A.-
Bản Phỏng-dịch
Quyển
Hạ
069.-
Chẳng ai thắng nổi Đức Phật.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Phải
chăng chẳng hề có người nào thắng nổi Đức Phật?
- Dĩ
nhiên, chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật cả.
- Làm
sao lại biết chẳng có ai thắng nổi Đức Phật?
- Như
người chưa hề ra đến biển đại-hải có biết được đại-hải
là biển lớn minh-mông chăng? Có năm con sông-cái, được năm
trăm ngọn sông nhỏ đổ về, cùng chảy ra đại-hải; đó
là: thứ nhứt, sông Hằng; thứ hai, sông Tín-tha; thứ ba, sông
Tư-tha; thứ tư, sông Tể-xoa; thứ năm, sông Thi-phi-di nhĩ.
(Năm con sông-cái ở Ấn-độ là: Gange, Yamunà, Áciravati, Sarabhù,
Mahi.) Năm con sông lớn đó ngày đêm chảy ra đại-hải, mà
nước biển vẫn chẳng hề tăng, chẳng hề giảm. Đại-Vương
có nghe nói đến chăng?
- Có
biết thật như vậy.
- Người
đã đắc-đạo và đạo-pháp cùng nói, chẳng hề có ai thắng
nổi Đức Phật, cho nên tôi tin điều ấy.
Vương
khen: ''Lành thay!''
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Lấy
cái chi mà biết rằng chẳng hề có ai thắng nổi Đức Phật?
Na-Tiên
hỏi Vương:
- Vị
thầy trước-tác quyển sách nầy là ai vậy?
- Vị
ấy tên Chất.
- Đại-Vương
từng quen biết vị ấy chăng?
- Chất
chết đã lâu, nên chẳng từng trông thấy được.
- Đại-Vương
chưa từng thấy ông Chất, cớ sao lại biết ông ấy đã tạo
nên quyển sách?
- Nhờ
đọc các sách xưa có truyền dạy lại mà Ta biết được
tên ông là Chất.
- Cũng
vì lẽ đó mà sa-môn chúng tôi khi thấy được Kinh Phật và
Giới-luật, thì cũng như thấy được Đức Phật, chẳng khác.
Chánh-đạo và Kinh, Giới do Đức Phật thuyết-giảng ra vô-cùng
thâm-diệu và sảng-khoái, được truyền dạy lại về sau;
vì lẽ đó mà tôi biết rằng, chẳng hề có ai thắng nổi
Đức Phật cả.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Tự
mình thấy Kinh Phật truyền dạy, có thể thực-hành theo về
lâu về dài chăng?
- Lời
Phật dạy trong Kinh-kệ và điều răn-cấm trong Giới-Luật
thật là vô cùng sướng-khoái, cho nên phải phụng-hành cho
đến lúc tuổi già.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
070.-
Khi tái-sanh, con người thọ thân mới.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Con
người chết đi, phải chăng thân nầy chẳng sanh trở lại
ở đời sau?
- Con
người chết đi về sau được thọ thân mới, thân cũ chẳng
cùng theo ở đời sau. Ví như nơi cây đèn, tim đèn cũ được
tim đèn mới nối theo mà tiếp-tục cháy sáng. Thân người
cũng lại như thế, thân cũ chẳng đi theo, mà được thọ
thân mới.
Na-Tiền
liền hỏi Vương:
- Đại-Vương
lúc nhỏ có theo thầy học sách, đọc Kinh chăng?
- Dĩ
nhiên là có; Ta vẫn còn nhớ điều đó.
- Đại-Vương
được thầy truyền dạy hết cả Kinh sách, và vị thầy đã
truyền dạy rồi, có còn nhớ biết lại các Kinh sách cũ đó
chăng?
- Nhớ
chớ, vị thầy vẫn tiếp-tục nhớ biết các bản Kinh sách
cũ.
- Thân
người cũng như thế đó, bỏ đi thân cũ liền thọ thân mới.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
071.-
Thân mới mang theo nghiệp của thân cũ.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Xét
cho kỹ, có trí hay chẳng có trí?
- Trí
chẳng có. Thí-dụ như có người trộm trái dưa, người ấy
có tội chăng?
- Có
tội chớ!
- Lúc
trồng, dưa chẳng có trái; cớ gì nay lấy trộm trái dưa mà
lại có tội?
- Giá
như chẳng trồng dưa, cớ gì lại có trái được; cho nên
kẻ trộm chẳng thể nào bào-chữa được.
- Con
người cũng lại như vậy, vì đời nay làm điều thiện-ác,
nên sanh ra ở đời sau liền thọ thân mới.
- Con
người vì thân cũ nầy làm hành-động thiện-ác, lại được
thân mới, thì thiện-ác đi về đâu?
- Các
điều thiện-ác của một người đi theo người ấy như bóng
theo thân-hình; người tuy chết, chỉ có thân mất, chớ các
hành-động đã làm thì chẳng mất. Ví như ban đêm đốt đèn
viết thơ, đèn tắt nhưng chữ vẫn còn đó; khi đèn sáng
trở lại thì chữ hiện lên. Đời nầy, con người làm chỗ
thiện-ác còn đó, thành đến đời sau thì phải thọ lấy
như thế.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
072.-
Chỗ đã làm thiện-ác trước, nay ở vào đâu?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Chỗ
đã làm thiện-ác nay có thể phân-biệt chỉ rõ chỗ ấy hiện
ở đâu chăng?
- Chẳng
thể phân-biệt để chỉ rõ chỗ đã làm điều thiện-ác
ở vào chỗ nào.
Na-Tiên
liền hỏi Vương:
- Cây-cối
còn chưa trỗ trái, có thể nào phân-biệt chỉ rõ nói nhánh
nầy có hay chẳng có trái; biết trước như vậy được chăng?
- Chẳng
thể biết trước được.
- Người
chưa đắc-đạo chẳng thể biết trước thiện-ác ở vào
đâu.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
073.-
Người phải tái-sanh, tự biết điều đó.
Vương
lại hỏi:
- Người
phải sanh lại ở đời sau, tự mình có biết được điều
đó chăng?
- Người
phải sanh lại ở đời sau thì tự biết.
- Dùng
cách nào để biết?
- Ví
như người làm ruộng trồng lúa, thấy nắng mưa thời-tiết
điều-hoà, có thể dự biết trước sẽ được mùa chăng?
- Dĩ
nhiên, người ấy biết trước sẽ được nhiều thóc lúa.
- Con
người cũng thế, kẻ phải sanh lại ở đời sau cũng dự
biết trước điều đó.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
074.-
Có Niết-bàn chăng?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Nghĩ
cho kỹ, có Nê-Hoàn (= Niết-bàn) chăng?
- Xét
cho kỹ thì có Niết-bàn.
- Na-Tiên
có thể chỉ cho Ta thấy Đức Phật (nơi Niết-bàn) ở tại
xứ-sở nào chăng?
- Chẳng
thể chỉ cho thấy Đức Phật ở tại xứ-sở nào được,
Đức Phật đã nhập Bát-Niết-bàn (Pali: Parinibbàna) rồi,
thì chẳng thể nào chỉ cho thấy ở xứ-sở được. Ví như
có người đốt lửa to lên, rồi dập tắt, có thể nào chỉ
rõ ánh lửa sáng hiện ở vào chỗ nào chăng?
- Chẳng
thể biết được.
- Đức
Phật đã nhập Bát-Niết-bàn, chẳng thể biết được xứ-sở.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
075.-
Sa-môn giữ-gìn thân, chớ chẳng mến-thương thân.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Sa-môn
có mến-thương thân-thể của mình chăng?
- Sa-môn
chẳng tự thương mến thân mình.
- Sa-môn
đã chẳng mến-thương thân mình, cớ sao khi nghỉ-ngơi lại
muốn nằm nơi êm-ả, khi ăn-uống lại muốn vật ngon của
đẹp, tự săn-sóc mình như thế?
Na-Tiên
hỏi lại Vương:
- Đại-Vương
có từng ra ngoài trận chiến-đấu chăng?
- Dĩ
nhiên, Ta đã từng ra trận chiến-đấu.
- Tại
trận chiến-đấu, Đại-Vương có từng bị đao, kiếm chém,
hay tên bắn trúng chăng?
- Ta
nhiều lần bị trúng đao kiếm.
- Khi
bị đao, kiếm, tên, móc-câu gây ra thương-tích, Đại-Vương
làm gì?
- Ta
dùng thuốc, dùng cao, dùng bông gòn băng-bó lại.
- Đại-Vương
vì mến-thương vết thương mà dùng thuốc, dùng cao và bông
băng-bó vết thương chăng?
- Ta
đâu có mến-thương vết thương.
- Chẳng
mến-thương, sao lại dùng cao, dùng bông băng lại?
- Ta
chỉ mong muốn vết thương mau lành, chớ đâu có mến-thương
nó.
- Sa-môn
cũng lại như vậy, chẳng mến-thương thân mình; tuy ăn-uống,
tâm chẳng vui-khoái, chẳng muốn làm đẹp, chẳng muốn làm
tốt, chẳng muốn da thịt sắc hồng-hào, mà chỉ muốn cho
thân-thể khoẻ mạnh để có thể phụng-hành giới-luật,
Kinh-kệ của Phật. Kinh Phật có giảng: ''Thân người có chín
lỗ hổng, tựa như chín vết đâm của mâu-thương, từ nơi
chín lỗ đó chảy ra chất dơ hôi-thúi.''
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
076.-
Thân-tướng trang-nghiêm của Đức Phật.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Đức
Phật thật có ba mươi hai tướng trang-nghiêm, tám mươi vẻ
đẹp tùy-hình, thân màu vàng ròng tỏa ánh hào-quang chăng?
- Đức
Phật thật có ba mươi hai tướng trang-nghiêm, tám mươi vẻ
đẹp tùy-hình, thân màu vàng ròng tỏa ánh hào-quang.
- Cha
mẹ của Đức Phật cũng có đủ các tướng đẹp đó chăng?
- Cha
mẹ của Đức Phật chẳng có các tướng đẹp đó.
- Đời
người sống chết hình-tướng đều giống theo chủng loại
của mình. Cha mẹ của Đức Phật đã chẳng có ba mươi hai
tướng trang-nghiêm, tám mươi vẻ đẹp tùy-hình, thân màu
vàng ròng tỏa ánh hào-quang, xét kỹ Đức Phật nhứt-định
chẳng có đủ các tướng ấy.
Na-Tiên
liền hỏi Vương:
- Đại-Vương
từng thấy hoa sen chớ?
- Ta
từng thấy.
- Hoa
sen sanh nơi bùn, lớn lên trong nước bùn, mà màu sắc đẹp-đẽ,
huơng thơm ngào-ngạt, cũng lại giống hình-tướng với chủng-loại
mình ư?
- Chẳng
giống với bùn đen, nước đục.
- Tuy
cha mẹ của Đức Phật chẳng có các tướng tốt, nhưng xét
kỹ ra, Đức Phật lại có đủ các tướng đẹp. Đức Phật
sanh ra ở thế-gian, lớn lên ở thế-gian, mà chẳng giống
theo sự-đời ở thế-gian.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
077.-
Đức Phật đâu phải là đệ-tử cuả Đại-Phạm-thiên.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Đức
Phật, xét kỹ ra, phạm-hạnh cũng giống như phạm-hạnh của
đấng Đại-Phạm Thiên-vương ở cõi Trời thứ bảy, tức
là chẳng giao-hội với phụ-nữ chăng?
- Dĩ
nhiên, lià xa phụ-nữ, nên rất tịnh-khiết, chẳng chỗ nào
uế-trược cả.
- Nếu
Đức Phật làm giống với phạm-hạnh của đệ-tử đấng
Đại-Phạm Thiên-Vương ở cõi Trời thứ bảy, thì Đức Phật
là đệ-tử của Đại-Phạm Thiên-Vương chớ gì?
Na-Tiên
liền hỏi Vương:
- Đệ-tử
của đấng Đại-Phạm Thiên-vương có niệm hay chẳng có niệm?
- Đệ-tử
của đấng Đại-Phạm Thiên-Vương vẫn còn có niệm.
- Như
thế thì đệ-tử của đấng Đại-Phạm Thiên-vương và các
bực Trời khác cũng đều là đệ-tử của Đức Phật cả.
Na-Tiên
lại hỏi Vương:
- Chim
hót, tiếng hót giống loài nào?
- Chim
hót tiếng giống như tiếng chim nhạn.
- Như
thế, chim là đệ-tử của nhạn chăng? Mỗi loài đều khác
loại nhau. Đức Phật lại cũng như thế, đâu phải là đệ-tử
của đấng Đại-Phạm Thiên-Vương.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
078.-
Đức Phật tự biết lấy Kinh-kệ và Giới-luật.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Đức
Phật có học biết và phụng-hành tất cả Kinh-kệ và Giới-luật
chăng?
- Đức
Phật học biết và phụng-hành hết cả Kinh-kệ và Giới-luật.
- Đức
Phật theo bực thầy nào mà học biết như thế?
- Đức
Phật chẳng có thầy. Khi đắc-đạo, Đức Phật tự mình
hiểu biết hết tất cả các Kinh-kệ và Giới-luật. Đức
Phật chẳng phải như các vị đệ-tử có học rồi mới biết.
Những điều khuyến-dạy của Đức Phật cho các đệ-tử
là để được phụng-hành cho đến tuổi già.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
079.-
Khóc cha mẹ chết và khóc khi nghe Kinh Phật.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Có
kẻ khi cha mẹ chết thì than-khóc, lệ tràn; lại có người
vì nghe Kinh Phật mà ứa lệ, hai lần chảy nước mắt có
khác nhau chăng?
- Kẻ
vì cha mẹ chết mà khóc là do thương-cảm, tâm-niệm ưu-sầu,
đau-khổ; các sự ưu-sầu đó tức là ưu-sầu của sự ngu-si.
Còn người ứa lệ vì nghe được Kinh Phật là do tâm-niệm
từ-ái, nghĩ đến thế-gian khổ-nhọc, nên mới khóc, như
thế được phước rất to-lớn.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
080.-
Bực đắc đạo và kẻ chưa đắc đạo, khác nhau.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Bực
đã đắc-đạo và người chưa đắc-đạo khác nhau ra sao?
- Kẻ
chưa đắc-đạo còn tâm ham-muốn; còn bực đã đắc-đạo
thì hết tham-tâm, chỉ cần ăn để nuôi mạng sống.
- Ta
thấy con người ở thế-gian đều muốn khoái thân, ham được
món ngon, chẳng hề biết đủ.
- Người
chưa đắc-đạo ăn thời muốn món ngon vật tốt; còn người
đã đắc độ-thoát rồi thì tuy ăn nhưng chẳng vì khoái-lạc
hay ngon ngọt, mà chỉ hướng về sự nuôi sống thân-mạng
thôi.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
081.-
Trí-nhớ của con người.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Con
người có khả-năng nào để nhớ lại được các sự-vìệc
đã xảy ra thật lâu-xa chăng?
- Người
ta lúc ưu-sầu hay nhớ đến các sự-việc xảy từ lâu-xa.
- Dùng
cách chi mà nhớ lại được, dùng trí-nhớ hay là dùng sự
suy-nghĩ.
- Đại-Vương
từng có chỗ đã học biết rồi, về sau nhớ lại chăng?
- Dĩ
nhiên là ta có chỗ đã học biết rồi, về sau lại mau quên
đi.
- Ngay
bây giờ, Đại-Vương có quên, hay chẳng quên điều đó?
- Ngay
bây giờ, Ta có nhớ lại, nhưng chẳng (giống) đúng.
- Có
thể là chẳng đúng, bởi vì Đại-Vương đã tưởng-tượng
(thêm) ra.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Người
có điều đã làm nay nhớ lại như vừa mới làm, và điều
hiện đang làm, cũng nhớ lại. Cả hai đều dùng trí-nhớ
để nhớ lại chăng?
- Các
điều đã làm qua rồi và các điều hiện đang làm, cũng đều
dùng trí-nhớ mà nhớ lại được cả.
- Như
thế, con người chỉ nhớ lại các việc đã qua, mà chẳng
dùng trí-nhớ để nhớ các việc mới chăng?
- Giả
thiết như việc mới có chỗ làm chẳng thể nhớ-nghĩ được,
thì cũng lại như thế.
- Người
mới học trong sách vở và các kỹ-thuật khéo-léo khác có
bị vụt quên đi mất chăng?
- Người
(dạy) học điều mới thì viết vẽ ra để (dễ) nhớ, khiến
cho kẻ đệ-tử có sự hiểu-biết, do đó mà có trí nhớ
lại.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
082.-
Mười sáu cách để nhớ lại việc cũ.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Con
người dùng mấy cách mà nhớ lại được việc cũ?
- Người
ta dùng mười sáu cách để nhớ lại:
Thứ
nhứt, việc đã làm xa-xưa khiến nhớ lại;
Thứ
hai, việc mới học khiến nhớ lại;
Thứ
ba, nếu có đại-sự (= việc lớn, quan-trọng) thì nhớ lại;
Thứ
tư, nghĩ đến việc lành thì nhớ lại;
Thứ
năm, từng chịu sự khổ-sở thì nhớ lại;
Thứ
sáu, tự mình suy-nghĩ thì nhớ lại;
Thứ
bảy, từng làm nhiều việc khác nhau thì nhớ lại;
Thứ
tám, vì có người nhắc đến thì nhớ lại;
Thứ
chín, do hình-tượng mà nhớ lại;
Thứ
mười, từng có chỗ đã quên khiến nhớ lại;
Thứ
mười-một, do nguyên-nhân của sự biết nên nhớ lại;
Thứ
mười-hai, do tính-toán mà nhớ lại;
Thứ
mười-ba, do mắc nợ-nần mà nhớ lại;
Thứ
mười-bốn, do nhứt-tâm (= chú-ý) mà nhớ lại;
Thứ
mười-lăm, do đọc sách mà nhớ lại;
Thứ
mười-sáu, nhờ có ghi-chép mà nhớ lại.
Đó
là mười sáu việc khiến ta nhớ lại được.
Vương
lại hỏi Na-tiên:
- Thứ
nhứt, thế nào là nhớ lại việc xa-xưa?
- Các
đệ-tử của Đức Phật như Ngài A-nan (Pali: Ananda), ưu-bà-di
Cưu-thù-thiền-bãi (Pali: Khujjuttarà) và các vị đạo-nhơn
khác, đều nhớ lại được các đời kiếp trước, và các
sự-việc đương-thời.
- Thứ
hai, thế nào là việc mới học khiến nhớ lại?
- Thí
dụ như các người đã học tính-toán sau quên đi, nay thấy
kẻ khác tính-toán thì liền nhớ lại.
- Thứ
ba, thế nào là do các đại-sự mà nhớ lại?
- Thí-dụ
như Thái-tử lúc lên ngôi làm Vua, nghĩ rằng ngôi Vua là tôn-quí,
đó là một đại-sự, cho nên nhớ lại.
- Thứ
tư, thế nào là nghĩ đến điều lành thì nhớ lại?
- Thí
dụ như vì được kẻ khác đối-xử (tử-tế), mời-mọc
bằng lời-lẽ cực-kỳ thiện-lành, người ấy liền nghĩ
đến lời nói thiện-lành ngày hôm ấy, đó là vì nghĩ đến
điều lành mà nhớ lại.
- Thứ
năm, thế nào vì chịu khổ-sở mà nhớ lại?
- Thí
dụ như từng bị người đánh đập, giam nhốt trong khám,
ngục, đó là vì chịu khổ-sở mà nhớ lại.
- Thứ
sáu, thế nào là tự mình suy-nghĩ mà nhớ lại?
- Thí
dụ như thấy có chỗ giống nhau với nhà cửa, họ-hàng, hoặc
gia-súc (của mình); đó là vì tự suy-nghĩ mà nhớ lại.
- Thứ
bảy, thế nào là từng làm nhiều việc khác nhau mà nhớ lại?
- Thí
dụ như gọi tên của vạn vật, màu-sắc, thơm thúi, ngọt
đắng, nghĩ đến các lời nói để chỉ đến tất cả các
sự-vật ấy, đó là vì làm nhiều việc khác nhau mà nhớ
lại.
- Thứ
tám, thế nào là nhờ được nhắc mà nhớ lại?
- Như
kẻ có tánh hay quên, nghe người khác nhắc lại, nên nhớ.
- Thứ
chín, thế nào là do hình-tượng mà nhớ lại?
- Con
người, trâu, ngựa, mỗi mỗi đều có hình-tượng của chủng-loại
riêng, đó là do hình-tượng chủng-loại mà nhớ lại được.
- Thứ
mười, thế nào là từng có chỗ đã quên khiến nhớ lại?
- Thí
dụ như một người rốt cuộc có chỗ quên, đã nhiều lần
chuyên nghĩ đến chỗ ấy, đó là vì từng có chỗ quên mà
nhớ lại được.
-Thứ
mười-một, thế nào là vì nguyên-nhân của sự biết mà nhớ?
- (Thí
dụ như) học sách thì cầu biết mặt chữ trong sách, đó
là vì nguyên-nhân của sự biết mà nhớ lại.
- Thứ
mười-hai, thế nào là vì tính-toán mà nhớ lại?
- Như
người cùng học tính-toán chung mà thành-công thì thế nào
cũng biết rõ đường-lối, cách-thức, đó là vì tính-toán
mà nhớ lại.
- Thứ
mười-ba, thế nào vì mắc nợ-nần mà nhớ lại?
- Thí
dụ như thấy bị thúc-dục phải hoàn lại chỗ đã vay mượn,
đó là do nợ-nần mà nhớ lại.
- Thứ
mười-bốn, thế nào là vì nhứt-tâm (= chú-ý) mà nhớ lại?
- Sa-môn
một lòng chú-ý tự nghĩ đến việc đời từ ngàn muôn kiếp
trước đến nay, đó là vì nhứt-tâm mà nhớ lại.
- Thứ
mười-lăm, thế nào là vì đọc sách mà nhớ lại?
- Bực
đế-vương có các quyển sách cổ ghi chép các thời-đại
trị-vì, đó là vì đọc sách mà nhớ lại.
- Thứ
mười-sáu, thế nào vì đã từng ghi chép mà nhớ lại?
- Nếu
người nào có ghi chép, về sau đọc lại thấy nên nhớ, đó
là vì ghi chép mà nhớ lại.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
083.-
Đức Phật biết tất cả, sao chẳng dạy hết một lần?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Đức
Phật biết hết tất cả những sự-việc đã qua từ lúc khởi-thủy
cho đến cả các việc trong tương-lai nữa chăng?
- Dĩ
nhiên, Đức Phật biết hết tất cả mọi sự-việc.
- Giả-thiết
như Đức Phật biết tất cả mọi sự-việc, tại sao Ngài
lại chẳng dạy ngay hết cho các đệ-tử, mà cứ dạy từ
từ thôi?
Na-Tiên
hỏi lại Vương:
- Trong
nước ta có vị thầy thuốc chăng?
- Có.
- Vị
thầy thuốc đó có biết được hết tất cả thuốc-men trong
thiên-hạ không?
- Vị
ấy biết được tất cả thuốc-men.
- Khi
trị bịnh, vị thầy thuốc cho thuốc luôn cả một lần, hay
là từ từ mà cho thuốc?
- Với
người chưa bị bịnh chẳng thể nào cho thuốc trước, phải
chờ đúng bịnh rồi mới cho thuốc chớ.
- Đức
Phật tuy biết tất cả mọi việc từ quá-khứ, hiện-tại
cho đến vị-lai, cũng chẳng thể trong một thời mà chỉ-dạy
tất cả cho thiên-hạ, nên phải từ từ dạy họ thọ Kinh-giới,
khiến họ mới biết phụng-hành theo vậy.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
084.-
Lỡ làm ác, biết niệm Phật, chết khỏi sa địa-ngục
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Sa-môn
các khanh thường nói, con người tại thế-gian làm việc ác
trong trăm năm, đến khi gần chết mà biết niệm Phật, thì
được tái sanh lên trên cõi Trời. Ta chẳng thể tin lời nầy.
Lại nữa, Sa-môn các khanh còn nói, giết một mạng sanh-vật,
đến lúc chết sẽ sa-đọa vào địa-ngục; Ta cũng chẳng
tin được lời ấy.
Na-Tiên
liền hỏi Vương:
- Như
có người cầm hòn đá để lên mặt nước, hòn đá nổi
hay chìm xuống?
- Chìm.
- Như
đem trăm hòn đá lớn đặt trên chiếc thuyền, thuyền ấy
có chìm không?
- Chẳng
chìm.
- Trăm
hòn đá lớn trong thuyền chẳng làm thuyền chìm. Người tuy
vốn dữ-ác, một thời niệm Phật, nhờ đó mà chẳng bị
đọa địa-ngục lại được sanh lên trên cõi Trời. Một
hòn đá nhỏ chìm sâu, cũng như con người làm ác mà chẳng
biết Kinh Phật, chết đi phải đọa vào địa-ngục vậy.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
085.-
Sa-môn học đạo vì muốn thoát mọi khổ về sau.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Các
khanh vì lý-do gì mà dụng công học Đạo làm Sa-môn?
- Tôi
vì các nỗi khổ trong quá-khứ, nỗi khổ trong hiện-tại,
nỗi khổ trong tưong-lai, muốn dẹp bỏ các nỗi khổ đó và
chẳng muốn phải gánh chịu lại chúng nữa, nên mới cố
tâm học Đạo làm Sa-môn.
- Các
nỗi khổ cũng đều ở vào đời sau, cớ sao nay lại dự-phòng
trước học Đạo làm Sa-môn?
Na-Tiên
lại hỏi Vương:
- Đại-Vương
có bị các nước địch thù-oán sắp đem binh đến công-kích
chăng?
- Dĩ
nhiên là có, có địch-quốc thù-oán thường muốn đem binh
đến công-kích.
- Khi
Chúa địch đến nơi, Đại-Vương mới lo tác chiến, đào
hào để phòng-thủ hay là nên dự-bị chiến-đấu từ trước?
- Phải
dự trước quân lính trừ-bị sẵn để chờ.
- Vì
sao lại có sẵn quân-lính trừ-bị chờ trước?
- Để
phòng-ngừa địch quân đến bất thình-lình.
- Địch
còn chưa đến, sao lại dự-bị làm chi?
Na-Tiên
lại hỏi Vương:
- Đói
mới bắt đầu trồng luá, khát mới lo đào giếng, còn kịp
hay chăng?
- Phải
nên làm sẵn trước.
- Còn
chưa đói khát, cớ sao lại phải dự tính xử-trí trước?
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
086.-
Bực La-hán bay lên Trời nhanh như duỗi cánh tay
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Từ
đây lên đến từng Trời thứ bảy của Đại-Phạm-thiên,
cách xa bao nhiêu?
- Thật
hết sức là xa. Nếu có một hòn đá lớn bằng cung-điện
nầy rơi từ cõi Đại-Phạm-thiên xuống, phải mất đến
sáu tháng mới tới mặt đất nầy.
- Sa-môn
các khanh bảo, bực đắc A-la-hán-đạo có thể bay lên cõi
Trời Đại-Phạm trong thời-gian một người co-duỗi cánh tay
thôi, Ta chẳng thể tin lời ấy được, tại sao vượt qua
bao nhiêu ngàn muôn ức dặm như thế mà đến được nhanh
chóng vậy?
Na-Tiên
lại hỏi Vương:
- Đại-Vương
sanh tại nước nào?
- Ta
sanh tại nước Đại-Tần (Panjab), trong thành A-lệ-tán (Alexandrie).
- Từ
đây đến A-lệ-tán, cách xa mấy dặm?
- Phải
đi hai ngàn do-tuần (yojana = 16 dặm) và tám vạn dặm (dặm
= 576m).
- Đại-Vương
từng có lúc nào nghĩ đến nước mình và công-việc trong
nước ấy không?
- Dĩ
nhiên là có, Ta thường nghĩ đến bản-quốc và công-việc
trong
nước.
- Giờ
đây, xin Đại-Vương hãy nghĩ đến bản-quốc xem có công-việc
chi đang làm ở đấy.
- Ta
đã nghĩ đến xong.
- Đại-Vương
đã đi qua tám vạn dặm rồi trở về đây, sao mà nhanh thế!
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
087.-
Chết cùng lúc thì đến nơi tái-sanh cùng một lúc.
*
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Nếu
như có hai người cùng chết vào một lúc, một người tái-sanh
lên cõi Trời Đại-Phạm, còn một người sanh lại tại Kế-Tân,
cách đây bảy trăm hai mươi dặm, ai là người đến trước?
- Cả
hai đến nơi cùng một lúc.
- Cùng
đi xa, gần, khác nhau rất nhiều, cớ sao lại đến cùng một
lúc được?
- Đại-Vương
thử nghĩ đến thành A-lệ-tán.
- Ta
đã nghĩ xong.
- Giờ,
xin Đại-Vương lại nghĩ đến nước Kế-tân.
- Ta
đã nghĩ xong.
- Khi
nghĩ đến hai nơi đó, nơi nào đã được nghĩ đến nhanh
hơn?
- Cả
hai đều bằng nhau.
- Hai
người cùng chết một lúc, kẻ tái-sanh ở cõi Đại-Phạm-thiên,
và người sanh lại tại Kế-tân, cũng đều đến nơi cùng
một lúc.
Na-Tiên
lại hỏi Vương:
- Như
có một đôi chim bay đến, một con đậu trên cây đại-thọ,
còn một con đáp xuống một cây nhỏ, bóng con chim nào rọi
xuống đất trước?
- Bóng
hai con chim đều rọi trên đất cùng một lúc.
- Hai
người chết cùng lúc, một người tái-sanh lên cõi Trời Đại-Phạm,
một kẻ sanh lại tại Kế-tân, cả hai cũng đều đến cùng
một lúc.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
088.-
Dùng bảy việc để học biết Đạo.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Con
người dùng bao nhiêu việc để học biết Đạo?
- Dùng
bảy việc để học biết Đạo.
- Bảy
việc đó là những gì?
- Thứ
nhứt, phân biệt điều lành việc ác. Thứ hai, tinh-tấn. Thứ
ba, vui Đạo. Thứ tư, chế-phục tâm-ý theo điều lành. Thứ
năm, niệm Đạo. Thứ sáu, nhứt-tâm. Thứ bảy, gặp mọi
cảnh-ngộ chẳng yêu ghét.
- Con
ngưòi phải dùng cả bảy việc đó để học biết Đạo chăng?
- Bất
tất phải dùng cả bảy việc để học biết Đạo. Kẻ trí-giả
lấy trí phân-biệt điều thiện với điều ác, chỉ riêng
dùng một việc nầy để biết Đạo.
- Nếu
chỉ dùng một việc mà biết được Đạo, thì tại sao lại
nói chi đến cả bảy việc?
Na-Tiên
hỏi lại Vương:
- Như
người cầm con dao còn đựng trong hộp, có thể nào cắt chặt
đứt vật chi chăng?
- Chẳng
thể cắt đứt được.
- Lòng
người tuy sáng-suốt hiểu rõ, nhưng cũng nên hội đủ sáu
việc kia lại thì mới thành trí vậy.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
089.-
Lỡ làm điều ác, biết hối-cãi, tội giảm đi dần.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Người
làm điều thiện được phước lớn, rồi làm điều ác cũng
bị tai-ương lớn chăng?
- Người
làm điều thiện được phước lớn, rồi làm điều ác thì
bị tai-ưöng nhỏ. Người ấy làm điều ác, ngày ngày tự
hối lỗi, do đó việc lỗi-lầm cũng nhỏ dần đi. Người
ấy làm điều thiện, ngày ngày nhớ nghĩ trong lòng vui-vẻ,
cho nên được phước lớn. Tích xưa, khi Đức Phật đi chu-du,
có người kia cụt cả tay chơn đem dâng một đóa hoa sen cúng
dường Phật. Đức Phật bảo chư tì-kheo, người cụt cả
tay chơn nầy, trong chín mươi mốt kiếp, chẳng hề bị sa
vào địa-ngục hoặc đọa vào hàng súc-sanh, rồi được sanh
lên cõi Trời, sau đó trở lại cõi người. Vì lẽ đó, tôi
biết kẻ tuy làm điều thiện nhỏ mà đắc được phước
lớn. Làm ác, người ấy biết ngày ngày tự hối-cải, khiến
tội nhỏ dần và tiêu-diệt đi; do đó tôi biết người ấy
có làm điều gì lầm-lỗi cũng gặp phải tai-ương nhỏ.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
090.-
Người trí, kẻ ngu cùng làm ác ai nặng tội hơn?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Người
trí-giả làm điều ác, kẻ ngu cũng làm điều ác, cả hai
người ấy phải trách-nhiệm tai-ương, thì ai chịu nặng hơn?
- Kẻ
ngu làm ác bị tai-ương lớn, còn người trí làm ác chịu
tai-ương nhỏ.
Vương
liền nói:
- Lời
Khanh nói thế chẳng đúng! Tại nước ta, đại-thần có lỗi
làm ác thì mắc tội nặng, còn kẻ ngu-dân phạm lỗi ác bị
trừng phạt nhẹ hơn; do đó người trí làm ác mắc tai-ương
lớn, còn kẻ ngu-khờ làm ác lại bị tai-ương nhỏ.
Na-Tiên
liền hỏi Vương:
- Thí
dụ như có thanh sắt đốt nóng trên mặt đất, một người
biết đó là thanh-sắt bị đốt, còn người kia thì chẳng
biết, nếu cả hai người đều cầm thanh sắt ấy lên, ai
là người bị phỏng cháy tay nhiều hơn?
- Kẻ
chẳng biết đó là thanh sắt thì bị phỏng tay nhiều hơn.
- Kẻ
ngu làm ác chẳng biết tự hối-cải điều lỗi, nên mắc
phải tai-ương lớn. Còn bực trí-giả lỡ làm điều ác biết
đó là chẳng phải, nên ngày ngày hối lỗi, do đó mà mắc
tai-ương nhỏ.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
091.-
Sức thần-túc.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Con
người có khả-năng dùng thân-thể nầy bay lên đến từng
Trời thứ bảy cõi Đại-Phạm-thiên và đến xứ Uất-thiền-việt
(Uttara kuru, Bắc-câu-lư-châu) rồi trở về lại đây chăng?
- Có
thể được.
- Làm
sao mà dùng thân-thể nầy bay lên trên cõi Trời Đại-Phạm-thiên
và đến xứ Uất-thiền-việt rồi trở về đây được?
Na-tiên
hỏi Vương:
- Đại-Vương
lúc còn nhỏ có khi nào nhảy chơi khỏi mặt đất được
một trượng chăng?
- Ngày
ta còn nhỏ khi có ý muốn nhảy cao, liền nhảy cao được
hơn một trượng.
- Bực
đắc-đạo ý muốn nhảy đến từng Trời thứ bảy cõi Đại-Phạm-thiên,
rồi đến xứ Uất-thiền-việt, cũng được như ý vậy.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
092.-
Có thể ngưng hơi thở ra vào chăng?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Sa-môn
các Khanh thường nói, có bộ xương dài đến bốn ngàn dặm,
làm sao mà có được bộ xương dài như thế?
- Đại-Vương
có nghe nói ở ngoài biển lớn có con cá khổng-lồ tên là
Chất, thân nó dài đến hai vạn tám ngàn dặm chăng?
- Có,
ta có nghe nói đến.
- Như
thế, thân nó dài hai vạn tám ngàn dặm thì xương sườn nó
phải dài hơn bốn ngàn dặm chớ!
Vương
lấy làm quái-dị, rồi lại hỏi Na-Tiên:
- Sa-môn
các Khanh thường thuyết giảng rằng họ có thể chấm dứt
được việc hơi thở ra vào. Biết làm sao mà chấm dứt được
hơi thở ra vào?
Na-Tiên
liền hỏi Vương:
- Đại-Vương
từng nghe nói đến ý-chí chăng?
- Có
nghe nói đến.
- Đại-Vương
hãy khởi ý-chí lên trong thân-tâm đi.
- Ta
đã khởi ý-chí lên rồi.
- Đại-Vương
hãy xem người ngu-khờ chẳng thể chế-phục thân
miệng
mình, chẳng thể trì-giữ Kinh-giới, như thế bọn họ chẳng
thể nào thấy vui-sướng với thân mình. Còn với bực học
Đạo có khả-năng chế-phục thân miệng, trì-giữ Kinh-giới,
do sự nhứt-tâm mà đắc được Tứ-Thiền, do đó liền ngưng
được hơi thở ra vào.
Vương
khen: "Lành thay!''
*
093.-
Biển và nước biển.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Vì
sao gọi biển là biển? Phải chăng vì những việc khác nên
mới gọi là biển?
- Sở
dĩ người ta gọi là biển, vì trong nước biển có nửa phần
nước, nửa phần muối.
- Tại
sao nước biển lại mặn?
- Sở
dĩ nước biển mặn là vì nước ngọt chảy đến từ xa và
các loài cá, ba-ba, côn trùng đủ loại hợp với nước trong
mà thành ra mặn.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
094.-
Tư-duy đến các sự-việc cao-thâm.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Bực
đã đắc Đạo có khả-năng suy-nghĩ đến tất cả các sự-việc
cao-xa thâm-diệu chăng?
- Dĩ
nhiên, các bực đã đắc Đạo đều có đủ khả-năng tư-duy
mọi việc thâm-ảo cả. Kinh Phật thật hết sức là thâm-ảo
về mọi sự-việc, chẳng thể nào đo-lường nổi, tất cả
mọi sự-việc ấy đều phải do trí-huệ đoán-định ra.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
095.-Tinh-thần,
Trí-huệ và Tự-nhiên.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Tinh-thần
con người, trí-huệ và tự-nhiên, cả ba điều ấy đồng
như nhau hay là khác với nhau?
- Tinh-thần
chủ về sự hiểu-biết, trí-huệ thông-hiểu được Đạo,
còn tự-nhiên là hư-không chẳng có người.
*
096.-
Phân-tách kỹ thân-tâm ra, đó là vô-ngã chăng?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Được
làm người, cái chi làm cho ta đắc được làm người? Mắt
thì thấy sắc, tai thì nghe tiếng, mũi thì ngửi mùi, miệng
thì nếm vị, thân thì biết chỗ thô, chỗ nhuyễn, trí thì
biết phân-biệt điều lành, điều ác, thế thì cái chi làm
cho ta đắc được làm người?
Na-Tiên
liền hỏi lại Vương:
- Thí
dụ như có người khiến cho mắt nhướng lên ra khỏi đồng-tử
thì có thấy được rộng xa hơn chăng, khiến cho vểnh tai
to lên thì có nghe được tiếng ở thật xa chăng, khiến cho
mũi hỉnh lớn lên thì có ngửi được mùi nhiều thêm chăng,
khiến cho miệng mở hoác ra thì có nếm được nhiều vị
chăng, khiến cho da thịt căng phồng rộng ra thì có biết thêm
thô nhuyễn chăng, khiến cho trí vượt nổi lên thì có suy-niệm
được nhiều thêm chăng?
- Chẳng
được.
Na-Tiên
liền nói:
- Đức
Phật, tại chỗ làm, Ngài đã làm đượcviệc thật khó; nơi
chỗ biết, Ngài đã biết rất thâm-diệu.
- Chỗ
đã làm việc thật khó, chỗ đã biết rất thâm-diệu, ý-nghĩa
như thế nào?
- Đức
Phật nói, Ngài có thể biết được các bộ-phận ở trong
bụng người, giải-thích được những gì mắt thấy, tai nghe,
mũi ngửi, miệng nếm, thân sờ chạm, cắt nghĩa các điều
thành-bại, các việc nghi-ngờ, giảng rõ các tư-tưởng, ý-niệm,
các vấn-đề tâm-linh.
Na-Tiên
lại nói:
- Như
có người ngậm một ngụm nước biển mặn, có thể nào phân-biệt
ra được phần nước nào là nước từ suối chảy đến,
(...) phần nào từ sông chảy đến chăng?
- Nước
hòa chung lại thành một, làm sao biết riêng được.
- Chỗ
Phật đã làm một việc thật khó, là phân-biệt biết rõ
hương-vị của mọi thứ nước, như nước biển mà nay Đại-Vương
còn chưa thể phân-biệt được, như thần-trí con người vẫn
chưa thấy được trong thân có sáu sự-việc chẳng thể thấy.
Bởi thế cho nên, Đức Phật đã giải-thích, tòng theo tâm-niệm
mà đến với mắt mới thấy vật, tòng theo tâm-niệm mà đến
với tai mới nghe tiếng, tòng theo tâm-niệm mà đến với mũi
mới ngửi mùi, tòng theo tâm-niệm đến với miệng mới nếm
vị, tòng theo tâm-niệm đến với thân mới biết sướng khổ,
nóng lạnh, thô cứng, tòng theo tâm-niệm đến với ý mới
biết chỗ qui-hướng. Phật tất biết hết cả, phân-biệt
giải-thích rõ-ràng hết cả.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
097.-
Luận-bàn Giáo-Pháp, Vương và Na-Tiên đều vui .
Na-Tiên
nói:
- Đã
quá nửa đêm rồi, tôi xin ra về.
Tức
thì, Vương liền ra lịnh cho các quan hầu-cận mang bốn súc
vải dầy có tẩm dầu mè dùng làm đuốc, để đưa Na-Tiên
về, dặn phải phục-vụ Na-Tiên như đang phục-vụ cho Ta.
Các vị hầu-cận đồng tâu: ''Xin tuân lịnh dạy.''
Vương
nói:
- Được
vị thầy dạy như Na-Tiên, và có đệ-tử như Ta, chắc là
mau đắc Đạo lắm.
Tất
cả các câu hỏi Vương nêu lên Na-tiên đều nhứt-nhứt đáp
đầy-đủ hết. Vương hết sức hoan-hỉ. Vương liền cho xuất
kho mười vạn bộ y thật đẹp để cúng-dường Na-Tiên. Vương
nói:
- Kể
từ nay, xin nguyện Na-Tiên hằng ngày cùng tám trăm vị Sa-môn
đến cung-điện nầy để dùng cơm, và nếu có cần dùng chi,
Ta sẽ xin cung-phụng ngay.
Na-Tiên
thưa:
- Tôi
làm đạo-nhơn nên chẳng có điều chi ham-muốn.
- Na-Tiên
nên nhận để tự giúp cho mình và cũng nên giúp cho Ta luôn.
- Thế
nào là giúp tự-thân và giúp luôn cho Đại-Vương?
- Sợ
e người ngoài bàn-tán bảo rằng Ta keo-kiệt, Na-Tiên đã vì
Vua giải hết các chỗ hồ-nghi mà Vua lại chẳng ban-thưởng
gì cả; hoặc sợ e có kẻ khác bảo, Na-Tiên đã chẳng giải
nổi được các chỗ Vua còn hồ-nghi, nên chẳng được Vua
ban-thưởng gì cả. Na-tiên mà nhận, đó là giúp Ta được
phước, mà cũng giúp cho Na-Tiên giữ được tròn danh-tiếng...
Cũng như con sư-tử bị giam nhốt trong cái chuồng bằng vàng
đang muốn thoát ra, tuy là Quốc-vương tại trong cung, nay Ta
tỉnh ngộ, lòng chẳng được vui, muốn bỏ nước mà đi hành
Đạo.
Vương
dứt lời, Na-Tiên liền đứng lên đi về chùa.
Na-Tiên
đi rồi, Vương thầm nghĩ, Ta hỏi Na-Tiên bao nhiêu việc, Na-Tiên
vì Ta giải rõ bấy nhiêu việc. Các chỗ Ta hỏi, Na-Tiên chẳng
hề chẳng giải rõ ý của Ta.
Na-Tiên
trở về chùa cũng tự nghĩ, Vương hỏi ta biết bao nhiêu sự,
Ta đều đáp hết bấy nhiêu sự. Chỗ Vương đã hỏi, Ta đều
giải-thích rõ. Na-Tiên lòng hoan-hỉ nghĩ như thế cho đến
khi trời sáng rõ.
Sáng
hôm sau, Na-Tiên khoác áo cà-sa, cầm bình bát đi thẳng vào
cung. Trên điện ngọc, Đức Vua liền đứng dậy thi lễ và
mời Na-Tiên ngồi. Vương bạch với Na-Tiên:
- Khi
Na-Tiên ra về rồi, Ta tự nghĩ, đã hỏi Na-Tiên biết bao lời,
Na-Tiên đều giải-đáp tất cả. Ta tự nhớ lại các chỗ
đã hỏi Na-Tiên, chẳng có câu nào Na-Tiên chẳng giải rõ
ý của Ta. Ta nhớ đến các lời đó, nên lòng rất là hoan-hỉ
mà nằm an nghỉ cho đến sáng.
Na-Tiên
thưa:
- Tôi
quay về chùa cũng tự nghĩ, Đại-Vương đã hỏi tôi biết
bao nhiêu sự-việc, tôi cũng đã vì Đại-Vương giảng-giải
bấy nhiêu sự-việc. Tôi lại nghĩ, các chỗ Đại-Vương hỏi
tôi, tôi đều phân-tách rõ hết. Vì thế mà lòng tôi hoan-hỉ
suốt đêm cho đến sáng.
Nói
xong, Na-Tiên muốn ra đi. Vương liền đứng dậy làm lễ tiễn
Na-Tiên.
(Kinh
Tỳ-kheo Na-Tiên, Quyển Hạ)
HẾT