MỤC
LỤC TỔNG QUÁT
Vài
cảm nghĩ về Kinh Tì-kheo Na-Tiên
A-
Bản Phỏng dịch
B-
Tìm hiểu Nghĩa Chữ
C-
Tìm hiểu Nghĩa Ý
D-
Bản Phiên Âm
(Mục
Lục Chi Tiết Xem Bên Dưới)
Nội-dung
tập sách nầy gồm có:
A.-
Bản Phỏng-dịch từ chánh-văn trong Đại-Tạng, còn thiếu
tên tác-giả chữ Phạn và dịch-giả chữ Hán;
B.-
Phần Tìm hiểu Nghĩa Chữ: từ-ngữ Phật-học được tra Từ-điển
và giải-thích gọn, theo thứ-tự A, B, C;
C.-
Phần Tìm hiểu Nghĩa Ý: các câu vấn-đáp xếp lại thành
10 vấn-đề: 9 về giáo-lý, 1 về linh-tinh.
D.-
Bản Phiên-âm Hán-Việt
Thân-kính
tặng Quí-Vị Đạo-hữu Tổ-đình Từ-Quang và Thiền-viện
Linh-Sơn,
để
nhớ các buổi trưa nói chuyện Đạo vào dịp cuối tuần,
Thiện-Nhựt
Huỳnh-Hữu-Hồng
Vài
cảm-nghĩ về Kinh Tì-kheo Na-Tiên
Bài
Tham-luận thuyết-trình tại Tổ-đình Từ-Quang, Montreal, Canada
Khoá
Nghiên-Tu An-Cư
Tháng
Bảy 2005
1.-
Tại
sao tôi lại phỏng-dịch ''Kinh Na-Tiên''?
Quyển
''Na-Tiên Tì-kheo Kinh'' là một bộ Luận ghi bằng tiếng Pali,
rất nổi danh, được phiên-dịch ra nhiều thứ tiếng: tiếng
Hán, tiếng Việt, tiếng Miến, tiếng Thái, tiếng Tích-lan,
tiếng Anh, tiếng Pháp, v.v. Tại Việt-Nam, đã có các bản
dịch của các Cư-sĩ Đoàn-Trung-Còn, Cao-Hữu-Đính, và của
Hòa-Thượng Giới-Nghiêm, rất phổ-biến. Tại sao Thiện Nhựt
còn ''đèo-bồng'' mang ra dịch nữa?
1.-
Thiện Nhựt học Kinh kệ Phật xuất-xứ từ Hán-Tạng, nên
chỉ biết đọc và tìm hiểu các bản Kinh kệ được dịch
ra tiếng Việt của các bực đại-sư Việt-Nam. Chẳng phải
các Kinh sách chữ Anh, chữ Pháp quá khó-khăn, nhưng khi tìm
hiểu về chúng, Thiện Nhựt cảm thấy chúng ''hơi xa lạ''
đối với người Việt có sức học trung-bình, tu theo đường-lối
của ông-bà để lại. Như trong Hán-tạng dùng hai chữ Hỉ
và Lạc để chỉ hai thiền-chi của Sơ-Thiền, các sách Anh-ngữ
đã dịch ra là Joy, Happlness, Bliss... ; trong khi đó tiếng Việt
thuần-túy của ta lại có hai chữ Mừng và Vui, rất dễ hiểu
mà mô-tả rất rõ-ràng tâm-trạng của thiền-giả khi sắp
bước vào định-tâm: Mừng thì thân còn đang xúc-động, tâm
còn vọng-động. Vui thì khi nỗi mừng đã lắng-dịu, tâm-ý
lâng-lâng, nhẹ-nhàng. Sao ta lại bỏ quên chẳng dùng những
tiếng Việt thông-thường ấy để diễn-đạt hai thiền-chi
đó, một cách giản-dị và rất chính-xác? Chính vì lẽ đó
mà Thiện Nhựt đã mạo-muội đem bản văn Hán-tạng phỏng-dịch
ra tiếng Việt thông-thường ngày nay, trước để cho mình
tìm hiểu và học-hỏi bằng tiếng Việt, sau cũng có thể
giúp được phần nào lợi-ích cho các bạn đạo cùng tu.
2.-
Mỗi cuối tuần vào chùa lạy Phật nghe kinh, nhìn lên các
tủ kiếng sắp hàng-hàng lớp-lớp các bộ Kinh chữ Hán trong
Đại-Tạng, Thiện Nhựt chẳng khỏi bùi-ngùi nghĩ đến thân-phận
dốt-nát của mình còn chưa dám mở một quyển nào ra đọc,
vì lẽ vốn-liếng chữ Hán của mình quá ít-oi, hiểu được
mặt chữ đã là khó, nói chi đến nghĩa-lý cao-siêu, huyền-diệu
được ''gói-ghém kỹ'' trong các dòng chữ mà con mắt thịt
mình nhìn thấy quá ư bí-hiểm! Các bộ Kinh được Việt-dịch
cũng chẳng dễ chi mà hiểu cho tận-tường, vì lẽ còn nhan-nhản
các danh-từ Phạn-ngữ được phiên-âm ra Hán-văn, có lẽ
còn khó nghe hơn chữ Pali chánh gốc. Hoạ-hoằn lắm mới thấy
nơi vài quyển, sau phần dịch-thuật và cước-chú, có năm
ba trang hiếm-hoi ở phía sau, giải-thích vắn-tắt ý-nghĩa
cao-sâu lời chư Phật và Bồ-tát mở lối cho con đường tu-tập.
Người học Phật, với thành-tâm mong được giác-ngộ và
giải-thoát, khó mà tìm thấy một quyển Kinh với đầy-đủ
lời giải-thích bằng ngôn-từ thông-thường, cùng sự phân-tách
rõ-ràng các điểm chánh-yếu cần lưu-tâm, để vững lòng
bước đi, từ bước một, trên con đường học-hỏi giáo-lý
nhà Phật. Nói tóm lại, còn chưa thấy có nhiều kinh-sách
được soạn dưới hình-thức giáo-khoa-thư, để cho một người
bập-bẹ mới biết học Phật như Thiện Nhựt có thể dùng
làm quyển sách gối đầu giường mà học Kinh học Kệ.
Nhân
tìm thấy trong Hán-Tạng bản cổ-văn dịch từ chữ Phạn,
bộ Luận Milinda panha, nhan đề là ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'', thiếu
tên dịch-giả, được sao-lục lại từ thời Đông-Tấn bên
Tàu (khoảng thế-kỷ thứ 5), Thiện Nhựt mới mạo-muội đem
ra ''phỏng-dịch'' thành tiếng Việt thông-thường ngày nay.
Mục-đích chỉ là để có một bản Việt-văn mà học ôn
lại giáo-lý, vì nội-dung bộ Luận nầy nêu ra gần trăm câu
thắc-mắc, nghi-ngờ, của vua Milinda (Di-Lan) cùng với lời
giải-thích khá rõ-ràng và đầy-đủ của Tì-kheo Nagasena (Na-Tiên)
về Giáo-pháp của Đức Phật. Trong khi phỏng-dịch, Thiện
Nhựt nhận thấy vài từ-ngữ chuyên-môn về Phật-học trong
bản dịch Hán-văn hết còn thích-hợp với các thuật-ngữ
ngày nay, như Ba-mươi-bảy Phẩm Kinh thay vì nói Ba-mươi-bảy
Phẩm Trợ-Đạo, như Hiếu-thuận thay vì Giới-hạnh, như Danh-Thân
thay vì Danh-Sắc, như Lộc riêng thay vì Nghiệp-lực, v.v. nên
Thiện Nhựt muốn đề-nghị thay-thế bằng các danh-từ đang
hiện-hành, nhưng chẳng dám tự-tiện sửa lại trong phần
phỏng-dịch theo Hán-văn, mà chỉ xin ghi lại ở sau, nơi phần
Tìm hiểu Nghĩa Chữ. Và nhân đó, có chép lại hơn hai mươi
trang lời giải-thích vắn-tắt các chữ khó, sắp-xếp theo
thứ-tự A, B, C, để các bạn trẻ nào muốn dùng đến tập
sách nhỏ ấy, khỏi phải mất công tra thêm Từ-điển.
Lại
nữa, các câu hỏi thắc-mắc của vua Di-Lan thường là tùy-hứng,
nghe giảng đến đâu thì hỏi đến đấy, chẳng theo một
đề-mục nhứt-định nào, lại thêm được nhắc tới nhắc
lui nhiều lần ở lắm chỗ khác nhau, nên Thiện Nhựt, khi
tìm hiểu về ý-nghĩa giáo-lý trong quyển Luận nầy, thấy
nên sắp xếp lại các câu hỏi đó ra mười vấn-đề, chín
thuộc về giáo-lý và một về các câu hỏi linh-tinh có liên-quan
đến kiến-thức tổng-quát. Khi sắp-xếp các câu hỏi của
vua Di-Lan lại, đúng theo thứ-tự các vấn-đề giáo-lý, Thiện
Nhựt có ghi lại trong phần Tìm hiểu Nghĩa Y của mình, các
điểm bất-đồng ý-kiến với vị Tì-kheo lỗi-lạc, đó chẳng
phải là dám khoe mình có ''biết chút đỉnh'' về giáo-lý,
mà chính là để gợi lên cơ-hội cho các bạn trẻ, đem đặt
lại vấn-đề với các vị Thầy dạy Đạo của mình, hầu
có được lời giải-đáp thích-đáng (và nhớ làm ơn cho Thiện
Nhựt biết với, để học hỏi thêm).
2.-
Xuất-xứ
của quyển ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh''.
Bộ
Luận Milinda panha được ghi lại bằng tiếng Phạn, tác-giả
là ai, hiện còn chưa được các học-giả về Phật-học trên
thế-giới xác-định rõ. Bắc-Tông cho rằng Bồ-tát Long-Thọ
(Nagarjuna) đã sáng-tác quyển nầy, vì Ngài muốn mượn tên
của Na-Tiên (Nagasena) để đối-đáp về Giáo-pháp với vua
Ménandre mà Ngài ám-chỉ là Di-Lan (bản dịch của đại-cư-sĩ
Đoàn-Trung-Còn gọi là Di-Lan-Đà). Còn Hòa-thượng Giới-Nghiêm,
nguyên Tăng-Thống Giáo-hội Phật-giáo Nguyên-thủy Việt-nam,
ghi tên tác-giả là Ngài Pitakaculàbhaya, gốc người Trung-Ấn.
Quyển
Milinda panha được gọi là Kinh, vì được kết-tập trong hệ
Pali nơi Tiểu-Bộ-Kinh (Khuddaka Nikaya). Bản dịch Hán-văn ''Na-Tiên
Tì-Kheo Kinh'' được ghi trong Hán-Tạng, Càn-Long Đại-Tang Kinh,
quyển số 108, các trang từ 706 đến 753. Đúng ra đó là một
bộ Luận được một vị đại-sư trước-tác, sở dĩ được
tôn-vinh là Kinh, có lẽ vì nội-dung cao-sâu tựa như lời của
chư Phật hay Bồ-tát.
Các
bạn thanh-niên nghiên-cứu về Phật-học có thể đòi hỏi
thêm về tiểu-sử của tác-giả, cùng lý-do nào đã khiến
tác-giả sáng-tác nên bộ Luận nầy. Đòi hỏi nầy rất chính-đáng
khi ta cần nghiên-cứu kỹ-lưỡng một vấn-đề triết-học
hay văn-chương. Nhưng Thiện Nhựt chẳng thấy có mảy-may thắc-mắc
chi về các chi-tiết quan-trọng đó. Tại sao? Vì khi học Kinh-kệ,
Thiện Nhựt chỉ cần biết đó là một bản Kinh được ghi
trong Đại-Tạng, điều quan-trọng là tìm hiểu ý-nghĩa về
lời dạy tu-tập, còn việc nghiên-cứu đúng theo các phương-pháp
khoa-học của nhà khảo-cổ, thì xin kính-cẩn chờ sự chứng-minh
chính-xác với đầy-đủ bằng-cớ của các bực đại-trí-thức.
Lại nữa, mình đọc Kinh Phật chỉ cần hiểu và biết ứng-dụng
lời dạy tu-tập về đường tu của mình, hơn là thắc-mắc
về danh-xưng, tiểu-sử, v.v..., thí-dụ như trong Tâm-Kinh Bát-Nhã
có nói đến Bồ-tát Quán-Tự-Tại, được các vị đại-sư
giải-thích đó là tên khác của Bồ-tát Quán-Thế-Âm, mình
cần chi thắc-mắc là đúng hay sai; còn chỗ đáng thắc-mắc
là mình có theo Kinh đó để tu-tập tánh Không chưa, và nay
đã tới mức nào rồi. Do đó, Thiện Nhựt đề-nghị nên
xem bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'' do một bực cổ-đức nào
đó đã sáng-tác vào một thời xa-xưa, vậy thôi!
3.-
Nội-dung được bố-cục có phần hơi ''lỏng-lẻo''.
Bộ
''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'' trong Hán-Tạng được chia ra làm ba quyển:
Thượng, Trung, Hạ, nhưng xét theo ý-nghĩa, lời văn, thì chẳng
thấy có sự phân-biệt rõ-ràng giữa ba quyển đó, vì lẽ
các câu hỏi ở quyển Thượng lại được nhắc lại ở quyển
Trung và quyển Hạ; cũng như ở hai quyển sau, vẫn thấy còn
bàn lại các vấn-đề đã được thảo-luận ở quyển trước.
Sở dĩ có sự trùng-điệp đó là vì các câu hỏi của vua
Di-Lan phần lớn là tùy-hứng, nhân nghe giảng một đoạn rồi
liền nêu lên thắc-mắc, khiến cho mạch kinh-văn... hơi ''lỏng-lẻo''.
Về
Nội-dung, bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo'' có thể tạm chia ra làm
ba phần:
1.-
Tiền-kiếp của Tì-kheo Na-Tiên và của vua Di-Lan;
2.-
Các câu vấn-đáp giữa nhà Vua và vị Tì-kheo lỗi-lạc;
3.-
Tâm-trạng của Vua Di-Lan và Tì-kheo Na-Tiên sau cuộc đàm-luận
lý-thú về giáo-lý.
Riêng
phần vấn-đáp, trong Hán-tạng có ghi vào khoảng một trăm
câu hỏi; nơi Tạng Pali, số câu hỏi thay đổi lên xuống
tùy vào nơi xuất-bản, khoảng hơn hai trăm sáu mươi câu.
Điều nầy cho thấy bản nguyên-tác bằng chữ Phạn có thể
bị thêm bớt, thay đổi, tùy theo thời-gian và nơi chốn đã
xuất-bản bộ Luận.
Để
tiện việc nghiên-cứu, Thiện Nhựt đã sắp-xếp lại, trong
Phần Tìm hiểu Nghĩa Y của mình, thành mười vấn-đề: chín
về giáo-lý, và một về các kiến-thức tổng-quát linh-tinh.
Vì tuân theo thứ-tự trong bản nguyên-tác khi các câu hỏi
được vua Di-Lan lần-lượt nêu lên, nên chín vấn-đề giáo-lý
được ghi chép lại như sau:
1.-
Tại sao đi tu làm Sa-môn?
2.-
Sự tái-sanh, nghiệp-lực và thuyết Luân-hồi;
3.-
Sự phân-biệt các điều thiện và ác;
4.-
37 Phẩm trợ-Đạo;
5.-
Trí-huệ;
6.-
Các loại cảm-thọ;
7.-
Sự đắc Đạo và cõi Niết-bàn;
8.-
Đức Phật;
9.-
Con ''người'' và thuyết vô-ngã.
Lẽ
ra, nếu nhìn chung toàn-bộ tư-tưởng diễn-đạt trong bộ
Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'', ta sẽ thấy ý-tưởng cốt-cán
là: Tại sao đi tu làm Sa-môn? Đó là vì muốn được giác-ngộ
và giải-thoát. Giác-ngộ về điều gì? Giác-ngộ về lẽ
sống-chết và thân-phận của con người. Giải-thoát khỏi
điều gì? Giải-thoát khỏi cảnh Khổ trong vòng Luân-hồi
để được an-nhiên, tự-tại trong cõi Niết-bàn.
Để
khai-triển ý-tưởng cốt-cán nói trên, tác-giả bộ Luận
lần-luợt đề-cập đến nghiệp-lực đã dẫn-dắt chúng-sanh
theo sáu nẻo của vòng Luân-hồi; rồi chỉ cho ta thấy lối
phá vở vòng lẩn-quẩn sanh-tử đó, bằng cách (a) biết phân-biệt
đìều thiện, điều ác; (b)tuân theo 37 Phẩm Trợ-Đạo; (c)
phát-triển Trí-huệ để tiêu-diệt đến tận gốc-rễ các
trở-ngại là phiền-não-chướng và sở-tri-chướng. Để tận-diệt
hết các trở-ngại lớn-lao đó, tác-giả đã phân-tách tỉ-mỉ
sự phát-khởi của các cảm-thọ nơi thân-tâm thường đưa
đến các phiền-não-chướng, và vạch rõ sự cố-chấp vào
các tà-kiến, đã đưa tới các sở-tri-chướng, nhứt là ngã-kiến,
một tà-kiến trầm-trọng hơn cả. Để đối-trị lại với
ngã-kiến, tác-giả đã nhiều lần chứng-minh rằng trong năm
uẩn kết-tụ lại thành thân-tâm nầy chẳng có ''cái chi''
thường-hằng, chẳng thấy ra được ''con người'' nào đứng
làm chủ cả: đó là thuyết vô-ngã trong Phật-học. Và sau
cùng, hễ theo đúng con đường tu-tập ấy, hành-giả sẽ đắc
Đạo, chứng được Niết-bàn vô-sanh và an-tịnh, theo như
gương của Đức Phật đã đi trước.
4.-
Viên
ngọc quí thứ nhút trong bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh''
Đi
sâu vào nội-dung của bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'' ta tìm
thấy khá nhiều viên ngọc quí, chẳng trách nào bộ Luận
đã được tôn-vinh là ''Kinh'' và được sự hâm-mộ của
các hàng trí-thức trên khắp thế-giới từ xưa đến nay.
Viên ngọc đầu-tiên là ''Vua Di-Lan thử-thách Tì-kheo Na-Tiên
hai lần'', như vầy:
Lần
thứ nhứt:
Ngay
tại buổi sơ-kiến, sau các lời thăm hỏi xã-giao, vua Di-Lan
thử-thách Tì-kheo Na-Tiên, bằng một câu hỏi khó:
- Na-Tiên!
Ai là Na-Tiên? Đầu là Na-Tiên chăng?
-
Đầu chẳng phải là Na-Tiên.
-
Mắt, tai, mũi, miệng là Na-Tiên chăng?
-
Mắt, tai, mũi, miệng chẳng phải là Na-Tiên.
...
... ...
-
Vậy chớ chỗ nào là Na-Tiên?
Na-Tiên
hỏi lại Vương:
-
Xe kia, chỗ nào là xe? Trục xe có phải là xe chăng?
-
Trục xe chẳng phải là xe.
-
Vành bánh xe có phải là xe chăng?
-
Vành bánh xe chẳng phải là xe.
...
... ...
-
Vậy thì cái gì là xe?
Vương
im lặng chẳng trả lời được.
Na-Tiên
liền nói:
- Kinh
Phật có nói đến, hiệp-tụ các bộ-phận (...) đó lại,
là nguyên-nhân để có được chiếc xe. Con người cũng lại
như vậy, hễ hiệp-tụ đầu mặt, tai, mũi, miệng... chung
lại thì thành con người.
Vương
khen: Lành thay! Lành thay!
Lần
thứ hai:
Vương
nói:
- Ta
có điều muốn hỏi.
-
Xin Đại-Vương cứ hỏi.
-
Ta đã hỏi xong.
-
Tôi cũng đã đáp xong.
-
Đáp những gì đâu?
-
Đại-Vương hỏi tôi những gì đâu?
Vương
nói:
- Ta
chẳng có chỗ hỏi, Na-Tiên cũng chẳng có chỗ đáp...
Giờ
đây ta thử hỏi: Đâu là chỗ thử-thách? Đâu là viên ngọc
quí?
Trước
nhứt là câu hỏi: ''Ai là Na-Tiên?'' Nghĩa sâu-kín của câu
hỏi đó là: Vậy chớ cái gì mới thật là Na-Tiên? Bản-chất
của con người là gì? Nơi thân-tâm con người, có cái gì
là cái Ta, là bản-ngã không? Hoặc nói theo những người còn
mê-tín, trong thân-tâm nầy, có cái linh-hồn tồn-tại mãi
qua thời-gian chăng?
Các
câu trả lời của Na-Tiên, cùng lời kết-luận trích-dẫn
trong Kinh Phật đều qui-hướng về một vấn-đề căn-bản
của Giáo-lý nhà Phật: lý vô-ngã, trong thân-tâm con người
chẳng hề có cái Ta, chẳng hề có cái bản-ngã. Tuy Na-Tiên
chẳng nói rõ ra, nhưng ta biết thân-tâm con người chỉ là
sự tập-hợp của năm uẩn: sắc-uẩn là phần vật-chất,
gọi là thân, và bốn uẩn kia, thọ, tưởng, hành, thức-uẩn
thuộc về phần tinh-thần, tức là tâm. Chẳng hề thấy trong
thân-tâm nầy, đâu là ông chủ gọi là Ta, đâu là linh-hồn,
gọi là phần hồn của Ta cả, chỉ có các uẩn tập-hợp
lại mà thôi. Đó là lý-lẽ rất vững-chắc chứng-minh Chơn-lý
vô-ngã trong Phật-học.
Na-Tiên
đã vượt qua dễ-dàng chỗ Vua thử-thách bằng cách hỏi ngược
lại: ''Xe là gì? Cái gì trong xe là xe?'' Nhà Vua đã chẳng
trả lời được, như thế Na-Tiên đã thắng. Rất tiếc là
nhà Vua chẳng hỏi thêm các chi-tiết về lý vô-ngã nữa, để
chúng ta được dịp học-hỏi về cách-thức Na-Tiên giải-đáp
các mối nghi-ngờ còn sót lại về Chơn-lý quan-trọng nầy.
Chơn-lý vô-ngã là chơn-lý khó hiểu, khó chứng nhứt trong
ba Chơn-lý: Vô-thường, Khổ, Vô-ngã.
Nhưng
nhà Vua lại đưa thêm một câu hỏi rất khó, nếu những ai
mà lớ-quớ, chẳng nhanh-trí như Na-Tiên, thì liền lọt vào
cạm-bẫy ngay. Hỏi mà chẳng nêu ra câu hỏi là hỏi làm sao?
Đáp mà chẳng nói ra lời, là đáp cách nào? Vua và Na-Tiên
đang so gươm trí-huệ với nhau đấy!
Nhà
Vua muốn hỏi Na-Tiên mà chẳng nêu câu hỏi ra, tức là nhà
Vua muốn hỏi gì đây? Hai đằng đang bàn-luận về giáo-pháp,
thế thì câu nhà Vua muốn hỏi là câu hỏi thuộc về Pháp
(Dharma, Giáo-Pháp) chớ gì. Tại sao Vua chẳng nói ra đó là
câu hỏi về Pháp? Bởi lý-lẽ rất cao-siêu là Pháp vốn Không,
tức là Pháp vốn rỗng-rang, chẳng chứa đựng gì, chẳng
dính-mắc gì, chẳng có hình-tướng gì, thì làm sao diễn-tả
ra bằng lời nói được. Nếu có nói ra câu hỏi về Pháp,
tức là mặc-nhiên phủ-nhận tánh-chất rỗng-rang của Pháp
rồi, đâu nêu lên được chỗ Pháp-không trong giáo-lý, lại
còn khoác thêm cho Pháp một hình-tướng ngôn-từ nữa.
Na-Tiên
quả là nhanh-trí, biết ngay chỗ ẩn-ý của nhà Vua, nên mới
đáp là ''đã đáp xong'', mà chẳng nêu rõ là đáp những gì.
Nếu Na-Tiên vô-tình hỏi lại nhà Vua, Vua vừa nói ''đã hỏi
rồi'' là hỏi những gì đâu? thì Na-Tiên liền rơi ngay vào
cạm-bẫy của Vua, chờ đợi một câu hỏi về Pháp bằng
ngôn-từ. Pháp vốn là Không sao diễn ra bằng hình-tướng
của lời nói để hỏi thành câu hỏi, hoá ra còn chưa hiểu
được điểm giáo-lý rất quan-trọng của nhà Phật hay sao?
Trở
lại câu hỏi đầu-tiên: ''Ai là Na-Tiên?'', ý-nghĩa sâu-xa
của câu hỏi nầy là vấn-đề Ngã-không trong Giáo-lý Nam-Tông.
Câu hỏi thử-thách thứ nhì của nhà Vua: ''Ta có điều muốn
hỏi'' có liên-quan đến vấn-đề Pháp-không trong Giáo-lý
Bắc-Tông. Cả hai lần thử-thách khó-khăn nầy đều được
Na-Tiên vượt qua một cách xuất-sắc: dùng gậy ông mà đập
lưng ông. Nhưng còn rất xuất-sắc hơn nữa là tác-giả bộ
Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'' nầy, đã trình-bày hai vấn-đề
cực-kỳ tế-nhị dưới hình-thức vấn-đáp hết sức đơn-giản,
dễ hiểu và đầy hứng-thú!
Đó
là viên ngọc quí thứ nhứt được tìm thấy và nay xin đem
dâng-hiến lên quí Vị. Còn nhiều viên ngọc quí khác nữa,
Thiện Nhựt e-ngại sức học của mình chưa tới mức để
tìm thấy ra hết.
5.-
Viên
ngọc quí thứ hai trong bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh''.
Viên
ngọc nầy liên-quan đến Thái-độ đứng-đắn trong khi bàn-luận
về Giáo-Pháp. Xin chép lại đoạn văn quan-trọng sau đây trong
bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'' nói đến thái-độ đứng-đắn
ấy:
Vương
hỏi Na-Tiên:
- Sư
có thể cùng Ta bàn-luận về các Kinh khó chăng?
-
Nếu Vua dùng trí-huệ để hỏi tôi, thì có thể cùng nhau
bàn-luận. Nếu Vua dùng ý lời vương-giả kiêu-quí, thì chẳng
thể cùng Vua bàn-luận được.
-
Trí-huệ có bao nhiêu loại?
-
Bực trí-giả, khi đàm-luận, hết sức vặn hỏi cùng nhau,
giải rõ cùng nhau, lời nói cao, lời nói thấp, lời nói chánh-trực,
lời nói bất-chánh; có thắng, có thua tự mình biết lấy
phải trái, đó là trí-huệ tối-thượng, chẳng cần chút
giận-hờn. Bực trí-giả là như thế đó.
-
Lời nói vương-giả có bao nhiêu loại?
-
Lời nói vương-giả tự phóng theo cảm-nghĩ của mình, hễ
có chỗ trái lệ chẳng như ý Vua, tức thời Vua bắt tội
nặng, phạt giết đi. Như thế đó là lời nói bực vương-giả.
Vương
liền nói rằng:
- Nguyện
dùng lời nói của bực trí-giả, chẳng dùng lời nói của
vương-giả, chẳng giữ ý-nghĩ vương-giả trong lời mình nói,
chỉ nên nói theo như lời đệ-tử của chư Sa-môn, như lời
các vị ưu-bà-tắc. Nên theo lời của chư Sa-môn mà khiến
cho lòng mình chẳng mang sợ-hãi, chánh-tâm cũng được khai-ngộ.
Na-Tiên
liền thốt lên rằng:
- Thật
lành thay!
Sự
phân-biệt của Na-Tiên giữa lời nói của bực trí-giả và
lời nói của bực vương-giả, đưa đến thái-độ đứng-đắn
cho những ai tham-dự một cuộc tranh-luận về Giáo-Pháp. Lời
nói ngay-thẳng, chơn-chánh, hướng về Chơn-lý, có thua, có
thắng, tự mình mình biết lấy phải-trái, dẫu thất-bại
cũng chẳng chút giận-hờn, trái-ngược hẳn với thái-độ
của kẻ bướng-bỉnh, ngoan-cố, biết rõ mười-mươi đối-phương
hữu-lý mà vẫn cố cượng-cầu, phải chăng đó là vì tự-ái
còn quá sâu-đậm, cái Ngã còn to-tướng như ... cái bồ! Lời
nói kiêu-quí, phóng theo cảm-nghĩ của riêng mình, gặp chỗ
chẳng vừa ý thì hung-hăng chống-đối, để bảo-vệ các
thành-kiến cố-chấp, đó là thái-độ của kẻ tự-cao trong
một phút ''bốc-đồng'' đã dại-khờ bỏ qua mất cơ-hội
hưởng lợi-lạc được đến gần với Chơn-lý mà đối-phương
đã mang tới cho mình.
Đức
khiêm-cung của vua Di-Lan được biểu-lộ ra rất rõ-ràng trong
lời nói sau đây, thật đáng cho ta khâm-phục:
- Nguyện
dùng lời nói của bực trí-giả, (...) chẳng giữ ý-nghĩ vương-giả
trong lời mình nói...
Viên
ngọc quí thứ hai của bộ Luận chính là nằm ngay tại đấy.
*
Khi
suy-gẫm về đoạn văn ''quí-giá'' trên đây thuật lời đối-đáp
giữa Na-Tiên và vua Di-Lan, Thiện Nhựt có thêm vài cảm-nghĩ
thô-thiển của mình, về thái-độ chơn-chánh tại các buổi
nói chuyện Đạo:
1.-
Kinh-sách Phật-học thường nhắc đến lời Đức Phật dạy
là phải tránh các cuộc hí-luận. Thế nào là hí-luận? Hí
là vui-đùa. Luận là bàn-cãi. Thường thấy, tiếp theo các
buổi trà dư tửu hậu, nhiều người tự nhận là ''bực trí-thức
hiểu Đạo'' ngồi nhâm-nhi tách trà, bàn-luận nhau với lời-lẽ
dao to búa lớn mà ý-nghĩa lại rỗng-tuếch, phê-bình vị đại-sư
nầy, khen ngợi vị thiền-giả kia, từ Đông sang Tây, hết
kim đến cổ, đó là ... bàn luận chơi cho vui, vậy thôi, chớ
nào phải đi tìm Chơn-Lý để rút lấy kinh-nghiệm tu-tập.
Thế cho nên, Đức Phật mới gọi là hí-luận và dạy ta cần
phải tránh.
2.-
Kinh-sách Phật-học phân-biệt hai loại Chơn-Lý: (1) sự-thật
ở thế-gian, có thể đúng nơi nầy, vào lúc nầy, mà cũng
có thể chẳng hợp với chỗ kia, vào một thời khác, cho nên
gọi đó là tục-đế, nghĩa là sự-thật tương-đối trong
đời sống thế-tục; (2) sự-thật đúng muôn đời và khắp
mọi nơi, đưa con người tu-hành đến nơi giác-ngộ và giải-thoát,
vì thế cho nên mới gọi là chơn-đế, nghĩa là Chơn-Lý tuyệt-đối
của lãnh-vực xuất-thế-gian. Bởi thế người hiểu-biết
bao giờ cũng nghĩ là mình chưa hề nắm vững được Chơn-đế,
nên phải giữ thái-độ khiêm-hoà, chẳng dám liều-lĩnh bảo
rằng điều mình nói đây là sự-thật duy-nhứt và tối-thượng.
Trái lại, tâm-trạng kẻ ấy nên mở rộng ra đón nhận tạm-thời
lời-lẽ của người đối-thoại, hẹn với lòng mình sẽ
truy-cứu thêm chỗ đúng cùng sai, hầu rút lấy kinh-nghiệm
tu-tập cho bản-thân.
3.-
Thái-độ thích-nghi khi luận-bàn về Giáo-lý là phải hết
sức thành-khẩn trong tư-tưởng và lời nói:
a.-
Về phía người thưa hỏi, ở vị-thế của người đi học
Đạo, cần phải giữ lễ-độ với người mà mình thưa-thỉnh.
Thái-độ đứng-đắn là nêu ra các câu hỏi cho rõ-ràng, chú-trọng
đến chỗ mình còn nghi-ngờ chưa được giải rõ. Và khi nghe
lời giảng-giải, phải lắng lòng, chú-tâm, chẳng vội chấp-nhận
mà cũng chẳng bài-bác ngay, nếu có chỗ chưa kịp hiểu, thì
xin được minh-chứng thêm bằng các thí-dụ cụ-thể trong
đời sống hằng ngày.
b.-
Về phần người được hỏi, chẳng bao giờ để khởi lên
trong lòng mình một chút ý-nghĩ tự-hào cỏn-con nào rằng
mình biết Đạo hơn người kia, nếu chẳng đáng làm Thầy
thì cũng là người đi trước. Và khi giảng-giải, phải tùy
theo căn-cơ của người nghe mà dùng lời-lẽ giản-dị, rõ-ràng,
dễ hiểu, kèm theo các thí-dụ thực-tế.
4.-
Trong một cuộc thảo-luận về các vấn-đề đạo-giáo, có
hai điều mà kẻ hỏi và người đáp, cần nên tránh, thì
mới xứng-danh là một cuộc thảo-luận đứng-đắn và hữu-ích:
a.-
Về phía người hỏi, chớ bao giờ có ẩn-ý muốn dồn kẻ
đối-thoại vào ... ngõ bí. Trên điạ-hạt tâm-linh, có nhiều
vấn-đề mà chính Đức Phật đã gọi là bất-khả tư-nghì,
nghĩa là chẳng thể nghĩ bàn rốt-ráo được với lời-lẽ
của thế-gian. Đừng đòi hỏi có cho được những bằng-cớ
thật cụ-thể, tai nghe mắt thấy, có thực-nghiệm của khoa-học
chứng-minh rồi mới chấp-nhận. Điều mình chẳng tin được,
trong khung-cảnh thời-gian và không-gian hiện-tại, chưa chắc
hẳn là chẳng thể nào có được, biết đâu đó lại là
một sự-thật tại một cảnh-giới khác, vào một thời khác.
Thế cho nên, thái-độ khoa-học chơn-chánh là phải tỏ ra
dè-dặt, chớ vội bác-bỏ hoàn-toàn mà chưa xét kỹ lại
khả-năng thông-hiểu của trí-óc con người (và trí-óc của
mình nữa).
b.-
Về phía người đóng vai-trò hướng-dẫn, tưởng cũng chẳng
nên đưa ra ''tối-hậu-thơ'': ''Tôi nói như thế, có tin thì
tu theo, còn chẳng tin, thì cứ giữ lấy quan-niệm của mình
vậy!'' Người thưa hỏi thành-tâm muốn được giải chỗ
còn hoài-nghi, nghe câu nói đó rất chán-nản, và đạo-tâm
vì thế mà lùi-sụt.
Lại
nữa, cũng đừng nên dùng luôn câu nói quá dễ-dàng nầy:
''Tôi nói thế, đạo-hữu cứ đọc đi, tụng đi, thi-hành
theo đi, rồi sẽ có ngày hiểu rõ được ý-nghĩa sâu-xa mà
đạo-hữu muốn hỏi.'' Người hỏi đang chờ đợi một vài
câu khuyên thực-tiễn, đôi lời giảng-giải gọn-gàng về
ý-nghĩa trong đoạn Kinh, câu kệ hiện còn thắc-mắc ấm-ức
trong bụng, làm sao mà tiếp-tục đọc-tụng thêm được nữa,
nếu chỗ hồ-nghi còn chưa được giải-toả. Tưởng chẳng
có chi là đáng hổ-thẹn khi chính mình nhận thấy mình còn
chưa đủ lời-lẽ để phân-tách điều đang được hỏi,
sao lại chẳng thành-thật nhìn-nhận sự thiếu-sót của mình
và mời người hỏi tìm đến một bực cao-minh nào khác?
5.-
Và trong mọi trường-hợp, chớ chẳng cứ là chỉ trong các
dịp thảo-luận mà thôi, luôn luôn nên giữ thái-độ cởi-mở,
đón nhận mọi lý-lẽ, -- tin hay chẳng chịu tin, đó là quyền
tự-do tư-tưởng riêng bên trong của mình -- hãy lắng nghe
để cho người đối-thoại có đủ cơ-hội trình-bày lập-trường.
Thái-độ đáng trách nhứt là cố-chấp, ôm giữ khư-khư các
ý-kiến, các cảm-nghĩ cá-nhơn, và cả các thành-kiến.
6.-
Nhân nhìn thấy ''hòn ngọc ẩn'' trong lời đáp của Tì-kheo
Na-Tiên về vấn-đề Tái-sanh.
Vấn-đề
Tái-sanh trong vòng Luân-hồi được cứu-xét rất dài-dòng
trong bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'', nhắc đi nhắc lại,
dưới nhiều khiá-cạnh, rải-rác khắp ba quyển Thượng, Trung,
Hạ. Có điều khá ngạc-nhiên là chẳng thấy tác-giả bộ
Luận bàn đến điểm mấu-chốt thường gây mối thắc-mắc
lớn trong hàng các thanh-niên nam-nữ trẻ tuổi được hấp-thụ
nền văn-minh khoa-học vật-chất ngày nay: việc tái-sanh có
thật hay chẳng có thật? Phải chăng, tác-giả bộ Luận đã
xem việc tái-sanh là một hiện-tượng thiên-nhiên dĩ-nhiên,
như mưa bão, sấm sét của vũ-trụ, như cây-cối gìa cỗi
có trái, có hột, khi tàn-tạ thì mọc lên cây khác sởn-sơ
bên cạnh, rồi chấp-nhận và tin-tưởng đúng theo thuyết
Luân-hồi trong Giáo-lý: chúng-sanh khi hết mạng sống nầy
sẽ tái-sanh lại ở cõi đời sau? Có lẽ vì lý-do đó, tác-giả
bộ Luận khi nói đến việc tái-sanh, bàn ngay đến các khía-cạnh
như: Tại sao phải tái-sanh? Ai phải tái-sanh lại? Ai được
giải-thoát khỏi tái-sanh? Khi tái-sanh, có phải do thân-tâm
cũ mà mang lấy thân-tâm mới không?..., mà chẳng hề xét việc
tái-sanh thật có hay không.
Ta
hãy tạm gát lại câu hỏi mấu-chốt: tái-sanh có phải là
một hiện-tượng thật-sự chắc-chắn xảy ra không?, và hãy
đọc qua lời chất-vấn của vua Di-Lan với Tì-kheo Na-Tiên:
''Na-Tiên có còn phải tái-sanh nữa không?'' với hi-vọng tìm
thấy ra ''hòn ngọc ẩn'':
(1)
Vương lại hỏi Na-Tiên:
- Có
người chết rồi chẳng phải sanh lại nữa chăng?
-
Có người phải sanh lại, mà cũng có người chẳng phải sanh
trở lại
-
Ai còn phải sanh lại và ai chẳng còn sanh lại?
-
Người quyến-luyến niềm ân-ái nhiều, lắm sự ham-muốn,
thì sanh lại đời sau; người đã dứt sạch sự ân-ái, bỏ
hết mọi ham-muốn thì đời sau chẳng phải sanh trở lại
....
(2)
Vương lại hỏi Na-Tiên:
- Có
người chẳng sanh lại ở đời sau không, và có tự biết
được việc chẳng sanh lại ấy chăng?
-
Dĩ nhiên, có người như thế, tự biết mình chẳng còn tái-sanh.
-
Làm sao biết được?
-
Người ấy tự biết mình chẳng còn quyến-luyến ân-ái, chẳng
còn ham-muốn, chẳng có điều ác, nhờ đó biết mình chẳng
còn phải sanh lại nữa. Thí-dụ như người nông-phu trồng
lúa, được nhiều thóc, trữ lại để về sau, sang năm anh
chẳng trồng lúa nữa, chỉ lấy lúa dự-trữ ra ăn. Người
nông-phu ấy có mong được lúa gạo mới chăng?
-
Người nông-phu ấy chẳng mong được lúa mới.
-
Tại sao biết người ấy chẳng được lúa mới?
-
Người nông-phu ấy chẳng cầy cấy, chẳng trồng lúa, thì
có chờ mong được chi nữa.
-
Người đã đắc-đạo cũng lại như thế, tự biết rằng
đã dứt bỏ ân-ái, sướng-khổ, chẳng còn tham-tâm, do đó
biết đời sau chẳng sanh lại.
(3)
Vương lại hỏi Na-Tiên:
- Na-Tiên
nay có sanh trở lại đời sau không?
-
Lời Đại-Vương hỏi tôi đây, trước tôi đã đáp rồi.
Nếu như tôi còn có sự lưu-luyến về ân-ái, thì đời sau
sẽ sanh trở lại; còn nếu dứt được sự ân-ái, thì chẳng
sanh lại nữa. ...
Ba
đoạn văn ngắn (1), (2) và (3) vừa được trích dẫn trên
đây, nằm cách xa nhau đến cả chục trang, nơi hai quyển Thượng
và Trung của bộ Luận. Đọc lại cả bộ Luận nhiều lần,
Thiện Nhựt mới tìm thấy được một điểm vừa khéo, vừa
quí, và gọi đó là một ''viên ngọc ẩn'' Chẳng biết trí
thô-thiển của Thiện Nhựt có nhìn lầm chăng?
Đoạn
(1) nói về: tại sao có người còn tái-sanh, có người chẳng
phải tái-sanh nữa? Đoạn (2) bảo rằng: người đã đắc
Đạo tự mình biết rõ chẳng sanh lại vào đời sau. Đoạn
(3) ghi lời đáp của Na-Tiên về câu Vua hỏi: Na-Tiên nay có
sanh trở lại đời sau không? Mỗi đoạn rời-rạc đó chẳng
cho ta thấy được ẩn-ý của vua Di-Lan khi đặt ra câu hỏi:
Na-Tiên nay có tái-sanh nữa không? Nhưng nếu đọc kỹ lại
cả ba đoạn ta thấy nổi bật lên ''ẩn-ý'' của nhà Vua khi
đưa ra một câu hỏi như thế. Ẩn-ý gì? Nhà Vua muốn vị
Tì-kheo xác-nhận cho rõ-ràng bằng lời nói, rằng Na-Tiên đã
đắc Đạo chưa, để biết chắc được mình chẳng còn phải
tái sanh nữa? Nhưng nhà Vua chỉ nhẹ-nhàng hỏi: Na-Tiên nay
còn tái-sanh nữa không?, tuy nhẹ-nhàng nhưng thẳng-thắn, và
đang chờ-đợi ở vị tu-hành một câu trả lời dứt khoát:
Có (đắc Đạo) hay là Không.
Tì-kheo
Na-Tiên quả là người tinh-tế khi đáp: Lời Đại-Vương hỏi
tôi đây, trước tôi đã đáp rồi. Nếu như tôi còn lưu-luyến
ân-ái, thì đời sau sẽ sanh trở lại; còn nếu dứt được
sự ân-ái, thì tôi chẳng sanh lại nữa... Lời đáp có vẻ
''phân hai'' chẳng nói ''Có'' mà cũng chẳng bảo ''Không''.
Thế thì ''khéo'' ở chỗ nào đâu, khi nói ... lửng-lơ như
thế? Thưa, rất khéo, và khéo ở tại chữ ''Nếu''. Mình tu
đắc Đạo tự mình mình biết, có ai chứng cho mình là mình
đã đắc Đạo? Mình đã dứt được sự ân-ái, tự mình
mình biết, có ai chứng cho mình việc dứt bỏ sự ân-ái đó?
Mình quả-quyết nói ra mình đắc Đạo và mình đã chứng
được vô-sanh, lấy chi làm bằng-cớ? Và nhứt là nói ra mình
đã đắc Đạo, đó phải chăng đã là một sự khoe-khoang,
mà lại còn e kẻ khác nghĩ lầm mình nói ra để được Vua
trọng-vọng rồi cúng-dường ''hậu-hỉ'' cho mình. Cho nên
với chữ ''Nếu'', Na-Tiên đã vừa tránh được sự khoe-khang,
lại vừa khỏi phải che-dấu sự-thật.
Thế
thì, còn ''quí'' ở chỗ nào? Tì-kheo Na-Tiên, trước khi ra
hành đạo, đã tu chứng đạo-quả A-la-hán rồi, tại sao chẳng
tỏ ra cho vua biết, hoặc thi-triển các thần-thông đã đắc
được để cho vua tin? Đó là hạnh khiêm-nhường, với tâm
thanh-tịnh hoàn-toàn, trong lòng chẳng hề khởi lên tự-kiêu,
tự-mãn, phô-trương cùng người sự chứng-đắc của mình.
So với thời mạt-pháp ngày nay, có biết bao kẻ mạo-danh tu-hành
rêu-rao chẳng ngượng mồm đã đắc được đạo nầy, quả
nọ, đã vỗ ngực xưng là bực vô-thượng-sư, là đấng Phật-sống,
còn cho bọn đồ-đệ mê-tín ngông-cuồng dùng các phương-tiện
quảng-cáo rầm-rộ những trò buôn thần bán thánh theo đường
lối thương-mại, khiến các bực chơn-tu sùng Đạo phải đau
lòng.
Cầu
mong sao thái-độ khiêm-nhường kín-đáo của Tì-kheo Na-Tiên
được các hàng Phật-tử lấy đó làm gương để khiến cho
mối Đạo giữ tròn được sự trong-sáng.
Bây
giờ, xin trở lại vấn-đề mấu-chốt: Tái-sanh là một
hiện-tượng có thật hay chẳng có thật?
Gọi
là ''hiện-tượng'' một sự-việc thật-sự có thật, xảy
ra trong một khung-cảnh không-gian và thời-gian. Việc tái-sanh,
nếu thật-sự xảy ra, phải trải qua ba giai-đoạn: (1) lúc
chết, (2) sự thay-đổi từ trạng-thái của đời sống cũ
sang trạng-thái đời sống mới, (3) lúc sanh ra. Trong ba giai-đoạn
đó, ta chỉ biết được có hai: lúc chết và lúc sanh, còn
sự thay đổi, nếu có, từ trạng-thái cũ sang trạng-thái
mới, phải xảy ra tại một cảnh-giới khác, trong khung-cảnh
thời-gian và không-gian khác với cõi trần-thế nầy. Chính
vì lẽ nầy, mà khoa-học hiện-đại vẫn còn chưa có câu
trả lời dứt-khoát: việc tái-sanh có thật hay chẳng có thật?
Như thế, dựa theo lập-luận duy-lý, việc tái-sanh nếu thật
sự có thật hoặc chẳng có thật, đều phải có nguyên-nhân
của nó.
Thế
gian chẳng hề có một sự-việc nào tự-nhiên tự nó mà sanh
ra: phải có nguyên-nhân rồi mới sanh ra hậu-quả. Xét cho
cùng kỳ-lý, vấn-đề tái-sanh có thật hay chẳng có thật
chỉ là một vấn-đề tin-tưởng mà thôi: hoặc tin là có,
hoặc tin là chẳng có. Nhưng muốn vững tin, phải có những
lý-do chắc-chắn làm căn-bản cho niềm tin đó: đã đành khi
tin thì tin bằng một niềm tin; mà khi chẳng tin, chẳng chịu
tin, thì thái-độ nầy cũng vẫn là một niềm tin, một niềm
tin chắc-chắn cho rằng, chẳng hề có việc tái-sanh. Những
ai theo khoa-học vật-chất đòi hỏi các bằng-cớ cụ-thể,
mắt có thấy, tai có nghe mới chịu tin, thì ta thử hỏi, họ
đưa ra những lý-lẽ nào vững-chắc để quả-quyết rằng
việc tái-sanh chẳng có thật, ngoài việc cứ một mực thẳng
tay bài-bác việc tái-sanh mà chẳng chứng-minh được sự hữu-lý
của việc họ chống-đối đó với các bằng-cớ.
Về
phía những người đang vững tin ở lời Phật dạy, ta thấy
rõ niềm tin của họ dựa trên những lý-lẽ chẳng phải là
thiếu căn-bản:
1.-
Lời tuyên-bố minh-bạch của Đức Phật tại Bồ-đề đạo-tràng
khi Ngài đắc ngôi-vị Phật: với thiên-nhãn-minh, Ngài nhìn
thấy các chúng-sanh chết nơi đây, sanh lại nơi kia. Đó còn
chưa phải là việc tái-sanh có thật, đang xảy ra, tại cảnh-giới
nầy mà chính mắt Ngài đã nhìn thấy được với khả-năng
siêu-phàm của thiên-nhãn-minh sao?
2.-
Lý Mười hai Nhân-Duyên trong Giáo-Pháp của Đức Phật giải-thích
rõ-ràng nguyên-nhân của việc tái-sanh, ngay tại các Nhân-duyên
đầu, thuộc giai-đoạn quá-khứ: (1)Vô-minh duyên Hành, (2)
Hành duyên Thức, (3) Thức duyên Danh-Sắc.
Vô-minh
là gì và do đâu mà có? Vô-minh tức là sự ngu-tối, mê-mờ.
Lúc cá-thể sắp lìa cuộc sống, lòng luyến-tiếc sanh ra sợ-hãi,
mong muốn cuộc sống được tiếp-tục mãi, đó là vô-minh,
ham sống trong cõi Luân-hồi để gánh mãi cảnh Khổ triền-miên,
đó chẳng phải là sự dại-khờ nặng-nề hay sao?
Vô-minh
duyên Hành nghĩa là gì? Câu nầy có nghĩa: hễ vô-minh khởi
lên, thì Hành được phát-động.
Hành
là gì? Đây là danh-từ Hán-Việt dùng để dịch chữ Phạn
Sankhàra, với ba ý-nghĩa chánh: (1) điều-kiện gây ra sự biến-đổi;
(2) sự-vật bị điều-kiện-hoá, tức là các sự-vật bị
các điều-kiện xung quanh làm biến-đổi; (3) chính sự biến-đổi
do các điều-kiện gây ra. Như thế, chữ Hành ở đây trỏ
các pháp hữu-vi, tức là các sự-vật phải chịu thay đổi
vì các điều-kiện của hoàn-cảnh xung quanh. Các pháp hữu-vi
đó, trong việc tái-sanh, là những pháp nào? (pháp= dharma/dhamma
= sự-sự, vật-vật). Đó là ảnh-hưởng của nghiệp-thức
do các hành-động cố-ý của thân, của miệng, và nhứt là
của ý, đã gây ra, còn tiềm-tàng và được tàng-trữ trong
tạng-thức, tức là trong Thức A-lại-da (Alaya).
Do
đó mà ta có: Hành duyên Thức, nghĩa là hễ Hành khởi lên
thì Thức được phát-động.
Thức
là gì? Thức đây là nghiệp-thức vừa nói ở trên, tức là
các ảnh-hưởng của những hành-vi cố-ý, tạo nên nghiệp-quả,
dẫn-dắt chúng-sanh đi theo sáu nẻo của Luân-hồi. Do đó
mà có: Thức duyên Danh-Sắc, nghĩa là hễ nghiệp-thức chuyển-động
thì Danh-Sắc phát-sanh ra. Khi Danh-Sắc sanh ra thì việc tái-sanh
được thành-tựu, vào thời-kỳ hiện-tại.
Danh-Sắc
là gì? Chữ Danh-Sắc là một danh-từ Hán-Việt dịch chữ
Phạn Nàma-Rùpa, nghĩa là: tinh-thần và vật-chất. Như thế,
nghĩa là gì? Khi nghiệp-thức chuyển-động, thì phần tinh-thần,
Danh, của cá-thể đi vào thai-nhi, do tinh cha huyết mẹ kết
thành, tức là phần vật-chất, Sắc, của cá-thể. Vì cả
hai phần tinh-thần và vật-chất còn phôi-thai, chưa được
hoàn-bị, nên mới gọi là Danh-Sắc, vì thai-nhi chưa tượng-hình
đầy-đủ các bộ-phận sinh-lý, cũng như các khả-năng tâm-lý
của nó chưa được phát-triển sung-mãn.
Nói
tóm lại, ba nhân-duyên đầu-tiên của Lý Nhân-Duyên đã nêu
ra, rất rõ-ràng và rất đầy-đủ, nguyên-nhân của việc
tái-sanh, mà hậu-quả là khiến cho chúng-sanh cứ trôi lăn
triền-miên trong cõi Luân-hồi đau-khổ.
Thiện
Nhựt sở dĩ ''dài dòng văn-tự'' như thế, đó là vì muốn
nêu ra cho các bạn trẻ thấy rõ-ràng niềm tin có tái-sanh
đã được đặt trên hai căn-bản vững chắc: (1) lời tuyên-bố
của Đức Phật đã nhìn thấy sự tái-sanh; (2) ba nguyên-nhân
dây chuyền: Vô-minh, Hành, Thức đã đưa đến hậu-quả tất-yếu
là việc tái-sanh ra Danh-Sắc. Các bạn trẻ còn hơi khó tánh
có thể đòi-hỏi có được thiên-nhãn-minh để nhìn thấy
tận mắt mình, thì Thiện Nhựt xin thưa, phải tu-tập cho đến
mức giác-ngộ và giải-thoát hoàn-toàn như Đức Phật mới
có khả-năng siêu-phàm đó. Hoặc các bạn ấy muốn đem ra
''thực-nghiệm'' các nguyên-nhân: Vô-minh, Hành, Thức, để
xem chúng có mang đến hậu-quả là có việc tái-sanh xảy ra
hiện-tiền hay không, theo như kiễu các nhà khoa-học đã kiểm-chứng
trong các phòng thí-nghiệm, thì Thiện Nhựt xin thưa, các nguyên-nhân
được kể trong Lý Mười hai Nhân-Duyên đều là các pháp
hữu-vi, vô-hình-tướng, làm sao mà lấy đem ra được, để
''thí-nghiệm'' như các hóa-chất?
Thiện
Nhựt tự xem mình là một Phật-tử, gọi Đức Phật là đấng
Từ-Phụ, thì có lẽ nào mình chẳng chịu tin lời của đấng
Cha lành, khi Ngài bảo, chính Ngài đã nhìn thấy các chúng-sanh
chết nơi đây, sanh lại nơi kia.
Làm
con mà chẳng chịu tin lời Cha, thì còn tin ai đây?
*
7.-
Lời nói ngàn vàng của Ngài Xá-lợi-phất.
Cuối
quyển Thượng, bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'' có một đoạn
văn ghi lại một câu đáng sơn son thếp vàng:
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Như
người đắc đạo, chẳng phải sanh lại ở đời sau, có còn
phải chịu cảnh khổ nữa không?
-
Hoặc còn phải chịu khổ nữa, hoặc chẳng còn phải khổ
nữa.
-
Thế nào là còn phải chịu khổ, là chẳng phải chịu khổ
nữa?
-
Thân còn chịu khổ, tâm-ý hết chịu khổ. Sở dĩ thân còn
phải chịu khổ là vì trong hiện-tại thân đó còn là nguồn-gốc
của sự khổ; tâm-ý sở dĩ hết khổ là vì đã dứt bỏ
tất cả các điều ác, chẳng còn ham-muốn chi, cho nên chẳng
phải chịu khổ nữa.
-
Nếu như người đắc Đạo chẳng thể lìa thân khổ nầy,
thì đó là chưa đắc được Niết-bàn chăng? Người đắc
Đạo chẳng còn ân-ái, mà thân còn khổ, dầu tâm-ý đã an-ổn,
thì sự đắc Đạo để làm gì? Nếu như người đắc Đạo
đã thành-công, thì vì cớ gì mà còn lưu lại ở đây?
-
Thí-dụ như trên cây, trái còn chưa chín thì chẳng vội hái,
nên đợi cho chín muồi. Đại-Vương có biết lời nói của
Đại- Đức Xá-lợi-phất chăng? Ngài Xá-lợi-phất lúc còn
sống có nói: ''Tôi chẳng cầu chết, tôi cũng chẳng cầu
sống, tôi chỉ chờ đúng thời ra đi thì ra đi.''
Vua
khen ngợi: ''Lành thay! Lành thay!''
Tóm-tắt:
Vua
Di-Lan có hai thắc-mắc: (1) người đang sống, đắc Đạo có
còn phải chịu khổ nữa không? (2) đã đắc Đạo rồi mà
thân vẫn còn khổ, sao chẳng lìa thân đi; nếu giữ thân sống
thêm, hoá ra đắc Đạo chẳng vô-ích lắm hay sao?
Về
thắc-mắc thứ nhứt, Na-Tiên giải-đáp: người đã đắc
Đạo còn sống thì thân còn khổ mà tâm đã dứt các phiền-não
nên hết khổ.
Giải-toả
mối thắc-mắc thứ hai về việc ''tìm cái chết cho hết khổ'',
Na-Tiên đưa ra một thí-dụ rất hay: ''trái cây chưa chín,
chưa vội hái, nên đợi lúc trái đã chín muồi''. Và Na-Tiên
nhắc lại lời nói vô cùng quí-báu của Ngài Xá-lợi-phất:
''Tôi
chẳng cầu chết, tôi cũng chẳng cầu sống, tôi chỉ chờ
đúng thời ra đi thì ra đi.''
Nhận-xét:
1.-
Người đắc Đạo đang sống thì thân vẫn còn cảm-xúc nên
phải chịu cảnh khổ của gìa và bịnh; nhưng về phần tinh-thần,
tâm-ý đã thoát khỏi các phiền-não, chướng-ngại, nên được
an-nhiên, tự-tại. Đây là dịp khiến ta nên suy-gẫm đến
hai chữ đau-khổ trong tiếng Việt thuần-túy của ta. Đau khác.
Khổ khác. Đau thì thân đau; còn Khổ thì tâm khổ ; như khi
có cái răng đau, miệng thì nhức-nhối, sao ta lại còn chồng
thêm nỗi Khổ lên cho tâm, để khiến cho lòng phải buồn-bực,
bứt-rứt? Đau răng còn chưa đủ hay sao mà lại sanh thêm bực-tức,
cau-có để gây thêm Khổ cho lòng mình và cho cả các người
ở chung quanh?
2.-
Thử phân-tách và tìm hiểu chỗ quí-báu trong lời nói của
Ngài Xá-lợi-phất:
a.-
''Tôi chẳng cầu chết...'' Tại sao? Vì tấm thân hiện nay
còn đây chỉ là tấm thân dư-y; sở dĩ còn sống là để
trả nốt dư-nghiệp còn sót lại. Hơn nữa, cầu chết là
thái-độ trốn-tránh nợ đời; khi nghiệp-lực vẫn còn mà
cầu lấy cái chết, thì theo vòng Luân-hồi phải tái-sanh lại
để rồi phải chịu Khổ dài-dài. Lại nữa, mạng-sống con
người là điều vô cùng quí-giá, nhờ nó mà ta mới có đủ
cơ-duyên biết đến, và tu-tập theo, con đường giải-thoát
vĩnh-viễn.
b.-
''Tôi cũng chẳng cầu sống...'' Tại sao? Khi sanh ra, nào phải
tự tôi cầu cho tôi được sanh ra đâu, vòng Luân-hồi cứ
xoay-chuyển mãi theo nghiệp-lực cũ mà tái-sanh. Trong cuộc
sống hiện-tại còn lại đây, mọi sự ham-muốn đều chấm
dứt nơi tâm tôi, còn có điều chi nữa khiến tôi cố đòi
ham sống để hưởng? Tâm tôi an-nhiên xem cả hai sự sống,
chết đều ngang nhau; sống gởi, thác về, nào có chi mà ngại,
mà cầu chớ?
c.-
''Tôi chỉ chờ đúng thời ra đi, thì ra đi.'' Lúc nào mới
đúng thời ra đi? Đó là lúc đã dứt sạch nghiệp, do một
cái chết tự-
nhiên
và thanh-thản mang đến. Tôi ra đi, chẳng chút luyến-tiếc,
cũng chẳng chút háo-hức, an-nhiên mà ra đi vào cõi vắng-lặng.
d.-
Đây là lời nói của một bực đắc Đạo, đã giác-ngộ
hoàn-toàn về lẽ sống chết trong vòng Luân-hồi và con đường
giải-thoát về nơi an-lạc vĩnh-cửu. Tưởng nên viết lên
thành đôi câu liễn, sơn son thếp vàng, để ghi lấy đó làm
điều tâm-niệm:
* Tôi
chẳng cầu chết; tôi cũng chẳng cầu sống
* Tôi
chỉ chờ đúng thời ra đi, thì ra đi.
8.-
Bộ
Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'' giúp ta ôn lại Giáo-lý với nụ
cười hàm-tiếu!
Kinh-sách
giảng Giáo-Lý phần nhiều quá cao-siêu và khó ... nuốt cho
trôi! Nhưng bộ Luận ''Na-Tiên Tì-Kheo Kinh'' nầy, ngoài những
đoạn văn giải-thích các điểm thắc-mắc một cách tỉ-mỉ
và sâu-sắc ra, còn có những câu hỏi, những lời đáp hóm-hỉnh,
dí-dỏm và cũng đượm đôi chút mỉa-mai. Xin trích ra một
đoạn:
Vương
lại hỏi Na-Tiên:
- Sa-môn
có mến-thương thân-thể của mình không?
-
Sa-môn chẳng tự thương-mến thân mình.
-
Sa môn đã chẳng mến-thương thân mình, cớ sao khi nghỉ-ngơi
lại muốn nằm nơi êm-ả, khi ăn-uống lại muốn vật ngon
của đẹp, tự săn-sóc mình như thế?
Na-Tiên
hỏi lại Vương:
- Đại-Vương
có từng ra ngoài trận chiến-đấu chăng?
-
Dĩ nhiên, Ta đã từng ra trận chiến-đấu.
-
Tại trận chiến-đấu, Đại-Vương có từng bị đao, kiếm
chém, hay tên bắn trúng chăng?
-
Ta nhiều lần bị trúng đao, kiếm.
-
Khi bị đao, kiếm, tên (...) gây thương-tích, Đại-Vương làm
gì?
-
Ta dùng thuốc (...) dùng bông gòn băng bó lại.
-
Đại-Vương vì mến-thương vết thương mà dùng thuốc (...)
dùng bông băng-bó lại vết thương chăng?
-
Ta đâu có mến-thương vết thương.
-
Chẳng mến-thương vết thương sao lại dùng thuốc, dùng bông
băng lại?
-
Ta chỉ mong muốn vết thương mau lành, chớ dâu có mến-thương
gì nó.
-
Sa-môn cũng lại như vậy, chẳng mến-thương thân mình; tuy
ăn-uống, tâm chẳng vui-khoái, chẳng muốn làm đẹp, chẳng
muốn làm tốt, chẳng muốn da thịt sắc hồng-hào, mà chỉ
muốn cho thân-thể khoẻ-mạnh để có thể phụng-hành giới-luật,
Kinh-kệ của Phật. Kinh Phật có giảng: ''Thân người có chín
lỗ hổng, tựa như vết đâm của mâu-thương, từ nơi chín
lỗ đó chảy ra chất dơ hôi-thúi.''
Vương
khen: ''Lành thay!''
*
Còn
rất nhiều đoạn khác nữa, cả thảy hơn chín mươi câu vấn-đáp
giữa vị Vương-gia thông-tuệ và vị Tì-kheo lỗi-lạc; rải-rác
khắp bộ Luận ẩn-chứa nhiều đoá hoa thơm, còn đang chờ
được thưởng-thức. Tưởng chẳng cần dài-dòng tán-dương
thêm nữa một bộ Luận đã từng được sự ngợi-khen nồng-nhiệt
của các học-giả từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim.
Montreal,
12-04-2005
Thiện
Nhựt
Kính
trình.