A.-
Bản Phỏng-dịch
Quyển
Trung
042.-
Ba loại cảm-thọ: vui, khổ, chẳng vui chẳng khổ.
Vương
hỏi Na-tiên:
- Con
người cảm thấy vui, thì thiện hay là bất-thiện? Con người
cảm thấy khổ, thì thiện hay bất-thiện? Đức Phật há chẳng
có nói, có vui hoặc có khổ. Nếu như khiến cho có mà làm
ra chẳng có, thì khổ hay không?
Na-Tiên
hỏi lại Vương:
- Như
thanh sắt nung đỏ, có người tay cầm lấy thì bị phỏng
chăng; lại cầm một hòn băng trong tay, băng đó có làm phỏng
tay người chăng?
- Dĩ
nhiên, cả hai tay đều bị phỏng.
- Như
thế, trong hai tay đều nóng cả chăng?
- Chẳng
nóng cả hai.
- Hoặc
cả hai đều lạnh hết chăng?
- Chẳng
lạnh cả hai.
Na-Tiên
bảo: ''Cả hai tay đều nóng cả. Tôi muốn hỏi kỹ Đại-Vương,
hai lần trước, sau, cả hai đều nóng, thì nên nói cả hai
đều nóng; cả hai đều lạnh thì nên nói cả hai đều lạnh,
cớ sao Vương lại bảo chung, một nóng, một lạnh mà cùng
làm cho tay người bị phỏng?
Vương
nói: ''Trí-óc Ta còn thiển-cận quá, chẳng đủ sức để
hiểu kịp việc khó nầy. Nguyện Na-Tiên vì Ta mà giải-thích
cho.
Na-Tiên
nói:
- Kinh
Phật có nói đến việc đó: thường có sáu việc khiến con
người mừng bên trong; có sáu việc khiến con người rầu
bên trong; lại cũng có sáu việc khiến con người chẳng mừng
cũng chẳng rầu; và bên ngoài lại cũng có sáu việc khiến
con người buồn rầu.
a.-
Sáu việc khiến vui trong lòng .
- Thế
nào là sáu việc khiến con người vui bên trong?
- Một
là mắt có chỗ thấy, rồi lại có chỗ mong-cầu, cho nên
khiến cho con người vui trong lòng. Hai là tai nghe tiếng tốt
lại có chỗ mong cầu, cho nên khiến con người vui trong lòng.
Ba là mũi ngửi mùi thơm lại có chỗ mong-cầu, cho nên khiến
con người vui trong lòng. Bốn là lưỡi được món ngon lại
có chỗ mong-cầu, cho nên khiến con người vui trong lòng. Năm
là thân đụng chạm đến chỗ trơn láng lại có chỗ mong-cầu,
cho nên khiến con người vui trong lòng. Sáu là tâm được cảm-thọ
vui lại có chỗ mong-cầu, cho nên khiến con người vui trong
lòng. Như thế, đó là sáu việc khiến cho con người vui trong
lòng.
b.-
Sáu việc bên ngoài khiến vui.
- Thế
nào là sáu việc bên ngoài khiến con người được vui?
- Một
là mắt thấy sắc đẹp, nhớ lại điều đó chẳng thể thường
được, nên phải dứt bỏ đi, tự suy-nghĩ hiểu-biết đó
là vô-thường, cho nên khiến con người vui về bên ngoài.
Hai là tai nghe tiếng tốt, nhớ lại điều đó chẳng thể
thường được, nên phải dứt bỏ đi, cho nên khiến con người
vui về bên ngoài. Ba là mũi ngửi mùi thơm, nhớ lại điều
đó chẳng thể thường được, nên phải dứt bỏ đi, cho
nên khiến con người vui về bên ngoài. Bốn là miệng được
món ngon, nhớ lại điều đó chẳng thể thường được, nên
phải dứt bỏ đi, cho nên khiến con người vui về bên ngoài.
Năm là thân đụng chạm chỗ trơn láng, nhớ lại điều đó
chẳng thể thường được, nên phải dứt bỏ đi, cho nên
khiến con người vui về bên ngoài. Sáu là tâm nhớ nghĩ đến
điều thương-muốn, suy-nghĩ đến điều đó là vô-thường,
nên dứt bỏ cả, sau khi nhớ nghĩ như vậy liền khởi lên
vui. Đó là sáu sự-việc khiến cho con người vui về bên ngoài.
c.-
Sáu việc bên trong khiến buồn.
- Thế
nào là sáu sự-việc bên trong khiến cho lòng người rầu?
- Một
là mắt phải nhìn vào chỗ chẳng muốn thấy, khiến cho bên
trong buồn. Hai là tai phải nghe điều chẳng muốn được nghe,
khiến buồn lòng. Ba là mũi chẳng ưa chỗ thúi mà phải ngửi
mùi hôi, khiến cho bụng buồn-bã. Bốn là miệng chẳng muốn
nếm món đó mà phải nếm khiến cho bụng chẳng vui. Năm là
thân chẳng muốn đụng đến vật đó mà phải chạm lấy
khiến lòng rầu-rĩ. Sáu là tâm chẳng được điều vui mà
phải nghĩ đến khiến cho dạ sầu. Đó là sáu sự-việc khiến
cho bên trong lòng người buồn-rầu.
d.-
Sáu việc bên ngoài khiến chẳng vui.
- Thế
nào là sáu sự-việc khiến cho người chẳng mừng?
- Một
là mắt thấy sắc xấu-ác khiến lòng chẳng vui. Hai là tai
nghe tiếng ác-độc khiến lòng chẳng vui. Ba là mũi ngửi mùi
hôi-thúi khiến lòng chẳng vui. Bốn là lưỡi nếm vị cay
đắng khiến lòng chẳng vui. Năm là thân mặc đồ thô cứng
khiến lòng chẳng vui. Sáu là tâm có điều oán ghét khiến
lòng chẳng vui. Đó là sáu sự-việc bên ngoài khiến lòng
người chẳng vui mừng.
e.-
Sáu việc khiến chẳng vui chẳng buồn.
- Thế
nào là sáu việc khiến lòng người chẳng buồn, mà cũng chẳng
vui?
- Một
là mắt nhìn thấy điều chẳng buồn lại chẳng vui. Hai là
tai nghe tiếng chẳng buồn cũng chẳng vui. Ba là mũi ngửi mùi
chẳng buồn cũng chẳng vui. Bốn là miệng nếm vị chẳng
buồn cũng chẳng vui. Năm là thân có chỗ đụng-chạm chẳng
buồn cũng chẳng vui. Sáu là tâm nghĩ đến việc chẳng buồn
mà chẳng vui. Đó là sáu sự-việc bên trong khiến cho lòng
người chẳng buồn mà cũng chẳng vui.
f.-
Sáu việc bên ngoài khiến cho buồn lòng.
- Thế
nào là sáu việc bên ngoài khiến cho người buồn?
- Một
là khi mắt thấy cái chết, lòng tự nghĩ là thân người cùng
vạn-vật đều vô-thường, kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có
được ý-niệm đó mà sao còn chưa đắc đạo, đó là nguyên-nhân
bên ngoài gây ra sầu. Hai là khi tai nghe tiếng tốt, lòng chẳng
mừng; kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có được ý-niệm đó cớ
sao còn chưa đắc-đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra
sầu. Ba là mũi chẳng vui buồn với mùi thơm mùi thúi; kẻ
ấy tự nghĩ, mình đã có ý-niệm đó cớ sao còn chưa đắc-đạo,
đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra sầu. Bốn là miệng chẳng
nếm đắng ngọt; kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có ý-niệm đó
cớ sao còn chưa đắc-đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây
ra sầu. Năm là thân chẳng ham-thích chỗ trơn-láng cũng chẳng
bất-mãn với chỗ thô-cứng; kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có
được ý-niệm ấy cớ sao còn chưa đắc-đạo, đó là nguyên-nhân
bên ngoài gây ra sầu. Sáu là tâm chẳng vui với sự ham-muốn;
kẻ ấy tự nghĩ, mình đã có ý-niệm đó cớ sao còn chưa
đắc-đạo, đó là nguyên-nhân bên ngoài gây ra sầu. Đấy
là sáu sự-việc bên ngoài khiến lòng người trở nên sầu.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
043.-
Khi chết rồi, ai sanh trở lại?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Con
người chết rồi, khi sanh lại ở đời sau là ai vậy?
- Danh
(= tâm-thần) và Thân (= thân-thể ) sanh lại ở đời sau.
- Danh
cũ và Thân cũ của người ấy sanh lại chăng?
- Chẳng
phải như vậy. Chẳng phải Danh cũ, cũng chẳng phải Thân
cũ đã giữ lấy thân-tâm nầy ở đời nay làm điều thiện
ác cho đến đời sau, mà sanh ra lại đâu.
- Như
khiến dùng thân-tâm nầy làm điều thiện, điều ác ở đời
nầy rồi đời sau chẳng sanh lại, thì cứ hết sức làm điều
thiện, điều ác cũng được thoát hết, chẳng phải chịu
khổ lại nữa hay sao?
- Nơi
đời nầy làm điều thiện, thì đời sau chẳng sanh lại nữa,
liền được giải-thoát. Còn người chẳng ngừng làm điều
thiện, điều ác thì phải sanh lại về sau, cho nên chẳng
được giải-thoát. Thí-dụ như có người ăn trộm trái dưa;
người chủ bị mất trộm bắt kẻ ấy đem lại trình với
Vương: ''Anh nầy lấy trộm trái của tôi.'' Anh ăn trộm cãi
lại: ''Tôi đâu có lấy trộm trái của anh. Chỗ anh trồng
là trồng cây nhỏ, vốn đâu phải là anh đã trồng trái dưa;
tôi hái trái dưa thì làm gì là ăn trộm; tôi chẳng hề trộm
dưa của anh ta, thì có tội gì?'' Hai người tranh-cãi như thế,
thì ai phải, ai quấy?
- Người
trồng cây, phải; vì vốn đã tạo ra cây trồng; người trộm
trái thì quấy, chẳng cãi được, phải chịu tội.
- Vì
sao anh ăn trộm có tội?
- Sở
dĩ tên trộm có tội là vì căn-bản là người trồng cây,
có cây thì mới sanh ra trái chớ.
- Đời
người cũng lại như thế. Người đời nay dùng thân-tâm nầy
làm điều thiện, điều ác, cho đến khi sanh lại vào đời
sau, thì thân-tâm làm thiện-ác ở đời nầy là căn-bản vậy.
Lại ví như có người trộm lúa thóc của người khác; người
chủ bắt, liền nói: ''Anh ăn trộm thóc luá của tôi.'' Kẻ
trộm thóc nói: ''Tôi chẳng trộm thóc của anh. Anh tự trồng
lúa; tôi tự gặt thóc, tôi làm gì mà phạm tội trộm.'' Hai
người liền dẫn nhau đến trình Vương. Như thế, ai phải
ai quấy?
- Người
trồng lúa, phải; còn kẻ trộm thóc thì quấy.
- Sao
lại biết kẻ trộm thóc là quấy?
- Người
trồng lúa thì phải, vì trồng lúa là căn-bản, nếu chẳng
trồng lúa, thì làm sao mà có ra thóc được.
- Đời
người cũng lại như thế. Người đời nay dùng thân-tâm nầy
làm điều thiện-ác cho đến khi sanh lại vào đời sau, thì
do thân nầy làm căn-bản vậy. Lại thí-dụ nữa, như vào
mùa đông lạnh-lẽo, người kia đốt lửa lên sưởi cho ấm,
rồi lần lần bỏ đó mà đi. Lửa bắt cháy vách, tường
rồi lan sang lầu nhà người khác. Chủ nhà nầy lôi người
đốt lửa kia lại trình Vương: ''Anh nầy đốt lửa để cháy
sang lầu nhà tôi.'' Kẻ đốt lửa cãi: ''Tôi đốt lửa nhỏ-nhỏ
để sưởi ấm; tôi đâu có thiêu đốt nhà lầu.'' Đại-Vương
xử ai phải, ai quấy?
- Kẻ
đốt lửa, quấy; vốn do căn-bản đốt lửa mới sanh cháy
nhà.
- Đời
người cũng lại như thế, người đời nay dùng thân-tâm nầy
làm điều thiện-ác cho đến đời sau sanh lại thì thân-tâm
nầy chính là căn-bản vậy. Lại còn thí-dụ khác nữa, như
ban đêm một người đốt đuốc sáng lên, gần vách, để
ăn cơm; đuốc từ từ cháy lan lên vách rồi gặp tre trúc
cây gỗ liền thiêu cả ngôi nhà; lửa bừng lên cháy to thiêu
hủy cả thành-phố. Dân chúng trong thành cùng la-hét người
đốt đuốc: ''Cớ gì mà mày lại đốt cháy cả thành-phố
như vầy?'' Người kia nói: ''Tôi chỉ đốt ngọn đuốc nhỏ
để có ánh-sáng mà ăn cơm; thành cháy là tại lửa lớn kia,
chớ nào phải lửa của tôi.'' Như thế họ tranh-cãi nhau,
đưa nhau đến trước đền vua. Đại-Vương xử ai phải, ai
quấy?
- Kẻ
đốt đuốc có tội.
- Vì
sao biết kẻ ấy có tội?
- Căn-bản
lửa sanh cháy to là do tên nầy ăn cơm xong chẳng dập tắt
đuốc, khiến lửa bùng lên cháy rụi cả thành.
- Đời
người cũng lại như thế, người đời nay dùng thân-tâm nầy
làm các điều thiện-ác cho đến đời sau sanh lại, thì thân-tâm
nầy chính là căn-bản của sự tái-sanh; con người còn chưa
hiểu lẽ đó, làm điều thiện-ác, cho nên chẳng được độ-thoát.
Lại thêm một thí-dụ khác nữa, như có người dùng tiền
cầu cưới một đứa con gái nhỏ sau nầy về làm vợ. Về
sau, cô gái lớn lên, lại có người khác dùng tiền xin cưới,
liền được vợ. Người cầu hôn khi trước lại nhà trách:
''Anh tới sau sao lại cưới tranh vợ tôi?'' Người kia bảo:
''Anh tự lúc nhỏ cầu hôn với đứa bé gái; tôi cưới vợ
vào lúc nàng lớn lên, nào tôi có giành vợ với anh đâu.''
Cả hai tranh-cãi, dẫn nhau đến đền vua, Đại-Vương xử
ai phải, ai quấy?
- Người
cầu hôn trước, phải.
- Sao
Đại-Vương biết?
- Người
con gái ấy vốn là từ nhỏ lớn lên lần lần, cho nên biết
đó là vợ của người đã cầu-hôn trước.
- Đời
người cũng ví như thế đó. Người đời nay dùng thân-tâm
nầy làm các điều thiện-ác cho đến đời sau sanh lại, thì
thân-tâm đời nầy chính làm căn-bản cho việc tái-sanh đó.
Lại còn một thí-dụ khác nữa, như có người mang bình đi
mua sữa của kẻ nuôi bò. Mua sữa rồi, gởi lại cho chủ
và nói: ''Chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ trở lại lấy.'' Người
gởi sữa ít lâu sau trở lại lấy bình sữa, sữa chuyển
thành sữa chua. Anh ta trách: ''Tôi gởi sữa trong bình cho anh,
sao anh lại đổi thành sữa chua vậy?'' Người chủ bò cãi
lại: ''Đấy là sữa cũ của anh gởi, nay tự nó chuyển thành
sữa chua.'' Hai người tranh-cãi với nhau, dẫn nhau đến đền
vua. Đại-Vương thấy ai phải?
- Người
chủ bỏ, phải.
- Sao
Đại-Vương biết?
- Kẻ
kia mua sữa gởi lại lâu, sữa tự chuyển thành sữa chua,
người chủ bò nào có lỗi gì.
- Đời
người cũng ví như thế đó. Người đời nay dùng thân-tâm
nầy làm các điều thiện-ác cho đến đời sau sanh lại, thì
thân-tâm làm thiện-ác đời nầy chính là căn-bản cho việc
tái-sanh ấy vậy.
*
044.-
Vua hỏi, Na-Tiên có sanh trở lại nữa không?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Na-Tiên
nay có sanh trở lại đời sau không?
- Lời
Đại-Vương hỏi tôi đây, trước tôi đã đáp rồi. Nếu
như tôi còn có sự lưu-luyến về ân-ái, thì đời sau sẽ
sanh trở lại; còn nếu dứt được sự ân-ái, thì tôi chẳng
sanh lại nữa. Ví như có người tận lực phục-vụ Đại-Vương,
Đại-Vương biết rõ điều tốt đó, liền ban thưởng cho
nhiều tiền-của. Kẻ ấy được thưởng, dùng tiền-bạc
sắm quần áo, chi-phí ăn uống, vui đùa thoả-thích, rồi lại
phao lời, nói: ''Ta có công với nhà vua, mà vua chưa từng ban
thưởng cho ta gì cả.'' Tôi xin hỏi Đại-Vương, kẻ được
ban thưởng rồi, còn nói ngược lại chưa hề được thưởng,
lời nói của kẻ ấy có thể dùng được chăng?
- Lời
nói của kẻ ấy chẳng dùng được.
- Thế
cho nên, tôi xin nói với Đại-Vương, nếu tôi còn ân-ái thì
đời sau phải sanh lại; còn như tôi đã dứt ân-ái rồi,
thì đời sau chẳng phục-sanh nữa.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
045.-
Danh-Thân nghĩa là gì?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Khanh
trước có nói, Danh và Thân của con người; vậy Danh là những
gì, và Thân là những gì?
- Tấm
thân hiện nay đang thấy đây là Thân, còn chỗ nhớ nghĩ trong
lòng là Danh.
- Tại
sao nơi con người, Danh thì sanh lại ở đời sau, mà Thân nầy
lại chẳng sanh theo?
- Thân
và Danh của con người, trước sau liên quan nhau, ví như mầm
gà-con trong chất lỏng và vỏ cứng bên ngoài, lớn lên cho
đến khi thành con gà con. Nơi con người, Danh và Thân liên-quan
nhau cũng như thế đó, chẳng thể phân-ly ra được.
Vua
khen: ''Lành thay!''
*
046.-
Thời-gian.
Vua
lại hỏi Na-Tiên:
- Thời-gian
dài lâu là những gì?
- Lấy
việc quá-khứ đã qua làm lâu-dài; cũng lấy việc vị-lai
sắp tới làm lâu-dài; chỉ có hiện-tại bây giờ là chẳng
dài lâu.
- Lành
thay! Nghĩ cho kỹ thì có sự lâu-dài chăng?
- Hoặc
có lâu-dài, hoặc chẳng có lâu-dài.
- Thế
nào là có lâu-dài? Thế nào là chẳng có lâu-dài?
- Đối
với bực đã đắc Nê-Hoàn (=Niết-bàn) thì chẳng có thời-gian
dài lâu; đối với kẻ chưa đắc đạo còn phải sống đi
chết lại thì có thời-gian lâu-dài. Người, đời nầy, siêng
làm việc bố-thí, ăn ở có hiếu với mẹ cha, thì vào các
đời sau có thể chứng-đắc được phước ấy.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
047.-
Thời-gian cùng với Danh-Thân triển-chuyển.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Việc
quá-khứ, việc vị-lai, việc hiện-tại, ba điều đó, điều
nào là căn-bản?
- Việc
quá-khứ, việc vị-lai, việc hiện-tại, kẻ ngu-si đều lấy
đó là căn-bản.
a.-
Thân sanh Danh, Danh sanh sáu thức.
Hễ
ngu-si sanh thì tinh-thần sanh. Tinh-thần sanh thân, thân sanh danh,
danh sanh sắc (= vật-chất), sắc sanh sáu thức (= sáu cái biết):
(1) nhãn-thức, (2) nhĩ-thức, (3) tỵ-thức, (4) thiệt-thức,
(5) thân-thức, (6) ý-thức, sáu thức đều hướng ra ngoài.
Mắt hướng về hình-sắc, tai hướng về âm-thanh, mũi hướng
về mùi hương, miệng lưỡi hướng về vị nếm, thân hướng
về trơn-láng, tâm-ý hướng về sự ham-muốn; đó là sáu
sự hướng ra ngoài.
b.-
Nguyên-nhân dây chuyền
Danh
(= phần tinh-thần) làm phối (phối-hợp = gom chung lại), phối
hiệp với phối liền biết khổ, biết sướng; tòng theo sướng
khổ sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ra ham-muốn, tòng theo
ham-muốn sanh ra hữu-trí (= có sự truyền-đạt) liền sanh
ra nguyên-nhân của già, tòng theo già là nguyên-nhân của bịnh;
tòng theo bịnh là nguyên-nhân của chết, tòng theo chết là
nguyên-nhân của khóc-lóc, tòng theo khóc-lóc là nguyên-nhân
của ưu-sầu, tòng theo ưu-sầu là đau-đớn trong nội-tâm.
Hễ hiệp lại tất các sự khổ-nhọc đó lại thì thành con
người, lấy đó mà con người sống chết chẳng bao giờ cùng-tận,
cho nên chẳng thể nào biết rõ cái thân-gốc đầu-tiên cho
được.
c.-
Các thí-dụ: lúa trồng hằng năm; con gà đẻ trứng sanh con;
vòng tròn khép kín .
Thí-dụ
như người ta trồng lúa, lúa mọc rễ, tòng theo rễ sanh ra
cành, lá, hột, cho đến sau sanh ra thóc, mãi đến năm sau được
thóc thật nhiều.
Na-Tiên
liền hỏi Vương:
- Như
người ta trồng lúa, năm nào cũng trồng lúa, thì có lúc nào
dứt tuyệt chẳng sanh ra lúa nữa chăng?
- Năm,
năm, có trồng lúa thì làm sao có lúc dứt tuyệt được.
- Đời
người cũng lại như thế, cứ chuyển-đổi mãi, chẳng hề
có lúc dứt tuyệt được.
Thí-dụ
như gà đẻ trứng, trứng nở ra gà, tòng theo trứng sanh trứng,
tòng theo gà sanh gà. Đời người cũng lại như thế, chẳng
bao giờ dứt tuyệt.
Na-Tiên
ngừng giọng, lấy tay vẽ một vòng tròn dưới đất, rồi
hỏi Vương:
- Đại-Vương
nay thấy vòng tròn nầy có góc nào không?
- Vòng
đó tròn-vo, chẳng có góc ở chỗ nào cả.
- Kinh
Phật nói: ''Đời người sống chết cũng như bánh xe chuyển
lăn, sanh tử, tử sanh, chẳng bao giờ dứt tuyệt.''
d.-
Sáu căn, sáu trần và sáu thức phối-hiệp ...
Con
người tòng theo mắt, hình-sắc của vạn-vật, và có thức;
đó là giác-tri (=hiểu-biết); ba sự-việc đó (mắt, hình-sắc,
thức) hiệp lại, rồi tòng theo hiệp mà sanh ra sướng khổ,
tòng theo sướng khổ sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ra ham-muốn,
tòng theo ham-muốn sanh ra hữu-trí (= có sự truyền-đạt),
tòng theo hữu-trí sự sanh sanh ra, tòng theo sanh là nguyên-nhân
của việc làm thiện-ác.
Tòng
theo thiện-ác, liền khởi sanh ra tai nghe âm-thanh, có thức
tức là giác-tri, cả ba sự-việc đó (tai, âm-thanh, thức)
hiệp lại mà sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng khổ sanh
ra ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn
sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà sự sanh sanh ra, tòng
theo sanh mà làm các điều thiện-ác.
Tòng
theo thiện-ác, liền khởi sanh ra mũi ngửi mùi, có thức, tức
là giác-tri; ba sự-việc đó (mũi, mùi và thức) hiệp lại,
tòng theo hiệp sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng khổ sanh
ra ân-ái, tòng theo ân-ái sanh ra ham-muốn, tòng theo ham-muốn
sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà sự sanh sanh ra, tòng
theo sanh mà làm điều thiện-ác.
Tòng
theo thiện-ác, liền khởi sanh ra miệng nếm vị, có thức
tức là giác-tri; ba sự-việc đó (miệng, vị và thức) hiệp
lại, tòng theo hiệp mà sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng
khổ mà sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái mà sanh ra ham-muốn, tòng
theo ham-muốn sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà sự sanh
sanh ra, tòng theo sanh mà làm điều thiện-ác.
Tòng
theo thiện-ác liền khởi sanh ra thân được chỗ trơn-láng,
có thức tức là giác-tri; ba sự-việc đó (thân, trơn-láng
và thức) hiệp lại, tòng theo hiệp sanh ra sướng khổ, tòng
theo sướng khổ mà sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái mà sanh ra
ham-muốn, tòng theo ham-muốn mà sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí
mà sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà làm đìều thiện-ác.
Tòng
theo thiện-ác mà khởi sanh ra tâm-ý, ý-niệm và có thức tức
là giác-tri; cả ba sự-việc đó (tâm, ý-niệm và thức) hiệp
lại, tòng theo hiệp mà sanh ra sướng khổ, tòng theo sướng
khổ mà sanh ra ân-ái, tòng theo ân-ái mà sanh ra ham-muốn, tòng
theo ham-muốn mà sanh ra hữu-trí, tòng theo hữu-trí mà khiến
sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà làm điều thiện-ác. Như thế,
con người triển-chuyển, sanh tử tử sanh, chẳng bao giờ dứt
tuyệt.
Vương
ngợi khen: ''Lành thay!''.
*
048.-
''Người có gốc'' nghĩa là gì?
Vương
lại hỏi Na-tiên:
- Khanh
có nói, con người sống chết chẳng thể đắc được gốc.
''Chẳng thể đắc được gốc'' ý-nghĩa ra làm sao?
- ''Người
có gốc'' phải chẳng sanh trở lại, ''người có gốc'' phải
trở lại quá-khứ dùng đó làm ''gốc''.
- ''Người
chẳng có gốc'' phải nên chẳng sanh trở lại, nhìn thấy
''người có gốc'' phải trở lại quá-khứ, như thế thi ''gốc''
là chưa dứt tuyệt chăng?
- Dĩ
nhiên, cả hai đều phải là quá-khứ.
*
049.-
Cái ''gốc sanh-tử'' là gì?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Đời
người sống chết có kẻ theo bên cạnh giúp thêm ích lợi
chăng?
- Tôi
xin hỏi lại Đại-Vương, con người ở thế-gian cùng với
các loài nhện khi di-chuyển thì bò đi theo bên cạnh có tăng
thêm ích lợi gì chăng?
- Ta
chẳng hỏi Na-Tiên về con người ở thế-gian cùng các loài
nhện bò đi khi di-chuyển; Ta chỉ muốn hỏi Na-Tiên cái gốc
sanh tử của con người là gì?
a.-
''Gốc sanh-tử'' của con người.
- Cây-cối
sanh ra, lấy chồi non làm gốc; ngũ cốc lấy hột lúa làm
gốc; thiên-hạ, vạn vật đều lấy gốc của loài mình mà
sanh ra. Con người thì tòng theo sáu tình-cảm, ân-ái, làm gốc.
Con người có mắt, có hình-sắc, và có thức; có tai, có âm-thanh,
và có thức; có mũi, có mùi, và có thức; có lưỡi, có vị,
và có thức; có thân, có trơn-láng, và có thức; có niệm,
có pháp (=sự-vật), và có thức. Tòng theo các điều đó mà
sanh ra sướng khổ; tòng theo sướng khổ mà sanh ra ân-ái;
tòng theo ân-ái mà sanh ra ham-muốn; tòng theo ham-muốn mà sự
sanh sanh ra; hiệp các điều khổ đó lại cho đến thành ra
con người.
b.-
Từ sáu căn đến nguyên-nhân phải tái-sanh.
Mắt,
tai, mũi, miệng, thân, tinh-thần, thức, niệm khiến có sự
truyền-đạt hiệp lại làm phối, tòng theo phối sanh sướng
khổ, tòng theo sướng khổ sanh ân-ái, tòng theo ân-ái sanh
ham-muốn, tòng theo ham-muốn sanh ra nguyên nhân truyền-đạt.
Tòng theo truyền-đạt mà sự sanh sanh ra, tòng theo sanh mà có
nguyên-nhân già, bịnh, tòng theo bịnh mà có nguyên nhân chết,
ưu-sầu, khóc-lóc, tòng theo khóc lóc mà sanh ra đau-đớn trong
nội-tâm. Đời con người là như thế!
c.-
Từ sáu căn đến chứng-đắc vô-sanh.
Nếu
chẳng có mắt thì chẳng thấy hình-sắc, chẳng hay, chẳng
biết; tòng theo sự chẳng hay chẳng biết mà chẳng có sự
phối-hiệp; chẳng có sự phối-hiệp thì chẳng có sướng
khổ; chẳng có sướng khổ liền chẳng sanh ân-ái; chẳng
ân-ái thì chẳng sanh ham-muốn; chẳng ham-muốn thì chẳng có
hữu-trí (= sự truyền-đạt), chẳng sanh, chẳng già; chẳng
sanh chẳng già thì chẳng bịnh, chẳng chết; chẳng bịnh chẳng
chết thì chẳng sầu, chẳng khóc; chẳng sầu, chẳng khóc
thì nội-tâm chẳng đau-đớn. Chẳng có các điều khổ đó,
thì liền đắc được đạo Nê-Hoàn (=Niết-Bàn). Chẳng tai
thì chẳng có chỗ nghe; chẳng mũi thì chẳng có chỗ ngửi;
chẳng miệng thì chẳng có chỗ nếm; chẳng thân thì chẳng
có chỗ trơn-láng; chẳng có thức thì chẳng có sở-niệm;
chẳng có sở-niệm thì chẳng có phối-hiệp; chẳng có phối-hiệp
thì chẳng sướng chẳng khổ; chẳng sướng chẳng khổ thì
chẳng có ân-ái; chẳng có ân-ái thì chẳng ham-muốn; chẳng
ham-muốn thì chẳng có bào-thai, chẳng có sự sanh; chẳng sanh
thì chẳng già; chẳng già thì chẳng bịnh; chẳng bịnh thì
chẳng chết; chẳng chết thì chẳng sầu, chẳng sầu thì chẳng
khóc; chẳng khóc thì nội-tâm chẳng đau-đớn; dứt bỏ hết
tất cả các nổi khổ đó, liền đắc được đạo Nê-Hoàn.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay!''
*
050.-
Thế-gian chẳng hề có việc tự-nhiên mà sanh ra
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Thế-gian
có vật nào tự-nhiên mà sanh ra chăng?
- Chẳng
hề có vật nào tự-nhiên mà tự sanh ra lấy cả; phải có
nguyên-nhân mới sanh ra.
a.-
Thí-dụ về tòa điện cao.
Na-Tiên
hỏi Vương:
- Nay
Đại-Vương ngồi trên tòa điện cao nầy, điện ấy do nhơn-công
tạo ra, hay là tự-nhiên sanh ra?
- Nhơn-công
đã tạo ra điện nầy; gỗ xuất từ cây-cối; tường, vách,
bùn đất, xuất từ đất-đai.
- Đời
người cũng lại như thế; tất cả các giới hoà-hiệp lại
cho đến thành ra con người. Do đó, chẳng hề có vật nào
tự-nhiên mà sanh ra cả, đều phải có nguyên-nhân.
b.-
Thí-dụ về người thợ đồ gốm .
Thí-dụ
như người thợ làm đồ gốm, lấy đất sét hòa với nước,
nhồi nhuyễn rồi đem hầm trong lò mà thành các vật-dụng,
đất sét kia chẳng thể tự thành vật-dụng được, mà phải
có nhơn-công, củi, lửa, mới thành ra khí-cụ được. Thế-gian
chẳng hề có việc tự-nhiên mà sanh ra cả.
c.-
Thí-dụ về cây đờn .
Lại
nữa, thí-dụ như cây đờn-sắt mà thiếu dây, thiếu phím,
thiếu người khảy, thì có phát ra âm-thanh chăng?
- Chẳng
thể tự cây đờn mà có âm-thanh được.
- Nếu
như cây đờn-sắt đủ dây, có phím, được người cầm khảy,
thì có phát ra tiếng đờn chăng?
- Có,
có được tiếng đờn.
- Như
thế thì thiên hạ chẳng hề có vật tự-nhiên sanh ra, tất
cả đều phải có nguyên-nhân của nó.
d.-
Các thí-dụ khác: lấy lửa, kiếng soi.
Lại
có thí-dụ nữa, như muốn cọ cây lấy lửa mà chẳng có
hai khúc gỗ, chẳng có người cọ, thì có được lửa chăng?
- Chẳng
thể có được lửa.
- Giá
như có hai khúc gỗ, có người cọ gỗ, thì lửa có sanh ra
chăng?
- Dĩ
nhiên sẽ có lửa sanh ra.
- Vậy
thì thiên-hạ chẳng hề có vật nào tự-nhiên mà sanh ra, tất
phải có nguyên-nhân của nó.
Lại
nữa, thí-dụ như dùng kiếng rọi lớn để tụ ánh nắng
lại lấy lửa, mà chẳng có người cầm kiếng, chẳng có
vầng mặt trời, thì có được lửa chăng?
- Chẳng
có lửa được.
- Lại
ví như có người cầm kiếng, có ánh mặt trời, thì có lửa
không?
- Được
lửa.
- Như
thế thiên-hạ chẳng hề có vật gì tự-nhiên mà sanh ra, phải
có nguyên-nhân.
Lại
thêm thí-dụ nữa, nếu chẳng có kiếng soi, chẳng có ánh
sáng mà người kia muốn chiếu xem mặt mình, có thấy mặt
được chăng?
- Chẳng
thể tự thấy được.
- Nếu
như người có kiếng soi, có ánh sáng, có người tự xem mặt
mình, thấý được không?
- Dĩ
nhiên, có thể tự thấy được.
- Như
thế, thiên-hạ chẳng hề có vật nào tự-nhiên mà sanh ra
được, tất phải có nguyên-nhân của nó.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
051.-
''Cái gì'' là ''Người''?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Người
ở thế-gian là có ''người'' hay là chẳng có người?
- Xét
nghĩ cho kỹ, thế-gian chẳng thể nào có ''người'', thì gọi
''ai'' (hay ''cái gì'') là ''người'' cho thích-hợp được.
- Mạng
sống trong thân là ''người'' chăng?
Na-Tiên
liền hỏi lại Vương rằng:
- Mạng
sống trong thân người có thể dùng mắt thấy hình-sắc chăng,
có thể dùng tai nghe âm-thanh chăng, có thể dùng mũi ngửi
mùi chăng, có thể miệng nếm vị chăng, có thể dùng thân
biết sự trơn-láng chăng, có thể dùng tâm-ý có sự hay-biết
chăng?
- Có
thể.
- Nay
Đại-Vương và tôi cùng ngồi trên điện nầy, bốn mặt có
cửa sổ, tùy ý mình muốn nhìn ra cửa sổ nào mà thấy được
chăng?
- Thấy
được.
- Giả-thiết
như mạng sống, trong thân người, tùy ý muốn, theo ''cửa
hở'' (= khổng) nào đó để thấy, có thể dùng mắt để
thấy được hình-sắc chăng, có thể dùng tai để thấy được
hình-sắc chăng, có thể dùng mũi để thấy được hình-sắc
chăng, có thể dùng miệng để thấy được hình-sắc chăng,
có thể dùng thân để thấy được hình-sắc chăng?
- Chẳng
thể được.
- Giả-thiết
như mạng sống ở tại tai, có thể lấy tai để nghe được
chăng, có thể lấy tai để thấy được chăng, có thể lấy
tai để ngửi mùi được chăng, có thể lấy tai để nếm
được vị chăng, có thể lấy tai để biết được chỗ trơn-láng
chăng, có thể lấy tai để có được chỗ suy-nghĩ chăng?
Lại
giả-thiết như mạng sống ở tại mũi, có thể lấy mũi để
ngửi mùi thúi được chăng, có thể lấy mũi để nghe được
âm-thanh chăng, có thể lấy mũi để nếm vị được chăng,
có thể lấy mũi để biết được sự trơn-láng chăng, có
thể lấy mũi để biết được chỗ suy-nghĩ chăng?
Lại
giả-thiết như mạng sống tại miệng, có thể lấy miệng
để thấy được chăng, có thể lấy miệng để nghe được
âm-thanh chăng, có thể lấy miệng để ngửi mùi thối được
chăng, có thể lấy miệng để biết được sự trơn-láng
chăng, có thể lấy miệng để biết được chỗ suy-nghĩ chăng?
Lại
giả-thiết như mạng sống ở tại thân, có thể lấy thân
để biết được sự trơn-láng chăng, có thể lấy thân để
thấy được chăng, có thể lấy thân để nghe được âm-thanh
chăng, có thể lấy thân để ngửi mùi thối được chăng,
có thể lấy thân để nếm được vị chăng, có thể lấy
thân để biết được chỗ suy-nghĩ chăng?
Lại
giả-thiết như mạng sống ở tại thức, có thể lấy thức
biết được chỗ suy-nghĩ chăng, có thể lấy thức để nghe
được âm-thanh chăng, có thể lấy thức để ngửi mùi thối
được chăng, có thể lấy thức để nếm được vị chăng,
có thể lấy thức để biết được sự trơn-láng chăng?
- Chẳng
thể biết được.
- Đại-Vương,
lời nói của Ngài trước sau chẳng tương-ứng nhau. Như Đại-Vương
và tôi đang ngồi trên điện đây, nếu phá bỏ các cửa sổ
bốn bên, thì thấy có được xa rộng chăng?
- Dĩ
nhiên, thấy được xa rộng.
- Giả-thiết
như mạng sống ở tại thân, khai lớn mắt ra, thì thấy được
xa rộng chăng, khai lớn tai ra thì nghe được xa chăng, khai
lớn mũi ra thì ngửi được xa chăng, khai rộng miệng ra thì
nếm vị được nhiều chăng, khai rộng da ra thì biết trơn-láng
nhiều chăng, khai rộng phán-đoán ra thì ý được nhiều chăng?
- Chẳng
được.
- Như
thế thì lời nói của Đại-Vương trưóc sau chẳng tương-ứng
nhau.
Na-Tiên
liền hỏi Vương rằng:
- Người
giữ kho vua đến trước mặt Đại-Vương, Đại-Vương có
hay-biết ông ta đang đứng trước mặt chăng?
- Biết,
ở trước mặt.
- Ông
ta đi vào nhà trong, Đại-Vương có hay-biết ông ấy vào nhà
trong chăng?
- Biết,
đi vào nhà trong.
- Giả-thiết
như mạng-sống ở tại thân, người nếm vị ở trong miệng
có hay-biết ngọt, chua, mặn, cay, đắng chăng?
- Biết
chớ.
- Lời
nói của Đại-Vương trước sau lại chẳng tương-ứng nhau.
Ví như có người mua rượu ngon đổ đầy một thùng lớn,
rồi bất thần đè cổ nhận đầu một người khác vào thùng
rượu để thưởng-thức, kẻ ấy có biết được vị rượu
hay không?
- Kẻ
ấy chẳng biết được.
- Tại
sao lại chẳng biết được vị rượu?
- Rượu
chưa kịp vào trong miệng để đến trên lưỡi, cho nên chẳng
biết được vị rượu.
- Lời
nói của Đại-Vương trước lại cũng chẳng tương-ứng nhau.
Vương
nói:
- Trí
Ta ngu-si chưa hiểu kịp chỗ khó-khăn nầy; xin nguyện Na-Tiên
giải-thích cho.
Na-Tiên
nói:
- Người
theo mắt thấy hình-sắc, tâm-thần chuyển-động, tâm-thần
chuyển-động tức sanh sướng khổ, cùng với ý-niệm hiệp
lại; tai, mũi, miệng, ý cũng cùng hiệp nhau lại làm cho tâm-ý
có ý-niệm là tâm-thần chuyển-động. Tâm-thần chuyển-động
tức sanh sướng khổ; tòng theo sướng khổ mà sanh ra ý, ra
niệm, cứ triển-chuyển (= phát-triển và biến-chuyển) cùng
nhau mà thành, ắt chẳng hề có một vị chủ thường-hằng
nào cả.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay!''
*
052.-
Mắt và tâm cùng thấy.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Khi
con người mắt thấy thì mắt và tâm có cùng nhau phát-sanh
hay không?
- Dĩ
nhiên, cả hai đồng thời cùng phát-sanh.
- Mắt
thấy trước hay là tâm thấy trước?
- Mắt
thấy trước, tâm thấy sau.
- Cả
hai có nói với nhau như vầy chăng? Mắt nói với tâm, chỗ
tôi thấy trước, anh nên theo sau mà thấy. Tâm nói với mắt,
chỗ anh đã thấy, tôi nên theo đó mà thấy sau.
- Cả
hai chẳng nói với nhau gì hết.
- Khanh
há chẳng có nói, ''đồng thời cùng phát-sanh'' hay sao, vì
cớ gì mà cả hai lại chẳng nói với nhau như vậy?
- Có
bốn sự-việc khiến cho chúng chẳng cần nói với nhau như
trên. Bốn sự-việc đó là những gì? Một là, đi theo xuống
dưới. Hai là, đi theo hướng cửa. Ba là, đi theo vết xe. Bốn
là theo số. Bốn sự-việc đó khiến cho chẳng có sự cùng
nói với nhau.
- Thế
nào là đi theo xuống dưới?
- Trên
núi cao có mưa lớn, thì nước chảy xuống như thế nào?
- Chảy
theo xuống phiá dưới.
- Sau
đó, lại có mưa nữa. Nước nầy chảy như thế nào?
- Thì
chảy theo chỗ nước đám mưa trước đã chảy.
- Nước
chảy trước có nói với nước sau, anh phải chảy theo đường
tôi đã qua trước, chăng? Nước sau có nói với nước trước,
tôi đang chảy theo đường anh qua trước, chăng?
- Nước
chảy thì cứ tự chảy, nước chảy trước chẳng có nói
gì với nước chảy sau.
- Mắt
lại cũng như nước vậy, mắt chẳng có nói với tâm, anh
phải tùy theo chỗ tôi thấy mà khởi-sanh sau; tâm cũng chẳng
có nói với mắt, tôi đương tùy theo sau chỗ anh thấy mà
khởi-động lên. Mắt và tâm chẳng nói gì với nhau cả. Đó
gọi là đi theo xuống dưới. Tai, mắt, mũi, miệng, thân, ý,
cũng lại như thế.
- Thế
nào đi theo hướng cửa?
- Ví
như đô-thành lớn chỉ có một cửa ra vào; bên trong có một
người muốn đi ra, thì phải theo hướng nào?
- Phải
theo hướng ra cửa.
- Sau
đó lại có một người khác cũng muốn ra khỏi thành, thì
phải đi theo hướng nào?
- Cố-nhiên
người sau nầy phải noi theo con đường người đi trước
mà ra.
- Thế
thì, người ra trước có bảo kẻ ra sau, anh phải đi theo đường
tôi đi mà ra sau. Còn người đi sau có nói với kẻ đi trước,
tôi đang theo con đường anh đã đi mà ra khỏi thành. Hai người
có nói với nhau như vậy không?
- Người
đi trước với kẻ ra sau chẳng cùng nói với nhau.
- Mắt
cũng lại như thế. Mắt chẳng nói với tâm, anh phải theo
sau tôi mà khởi-phát; tâm cũng chẳng nói với mắt, tôi nay
đang theo sau anh mà khởi-phát. Mắt và tâm chẳng cùng nói
với nhau. Đó gọi là đi theo hướng cửa. Tai, mũi, miệng,
thân và ý, cũng lại như thế.
- Thế
nào là đi theo vết xe?
- Xe
trước đi qua, để lại vết bánh xe trên đường; xe sau phải
theo đường nào mà đi?
- Xe
sau phải theo vết bánh xe trước mà đi.
- Bánh
của xe trước nói với bánh của xe sau, anh phải nên theo chỗ
tôi đã đi qua mà đi; bánh xe sau nói với bánh của xe trước,
tôi đang đi theo vết xe của anh để lại. Cả hai có nói với
nhau như thế chăng?
- Chẳng
có nói cùng nhau.
- Đối
với con người, cũng lại như thế. Mắt chẳng nói với tâm,
tôi thấy chỗ nầy, anh phải tùy theo sau chỗ tôi thấy đó
mà khởi-sanh. Tâm cũng chẳng nói, tôi đang tùy theo chỗ anh
thấy mà khởi-sanh. Tai, mũi, miệng, thân và tâm, cũng chẳng
nói gì với nhau.
- Thế
nào theo số?
- Theo
số là tính đếm. Sách-vở, học-vấn là số. Tai, mắt, mũi,
miệng, thân, tâm, từ từ biết rõ, rồi cùng hiệp lại sáu
sự-việc đó cho đến khi thành chỗ hay-biết, mà chỗ hay
biết nầy chẳng phải chỉ tòng theo sự hay-biết riêng của
mỗi một nơi nào cả.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay!''
*
053.-
Giác-quan và tâm phối-hiệp nhau .
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Mắt
người khi nhìn thấy, có cùng với sự sướng khổ sanh ra
một lượt chăng?
- Mắt
thấy và sự sướng khổ đồng sanh ra, đều theo nhau hiệp
lại mà sanh ra.
- Thế
nào là hiệp lại?
- Khi
hai sự-việc tiếp-xúc nhau, đó là hiệp. Thí dụ như hai con
dê chọi nhau, đó là hiệp; một con ví như mắt, một con ví
như hình-sắc, hiệp lại gọi là phối. Thí-dụ như một bàn
tay ví làm mắt, một bàn tay như hình-sắc, hai bàn tay hiệp
lại làm phối. Thí-dụ như hai hòn đá, một hòn ví làm mắt,
một hòn làm hinh-sắc, hai hòn hiệp lại là phối. Tai, mắt,
mũi, thân, tâm, đều đồng hiệp nhau làm thành phối. Thí-dụ
như hai hòn đá, một hòn làm tâm, một hòn như chí (=ý-chí,
tâm-ý), cả hai hòn hiệp lại thành ra phối; tâm và chí hiệp
nhau như thế, nên gọi là phối.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay!''
*
054.-
Vui-sướng nghĩa là gì?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Vui-sướng
có mấy loại?
- Tự
mình giác-tri (= hay-biết), đó là vui-sướng.
Thí-dụ
như có người phục-vụ Vua; kẻ ấy hiền lành, Vua liền ban
thưởng cho tiền-của. Người ấy được thưởng, đem tiền
ra chi-dụng vào các thú-vui ham-muốn của mình cho khoái-lạc;
người ấy liền tự nghĩ, ta phụng-sự Vua, được Vua ban
thưởng, nay ta vui sướng. Vui-sướng là như vậy.
Thí-dụ
như có người tâm niệm thiện, miệng nói lời thiện, thân
làm việc thiện; hành thiện như thế khi chết đi được sanh
lên cõi Trời. Trên cõi Trời, tâm-ý được sung-sướng khoái-lạc
nhiều lắm, nên người ấy tự nghĩ rằng, ta lúc còn ở thế-gian,
tâm niệm thiện, miệng nói lời thiện, thân làm việc thiện,
cho nên nay ta sanh lên tới tận cõi nầy được vui-sướng
hết sức. Đó gọi là giác, tức là sự hiểu-biết vậy.
Vua
khen ngợi: ''Lành thay!''
*
055.-
Giác-tri là gì?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Giác
là như thế nào?
- Tòng
theo sự hiểu-biết, đó là giác. Thí-dụ như người giữ
kho vua, đi vào kho, nhìn trong kho, liền thấy có bao nhiêu trăm
ngàn tiền vàng bạc, châu ngọc, vải lụa tơ, đủ loại hương
sắc, đều biết các loại ấy ở chỗ nào, đó là giác-tri.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
056.-
Sở-niệm là gì?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Con
người có sở-niệm của mình. Có bao nhiêu loại sở-niệm?
- Con
người có sở-niệm nhân vì có sở-tác. Thí-dụ như có người
hòa thuốc độc rồi uống, lại cho kẻ khác uống nữa; thân
mình đã khổ, lại còn làm khổ đến kẻ khác. Lại thí-dụ
như người làm ác, chết đi phải sa vào địa-ngục, các người
khác được kẻ ấy dạy, làm theo điều ác đó, cũng đều
phải sa vào địa-ngục ấy cả. Kẻ ác có sở-niệm, có sở-tác,
là như vậy đó.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
057.-
Thế nào nội-động?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Thế
nào là nội-động?
- Y-chí
bên trong nổi lên, đó là động.
- Động
với Hành, thời ra làm sao?
- Thí-dụ
như chậu đồng, nồi đồng, có người đến đốt nấu lên;
các khí-cụ đó phát ra tiếng và có dư-âm; đó là hành. Con
người cũng như vậy, ý-chí khởi lên, nhân đó mà có hành-động.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
058.-
Các tâm-niệm phối-hiệp nhau rồi chẳng tách ra riêng từ
món được.
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Hiệp,
trí, niệm, ý, động, những thứ đó hiệp nhau lại, rồi
sau muốn phân-biệt mỗi thứ ra được chăng?
- Nếu
đã khiến hiệp nhau lại rồi thì chẳng phân-biệt ra mỗi
thứ được nữa. Thí-dụ như Đại-Vương khiến người đầu-bếp
nấu thứ canh ngon, canh phải có nước, có thịt, có hành tỏi,
có gừng, có muối bọt, có bột. Đại-Vương liền ra lịnh
cho người đầu-bếp, trong bát canh nấu xong đó, lấy ra trước
hết là vị của nước, kế đó vị của thịt, rồi đến
vị của hành tỏi, vị của gừng, vị của muối, vị của
bột, đem lên dâng, thì người ấy có thể nhứt-nhứt lấy
các vị ấy ra đem dâng lên Vua được chăng?
- Canh
đã nấu chung lại rồi, đâu có thể tách mỗi vị riêng biệt
ra được.
- Các
sự-việc lại cũng như thế, một khi đã hiệp chung thành
một rồi thì chẳng lấy riêng ra được, đây là sướng khổ,
đây là trí, đây là động, đây là ý-niệm.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
059.-
Vị của muối .
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Người
dùng mắt nhìn vị của muối có thể riêng biết được chăng?
- Đại-Vương
có biết được như thế không? Có thể nào dùng mắt nhìn
mà biết được vị của muối hay sao?
- Mắt
chẳng thể biết được vị của muối.
- Con
người dùng lưỡi để biết được vị của muối, chớ chẳng
thể dùng mắt mà biết vị của muối được.
- Phải
chăng con người dùng lưỡi để biết vị?
- Mọi
người đều dùng lưỡi để riêng biết về vị.
- Các
loại muối đều phải dùng lưỡi để riêng biết vị chăng?
- Dĩ
nhiên, vị của các loại muối phải dùng lưỡi để riêng
biết.
- Chiếc
xe trâu chở muối có riêng biết vị của muối chăng?
- Xe
trâu chẳng thể có sự hiểu-biết, đâu có thể biết được
vị của muối.
- Vị
của muối có thể đem ra cân được chăng?
- Đại-Vương
cũng dư biết điều đó, (...) vị của muối chẳng thể cân-lường
được; chỉ có sức nặng của muối mới có thể cân-đo
được.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay!''
*
060.-
Năm giác-quan .
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Nơi
thân con người dùng ngũ tri (= năm tri-giác) làm thành mọi
sự-việc, hay là làm một sự-việc mà thành năm giác-quan?
- Làm
thành mọi sự-việc, chớ chẳng phải do một sự-việc mà
thành. Thí-dụ như nơi một thửa đất trồng ngũ-cốc thì
lúc sanh ra, các loại lúa mỗi mỗi tự sanh ra tùy theo loại;
nơi thân con người, năm sự-việc đều dùng tất cả các
sư-việc mà sanh ra.
Vương
khen-ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
061.-
Tại sao có sự bất-bình-đẳng giữa loài người?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Con
người ở thế-gian, đầu, râu, tóc, da, mặt, mắt, tai, mũi,
miệng, thân-thể, tứ-chi, chơn tay, đều có đầy-đủ cả,
tại sao lại có người sống lâu, có người chết yểu, có
người lắm bịnh, có người ít bịnh, có người nghèo-khổ,
có người giàu-có, có người quyền-qúí, có người hạ-tiện,
có người là bực đại-nhơn, có người là kẻ tiểu-nhơn,
có người đoan-trang đẹp-đẽ, có người thô-kệch xấu-xí,
có người được kẻ khác tin-cậy, có người bị kẻ khác
nghi-ngờ, có người hiếu-thuận, có người ngu-si, tại sao
lại chẳng đồng?
- Ví
như cây-cối có trái: có chua, có đắng, có cay, có ngọt (...).
Các cây-cối đó, sao lại chẳng giống nhau?
- Sở
dĩ chẳng giống nhau, do bởi trồng các loại cây khác nhau.
- Con
người cũng lại như thế. Vì tâm-niệm mỗi người một khác
khiến cho con người ở thế-gian chẳng đồng nhau vậy; có
người mạng sống dài, có người mạng sống ngắn, có người
nhiều bịnh, có người ít bịnh, có người giàu-có, có người
bần-cùng, có người quyền-quí, có người hạ-tiện, có người
đại-nhơn, có người tiểu-nhơn, có người đoan-chánh, có
người thô-xấu, có người lời nói dùng được, có người
lời nói chẳng dùng được, có người thông-minh, có người
ngu-muội. Cho nên Đức Phật có nói: ''Tùy người làm điều
thiện ác mà tự mình phải đắc được điều thiện ác ấy,
có người hào-quí, có người bần-cùng, tất cả đều do
mạng sống đời trước đã làm điều thiện ác, mỗi người
đều tùy theo đức-hạnh của mình mà được như thế.''
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
062.-
Phải làm điều lành từ trước .
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Người
muốn làm điều thiện, nên làm trước ngay, hay là để sau
nầy mới làm?
- Phải
làm ngay khi trước, để đến sau mới làm thì chẳng ích lợi
chi. Trước có làm điều thiện thì nay mới có ích cho mình.
Như Đại-Vương đang khát mới sai người đào đất khai giếng
thì có giải ngay cơn khát của Đại-Vương chăng?
- Chẳng
giải cơn khát được; phải đào giếng sẵn từ trước.
- Con
người cũng lại như vậy. Nay phải làm điều thiện trước
đi, để đến sau nầy mới làm thì vô-ích lắm. Thí-dụ như
Đại-Vương đang đói, mới sai người cầy ruộng, bón phân,
trồng ngũ-cốc để lấy lúa gạo ăn, hay là phải nên dự-trữ
sẵn trước?
- Chẳng
nên thế; cần phải có dự-trữ trước.
- Con
người cũng lại như vậy; phải làm điều thiện trước,
chờ đến lúc cần-cấp mới làm việc thiện, chẳng vô-ích
lắm sao?
Ví-dụ
như có địch-quân đến xâm-phạm đất nước, Đại-Vương
cần chiến-đấu chống lại ngay, bấy giờ mới sai người
lo tập ngựa, luyện voi, tuyển binh, thì có tác-chiến kịp
thời chăng?
- Chẳng
kịp, cần có sẵn binh-lính trừ-bị mới kịp lâm-thời chiến-đấu
ngay; chờ đến lúc lâm trận mới lo tập ngựa, luyện voi,
tuyển binh, thì vô-ích lắm.
- Kinh
Phật nói: ''Con người trước phải lo niệm điều thiện,
thân làm việc thiện; để đến sau mới làm lành, chẳng vô-ích
lắm sao?'' Đại-Vương chẳng bỏ Chánh-đạo, chẳng bắt chước
theo tà-đạo. Người ngu bỏ điều thiện, làm điều ác, rồi
sau nầy ngồi đó khóc-than, có ích vào đâu. Kẻ nào dứt
bỏ điều trung-chánh, theo điều bất-chánh, đến lúc sắp
chết sẽ hối-hận về sau.
Vương
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
*
063.-
''Lộc riêng'' phải chăng là ''Nghiệp-lực''?
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Chư
sa-môn các khanh có nói, lửa ở thế-gian chẳng giống như
lửa ở địa-ngục. Lại nói, cầm một hòn đá nhỏ đốt
trong lửa ở thế-gian mãi cho đến chiều tối, cũng chẳng
tiêu tan; mà cầm một hòn đá lớn đốt trong lửa địa-ngục
thì lại tiêu-tan được ngay. Do đó, Ta chẳng thể tin được.
Các khanh cũng lại có nói, người làm ác, khi mất, phải sa
vào địa-ngục hằng ngàn vạn năm còn chưa chết tiêu; do
đó, Ta lại càng chẳng thể tin lời nói đó được.
- Đại-Vương
có nghe nói ở ngoài biển lớn có loài thủy-tộc như mãng-xà
cái (= rắn lớn), giao-long cái (= thuồng-luồng), giáp-ngư cái
(= ba-ba), giải cái (= cua), khi mang thai trong bụng thường dùng
sa-thạch (= đá cát) mà ăn chăng?
- Có
nghe nói, chúng dùng sa-thạch mà làm thực-phẩm.
- Sa-thạch
vào bụng rồi có tiêu chăng?
- Dĩ
nhiên, phải tiêu-tan.
- Thế
còn bào-thai trong bụng có bị tiêu theo chăng?
- Chẳng
tiêu.
- Sao
lại chẳng tiêu?
- Do
nhờ ''lộc'' riêng giúp vào mà các bào-thai ấy chẳng bị
tiêu-tan.
- Người
nơi địa-ngục cũng lại như thế, trong bao nhiêu ngàn vạn
năm chẳng chết tiêu đi, vì người ấy đã làm nhiều tội-ác
còn chưa diệt tận, cho nên chẳng thể chết đi được. Lại
ví như sư-tử cái, cọp cái, chó cái, mèo cái, đều ăn xương
thịt vào bụng, các chất ấy có tiêu-hóa chăng?
- Đều
tiêu-hóa hết.
- Còn
các bào-thai trong bụng có tiêu đi không?
- Chẳng
tiêu.
- Sao
lại chẳng tiêu?
- Do
''lộc'' riêng giúp vào, cho nên chẳng bị tiêu.
- Lại
nữa, trâu cái, ngựa cái, lừa cái, chương cái, nai cái, mang
thai trong bụng, dùng cỏ lá mà ăn, phải không?
- Dĩ
nhiên, chúng đều ăn cỏ lá để sống.
- Cỏ
lá được ăn vào bụng có tiêu-hóa hết cả chăng?
- Đều
được tiêu-hóa hết cả.
- Thế,
còn các bào-thai trong bụng có bị tiêu đi không?
- Chẳng
bị tiêu.
- Tại
sao?
- Nhờ
ở ''lộc'' riêng mà chẳng bị tiêu mất đi.
- Người
nơi địa-ngục cũng lại như thế; vì các tội-ác chưa được
diệt-tận, cho nên chẳng chết đi.
- Các
vị phu-nhơn, các bà trưởng-giả và các bà giàu-có dùng mỹ-vị
ăn uống vào bụng có tiêu-hóa hết chăng?
- Đều
tiêu-hóa hết.
- Các
bào-thai ở trong bụng họ có tiêu mất đi chăng?
- Không,
chẳng tiêu.
- Tại
sao vậy?
- Nhờ
nơi ''lộc'' riêng mà các bào-thai chẳng tiêu đi.
- Người
nơi địa-ngục cũng lại như vậy, sở dĩ ngàn vạn năm chẳng
chết tiêu là do ở đời trước làm việc ác còn chưa được
giải hết, vì thế mà chẳng chết tiêu. Người ở nơi địa-ngục,
lớn lên ở địa-ngục, rồi già-nua cho đến tận (hết tội)
thì mới chết được.
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
064.-
Bốn đại (bốn nguyên-tố) nương vào nhau .
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Chư
sa-môn các khanh có nói, đất trong thiên-hạ đều ở tại
trên nước, nước ở tại trên gió, gió ở tại trên không,
Ta chẳng tin là đúng như th