tranh khi nàng con gái ấy đến tuổi trưởng-thành;
(6) một kẻ mua sữa tươi gởi lại chủ nuôi bò, sau đến
lấy, trách sao chủ bò lại đổi ra sữa chua. Để tự bào-chữa,
sáu người làm sái-quấy đã đưa ra một lập-luận rất là...
buồn cười: (1) tôi hái trái, chớ nào trộm cây của anh;
(2) tôi gặt thóc, chớ nào đá động gì đến luá-mạ anh
đã gieo; (3) lửa tôi đốt trong nhà tôi, tôi đâu đốt lầu
anh kia; (4) lửa cháy thành-thị bùng to lên nào phải là lửa
nhỏ của tôi đã đốt trong nhà; (5) tôi nay đi cưới cô thiếu-nữ
nầy, nào liên-hệ gì với đứa bé trước kia anh đã cầu-hôn;
(6) sữa lúc tôi gởi thì tươi chớ đâu có chua như bây giờ.
Thật là buồn cười cho họ, vì khi lập-luận, họ đã chẳng
chịu nhìn thấy rõ-ràng nguyên-nhân trước kia đã làm căn-bản
cho việc sanh ra hậu-quả ngày nay. Và sau mỗi thí-dụ buồn
cười đó, Na-Tiên đều đưa ra một kết-luận rất nghiêm-trang,
hàm-súc một chơn-lý sâu-xa mà lý-trí người thường ít khi
chịu lưu-tâm để nhìn thấy:
- Đời
người cũng lại như thế. Người đời nay dùng thân-tâm nầy
làm điều thiện, điều ác, cho đến khi sanh lại vào đời
sau, thì thân-tâm làm thiện-ác ở đời nầy là căn-bản vậy.
Và
điều thiếu-sót của hạng người thiển-cận trên đây là
chẳng thấy nổi vai-trò của thời-gian trong việc đi từ nguyên-nhân
đến hậu-quả: có nguyên-nhân gây ra hậu-quả ngay trong hiện-tiền,
mà cũng có nhiều nguyên-nhân chỉ gây ra hậu-quả sau một
thời-gian dài, có thể từ một hay nhiều đời trước nữa.
Trở
lại danh-từ Danh-Thân được nói ngay ở đầu tiểu-mục số
043, ta tìm thấy định-nghĩa của danh-từ nầy nơi tiểu-mục
số 045, Phần Phỏng-dịch. Theo Na-Tiên, tấm thân hiện nay
đang thấy đây là Thân, còn chỗ nhớ nghĩ trong lòng là Danh.
Thiện-Nhựt thấy cần phải nói lại cho đúng theo Giáo-lý
cả hai Tông Nam và Bắc. Tiếng Pali Nàma-Rùpa thường được
dịch ra tiếng Hán-Việt là Danh-Sắc: Danh chỉ phần tâm-linh,
gồm có bốn uẩn: thọ, tưởng, hành và thức; còn Sắc chỉ
phần vật-chất, tức là sắc-uẩn. Danh-Sắc hợp lại lập
thành ra Thân-tâm của một cá-thể, tức là một chúng-sanh;
danh-từ Danh-Sắc chánh-thức được công-nhận trong giáo-lý
cả hai tông Nam và Bắc để dịch chữ Nàma-Rùpa. Còn riêng
chữ Thân thường được dùng để dịch chữ Pali Kàya, với
ý-nghĩa là thân-thể, hay một tập-hợp, hoặc một nhóm. Thiện-Nhựt
chẳng may-mắn để có được bản chánh-văn của quyển ''Tì-kheo
Na-Tiên'' bằng tiếng Phạn, nên chẳng dám phê-bình sự thiếu-sót
của dịch-giả Hán-văn trong Hán-Tạng; nhưng Thiện-Nhựt tha-thiết
mong độc-giả mỗi khi đọc Phần Phỏng-dịch của Thiện-Nhựt,
hễ gặp hai chữ Danh-Thân thì xin đọc và hiểu cho đó là
Danh-Sắc.
*
117.-
Chỗ đã làm thiện, ác nay đi về đâu và thân mới có mang
theo nghiệp cũ không?
Lẽ
ra đang bàn về Danh-Sắc (trong bản dịch Hán-văn, dịch-giả
dùng chữ Danh-Thân), thì nên nói ngay đến sự triển-chuyển
của Danh-Sắc, từ lúc sơ-sanh cho đến lúc chết đi và tái-sanh
lại; nhưng vấn-đề nầy có liên-hệ đến lý Mười hai Nhân-Duyên,
khá phức-tạp và hết sức tế-nhị, cho nên Thiện-Nhựt xin
hãy xét nốt cho xong các điều thiện-ác đã làm nay đi về
đâu và ảnh-hưởng về sau của các điều ấy.
Tiểu-mục
số 071, Phần Phỏng-dịch, có chỗ hơi lủng-củng, vì Vua
Di-Lan đang hỏi về Trí, mà Na-Tiên lại quay sang trả lời
về các hành-vi thiện-ác đã làm. Vua hỏi:
- Xét
cho kỹ, có trí hay chẳng có trí?
- Trí
chẳng có. Thí-dụ như có người trộm trái dưa, người ấy
có tội chăng?
- Có
tội chớ!
- Lúc
trồng dưa chẳng có trái; cớ gì nay lấy trộm trái dưa mà
lại có tội?
- Giá
như chẳng trồng dưa, cớ gì lại có trái được; cho nên
kẻ trộm chẳng thể nào bào-chữa được.
- Con
người cũng lại như vậy, vì đời nầy làm điều thiện-ác,
nên sanh ra ở đời sau liền thọ thân mới.
Rõ-ràng
ta thấy Na-Tiên chẳng nói gì thêm tại sao chẳng có trí, mà
trở lại các điều thiện-ác đã làm và bàn thêm về ảnh-hưởng
của chúng đến đời sau. Kế đó, Na-Tiên lại đưa ra tiếp
thêm hai thí-dụ -- rất hay -- để chứng-minh điều đó:
- Các
điều thiện-ác của một người đi theo người ấy như bóng
theo thân-hình; người tuy chết, chỉ có thân mất, chớ các
hành-động đã làm thì chẳng mất. Ví như ban đêm đốt đèn
viết thơ, đèn tắt nhưng chữ vẫn còn đó; khi đèn sáng
trở lại thì chữ hiện lên. Đời nầy, con người làm chỗ
thiện-ác còn đó, thành ra đến đời sau thì phải thọ lấy
như thế.
Đến
tiểu-mục số 072, tiếp theo, Vua Di-Lan có hỏi Na-Tiên:
- Chỗ
đã làm thiện-ác có thể phân-biệt chỉ rõ chỗ ấy hiện
ở đâu chăng?
- Chẳng
thể phân-biệt để chỉ rõ chỗ đã làm điều thiện-ác
ở vào chỗ nào.
Để
chứng-minh, Na-Tiên đưa ra thí-dụ cây chưa trổ trái, thì
chẳng thể nào bảo trước nhánh nào sẽ có trái, nhánh nào
không. Và Na-Tiên lại kết-luận, người chưa đắc-đạo chẳng
thể biết trước thiện-ác ở vào đâu. Thiện-Nhựt xin tán-thán
việc khéo chọn thí-dụ nầy của Na-Tiên, và xin đồng-ý
rằng chẳng thể chỉ rõ vị-trí nào trong không-gian và thời-gian
đang lưu-trữ chỗ thiện-ác đã làm đó; nhưng Thiện-nhựt
xin nhắc lại hai điều: (1) người tu-hành tuy chưa đắc đạo
cũng biết chắc, làm một hành-vi ác là tạo nhân, thế nào
cũng mang lại quả xấu về sau; (2) giáo-lý Bắc-Tông có nói:
thức A-lại-da tàng-trữ các chủng-tử của việc thiện-ác,
đó phải chăng là nơi mà ta có thể suy-đoán các hành-vi thiện-ác
còn ghi lại ảnh-hưởng của nguyên-nhân để chờ khi đầy-đủ
cơ-duyên thì tái-phát lại dưới hình-thức hậu-quả. Nếu
đi sâu hơn nữa, đòi hỏi một sự mô-tả thật tỉ-mỉ về
thức A-lại-da, thì xin nói thêm rằng, thức nầy thuộc về
tiềm-thức (tiềm = tiềm-tàng, đang chìm sâu bên trong) mà
khoa Tâm-lý-học hiện-đại vẫn còn chưa khám-phá được
hết các chi-tiết.
Và
trước khi kết-thúc việc tìm hiểu các hành-vi thiện-ác đã
cố-ý làm trong thời-gian qua, sẽ có ảnh-hưởng đến việc
tái-sanh về sau, Thiện-Nhựt xin tóm-tắt lại:
1.-
Mọi hành-vi cố-ý của (1) thân, (2) miệng và (3) của tâm-ý
đều tạo nên nghiệp, có ảnh-hưởng trong việc tái-sanh,
chiếu theo luật Nhân-Quả;
2.-
Nghiệp, trước do mình tạo ra, sau nghiệp lại làm chủ mình,
dẫn dắt mình đi theo các nẻo Luân-hồi. Kể cũng công-bằng
chớ! Có tự-do trong hành-động (lúc sống), thì phải gánh
lấy nghiệp cũ (khi tái-sanh), vì đó là trách-nhiệm. Tự-do
phải đi đôi với Trách-nhiệm!
*
118.-
Thế nào là Danh-Sắc triển-chuyển qua Thời-gian, tòng theo
các nguyên-nhân dây chuyền?
Bây
giờ xin quay lại vấn-đề Danh-Sắc. Nơi tiểu-mục số 045,
Phần Phỏng-dịch, Na-Tiên đã định-nghĩa Danh-Sắc rất rõ-ràng:
- Tấm
thân hiện nay đang thấy đây là Thân/Sắc, còn chỗ nhớ nghĩ
trong lòng là Danh (...). Thân/Sắc và Danh của con người, trước
sau liên-quan nhau, ví như mầm con gà-con trong chất lỏng và
vỏ cứng bên ngoài, lớn lên cho đến khi thành con gà con...
Về
Thời-gian, nơi tiểu-mục số 046, Phần Phỏng-dịch, Na-Tiên
nói:
- Lấy
việc quá-khứ đã qua làm lâu dài; cũng lấy việc vị-lai
sắp tới làm lâu dài; chỉ có hiện-tại bây giờ là chẳng
dài lâu.
Như
thế, theo Na-Tiên, Thời-gian được chia ra làm quá-khứ, hiện-tại
và vị-lai; trong ba thời ấy, chỉ có hiện-tại, đứng làm
chuẩn ở giữa, thì chẳng dài lâu, tức là chẳng có thời-gian-tính,
hay nói đúng ra, hiện-tại là ngay trong một khoảnh-khắc đang
nói đây mà thôi.
Tiểu-mục
số 047, Phần Phỏng-dịch, là một trong các tiểu-mục vừa
dài và khó nhứt của quyển ''Tì-kheo Na-Tiên''. Y chánh tiểu-mục
nầy là chỉ vào thân-tâm biến-chuyển, qua thời-gian, từ
lúc sơ-sanh đến khi chết đi và tái-sanh lại, chẳng dứt.
Sự biến-chuyển nầy được diễn ra tùy thuộc vào các nguyên-nhân
dây chuyền.
Trong
việc tóm-lược và tìm hiểu sự biến-chuyển đó, Thiện-Nhựt
xin lần-lượt: (1) nhắc lại vắn-tắt diễn-tiến của sự
biến-chuyển (tiểu-mục số 047-a); (2) nêu lên các nguyên-nhân
dây chuyền dọc theo sự biến-chuyển đó (tiểu-mục số 047-b)
và hai thí-dụ chứng-minh (tiểu-mục số 047-c); (3) rút gọn
lại sự trình-bày của Na-Tiên về việc phối-hợp giữa sáu
căn, sáu trần và sáu thức trong sự biến-chuyển liên-tục
(tiểu-mục 047-d).
Và
sau cùng, Thiện-Nhựt xin đối-chiếu lời giải-thích của
Tì-kheo Na-Tiên với các điểm căn-bản trong giáo-pháp có liên-quan
đến Lý Mười-hai Nhân-Duyên, tại tiểu-mục riêng số 119,
tiếp theo sau.
Tóm-tắt:
1.-
Do sự ngu-si lấy ba thời: quá-khứ, hiện-tại và vị-lai làm
căn-bản, nên tinh-thần nẩy sanh ra. Tinh-thần sanh ra thân (sắc);
sắc sanh danh, danh sanh sáu thức. Do sự phối-hiệp ở trong
danh, liền biết sướng-khổ; sướng sanh ra ân-ái, ân-ái kéo
theo ham-muốn, khiến có sự truyền-đạt. Rồi tòng theo sự
truyền-đạt mà có sanh, có già, có bịnh, có chết, có ưu-sầu,
đau-đớn trong nội-tâm. Hiệp các nỗi khổ vừa kể thì thành
ra con người, có sống-chết chẳng bao giờ dứt.