KINH
THỦ-LĂNG-NGHIÊM
QUYỂN
TÁM
ĐOẠN
IV
KẾT-LUẬN
VỀ BẢN-NHÂN CỦA ĐIÊN-ĐẢO ĐỂ KHỞI-MỐI CHO Ý-NGHĨA TIỆM-THỨ
TU-TẬP
"A-nan,
như thế, chúng-sinh trong mỗi mỗi loài, cũng đều đủ hết
12 thứ điên-đảo. Cũng như dụi con mắt, thì hoa-đốm đủ
thứ phát-sinh ra, chân-tâm diệu-viên trong-sạch sáng-suốt
mà điên-đảo, thì đầy-đủ những tư-tưởng càn-loạn giả-dối
như vậy. Nay, ông tu-chứng Tam-ma-đề của Phật, thì đối
với những tư-tưởng càn-loạn, làm nguyên-nhân cỗi-gốc
của các điên-đảo, nên lập ra ba tiệm-thứ mới trừ-diệt
được, cũng như, trong khí-mãnh trong-sạch, trừ-bỏ mật-độc,
dùng nước nóng và các thứ chất tro, chất thơm rửa-sạch
khí-mãnh rồi, về sau, mới đựng nước cam-lộ.
ĐOẠN
V
KHAI-THỊ
BA TIỆM-THỨ
"Thế
nào gọi là ba tiệm-thứ? Một là tu-tập, trừ các trợ-nhân;
hai là chân-tu, nạo-sạch chính-tính; ba là tăng-tiến, trái
lại hiện-nghiệp.
Thế
nào là trợ-nhân? A-nan, 12 loài chúng-sinh đó trong thế-giới,
không thể tự-toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà an-trụ,
nghĩa là, nương theo đoạn-thực, xúc-thực, tư-thực và thức-thực;
vậy nên Phật bảo tất-cả chúng-sinh, đều nương với cái
ăn mà an-trụ. A-nan, tất-cả chúng-sinh, ăn thức lành thì
sống, ăn thức độc thì chết; vậy, các chúng-sinh, cầu Tam-ma-đề,
nên dứt-bỏ năm thứ rau-cay trong thế-gian. Năm thứ rau-cay
nầy, ăn chín, thì phát lòng-dâm, ăn sống, thì thêm lòng-giận.
Những người ăn rau-cay đó, trên thế-giới, dù biết giảng
nói 12 bộ kinh, thiên-tiên 10 phương, hiềm vì nó hôi-nhớp,
đều tránh xa cả; các loài ngạ-quỷ, vân vân... nhân trong
lúc người kia ăn rau-cay, liếm môi-mép của người đó; người
ấy thường ở với quỷ một chổ, phúc-đức ngày càng tiêu,
hằng-lâu không được lợi-ích. Người ăn rau-cay đó, tu phép
Tam-ma-đề, Bồ-tát, Thiên-tiên, Thiện-thần thập phương không
đến giữ-gìn ủng-hộ; Đại-lực Ma-vương được phương-tiện
đó, hiện ra thân Phật, đến thuyết-pháp cho người kia, chê-phá
cấm-giới, tán-thán dâm-dục, nóng-giận, si-mê; đến khi mệnh-chung,
tự mình người ấy làm quyến-thuộc của Ma-vương; khi hưởng-thụ
phúc ma hết rồi, thì đọa vào ngục Vô-gián. A-nan, người
tu đạo Bồ-đề, phải đoạn-hẳn năm thứ rau-cay; ấy gọi
là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ nhất.
Thế
nào là chính-tính? A-nan, chúng-sinh như vậy vào Tam-ma-đề,
cốt-yếu trước hết, phải nghiêm-chỉnh giữ giới thanh-tịnh,
đoạn-hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ-ăn
trong-sạch nấu chín, không ăn đồ sống. A-nan, người tu-hành
đó, nếu không đoạn dâm-dục và sát-sinh, mà ra khỏi được
ba cõi, thì thật không có lẽ như vậy. Nên xem sự dâm-dục
như là rắn-độc, như thấy giặc-thù. Trước hết, phải
giữ tứ-khí, bát-khí của giới-luật Thanh-văn, nắm-giữ
cái thân không lay-động; về sau, hành-trì luật-nghi thanh-tịnh
Bồ-tát, nắm-giữ cái tâm không móng lên. Cấm-giới đã thành-tựu,
thì ở trong thế-gian, hẳn không còn những nghiệp sinh nhau,
giết nhau; đã không làm việc trộm-cướp, thì không còn mắc
nợ nhau và cũng khỏi phải trả các nợ kiếp trước
trong thế-gian. Con người thanh-tịnh ấy, tu phép Tam-ma-đề,
chính nơi nhục-thân cha mẹ sinh ra, không cần thiên-nhãn, tự-nhiên
thấy được thập phương thế-giới, thấy Phật nghe Pháp,
chính mình vâng-lĩnh thánh-chỉ của Phật, được phép đại-thần-thông,
đi khắp thập phương thế-giới; túc-mạng được thanh-tịnh,
không còn những điều khó-khăn nguy-hiểm; ấy gọi là tiệm-thứ
tu-hành tăng-tiến thứ hai.
Thế
nào là hiện-nghiệp? A-nan, người giữ-gìn cấm-giới thanh-tịnh
như vậy, tâm không tham-dâm, không hay giong-ruổi theo lục-trần
ở ngoài; nhân không giong-ruổi, tự xoay lại về tính bản-nguyên;
trần đã không duyên, thì căn không ngẫu-hợp với đâu nữa;
trở-ngược dòng về chỗ toàn-nhất, sáu cái dụng không hiện-hành,
cõi-nước mười phương sáng-suốt thanh-tịnh, ví-như ngọc
lưu-ly, có mặt trăng sáng treo ở trong ấy. Thân tâm khoan-khoái,
tính diệu-viên bình-đẳng, được đại-an-ẩn, tất-cả mật-viên
tịnh-diệu các đức Như-lai đều hiện trong đó; người ấy
liền được Vô-sinh-pháp-nhẫn. Từ đó, lần-lượt tu-tập,
tùy cái hạnh phát ra mà an-tập các thánh-vị, đó gọi là
tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ ba.
ĐOẠN
VI
AN-LẬP
CÁC THÁNH-VỊ
Chi
I. - Càn-tuệ-địa.
"A-nan,
thiện-nam tử ấy, lòng dục-ái khô-cạn, căn và cảnh không
ngẫu-hợp, thân-tàn hiện-tiền, không còn tiếp-tục sinh nữa,
nắm cái tâm rỗng-sáng, thuần là trí-tuệ; tính trí-tuệ
sáng-suốt cùng khắp, soi-thấu thập-phương thế-giới; chỉ
có cái tuệ khô-khan ấy, nên gọi là Càn-tuệ-địa, tập-khí
ngũ-dục mới khô-cạn, chưa tiếp-giáp với dòng nước Pháp
của các đức Như-lai.
Chi
2. - Thập-tín.
Tức
lấy cái tâm ấy, chính giữa chính giữa lần vào, tính viên-diệu
mở-mang, từ chỗ chân-diệu-viên lại phát ra chân-diệu. Tính
diệu-tín thường-trụ, tất-cả vọng-tưởng diệt hết không
còn, trung-đạo được thuần-chân, gọi là Tín-tâm-trụ.
Chân-tín
tỏ-rõ, tất-cả đều viên-thông, ba thứ ấm, giới, nhập
không thể làm ngăn-ngại; như thế, cho đến trong vô-số kiếp
quá-khứ, vị-lai, tất-cả tập-khí xả-thân, thụ-thân đều
hiện ra trước mặt, thiện-nam-tử ấy đều có thể nhớ-nghĩ
được, không quên mất gì; gọi là Niệm-tâm-trụ.
Tính
diệu-viên thuần-chân, chân-tinh phát-hóa ra, các tập-khí vô-thủy
đều thông vào một tính tinh-minh, chỉ dùng tinh-minh ấy, tiến
đến chỗ chân-tịnh; gọi là Tinh-tiến-tâm.
Tâm-tinh
hiện-tiền, thuần-dùng trí-tuệ; gọi là Tuệ-tâm-trụ.
Nắm-giữ
trí-tuệ sáng-suốt, lặng-đứng cùng khắp, tính tịch-diệu
thường đứng-lại; gọi là Định-tâm-trụ.
Định-quang
phát-minh, đi sâu vào tính sáng-suốt, chỉ có tới, chứ không
lui; gọi là Bất-thối-tâm.
Tâm
an-nhiên đi tới, giữ-gìn không mất, giao-tiếp với khí-phần
thập-phương Như-lai; gọi là Hộ-pháp-tâm.
Giữ-gìn
tính giác-minh, có thể dùng diệu-lực xoay từ-quang của Phật
về nơi mình và hướng về Phật mà an-trụ, cũng như hai gương
sáng đối nhau, trong đó các bóng nhiệm-mầu lớp-lớp lồng
nhau; gọi là Hồi-hướng-tâm.
Tự-tâm
thầm xoay Phật-quang trở về, được vô-thượng diệu-tịnh
thường-trụ của Phật, an-trụ nơi vô-vi, được không bỏ
mất; gọi là Giới-tâm-trụ.
Tự-tại
an-trụ nơi giới, có thể đi khắp mười phương, tùy nguyện
mà đi; gọi là Nguyện-tâm-trụ.
Chi
3. - Thập-trụ
A-nan,
thiện-nam-tử đó, dùng phương-tiện chân-chính phát được
mười cái tâm ấy, tâm-tinh đã phát-huy, mười cái dụng ấy
xen-lẫn với nhau, viên-thành một tâm; gọi là Phát-tâm-trụ.
Trong
tâm phát ra sáng-suốt, như ngọc lưu-ly trong-sạch, ở trong
hiện ra vàng-ròng; dùng cái diệu-tâm trước kia, sửa-sang
thành chỗ nương-đứng; gọi là Trị-địa-trụ.
Tâm-địa
biết khắp, đều được rõ-ràng, đi cùng mười phương, được
không ngăn-ngại; gọi là Tu-hành-trụ.
Hạnh
đồng với Phật, nhận khí-phần của Phật như thân trung-ấm
tự cầu cha mẹ, âm-tín thầm-thông vào giống Như-lai; gọi
là Sinh-quý-trụ.
Đã
vào đạo-thai, chính mình nhờ được sự nuối-nấng của
tính-giác, như cái thai đã thành, tướng người không thiếu;
gọi là Phương-tiện-cụ-túc-trụ.
Hình-dáng
như Phật, tâm-tướng cũng vậy; gọi là Chính-tâm-trụ.
Thân
tâm hợp-thành, ngày càng tăng-trưởng; gọi là Bất-thối-trụ.
Linh-tướng
mười thân, một thời đầy-đủ; gọi là Đồng-chân-trụ.
Hình
đã thành, ra khỏi thai, chính mình làm Phật-tử; gọi là Pháp-vương-tử-trụ.
Nghi-biểu
đã thành người lớn, như khi một quốc-vương, phân-công
ủy-nhiệm cho thái-tử các việc nước, thì quốc-vương kia,
lúc thái-tử trưởng-thành, bày ra lễ quán-đỉnh; gọi là
Quán-đỉnh-trụ.
Chi
4. - Thập-hạnh
A-nan,
thiện-nam-tử đã thành Phật-tử rồi, đầy-đủ diệu-đức
vô-lượng của Như-lai và tùy-thuận mười phương; gọi là
Hoan-hỉ-hạnh.
Khéo
biết làm lợi-ích cho tất-cả chúng-sinh; gọi là Nhiêu-ích-hạnh.
Tự-giác
và giác-tha, được không chống trái; gọi là Vô-sân-hận-hạnh.
Theo
các chủng-loại mà hiện ra sắc-thân cùng-tột vị-lai, ba
đời đều bình-đẳng, mười phương được thông-suốt; gọi
là Vô-hận-hạnh.
Tất-cả
đều hợp về đồng, nơi các thứ pháp-môn, được không
sai-lầm; gọi là Ly-si-loạn-hạnh.
Rồi
ở trong đồng, hiện ra các cái khác, nơi mỗi mỗi tướng
khác, mỗi mỗi đều thấy là đồng; gọi là Thiện-hiện-hạnh.
Như
vậy, cho đến mười phương hư-không, đầy khắp vi-trần
và trong mỗi mỗi vi-trẩn hiện ra thập phương thế-giới;
hiện vi-trần, hiện thế-giới, không ngăn-ngại nhau; gọi
là Vô-trước-hạnh.
Các
thứ hiện-tiền, đều là Đệ-nhất-ba-la-mật-đa; gọi là
Tôn-trọng-hạnh.
Viên-dung
như vậy, có thể thành-tựu quy-tắc của chư Phật mười
phương; gọi là Thiện-pháp-hạnh.
Mỗi
mỗi đều là Nhất-chân-vô-vi Thanh-tịnh-vô-lậu, vì tính
bản-nhiên là như vậy; gọi là Chân-thật-hạnh.
Chi
5. - Thập-hồi-hướng
A-nan,
thiện-nam-tử đó đầy-đủ thần-thông, thành-tựu Phật-sự
rồi, toàn là một tinh-chân thuần-khiết, xa các lỗi-lầm,
chính khi hóa-độ chúng-sinh mà diệt tướng năng-độ, sở-độ,
xoay tâm vô-vi hướng về đường Niết-bàn; gọi là Cứu-hộ
nhất-thiết chúng-sinh, Ly-chúng-sinh-tướng hồi-hướng.
Diệt-hoại
tất-cả cái gì có thể diệt-hoại, viễn-ly các sự ly; gọi
là Bất-hoại hồi-hướng.
Tính
bản-giác đứng-lặng, giác-ngộ bằng Phật; gọi là Đẳng-nhất-thiết-Phật
hồi-hướng.
Tinh-chân
phát ra sáng-suốt, tâm-địa như Phật-địa, gọi là Chí-nhất-thiết-xứ
hồi-hướng.
Thế-giới
và Như-lai, dung-hợp vào nhau, được không ngăn-ngại; gọi
là Vô-tận-công-đức-tạng hồi-hướng.
Nơi
đồng với Phật-địa, trong ấy phát-sinh ra các nhân thanh-tịnh,
nương nhân ấy mà phát-huy, đi đến đạo Niết-bàn; gọi
là Tùy-thuận-bình-đẳng-thiện-căn hồi-hướng.
Chân-căn
đã thành-tựu, thập phương chúng-sinh đều là bản-tính của
mình, bản-tính viên-mãn thành-tựu, không bỏ mất chúng-sinh;
gọi là Tùy-thuận-đẳng-quán-nhất-thiết chúng-sinh hồi-hướng.
Tức
tất-cả pháp, ly tất-cả tướng, cả tức và ly, hai cái đều
không dính; gọi là Chân-như-tướng hồi-hướng.
Thật
được như-như, mười phương không ngăn-ngại; gọi là Vô-phược-giải-thoát
hồi-hướng.
Tính-đức
viên-mãn thành-tựu, lượng của pháp-giới diệt; gọi là
Pháp-giới-vô-lượng hồi-hướng.
Chi
6. - Tứ-gia-hạnh.
A-nan,
thiện-nam-tử đó, tu hết 41 tâm thanh-tịnh ấy rồi, thì lại
thành-tựu bốn thứ gia-hạnh diệu-viên:
Tức
lấy Phật-giác, dùng làm tâm mình, như ra nhưng chưa ra, ví-như
dùi cây để cho ra lửa mà đốt cái cây; gọi là Noãn-địa.
Lại
lấy tâm mình, thành chỗ đứng của Phật, hình-như nương,
nhưng không phải nương, ví-như người lên chóp núi cao, thân
đã vào hư-không, nhưng ở dưới còn chút ngăn-ngại; gọi
là Đỉnh-địa.
Tâm
và Phật là đồng, khéo được trung-đạo, ví-như người
biết nhịn, không phải ôm vào, nhưng cũng không phải phát
ra; gọi là Nhẫn-địa.
Số-lượng
đều tiêu-diệt, mê, giác và trung-đạo, cả hai đều không
có gì; gọi là Thế-đệ-nhất-địa.
Chi
7. - Thập-địa
A-nan,
thiện-nam-tử đó thông-suốt đúng-đắn đạo Đại-bồ-đề,
chỗ giác-ngộ thông với Như-lai, cùng-tột cảnh-giới của
Phật; gọi là Hoan-hỉ-địa.
Tính
khác nhập với đồng, tính đồng cũng diệt; gọi là Ly-cấu-địa.
Thanh-tịnh
cùng-tột, sáng-suốt sinh ra; gọi là Phát-quang-địa.
Sáng-suốt
tột, giác viên-mãn; gọi là Diệm-tuệ-địa.
Tất-cả
cái đồng, cái khác, không thể đến được; gọi là Nan-thắng-địa.
Bản-tính
thanh-tịnh vô-vi, chân-như tỏ-lộ; gọi là Hiện-tiền-địa.
Tột
bờ-bến chân-như; gọi là Viễn-hành-địa.
Một
tâm chân-như; gọi là Bất-động-địa.
Phát
cái dụng chân-như; gọi là Thiện-tuệ-địa.
A-nan,
các Bồ-tát đó, từ đây về trước, công-hạnh tu-tập đã
xong, công-đức được viên-mãn, cũng gọi địa nầy là Tu-tập-vị;
bóng từ, mây diệu, trùm bể Niết-bàn; gọi là Pháp-vân-địa.
Chi
8. - Kết-thúc bằng hai quả-vị Đẳng-giác và Diệu-giác.
Như-lai
ngược dòng trở lại, vị Bồ-tát đó thuận dòng đi tới,
giác-ngộ vào chỗ giao-tiếp với nhau; gọi là Đẳng-giác.
A-nan,
từ tâm Càn-tuệ đến Đẳng-giác rồi, giác đó mới bắt-đầu
được Sơ-càn-tuệ-địa trong tâm Kim-Cương; như vậy lớp-lớp
tu đơn, tu kép 12 vị mới cùng tột Diệu-giác, thành đạo
Vô-thượng.
Các
thứ địa ấy, đều lấy trí Kim-cương quán-sát mười thứ
ví-dụ như-huyễn sâu-xa, trong Xa-ma-tha, dùng phép Tỳ-bà-xá-na
của các đức Như-lai mà thanh-tịnh tu-chứng, lần-lượt đi
sâu vào.
A-nan,
như thế, đều dùng ba tiệm-thứ tăng-tiến, nên khéo thành-tựu
55 vị trong đường Bồ-đề chân-thật. Làm cái quán như vậy,
gọi là chính-quán; nếu quán cách khác, gọi là tà-quán".
MỤC
VII
CHỈ-DẠY
TÊN KINH
Khi
bấy giờ, ngài Văn-thù-sư-lỵ Pháp-vương-tử, ở trong đại-chúng,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật
mà bạch Phật rằng: "Nên gọi kinh nầy là gì? Tôi và chúng-sinh
phải phụng-trì thế nào?"
Phật
bảo ngài Văn-thù-sư-lỵ: "Kinh nầy tên là "Đại-Phật-đỉnh-tất-đát-đa
bát-đát-ra, vô-thượng bảo-ấn, thập phương Như-lai thanh-tịnh
hải-nhãn". Cũng gọi tên là "Cứu-hộ thân-nhân, độ-thoát
A-nan cập thử Hội-trung Tính-tỷ-khưu-ni, đắc Bồ-đề-tâm,
nhập biến-tri-hải". Cũng gọi tên là "Như-lai mật-nhân, tu-chứng-liễu-nghĩa".
Cũng gọi tên là "Đại-phương-quảng diệu-liên-hoa-vương,
thập phương Phật-mẫu đà-la-ni-chú". Cũng gọi tên là "Quán-đỉnh
chương-cú, chư Bồ-tát vạn-hạnh Thủ-lăng-nghiêm". Các ông
nên phụng-trì".
MỤC
VIII
NGHE
PHÁP ĐƯỢC TĂNG-TIẾN
Phật
nói lời ấy rồi, liền khi đó, ông A-nan và cả đại-chúng
được nhờ đức Như-lai khai-thị ý-nghĩa mật-ấn Bát-đát-ra,
lại nghe được những tên gọi liễu-nghĩa của kinh nầy,
liền ngộ được Diệu-lý tăng-thượng để tu-tiến vào các
Thánh-vị trong Thiền-na; tâm-niệm rỗng-trống đứng-lặng,
ông đoạn-trừ 6 phẩm phiền-não vi-tế trong tư-hoặc tam-giới.
CHƯƠNG
IV
PHÂN-BIỆT
KỸ-CÀNG CÁC NGHIỆP-QUẢ, PHÂN-TÍCH RẠCH-RÒI VỀ TÀ-MA NGOẠI-ĐẠO
MỤC
I
HỎI
VỀ NHỮNG TẬP-KHÍ VỐN CÓ, SINH-KHỞI RA LỤC-ĐẠO
Ông
liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật,
chấp tay cung-kính mà bạch Phật rằng: " Thưa đức Thế-tôn,
có uy-đức lớn, phát ra từ-âm không ngăn-ngại, khéo khai-ngộ
những lỗi-lầm sâu-kín nhỏ-nhiệm của chúng-sinh, khiến
cho chúng tôi ngày nay, thân-tâm khoan-khoái, được lợi-ích
lớn. Bạch Thế-tôn, nếu cái chân-tâm diệu-minh trong-sạch
nhiệm-mầu, bản-lai cùng khắp viên-mãn, như thế, cho đến
bản-tính chân-như của đất liền, cỏ cây, các loài máy-động,
tức là chân-thể thành Phật của Như-lai. Thể-tính của Phật
đã là chân-thật, làm sao, lại có các đạo địa-ngục, ngạ-quỷ,
súc-sinh, tu-la, loài người và trời. Bạch Thế-tôn, những
đạo đó lại là bản-lai tự có, hay là do tập-khí giả-dối
của chúng-sinh sinh-khởi ra?"
CHƯƠNG
IV
PHÂN-BIỆT
KỸ-CÀNG CÁC NGHIỆP-QUẢ, PHÂN-TÍCH RẠCH-RÒI VỀ TÀ-MA NGOẠI-ĐẠO
MỤC
II
HỎI
VỀ VIỆC BÁC KHÔNG CÓ NHÂN-QUẢ, BỊ SA MÃI VÀO ĐỊA-NGỤC
VÀ VỀ NGHIỆP-CHUNG, NGHIỆP-RIÊNG
"Bạch
Thế-tôn, như Tỳ-khưu-ni Bảo-liên-hương giữ Bồ-tát-giới,
lén-lút làm việc dâm-dục, lại nói-càn rằng làm việc dâm-dục
không phải giết người, không phải trộm-cắp, không có nghiệp-báo;
phát-ra lời nói ấy rồi, trước hết nơi nữ-căn sinh ra ngọn
lửa-hồng lớn, về sau từng đốt, từng đốt, bị lửa đốt
cháy, sa vào địa ngục Vô-gián.
Như
đại-vương Lưu-ly; tỷ-khưu Thiện-tinh; Lưu-ly vì giết họ-hàng
Cù-đàm, Thiện-tinh vì nói-càn tất-cả các pháp đều rỗng-không
mà thân sống sa vào địa-ngục A-tỳ.
Các
địa-ngục ấy, lại là có chỗ nhất-định, hay là tự-nhiên
khi các người kia gây nghiệp, thì mỗi người, mỗi người
chịu riêng? Xin Phật rủ lòng đại-từ, khai-ngộ cho kẻ ngây-thơ,
khiến cho tất-cả chúng-sinh trì-giới, nghe nghĩa quyết-định,
vui-mừng tôn-trọng kính-cẩn giữ-gìn không phạm".
MỤC
III
KHAI-THỊ
VỀ PHẬN-TRONG, PHẬN-NGOÀI CỦA CHÚNG-SINH
ĐOẠN
I
NÊU
CHUNG
Phật
bảo ông A-nan: "Hay thay lời hỏi đó, khiến cho các chúng-sinh
không mắc tà-kiến. Nay ông hãy nghe cho chín, tôi sẽ vì ông
mà nói.
A-nan,
tất-cả chúng-sinh, thật vốn chân-tính thanh-tịnh, nhân những
vọng-kiến, mà có tập-khí hư-vọng sinh ra; vì thế, chia ra
có phận-trong và phận ngoài.
ĐOẠN
II
PHẬN-TRONG
"A-nan,
phận-trong, tức là ở trong phận của chúng-sinh. Nhân các
lòng ái-nhiễm phát-khởi ra vọng-tình, tình chứa mãi không
thôi, có thể sinh ra ái-thủy; vậy nên chúng-sinh, tâm nhớ
thức-ăn ngon, thì trong miệng nước chảy ra; tâm nhớ người
trước, hoặc thương, hoặc giận, thì trong con mắt lệ tràn;
tham-cầu của báu, thì trong tâm phát-ra ái-diên, cả mình đều
trơn-sáng; tâm dính vào việc dâm-dục, thì hai căn nam nữ
tự-nhiên dịch-khí chảy ra. A-nan, các cái ái đó, tuy khác
nhau, nhưng kết-quả chảy nước là đồng; thấm-ướt không
lên được, tự-nhiên theo đó mà sa-đọa, ấy gọi là phận-trong.
ĐOẠN
III
PHẬN-NGOÀI
A-nan,
phận-ngoài, tức là ngoài phận của chúng-sinh. Nhân các lòng
phát-ngưỡng, phát-minh ra những lý-tưởng; tưởng chứa mãi
không thôi, có thể sinh ra những thắng-khí; vậy nên chúng-sinh,
tâm giữ cấm-giới, cả mình nhẹ-nhàng trong-sạch; tâm trì
chú-ấn, con mắt ngó hùng-dũng nghiêm-nghị; tâm muốn sinh
lên cõi trời, chiêm-bao thấy bay lên; để tâm nơi cỏi Phật,
thánh-cảnh thầm-hiện ra; thờ vị thiện-tri-thức, tự khinh-rẻ
thân-mệnh mình. A-nan, các tưởng đó tuy khác, nhưng nhẹ-nhàng
cất lên thì đồng nhau; cất bay không chìm xuống, tự-nhiên
vượt lên, đó là phận-ngoài.
ĐOẠN
IV
PHÂN-BIỆT
TÌNH, TƯỞNG NHẸ NẶNG
A-nan,
tất-cả thế-gian, sống chết nối nhau, sống thuận theo tập-quán,
chết thì đổi sang dòng khác, khi gần mệnh-chung, chưa hết
hơi nóng, thiện ác một đời đồng-thời liền hiện ra; cái
nghịch của chết, cái thuận của sống, hai tập-khí giao-xen
lẫn nhau.
Thuần
là tưởng, thì liền bay lên, chắc sinh trên các cõi-trời;
nếu trong tâm bay lên, gồm có phúc-đức trí-tuệ cùng với
tịnh-nguyện, thì tự-nhiên tâm được khai-ngộ, thấy tất-cả
tịnh-độ thập phương chư Phật, theo nguyện mà vãng-sinh.
Tình
ít, tưởng nhiều, cất lên không xa, thì làm phi-tiên, đại-lực
quỷ-vương, phi-hành dạ-xoa, địa-hành la-sát, đi khắp bốn
cõi-trời, không bị ngăn-ngại. Nếu có nguyện tốt, tâm tốt,
hộ-trì Phật-pháp, hoặc hộ-trì cấm-giới, theo người trì-giới,
hoặc hộ-trì thần-chú, theo người trì-chú, hoặc hộ-trì
thiền-định, giữ yên pháp-nhẫn, thì những hạng đó, chính
mình được ở dưới pháp-tọa Như-lai.
Tình
và tưởng cân nhau, không bay lên, không đọa xuống, thì sinh
nơi nhân-gian; tưởng sáng-suốt nên thông-minh, tình u-ám nên
ngu-độn.
Tình
nhiều, tưởng ít, đi vào các loại hoành-sinh, nặng làm giống
có lông, nhẹ làm giống có cánh.
Bảy
phần tình, ba phần tưởng, chìm xuống dưới thủy-luân, sinh
nơi mé hỏa-luân chịu khí-phần của lửa-hồng, thân làm
ngạ-quỷ, thường bị đốt-cháy, vì nước có thể hại mình,
nên trải trăm nghìn kiếp, không ăn không uống.
Chín
phần tình, một phần tưởng, xuống thấu qua hỏa-luân, và
giữa giao-giới phong-luân và hỏa-luân, nhẹ thì sinh vào Hữu-gián,
nặng thì mình vào Vô-gián, hai thứ địa-ngục.
Thuần
là tình, thì chìm-sâu vào ngục A-tỳ; nếu trong tâm chìm-sâu
đó, lại có hủy-báng Đại-thừa, phá cấm-giới của Phật,
lừa-dối nói pháp để tham-cầu tín-thí, lạm-nhận cung-kính
hoặc phạm ngũ-nghịch, thập-trọng thì lại còn sinh vào địa-ngục
A-tỳ thập phương.
Theo
ác-nghiệp gây ra, tuy tự chuốc lấy quả-báo, nhưng trong đồng-phận
chung, vẫn có chỗ sẵn.
MỤC
IV
CHỈ
RA MƯỜI TẬP-NHÂN VÀ SÁU GIAO-BÁO
ĐOẠN
I
TÓM
NÊU DANH-MỤC
"A-nan,
những điều như thế, đều do nghiệp-báo các chúng-sinh kia,
tự chiêu-cảm lấy, như gây mười Tập-nhân, thì chịu sáu
Giao-báo.
ĐOẠN
II
KHAI-THỊ
MƯỜI TẬP-NHÂN
"Thế
nào là mười Tập-nhân? A-nan, một là, tập-quán dâm-dục,
giao-tiếp cùng nhau, phát-sinh cọ-xát lẫn nhau; cọ-xát mãi
không thôi, như thế, nên trong ấy có ngọn lửa-hồng lớn
nổi lên; ví-như, có người lấy hai bàn tay cọ-xát lẫn nhau,
thì cảm-giác nóng hiện ra. Hai cái tập-khí đốt nhau, nên
có những việc giường sắt, trụ đồng. Vậy nên, tất-cả
các đức Như-lai thập phương nhận-xét việc dâm-dục, đồng
gọi là lửa-dục; Bồ-tát đối với dâm-dục, tránh như hầm-lửa.
Hai,
là tập-quán tham-lam, so-đo hơn thiệt, phát-sinh hấp-thụ lẫn
nhau; hấp-thụ ôm-ấp mãi không thôi, như thế, nên chứa hơi-lạnh
bên trong thành giá-cứng, làm cho nẻ-nứt; ví-như, có người
hút hơi gió vào, thì có cảm-xúc lạnh. Hai tập-khí lấn nhau,
nên có những sự tra tra, ba ba, la la, thanh-liên, xích-liên,
bạch-liên, hàn-băng, vân vân... Vậy nên, tất-cả các đức
Như-lai thập phương nhận-xét việc tham-cầu quá nhiều, đồng
gọi là nước tham; Bồ-tát đối với lòng tham, tránh như
biển-độc.
Ba,
là tập-quán ngã-mạn, lấn-lướt lẫn nhau, phát-sinh ỷ-thế
với nhau. Giong-ruổi không thôi, như thế, nên có sự bôn-ba,
sôi-nổi, chứa lại thành nước; ví-như, có người miệng
lưỡi tự chép, làm cho nước-bọt chảy ra. Hai tập-khí chọi
nhau, nên có các việc sông huyết, sông tro, cát-nóng, biển-độc,
bắt uống nước đồng-chảy vân vân... Vậy nên, tất-cả
các đức Như-lai mười phương nhận-xét lòng ngã-mạn, đồng
gọi là uống nước si-mê; Bồ-tát đối-với ngã-mạn, tránh
như vực-thẳm lớn.
Bốn,
là tập-quán nóng-giận, xung-đột cùng nhau, phát-sinh chống-đối
lẫn nhau; chống-đối mãi không thôi, tâm nổi nóng, phát ra
lửa, nấu cái khí thành kim-thuộc, vì thế, nên có núi dao,
đòn sắt, cây gươm, bánh xe gươm, những búa, những vớt,
những thương, những cưa; ví-như, có người bị hàm-oan, thì
sát-khí nổi lên. Hai tập-khí đập nhau, nên có các sự thiến,
cắt, chém, chặt, dùi, đâm, đập, đánh. Vậy nên, tất-cả
các đức Như-lai thập phương nhận-xét sự nóng-giận, đồng
gọi là dao-gươm bén; Bồ-tát đối với lòng nóng-giận, tránh
như tránh chém-giết.
Năm,
là tập-quán giả-dối, dụ-dỗ theo nhau, phát-sinh lôi-kéo
lẫn nhau; dẫn-dắt mãi không thôi, như thế, nên có giây,
cây, thòng-lọng, căng-nọc; ví-như, nước thấm ruộng thì
cỏ-cây lớn lên. Hai tập-khí kéo-nhau, nên có các sự gông,
cùm, xiềng, xích, roi, gậy, qua, bổng. Vậy nên, tất-cả các
đức Như-lai thập phương nhận-xét sự giả-dối, đồng gọi
là sàm-tặc; Bồ-tát đối với sự gian-dối, sợ như beo-sói.
Sáu,
là tập-quán lừa-gạt, lừa-dối với nhau, phát-sinh phỉnh-gạt
lẫn nhau; phỉnh-gạt mãi không thôi, phát-tâm gây điều gian-dối;
như thế, nên có bụi, đất, đại-tiện, tiểu-tiện, các
đồ nhơ-nhớp không sạch; như bụi theo gió, không thấy lẫn
nhau. Hai tập-khí dìm nhau, nên có những sự chìm-đắm, nhảy,
ném, bay, rơi, trôi-lăn. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai
thập phương nhận-xét sự lừa-gạt, đồng gọi là cướp-giết;
Bồ-tát đối với sự lừa-gạt, như giẫm rắn-độc.
Bảy,
là tập-quán thù-oán, hiềm-khích lẫn nhau, phát-sinh ôm-ấp
lòng giận, như thế, nên có quăng đá, ném gạch, hộp nhốt,
xe cũi, bình-đựng, đãy-bọc, như người hiểm-độc ôm-ấp
điều dữ. Hai tập-khí nuốt nhau, nên có những sự ném, quăng,
nắm, bắt, đánh, bắn, gieo, ôm. Vậy nên, tất-cả các đức
Như-lai thập phương nhận-xét sự thù-oán, gọi là quỷ Vi-hại;
Bồ-tát đối với sự thù-oán, như uống ruợu-độc.
Tám,
là tập-quán ác-kiến, tranh-cãi với nhau, như ngã-kiến, kiến-thủ,
giới-cấm-thủ và các nghiệp tà-ngộ, phát-sinh chống-trái
lẫn nhau; như thế, nên có quan-lại chứng-thực, nắm-giữ
giấy-tờ, đông như người đi đường, qua lại gặp nhau.
Hai tập-khí giao nhau, nên có các sự khám-hỏi, mưu-mẹo, khảo-tấn,
đòi-hỏi, gạn-xét, cứu-tra cho rõ và những đồng-tử thiện-ác,
tay cầm sổ-sách, biện-bạch cãi-vã. Vậy nên, tất-cả các
đức Như-lai thập phương nhận-xét ác-kiến, đồng gọi là
kiến-khanh; Bồ-tát đối với những thiên-chấp hư-vọng,
như đứng bên hố-độc.
Chín,
là tập-quán vu-vạ, làm hại cho nhau, phát-sinh sự vu-báng,
như thế, nên có hợp-sơn, hợp-thạch, cối-nghiền, cối-xay;
ví-như, kẻ sàm-tặc, áp-bức vu-oan người lương-thiện. Hai
tập-khí bài xích lẫn nhau, nên có các sự áp-giải, đè-đập,
ép-huyết, tuốt-mình. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai
thập phương, nhận-xét sự vu-vạ, đồng gọi là sàm-hổ;
Bồ-tát đối với sự vu-vạ, như bị sấm-sét.
Mười,
là tập-quán kiện-thưa, cãi-vã lẫn nhau, phát-sinh sự che-đậy;
như thế, nên có gương soi, đuốc chiếu, như giữa ban ngày,
không giấu bóng được. Hai tập-khí phô-bày lẫn nhau, nên
có ác-hữu, nghiệp kính, hỏa-châu phơi-bày nghiệp xưa đối-nghiệm
các việc. Vậy nên, tất-cả các đức Như-lai thập phương
nhận-xét sự che-đậy, gọi là giặc-ngầm; Bồ-tát đối
với sự che-đậy, như đội núi cao, lội trong biển lớn.
ĐOẠN
III
TÓM
NÊU SÁU GIAO-BÁO
"Thế
nào là sáu Giao-báo? A-nan, tất-cả chúng-sinh, sáu thức gây
nghiệp, nên ác-báo chuốc-lấy, đều từ sáu căn mà ra."
ĐOẠN
IV
KHAI-THỊ
SÁU GIAO-BÁO
"Các
ác-báo từ sáu căn ra như thế nào?
Một,
là giao-báo về thấy, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-thấy
ấy giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết thấy lửa-hồng
đầy khắp 10 phương; thần-thức người chết bay rơi theo
khói vào ngục Vô-gián, phát ra hai tướng: Một là thấy sáng,
thì khắp thấy nhiều thứ vật-dữ, sinh ra khiếp-sợ vô-cùng;
hai là thấy tối, lặng vậy không thấy gì sinh ra hoảng-hốt
vô-hạn. Lửa thấy như thế, đốt cái nghe, thì có thể làm
vạc-dầu sôi, làm nước đồng-chảy; đốt hơi-thở, thì
có thể làm khói-đen, lửa đỏ; đốt cái nếm, thì có thể
làm viên tròn nung-đỏ, làm cơm-sắt; đốt cảm-xúc, thì có
thể làm tro-nóng, lò-than; đốt tâm-ý, thì có thể sinh ra
sao-lửa rưới khắp, làm rung-động cả cõi hư-không.
Hai,
là giao-báo về nghe, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-nghe ấy
giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết, thấy sóng cuộn chìm-ngập
trời đất; thần-thức người chết, sa xuống theo dòng vào
ngục Vô-gián, phát ra hai tướng: Một là nghe tỏ, nghe các
thứ ồn-ào, tinh-thần rối-loạn; hai là điếc hẳn, lặng-lẽ,
không nghe gì, thức-thần chìm-lịm. Sóng nghe như thế, rót
vào cái nghe, thì có thể làm trách, làm hỏi; rót vào cái
thấy, thì có thể làm sấm, làm thét, làm hơi-độc-dữ; rót
vào hơi thở, thì có thể làm mưa, làm mù, rưới các sâu-độc
đầy khắp thân-thể; rót vào các vị, thì có thể làm mủ,
làm huyết, các thứ nhơ-nhớp; rót vào cảm-xúc, thì có thể
làm con súc, làm con quỷ, làm phân, làm nước-tiểu; rót vào
ý-nghĩ, thì có thể làm chớp, làm mưa-đá, đập nát tâm-thức.
Ba,
là giao-báo về ngửi, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-ngửi
ấy giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết, thấy hơi-độc
đầy-nhẩy xa gần; thần-thức người chết, từ dưới đất
trổi lên, vào ngục Vô-gián, phát-hiện ra hai tướng: Một
là ngửi thông, bị các hơi dữ xông tột-bực, làm cho tâm
rối-loạn; hai là ngạt mũi, hơi-thở ngạt không thông, nằm
chết-giấc dưới đất. Hơi ngửi như thế, xông vào hơi-thở,
thì có thể làm thông, làm ngạt; xông vào cái thấy, thì có
thể làm lửa, làm đuốc; xông vào cái nghe, thì có thể làm
chìm-ngập, làm chết-đuối, làm nước-lớn, làm nước-sôi;
xông vào cái vị, thì có thể làm đói, làm ngấy; xông vào
cái cảm-xúc, thì có thể làm xấu, làm nát, làm núi-thịt
lớn có trăm ngàn con mắt, hút-ăn không cùng; xông vào ý-nghĩ,
thì có thể làm tro, làm chướng-khí, làm gạch-đá bay lên
đánh-nát thân-thể.
Bốn,
là giao-báo về vị, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-vị ấy
giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết, thấy lưới-sắt nung-đỏ
che khắp thế-giới; thần-thức người chết từ dưới tung
lên, mắc lưới treo ngược đầu xuống, vào ngục Vô-gián,
phát ra hai tướng : Một là nuốt vào, thì kết-thành giá-lạnh,
làm nứt-nẻ thân-thể; hai là mửa ra, thì bay lên thành lửa-hồng,
đốt-rụi xương-tủy. Vị-báo như thế, qua cái nếm, thì
có thể làm nhận, làm chịu; qua cái thấy, thì có thể làm
các thứ kim-thạch đốt-cháy; qua cái nghe, thì có thể làm
binh-khí sắc-bén; qua hơi-thở, thì có thể làm lồng-sắt
lớn che khắp cõi-nước; qua cảm-xúc, thì có thể làm cung,
làm tên, làm mỏ, làm bắn; qua ý-nghĩ, thì có thể làm sắt-nóng
bay, từ trên không rưới xuống.
Năm,
là giao-báo về xúc, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-xúc ấy
giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết, thấy núi lớn bốn
mặt hợp lại, không còn đường ra; thần-thức người chết
thấy thành-sắt lớn, rắn-lửa, chó lửa, hùm-sói, sư-tử,
ngục-tốt đầu trâu, la-sát đầu ngựa, tay cầm thương, xóc,
lùa vào cửa thành, hướng về ngục Vô-gián, phát ra hai tướng;
Một là hợp-xúc, thì núi kẹp ép mình, xương-thịt nát ra
máu; hai là ly-xúc, thì dao gươm chạm vào mình, tim gan cắt-xẻ.
Xúc-báo như vậy, qua cái xúc, thì có thể làm đạo, làm quán,
làm sảnh, làm án; qua cái thấy, thì có thể làm đốt, làm
nung; qua cái nghe, thì có thể làm đập, làm đánh, làm đâm,
làm bắn; qua hơi-thở, thì có thể làm trùm, làm đẫy, làm
tra, làm trói; qua cái nếm, thì có thể làm cày, làm kiềm,
làm chém, làm chặt; qua ý-nghĩ, thì có thể làm rơi, làm bay
làm nấu, làm nướng.
Sáu,
là giao-báo về ý-nghĩ, chiêu-cảm ác-quả. Khi nghiệp-ý ấy
giao-báo, thì lúc lâm-chung, trước hết thấy gió-dữ thổi-nát
cõi nước, thần-thức người chết bị thổi lên trên không
xoay-rơi theo gió, sa vào ngục Vô-gián, phát ra hai tướng: Một
là không biết, tột mê, thì hoang-mang, ruổi-chạy không thôi;
hai là không mê, hay-biết, thì khổ, bị đốt-cháy không cùng,
đau-buốt không chịu nổi. Ý-báo như thế, kết vào ý-nghĩ,
thì có thể làm phương, làm sở; kết vào cái thấy, có thể
làm gương-soi, làm chứng-cứ; kết vào cái nghe, thì có thể
làm đại-hợp-thạch, làm giá, làm sương, làm đất, làm mù;
kết vào hơi-thở, thì có thể làm xe-lửa lớn, làm thuyền
lửa, cũi-lửa; kết vào cái nếm, thì có thể làm kêu-la to,
làm ăn-năn, làm khóc-lóc; kết vào cái cảm-xúc, thì có thể
làm lớn, làm nhỏ, làm cho một ngày muôn lần sống, muôn
lần chết, làm nghiêng, làm ngửa.
ĐOẠN
V
KẾT-LUẬN
NÓI VỀ TẬP-NHÂN, GIAO-BÁO KHI TOÀN, KHI KHUYẾT VÀ ĐÁP LẠI
LÀ GÂY NGHIỆP-RIÊNG MÀ CÓ ĐỒNG-PHẬN-CHUNG
"A-nan,
thế gọi là 10 nhân và 6 quả của điạ-ngục, nhân-quả ấy
đều do mê-vọng của chúng-sinh tạo ra.
Nếu
các chúng-sinh, sáu căn đồng-tạo nghiệp-dữ, thì vào ngục
A-tỳ, chịu khổ vô-cùng trong vô-lượng kiếp; nếu từng
mỗi căn tạo ra và nghiệp-dữ đã làm gồm cả cảnh và căn
thì người ấy vào 8 ngục Vô-gián. Nếu cả thân, khẩu, ý
làm việc sát, đạo, dâm, thì người ấy vào Thập-bát-địa-ngục;
không đủ cả ba nghiệp thân, khẩu, ý, làm việc sát, đạo,
dâm, thì người ấy vào Thập-bát-địa-ngục; không đủ cả
ba nghiệp thân, khẩu, ý, hoặc trong ấy chỉ làm một việc
sát, hoặc một việc đạo, thì người ấy vào trong Tam-thập-lục-điạ-ngục;
chỉ có một căn, riêng làm một việc, thì người ấy vào
Nhất-bách-bát-địa-ngục.
Do
những chúng-sinh ấy riêng gây ra nghiệp, nên vào chỗ đồng-phận
trong giới ấy; đó đều do vọng-tưởng phát-sinh ra, không
phải bản-lai tự có.
ĐOẠN
VI
KHAI-THỊ
CÁC DƯ-BÁO
"Lại
nữa, A-nan, các chúng-sinh đó, nếu không phải gây tội chê-phá
luật-nghi, phạm Bồ-tát-giới, hủy-báng Niết-bàn của Phật,
mà chỉ phạm những nghiệp phức-tạp khác nhau, thì sau khi
bị đốt cháy nhiều kiếp, đền tội hết rồi, thì chịu
những hình quỷ.
Nếu
nơi bản-nhân, do tham vật mà làm ra tội, thì người ấy đền
tội hết rồi, gặp vật thành-hình gọi là Quái-quỷ; do tham
sắc mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp
gió thành-hình, gọi là Bạt-quỷ; do tham dối-trá mà làm ra
tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp giống súc
thành-hình, gọi là Mỵ-quỷ; do tham nóng-giận mà làm ra tội,
thì người ấy đền tội hết rồi, gặp con sâu thành-hình,
gọi là Cổ-độc-quỷ; do tham thù-oán mà làm ra tội, thì
người ấy đền tội hết rồi, gặp vận-suy kẻ-thù mà thành-hình,
gọi là Lệ-quỷ; do tham ngã-mạn mà làm ra tội, thì người
ấy đền tội hết rồi, gặp khí thành-hình, gọi là Ngạ-quỷ;
do tham lừa-gạt mà làm ra tội, thì người ấy đền tội
hết rồi, gặp u-ẩn thành-hình, gọi là Áp-quỷ; do tham ác-kiến
mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp tinh-hoa
thành-hình, gọi là Vọng-lượng-quỷ; do tham vu-vạ mà làm
ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp linh-hiển
thành-hình, gọi là Dịch-sử-quỷ; do tham bè-phái che-giấu
mà làm ra tội, thì người ấy đền tội hết rồi, gặp con
người thành-hình, gọi là Truyền-tống-quỷ.
A-nan,
những người đó đều vì thuần-tình phải đọa-lạc, khi
lửa-nghiệp đốt-sạch rồi, thì lên làm quỷ; như thế đều
do cái nghiệp vọng-tưởng tự mình chuốc lấy; nếu ngộ
được tính Bồ-đề, thì nơi tính Diệu-viên-minh, vốn không
có gì.
Lại
nữa, A-nan, khi nghiệp-quỷ đã hết, tình và tưởng cả hai
đều thành không, thì mới ở nơi thế-gian, cùng với người
mắc nợ cũ, oán-đối gặp nhau; thân làm súc-sinh để trả
nợ cũ.
Quái-quỷ
theo vật, vật tiêu báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều
làm loài chim kiêu. Bạt-quỷ theo gió, gió tiêu báo hết, sinh
nơi thế-gian, phần nhiều làm tất-cả những loài cữu-trưng
kỳ-dị. Mỵ quỷ theo súc, súc chết báo hết, sinh nơi thế-gian,
phần nhiều làm loài hồ. Cổ-quỷ theo sâu, sâu diệt báo
hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm loài có độc. Lệ-quỷ
theo vận suy, suy tột báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều
làm loài giun. Ngạ-quỷ theo khí, khí tiêu báo hết, sinh nơi
thế-gian, phần nhiều làm loài cung-cấp thịt ăn. Áp-quỷ
theo u-ẩn, u-ẩn tiêu báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều
làm loài cung-cấp đồ-mặc. Vọng-lượng-quỷ theo tinh-hoa,
tinh-hoa tiêu báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm các
loài chim mùa. Dịch-sử-quỷ theo sự linh-hiển, linh-hiển diệt
báo hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm tất-cả các loài
hưu-trưng. Truyền-tống-quỷ theo người, người chết báo
hết, sinh nơi thế-gian, phần nhiều làm các loài quấn-quít
bên người.
A-nan,
bọn ấy đều do lửa-nghiệp đốt xong, sinh ra loài súc, trả
hết nợ cũ; như thế, đều do những nghiệp hư-vọng của
tự mình chuốc lấy; nếu ngộ được tính Bồ-đề, thì các
vọng-duyên đó vốn không có gì.
Như
lời ông nói, bọn Bảo-liên-hương, Lưu-ly-vương, Thiện-tinh
tỷ-khưu đều vốn tự mình gây ra nghiệp-dữ; nghiệp ấy
không phải từ trên trời sa xuống, từ dưới đất phát ra
và cũng không phải do người khác đưa tới, mà chính do vọng-tưởng
của tự mình gây ra, rồi tự mình phải chịu quả-báo; nơi
tâm Bồ-đề, đó chỉ là sự kết-đông của vọng-tưởng
giả-dối.
Lại
nửa, A-nan, các súc-sinh ấy đền-trả nợ trước, nếu trong
lúc trả nợ, trả quá nợ cũ, thì những chúng-sinh ấy, trở
lại làm người, đòi lại chỗ thừa. Nếu bên kia có sức,
lại có cả phúc-đức, thì ở trong loài người, không rời-bỏ
thân người, mà hoàn lại chỗ thừa đó; còn nếu không phúc-đức,
thì phải làm súc-sinh đền lại chỗ thừa.
A-nan,
nên biết, nếu dùng tiền-của hoặc sức người ta, thì đền
đủ là xong; còn như trong ấy, có giết thân-mạng, hoặc ăn
thịt kẻ khác, như thế, thì đi đến ăn nhau, giết nhau, trải
qua nhiều kiếp, số như vi-trần, cũng như bánh xe xoay-vần,
thay-đổi bên cao, bên thấp, không có dừng-nghĩ; trừ khi được
phép Xa-ma-tha, hoặc gặp Phật ra đời, thì không thể thôi
được.
Nay
ông nên biết loài chim kiêu kia, trả nợ đủ, trở lại hình
người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng ngoan-cố. Giống
cữu-trưng kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong
nhân-đạo, tham-hợp hạng quái-dị. Những loài hồ kia, trả
nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp
hạng ngu-dại. Những loài có độc kia, trả nợ đủ, trở
lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng nham-hiểm.
Những loài giun kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh
trong nhân-đạo, tham-hợp hạng hèn-nhát. Những loài cung-cấp
thịt-ăn kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong
nhân-đạo, tham-hợp hạng nhu-nhược. Những loài cung-cấp
đồ mặc kia, trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong
nhân-đạo, tham-hợp hạng lao-lụy. Những loài chim mùa kia,
trả nợ đủ, trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo,
tham-hợp hạng văn-hoa. Những loài hưu-trưng kia, trả nợ đủ,
trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng
thông-minh. Những loài quấn-quít theo người kia, trả nợ đủ,
trở lại hình người, sinh trong nhân-đạo, tham-hợp hạng
thông-đạt.
A-nan,
bọn ấy trả hết nợ cũ, trở lại hình người, đều do
từ vô-thủy đến nay, điên-đảo gây nghiệp, vay trả thừa
thiếu, sinh nhau, giết nhau; nếu không gặp Như-lai, không nghe
Chính-pháp, thì ở trong trần-lao, máy-móc xoay-vần mãi mãi;
bọn ấy gọi là thật đáng thương-xót.
MỤC
V
TU
NHÂN RIÊNG-BIỆT, THÀNH QUẢ HƯ-VỌNG
ĐOẠN
I
NÊU
CHUNG
"A-nan,
lại có chúng-sinh từ loài người, không nương theo Chính-giác
tu phép Tam-ma-đề, lại riêng tu theo vọng-niệm, để tâm củng-cố
hình-hài, vào trong rừng núi, những chỗ người ta không đến
được, thành mười thứ Tiên.
ĐOẠN
II
RIÊNG-THÀNH
MƯỜI THỨ TIÊN
"A-nan,
các chúng-sinh kia, kiên-cố dùng đồ-bổ mà không dừng-nghỉ,
khi đạo-ăn được thành-tựu, thì gọi là Địa-hành-tiên.
Kiên-cố
dùng cỏ-cây mà không dừng nghỉ, khi đạo-thuốc được thành-tựu,
thì gọi là Phi-hành-tiên.
Kiên-cố
dùng kim-thạch mà không dừng-nghỉ, khi đạo hóa-chất được
thành-tựu, thì gọi là Du-hành-tiên.
Kiên-cố
làm những động-tác mà không dừng-nghỉ, khi khí-tinh được
thành-tựu, thì gọi là Không-hành-tiên.
Kiên-cố
luyện nước-bọt mà không dừng-nghỉ, khi nhuận-đức được
thành-tựu, thì gọi là Thiên-hành-tiên.
Kiên-cố
hấp-thụ tinh-hoa mà không dừng-nghỉ, khi hấp-thụ được
thành-tựu, thì gọi là Thông-hành-tiên.
Kiên-cố
làm thuật phù-chú mà không ngừng-nghỉ, khi thuật-pháp được
thành-tựu, thì gọi là Đạo-hành-tiên.
Kiên-cố
chuyên-chú tâm-niệm mà không dừng-nghỉ, khi chuyên-niệm được
thành-tựu, thì gọi là Chiếu-hành-tiên.
Kiên-cố
về thủy hỏa giao-cấu mà không dừng-nghỉ, khi cảm-ứng
được thành-tựu, thì gọi là Tinh-hành-tiên.
Kiên-cố
tập-luyện biến-hóa mà không dừng-nghỉ, khi giác-ngộ được
thành-tựu, thì gọi là Tuyệt-hành-tiên.
ĐOẠN
III
TỔNG-KẾT
VỀ ĐẠO-TIÊN
"A-nan,
bọn ấy đều ở trong loài người mà luyện tâm, tuy không
tu Chính-giác, nhưng riêng được lẽ sống, thọ ngàn vạn
tuổi, nghỉ ở trong núi sâu hoặc trên đảo giữa bể cả,
cách-tuyệt chỗ người ở; đó cũng là vọng-tưởng luân-hồi
lưu-chuyển. Nếu không tu phép Tam-muội, thì khi quả-báo hết
rồi, trở lại tản vào trong lục-đạo.
MỤC
VI
CÁC
CÕI-TRỜI SAI KHÁC
ĐOẠN
I
DỤC-GIỚI
"A-nan,
các người thế-gian, không cầu-đạo thường-trụ, chưa có
thể rời-bỏ được sự ân-ái với vợ mình, nhưng tâm không
buông-lung trong việc tà-dâm, do tâm đứng-lặng sinh ra sáng-suốt,
sau khi mệnh-chung ở gần với mặt trời, mặt trăng; một
loài như thế, gọi là Tứ-Thiên-Vương-Thiên.
Đối
với vợ mình, dâm-ái ít-ỏi, trong lúc tịnh-cư, không được
toàn-vị, thì sau khi mệnh-chung, vượt ánh-sáng mặt trời,
mặt trăng, ở trên chóp nhân-gian; một loài như thế, gọi
là Đao-lợi-thiên.
Gặp
cảnh-dục tạm theo, bỏ đi không nhớ-nghĩ, ở trong nhân-gian,
động ít, tĩnh nhiều, thì sau khi mệnh-chung, sáng-rỡ ở yên
trong cõi hư-không, ánh-sáng mặt trời, mặt trăng không soi
đến được; và những người ấy tự mình có ánh-sáng; một
loài như thế, gọi là Tu-diệm-ma-thiên.
Lúc
nào cũng tĩnh, nhưng khi có cảm-xúc đến bên mình, chưa chống-đối
được, thì sau khi mệnh-chung, lên trên chỗ tinh-vi, không tiếp
với những cảnh nhân-thiên cõi dưới, cho đến gặp hoại-kiếp,
tam-tai cũng không đến nơi; một loài như thế, gọi là Đâu-suất-đà-thiên.
Chính
mình không có tâm dâm-dục, chỉ đáp-ứng với người khác
mà làm, trong lúc phô-bày, vô-vị như ăn sáp, thì sau khi mệnh-chung,
vượt lên sinh vào cảnh biến-hóa; một loài như thế, gọi
là Lạc-biến-hóa-thiên.
Không
có tâm thế-gian, chỉ đồng với thế-gian mà làm việc ngũ-dục;
trong lúc làm việc ấy, rõ-ràng là siêu-thoát, thì sau khi mệnh-chung,
vượt trên tất-cả những cảnh biến-hóa và không biến-hóa;
một loài như thế, gọi là Tha-hóa-tự-tại-thiên.
A-nan,
sáu cõi-trời như thế, hình-thức tuy khỏi động, nhưng tâm-tính
còn dính-dấp; từ các cõi ấy trở xuống, gọi là Dục-giới.
WP:
Chơn Hạnh
Kinh
Sách Liên Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Giảng
Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, Thiền Sư Nhẫn Tế
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu