KINH
THỦ-LĂNG-NGHIÊM
QUYỂN
BẢY
MỤC
III
PHẬT
KHAI-THỊ VỀ MẬT-GIÁO, THẦM-GIÚP CHO NHỮNG NGƯỜI TU-HÀNH
"A-nan,
ông hỏi cách nhiếp-trì tâm-niệm, thì tôi đã nói rằng:
Người muốn vào Tam-ma-đề, tu-học pháp-môn nhiệm-mầu, cầu
đạo Bồ-tát; trước hết cần giữ 4 thứ luật-nghi đó trong-sáng
như giá, như sương, tự không thể sinh ra được tất-cả
ngành lá; ba ý-nghiệp, bốn khẩu-nghiệp ác chắn không còn
có nhân mà sinh được. A-nan, nếu giữ 4 việc như vậy không
thiếu-sót, thì tâm còn không duyên với sắc, hương, vị,
xúc, tất-cả ma-sự làm sao mà phát-sinh được. Nếu có tập-khí
cũ không thể diệt-trừ, ông dạy người đó nhất-tâm tụng
thần-chú vô-thượng "Phật-đỉnh quang-minh ma-ha tát-đát-đa
bát-đát-ra" của tôi, đó là cái tâm-chú do Vô-vi-tâm-Phật
của Vô-kiến-đỉnh-tướng Như-lai, từ nơi đỉnh hiện ra,
ngồi trên hoa sen báu mà nói.
Vả
lại, ông cùng nàng Ma-đăng-già, do nhân-duyên nhiều kiếp
đời trước thành tập-khí ân-ái, không phải một đời hay
là một kiếp; song, một phen tôi tuyên-dương thần-chú, thì
Nàng Ma-đăng-già thoát hẳn khỏi lòng yêu, thành quả A-la-hán.
Nàng kia, còn là dâm-nữ, không có tâm tu-hành, do sức thần-chú
giúp, cũng mau chứng quả vô-học; thế thì bọn ông, những
hàng Thanh-văn trong Hội nầy, cầu Tối-thượng-thừa, thì
quyết-định sẽ thành Phật, cũng ví-như bụi bay gặp gió
thuận, có khó-khăn gì?
Nếu
có người, trong đời mạt-pháp, muốn ngồi đạo-trường
tu-hành, trước hết phải giữ cấm-giới tỷ-khưu thanh-tịnh
và cần phải lựa-chọn những vị sa-môn giữ-giới thanh-tịnh
bậc nhất để làm thầy mình; nếu không gặp được tăng-chúng
thật thanh-tịnh, thì giới-luật-nghi chắc không thành-tựu
được. Sau khi giới được thành-tựu rồi, người đó đắp-y
mới, sạch-sẽ, đốt hương, ở riêng một mình, tụng thần-chú,
do tâm-Phật nói, một trăm tám biến; về sau, kết-giới dựng-lập
đạo-trường, cầu các đức vô-thượng Như-lai, hiện ở
trong các cõi-nước mười phương, phóng hào-quang đại-bi đến
rọi nơi đỉnh-đầu mình.
A-nan,
những hàng thanh-tịnh tỷ-khưu, hoặc tỷ-khưu-ni, hoặc bạch-y
đàn-việt như vậy, trong đời mạt-pháp, tâm diệt được
tham-dâm, giữ giới thanh-tịnh của Phật, ở trong đạo-trường,
phát-nguyện Bồ-tát, khi ra, khi vào, khi tắm, khi rửa, cả
trong sáu thời đều hành-đạo như vậy, không ngủ, đến
ba lần bảy ngày, thì tôi tự hiện-thân đến trước người
ấy, xoa đỉnh an-ủi, khiến cho khai-ngộ".
MỤC
IV
KHAI-THỊ
NHỮNG PHÁP-TẮC LẬP ĐẠO-TRƯỜNG TU-TRÌ
ĐOẠN
I
ÔNG
A-NAN XIN HỎI VỀ QUY-TẮC ĐẠO-TRƯỜNG
Ông
A-nan bạch Phật rằng: Thưa Thế-tôn, tôi nhớ lời từ-bi
dạy-bảo vô-thượng của đức Như-lai, tâm đã khai-ngộ,
tự biết con đường tu-chứng thành-quả vô-học, song, những
người tu-hành, trong đời mạt-pháp, muốn lập đạo-trường,
cần kết-giới thế nào, cho hợp với quy-tắc thanh-tịnh của
chư Phật Thế-tôn?"
ĐOẠN
II
KHAI-THỊ
NGHI-THỨC ĐẠO-TRƯỜNG
Phật
bảo ông A-nan: "Nếu người trong đời mạt-pháp, muốn lập
đạo-trường, trước hết, phải lấy phân con đại-lực-bạch-ngưu
ở núi Tuyết-sơn, bạch-ngưu nầy, ăn cỏ-thơm ngon-tốt trong
núi và chỉ uống nước trong trên núi Tuyết-sơn, nên cái
phân mịn-màng; nên lấy cái phân nó, hòa-hợp với hương
chiên-đàn để quét trên mặt đất. Nếu, không phải ở Tuyết-sơn,
thì phân bạch-ngưu hôi-nhớp, không thể trát đất được.
Vậy thì, phải riêng ở nơi bình-nguyên, đào bỏ các lớp
đất trên mặt, lấy thứ đất vàng từ 5 thước trở xuống;
rồi lấy 10 thứ hương là chiên-đàn, trầm-thủy, tô-hợp,
huân-lục, uất-kim, bạch-giao, thanh-mộc, linh-lăng, cam-tùng
và kê-thiệt, nghiền-rây thành bột, trộn với đất ấy thành
bùn, để trát trên mặt đất đạo-trường, mỗi bề 1 trượng
6, thành cái đàn bát-giác. Giữa trung-tâm đàn, an-trí một
hoa sen làm bằng vàng, bạc, đồng, cây, giữa hoa để một
cái bát, trong bát đựng trước nước mù-sương tháng Tám
và trong nước ấy tùy-ý cắm các hoa lá hiện có. Rồi lấy
8 cái gương tròn, mỗi cái để một phía, chung-quanh hoa sen
và bát hoa. Bên ngoài những gương ấy, an-trí 16 hoa sen và
giữa các hoa sen để 16 lư-hương cho trang-hoàng. Trong lư-hương
đốt toàn hương trầm-thủy, không cho thấy lửa. Lấy sữa
bạch-ngưu để trong 16 khí-mãnh; lấy sữa làm bánh-nướng
và các thứ đường-cát, bánh-rán, bột-sữa, tô-hộp, mứt-gừng,
mật-ong, bơ tốt, mật tốt, mỗi thứ 16 khí-mãnh, đặt ở
ngoài hoa sen và quanh vòng hoa sen; để cúng-dâng chư Phật và
các vị Đại-bồ-tát.
Trong
mỗi thời ăn cơm và ở giữa đêm, lấy nửa thăng mật và
3 cáp bơ, trước đàn để riêng một lư lửa nhỏ; lấy hương
đâu-lâu-bà, nấu lấy nước thơm, rửa than cho sạch; rồi
đốt than đỏ hồng trong lư và rót mật bơ vào, đốt cho
hết khói để cúng-dường chư Phật, Bồ-tát.
Ở
4 phía ngoài, treo khắp phan và hoa; ở trong phòng đàn, an-trí
hình-tượng hiện có của thập phương Như-lai và các vị
Bồ-tát nơi 4 vách. Nên ở chính-giữa để hình-tượng Phật
Lô-xá-na, Phật Thích-ca, Phật Di-lặc, Phật A-xơ, Phật Di-đà
và các hình-tượng đại-biến-hóa của Ngài Quán-âm, lại
thêm, hình-tượng các vị Kim-cương-tạng Bồ-tát để ở
hai bên; những tượng của Đế-thích, Phạm-vương, Ô-sô-sắt-ma,
Lam-địa-ca, Quân-trà-lỵ, Tỳ-câu-chi và Tứ-thiên-vương,
Tần-na, Dạ-ca, vân vân..., treo ở hai bên cửa; lại lấy 8
cái gương treo úp trên hư-không, mặt gương nầy đối-chiếu
với 8 gương trước, đã để trong đàn-tràng, làm cho các
hình-ảnh lồng-nhau nhiều lớp.
ĐOẠN
III
KHAI-THỊ
TU-TRÌ ĐƯỢC CHỨNG
Trong
tuần 7 ngày đầu, chí-thành đỉnh-lễ danh-hiệu thập phương
Như-lai, các vị Đại-bồ-tát và A-la-hán, thường tron 6 thời
tụng-chú đi quanh đàn, chí-tâm hành-đạo, một thời thường
là 108 biến. Trong tuần 7 ngày thứ 2, một mặt chuyên-tâm
phát-nguyện Bồ-tát, tâm không gián-đoạn; trong luật-nghi
đạo, ta đã có chỉ-dạy về nguyện. Trong tuần 7 ngày thứ
3, trong cả 12 thời, một mặt trì-chú Bát-đát-ra của Phật;
đến ngày thứ 7, thì thấy thập phương Như-lai một thời
xuất-hiện, trong chỗ ánh-sáng các mặt gương giao-xen và được
Phật xoa đỉnh. Rồi, liền ở nơi đạo-trường đó, tu phép
Tam-ma-đề, có thể khiến cho những người tu-học như vậy,
trong đời mạt-pháp, thân tâm được sáng-suốt, trong-sạch
như ngọc lưu-ly.
A-nan,
nếu trong các thầy truyền-giới cho vị tỷ-khưu ấy, hay trong
10 vị tỷ-khưu đồng-hội, có một người giới-hạnh không
thanh-tịnh, thì những đạo-trường như thế, phần nhiều
là không thành-tựu.
Từ
sau 3 tuần 7 ngày, ngồi nghiêm-chỉnh an-cư, trải qua một trăm
ngày, thì những người có lợi-căn, không rời khỏi chỗ
ngồi, đã được quả Tu-đà-hoàn; dầu cho nơi thân tâm thánh-quả
chưa thành, nhưng đã quyết-định tự biết sẽ thành Phật,
không sai-chạy. Ông hỏi về đạo-trường, thì cách dựng-lập
như vậy".
MỤC
V
TUYÊN-NÓI
TÂM-CHÚ, RỘNG KHAI-THỊ NHỮNG LỢI-ÍCH
ĐOẠN
I
PHÓNG
HÀO-QUANG, KHẮP THỊ-HIỆN
Ông
A-nan đỉnh-lễ chân Phật mà bạch Phật rằng: "Từ khi xuất-gia,
tôi ỷ-lại nơi lòng thương-yêu của Phật; vì cầu tuệ đa-văn,
chưa chứng quả vô-vi, nên bị tà-thuật Phạm-thiên kia bắt-buộc;
tâm tuy rõ-ràng, nhưng sức không tự-do, nhờ gặp ngài Văn-thù,
khiến cho tôi được giải-thoát. Tuy tôi thầm nhờ sức của
thần-chú Phật-đỉnh Như-lai, nhưng chính mình còn chưa được
nghe chú ấy, xin nguyện đức Đại-từ tuyên-nói lại cho,
thương-xót cứu-giúp các hàng tu-hành trong Hội nầy và những
người đời sau, còn trong luân-hồi, được nhờ mật-âm của
Phật, mà thân-ý được giải-thoát". Lúc bấy giờ, tất-cả
đại-chúng trong Hội thảy đều làm lễ, chờ nghe những câu
chú bí-mật của Như-lai.
Lúc
đó, đức Thế-tôn, từ nơi nhục-kế phóng ra trăm thứ hào-quang
báu, trong hào-quang hiện ra hoa sen báu ngàn cánh, có hóa-thân
Như-lai ngồi trong hoa sen, trên đình phóng ra mười đạo hào-quang
bách-bảo; trong mỗi mỗi đạo hào-quang, đều hiện ra những
vị Kim-cương mật-tích, số-lượng bằng mười số cát sông
Hằng, xách núi, cầm xử, khắp cõi hư-không. Đại-chúng ngửa
lên xem, vừa yêu vừa sợ, cầu Phật thương-xót che-chở,
một tâm nghe đức Phóng-quang Như-lai, nơi Vô-kiến-đỉnh-tướng
của Phật, tuyên-nói thần-chú :
ĐOẠN
II
TUYÊN-ĐỌC
THẦN-CHÚ PHẬT-ĐỈNH THỦ-LĂNG-NGHIÊM
1.-
Na mô tát dát tha tô già đa gia a la ha đế tam diểu tam bồ
đà tả.
2.-
Tát đát tha Phật đà câu chi sắt ni sam.
3.-
Na mô tát bà bột đà bột địa tát đá bệ tệ.
4.-
Na mô tát đa nẫm tam diểu tam bồ đà câu chi nẫm.
5.-
Sa xá ra bà ca tăng già nẫm.
6.-
Na mô lô kê a la hán đá nẫm.
7.-
Na mô tô lô đa ba na nẫm.
8.-
Na mô sa yết rị đà già di nẫm.
9.-
Na mô lô kê tam diểu già đá nẫm.
10.-
Tam diểu già ba ra để ba đa na nẫm.
11.-
Na mô đề bà ly sắt xiển.
12.-
Na mô tất đà gia tỳ địa gia đà ra ly sắt xiển.
13.-
Xá ba nô yết ra ha sa ha sa ra ma tha nẫm.
14.-
Na mô bạt ra ha ma nê.
15.-
Na mô nhân đà ra gia.
16.-
Na mô bà già bà đế.
17.-
Rô đà ra gia.
18.-
Ô ma bát đế.
19.-
Sa hê dạ gia.
20.-
Na mô bà già bà đế.
21.-
Na ra dã noa gia.
22.-
Bàn giá ma ha tam mộ đà ra.
23.-
Na mô tất yết rị đa gia.
24.-
Na mô bà già bà đế.
25.-
Ma ha ca ra gia.
26.-
Địa rị bát lạt na già ra.
27.-
Tỳ đà ra ba noa ca ra gia.
28.-
A địa mục đế.
29.-
Thi ma xá na nê bà tất nê.
30.-
Ma đát rị già noa.
31.-
Na mô tất yết rị đa gia.
32.-
Na mô bà già bà đế.
33.-
Đa tha già đá câu ra gia.
34.-
Na mô bát đầu ma câu ra gia.
35.-
Na mô bạt xà la câu ra gia.
36.-
Na mô ma ni câu ra gia.
37.-
Na mô già xà câu ra gia.
38.-
Na mô bà già bà đế.
39.-
Đế rị trà thâu ra tây na.
40.-
Ba ra ha ra noa ra xà gia.
41.-
Đá tha già đa gia.
42.-
Na mô bà già bà đế.
43.-
Na mô a di đa bà gia.
44.-
Đá tha già đa gia.
45.-
A ra ha đế.
46.-
Tam diểu tam bồ đà gia.
47.-
Na mô bà già bà đế.
48.-
A sô bệ gia.
49.-
Đá tha già đa gia.
50.-
A ra ha đế.
51.-
Tam diểu tam bồ đà gia.
52.-
Na mô bà già bà đế.
53.-
Bệ sa xà gia câu rô phệ trụ rị gia.
54.-
Bát ra bà ra xà gia.
55.-
Đá tha già đa gia.
56.-
Na mô bà già bà đế.
57.-
Tam bổ sư bí đa.
58.-
Tát lân nại ra lạt xà gia.
59.-
Đá tha già đa gia.
60.-
A ra ha đế.
61.-
Tam diểu tam bồ đà gia.
62.-
Na mô bà già bà đế.
63.-
Xá kê dã mẫu na duệ.
64.-
Đá tha già đa gia.
65.-
A ra ha đế.
66.-
Tam diểu tam bồ đà gia.
67.-
Na mô bà già bà đế.
68.-
Lạt đá na kê đô ra xà gia.
69.-
Đá tha già đa gia.
70.-
A ra ha đế.
71.-
Tam diểu tam bồ đà gia.
72.-
Đế biều na mô tát yết rị đa.
73.-
Ế đàm bà già bà đa.
74.-
Tát đát tha già đô sắt ni sam.
75.-
Tát đát đa bát đát lam.
76.-
Na mô a bà ra thị đam.
77.-
Bát ra đế dương kỳ ra.
78.-
Tát ra bà bộ đa yết ra ha.
79.-
Ni yết ra ha yết ca ra ha ni.
80.-
Bạt ra bí địa gia sất đà nễ.
81.-
A ca ra mật rị trụ.
82.
Bát rị đát ra gia nãnh yết rị.
83.-
Tát ra bà bàn đà na mục xoa ni.
84.-
Tát ra bà đột sắt tra.
85.-
Đột tất phạp bát na nễ phạt ra ni.
86.-
Giả đô ra thất đế nẫm.
87.-
Yết ra ha sa ha tát ra nhã xà.
88.-
Tỳ đa băng sa na yết rị.
89.-
A sắt cha băng xa đế nẫm.
90.-
Na xoa sát đát ra nhã xà.
91.-
Ba ra tát đà na yết rị.
92.-
A sắt cha nẫm.
93.-
Ma ha yết ra ha nhã xà.
94.-
Tỳ đa băng tát na yết rị.
95.-
Tát bà xá đô rô nễ bà ra nhã xà.
96.-
Hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni.
97.-
Bí sa xá tất đát ra.
98.-
A cát ni ô đà ca ra nhã xà.
99.-
A bát ra thị đa cụ ra.
100.-
Ma ha bát ra chiến trì.
101.-
Ma ha điệp đa.
102.-
Ma ha đế xà.
103.-
Ma ha thuế đa xà bà ra.
104.-
Ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nễ.
105.-
A rị gia đa ra.
106.-
Tỳ rị câu chi.
107.-
Thệ bà tỳ xà gia.
108.-
Bạt xà ra ma lễ đễ.
109.-
Tỳ xá rô đa.
110.-
Bột đằng dõng ca.
111.-
Bạt xà ra chế hát na a giá.
112.-
Ma ra chế bà bát ra chất đa.
113.-
Bạt xà ra thiện trì.
114.-
Tỳ xá ra giá.
115.-
Phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa.
116.-
Tô ma rô ba.
117.-
Ma ha thuế đa.
118.-
A ri gia đa ra.
119.-
Ma ha bà ra a bát ra.
120.-
Bạt xà ra thương yết ra chế bà.
121.-
Bạt xà ra câu ma rị.
122.-
Câu lam đà rị.
123.-
Bạt xà ra hát tát đa giá.
124.-
Tỳ địa gia kiền giá na ma rị ca.
125.-
Hốt tô mẫu bà yết ra đá na.
126.-
Bệ rô giá na câu rị gia.
127.-
Dạ ra thỏ sắt ni sam.
128.-
Tỳ chiết lam bà ma ni giá.
129.-
Bạt xà ra ca na ca ba ra bà.
130.-
Rô xà na bạt xà ra đốn trĩ giá.
131.-
Thế đa giá ca ma ra.
132.-
Sát xa thi ba ra bà.
133.-
Ế đế di đế.
134.-
Mẫu đà ra yết noa.
135.-
Sa bệ ra sám.
136.-
Quật phạm đô.
137.-
Ấn thỏ na mạ mạ tả.
138.-
Ô huân.
139.-
Rị sắt yết noa.
140.-
Bát lạt xá tất đa.
141.-
Tát đát tha già đô sắt ni sam.
142.-
Hổ luân.
143.-
Đô rô úng.
144.-
Chiêm bà na.
145.-
Hổ huân.
146.-
Đô rô úng.
147.-
Tất đam bà na.
148.-
Hổ huân.
149.-
Đô rô úng.
150.-
Ba ra sắt địa gia tam bát xoa noa yết ra.
151.-
Hổ huân.
152.-
Đô rô úng.
153.-
Tát bà dược xoa hát ra sát sa.
154.-
Yết ra ha nhã xà
155.-
Tỳ đằng băng tát na yết ra.
156.-
Hổ huân.
157.-
Đô rô úng.
158.-
Giả đô ra thi để nẫm.
159.-
Yết ra ha sa ha tát ra nẫm.
160.-
Tỳ đằng băng tát na ra.
161.-
Hổ huân.
162.-
Đô rô úng.
163.-
Ra xoa.
164.-
Bà già phạm.
165.-
Tát đát tha già đô sắt ni sam.
166.-
Ba ra điểm xà cát rị.
167.-
Ma ha sa ha cát ra
168.-
Bột thụ sa ha tát ra thất rị sa.
169.-
Câu chi sa ha tát nê đế lệ.
170.-
A tệ đề thị bà rị đa.
171.-
Cha cha anh ca.
172.-
Ma ha bạt xà rô đà ra.
173.-
Đế rị, bồ bà na.
174.-
Mạn trà ra.
175.-
Ô huân.
176.-
Sa tất đế bạc bà đô.
177.-
Mạ mạ.
178.-
Ấn thỏ na mạ mạ tả.
179.-
ra xà bà dạ.
180.-
Chủ ra bạt dạ.
181.-
A kỳ ni bà dạ.
182.-
Ô đà ca bà dạ.
183.-
Tỳ sa bà dạ.
184.-
Xá tát đa ra bà dạ.
185.-
Bà ra chước yết ra bà dạ.
186.-
Đột sắt noa bà dạ.
187.-
A xá nễ bà dạ.
188.-
A ca ra mật rị trụ bà dạ.
189.-
Đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà bà dạ
190.-
Ô ca ra bà đa bà dạ.
191.-
Lạt xà đàn trà bà dạ.
192.-
Na già bà dạ.
193.-
Tỳ điều đát bà dạ.
194.-
Tô ba ra noa bà dạ.
195.-
Dược xoa yết ra ha.
196.-
Ra xoa tư yết ra ha.
197.-
Tất rị đa yết ra ha
198.-
Tỳ xá giá yết ra ha.
199.-
Bộ đa yết ra ha.
200.-
Cưu bàn trà yết ra ha.
201.-
Bổ đan na yết ra ha.
202.-
Ca cha bổ đan na yết ra ha.
203.-
Tất kiền độ yết ra ha.
204.-
A bá tất ma ra yết ra ha.
205.-
Ô đàn ma đà yết ra ha.
206.-
Sa dạ yết ra ha.
207.-
Hê rị bà đế yết ra ha.
208.-
Xã đa ha rị nẫm.
209.-
Yết bà ha rị nẫm.
210.-
Rô địa ra ha rị nẫm.
211.-
Mang sa ha rị nẫm.
212.-
Mế đà ha rị nẫm.
213.-
Ma xà ha rị nẫm.
214.-
Xà đa ha rị nữ.
215.-
Thị tỷ đa ha rị nẫm.
216.-
Tỳ đa ha rị nẫm.
217.-
Bà đa ha rị nẫm.
218.-
A thâu giá ha rị nữ.
219.-
Chất đa ha rị nữ.
220.-
Đế sam tát bệ sam.
221.-
Tát bà yết ra ha nẫm.
222.-
Tỳ đà da xà sân đà dạ di.
223.-
Kê ra dạ di.
224.-
Ba rị bạt ra giả ca hất rị đảm.
225.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
226.-
Kê ra dạ di.
227.-
Trà diễn ni hất rị đảm.
228.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
229.-
Kê ra dạ di.
230.-
Ma ha bát thâu bát đát dạ.
231.-
Rô đà ra hất rị đảm.
232.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
233.-
Kê ra dạ di.
234.-
Na ra dạ noa hất rị đảm.
235.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
236.-
Kê ra dạ di.
237.-
Đát đỏa già rô trà tây hất rị đảm.
238.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
239.-
Kê ra dạ di.
240.-
Ma ha ca ra ma đát rị già noa hất rị đảm.
241.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
242.-
Kê ra dạ di.
243.-
Ca ba rị ca hất rị đảm.
244.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
245.-
Kê ra dạ di.
246.-
Xà gia yết ra ma độ yết ra.
247.-
Tát bà ra tha sa đạt na hất rị đảm.
248.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
249.-
Kê ra dạ di.
250.-
Giả đốt ra bà kỳ nễ hất rị đảm.
251.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
252.-
Kê ra dạ di.
253.-
Tỳ rị dương hất rị tri.
254.-
Nan đà kê sa ra già noa bát đế.
255.-
Sách hê dạ hất rị đảm.
256.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ ri.
257.-
Kê ra dạ di.
258.-
Na yết na xá ra bà noa hất rị đảm.
259.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
260.-
Kê ra dạ di.
261.-
A la hán hất rị đảm tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
262.-
Kê ra dạ di.
263.-
Tỳ đa ra già hất rị đảm.
264.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
265.-
Kê ra dạ di bạt xà ra ba nễ.
266.-
Cụ hê dạ cụ hê dạ.
267.-
Ca địa bát đế hất rị đảm.
268.-
Tỳ đà dạ xà sân đà dạ di.
269.-
Kê ra dạ di.
270.-
Ra xoa võng.
271.-
Bà già phạm.
272.-
Ấn thỏ na mạ mạ tả.
273.-
Bà già phạm.
274.-
Tát đát đa bát đát ra.
275.-
Na mô tụy đô đế.
276.-
A tất đa na ra lạt ca.
277.-
Ba ra bà tất phổ tra.
278.-
Tỳ ca tát đát đa bát đế rị.
279.-
Thập Phật ra thập Phật ra.
280.-
Đà ra đà ra.
281.-
Tần đà ra tần đà ra sân đà sân đà.
282.-
Hổ huân.
283.-
Hổ huân.
284.-
Phấn tra.
285.-
Phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra phấn tra.
286.-
Sa ha.
287.-
Hê hê phấn.
288.-
A mưu ca gia phấn.
289.-
A ba ra đề ha đa phấn.
290.-
Bà ra ba ra đà phấn.
291.-
A tố ra tỳ đà ra ba ca phấn.
292.-
Tát bà đề bệ tệ phấn.
293.-
Tát bà na già tệ phấn.
294.-
Tát bà dược xoa tệ phấn.
295.-
Tát bà càn thát bà tệ phấn.
296.-
Tát bà bổ đan na tệ phấn.
297.-
Ca tra bổ đan na tệ phấn.
298.-
Tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn.
299.-
Tát bà đột sáp tỷ rê hất sắt đế tệ phấn.
300.-
Tát bà thập bà rị tệ phấn.
301.-
Tát bà a bá tất ma rê tệ phấn.
302.-
Tát bà xá ra bà noa tệ phấn.
303.-
Tát bà địa đế kê tệ phấn.
304.-
Tát bà đát ma đà kế tệ phấn.
305.-
Tát bà tỳ đà gia ra thệ giá rê tệ phấn.
306.-
Xà dạ yết ra ma độ yết ra.
307.-
Tát bà ra tha sa đà kê tệ phấn.
308.-
Tỳ địa dạ giá rê tệ phấn.
309.-
Giả đô ra phộc kỳ nễ tệ phấn.
310.-
Bạt xà ra câu ma rị.
311.-
Tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn.
312.-
Ma ha ba ra đinh dương xoa kỳ rị tệ phấn.
313.-
Bạt xà ra thương yết ra dạ.
314.-
Ba ra trượng kỳ ra xà gia phấn.
315.-
Ma ha ca ra dạ.
316.-
Ma ha mạt đát rị ca noa.
317.-
Na mô sa yết rị đa dạ phấn.
318.-
Bí sắt noa tì duệ phấn.
319.-
Bột ra ha mưu ni duệ phấn.
320.-
A kỳ ni duệ phấn.
321.-
Ma ha yết rị duệ phấn.
322.-
Yết ra đàn trì duệ phấn.
323.-
Miệt đát rị duệ phấn.
324.-
Rạo đát rị duệ phấn.
325.-
Giá văn trà duệ phấn.
326.-
Yết lã ra đát rị duệ phấn.
327.-
Ca bát rị duệ phấn.
328.-
A địa mục chất đa ca thi ma xá na.
329.-
Bà tư nễ duệ phấn.
330.-
Diễn cát chất.
331.-
Tát đỏa bà tả.
332.-
Mạ mạ ấn thỏ na mạ mạ tả.
333.-
Đột sắt tra chất đa.
334.-
A mạt đát rị chất đa.
335.-
Ô xà ha ra.
336.-
Già bà ha ra.
337.-
Rô địa ra ha ra.
338.-
Bà sa ha ra.
339.-
Ma xà ha ra.
340.-
Xà đa ha ra.
341.-
Thị bí đa ha ra.
342.-
Bạt lược dạ ha ra.
343.-
Càn đà ha ra.
344.-
Bố sử ba ha ra.
345.-
Phả ra ha ra.
346.-
Bà tả ha ra.
347.-
Bát ba chất đa.
348.-
Đột sắt tra chất đa.
349.-
Lạo đà ra chất đa.
350.-
Dược xoa yết ra ha.
351.-
Ra sát sa yết ra ha.
352.-
Bế lệ đa yết ra ha.
353.-
Tỳ xá giá yết ra ha.
354.-
Bộ đa yết ra ha.
355.-
Cưu bàn trà yết ra ha.
356.-
Tất càn đà yết ra ha.
357.-
Ô đát ma đà yết ra ha.
358.-
Sa dạ yết ra ha.
359.-
A bá tát ma ra yết ra ha.
360.-
Trạch khư cách trà kỳ ni yết ra ha.
361.-
Rị Phật đế yết ra ha.
362.-
Xà di ca yết ra ha.
363.-
Xá câu ni yết ra ha.
364.-
Mỗ đà ra nan địa ca yết ra ha.
365.-
A lam bà yết ra ha.
366.-
Càn độ ba ni yết ra ha.
367.-
Thập phạt ra yên ca hê ca.
368.-
Trụy đế dược ca.
369.-
Đát lệ đế dược ca.
370.-
Giả đột thác ca.
371.-
Nặc đề thập phạt ra bí sam ma thập phạt ra.
372.-
Bạc để ca.
373.-
Tị để ca.
374.-
Thất lệ sắt mật ca.
375.-
Sa nễ bát đế ca.
376.-
Tát bà thập phạt ra.
377.-
Thất rô cát đế.
378.-
Mạt bà bệ đạt rô chế kiếm.
379.-
A ỷ rô kiềm.
380.-
Mục khư rô kiềm.
381.-
Yết rị đột rô kiềm.
382.-
Yết ra ha yết lam.
383.-
Yết noa thâu lam.
384.-
Đạn đa thâu lam.
385.-
Hất rị dạ thâu lam.
386.-
Mạt mạ thâu lam.
387.-
Bạt rị thất bà thâu lam.
388.-
Bí lật sắt tra thâu lam.
389.-
Ô đà ra thâu lam.
390.-
Yết tri thâu lam.
391.-
Bạt tất đế thâu lam.
392.-
Ô rô thâu lam.
393.-
Thường già thâu lam.
394.-
Hát tất đa thâu lam.
395.-
Bạt đà thâu lam.
396.-
Sa phòng áng già bát ra trượng già thâu lam.
397.-
Bộ đa bí đá trà.
398.-
Chà kỳ ni thập bà ra.
399.-
Đà đột rô ca kiến đốt rô cát tri bà lộ đa tỳ.
400.-
Tát bát rô ha lăng già.
401.-
Thâu sa đát ra sa na yết ra.
402.-
Tỳ sa dụ ca.
403.-
A kỳ ni ô đà ca.
404.-
Mạt ra bê ra kiến đá ra.
405.-
A ca ra mật rị đốt đát liễm bộ ca.
406.-
Địa lật lạt tra.
407.-
Bí rị sắt chất ca.
408.-
Tát bà na câu ra.
409.-
Tứ dẫn già tệ yết ra rị dược xoa đát ra sô.
410.-
Mạt ra thị phệ đế sam sa bệ sam.
411.-
Tất đát đa bát đát ra.
412.-
Ma ha bạt xà rô sắt ni sam.
413.-
Ma ha bát lạt trượng kỳ lam.
414.-
Dạ ba đột đà xá dụ xà na.
415.-
Biện đát lệ noa.
416.-
Tỳ đà gia bàn đàm ca rô di.
417.-
Đế thù bàn đàm ca rô di.
418.-
Bát ra tỳ đà bàn đàm ca rô di.
419.-
Đá điệt tha.
420.-
Úm.
421.-
A na lệ.
422.-
Tỳ xá đề.
423.-
Bệ ra bạt xà ra đà rị.
424.-
Bàn đà bàn đà nễ.
425.-
Bà xà ra báng ni phấn.
426.-
Hổ huân đô rô úng phấn.
427.-
Sa bà ha.
ĐOẠN
III
KHAI-THỊ
XUẤT-SINH CHƯ PHẬT, HÀNG-PHỤC TÀ-MA, RỘNG BAN-ƠN CHO CHÚNG-SINH.
"A-nan,
những câu nhiệm-mầu, những kệ bí-mật "Tất-đát-đa-bát-đát-ra"
của hóa-thân nơi hào-quang đỉnh-Phật, sinh ra tất-cả chư
Phật thập phương. Thập phương Như-lai nhân chú-tâm nầy,
thành được Vô-thượng-chính-biến-tri-giác. Thập phương
Như-lai nắm chú-tâm nầy, uốn-dẹp các ma, chế-phục các
ngoại-đạo. Thập phương Như-lai vận chú-tâm nầy, ngồi
hoa sen báu, ứng-hiện trong các cõi-nước như số vi-trần.
Thập phương Như-lai ngậm chú-tâm nầy, nơi cõi-nước như
số vi-trần, xoay bánh xe Pháp lớn. Thập phương Như-lai giữ
chú-tâm nầy, có thể nơi mười phương xoa đỉnh thụ-ký,
tự mình quả-vị chưa thành, cũng có thể nơi mười phương
nhờ chư Phật thụ-ký. Thập phương Như-lai nương chú-tâm
nầy, có thể nơi mười phương cứu-vớt các khổ như địa-ngục,
ngạ-quỷ, súc-sinh, đui, điếc, ngọng, câm; các khổ oán-tăng-hội,
ái-biệt-ly, cầu-bất-đắc, ngũ-ấm-xí-thịnh; những tai-nạn
lớn nhỏ đồng-thời được giải-thoát; nạn giặc, nạn
binh, nạn vua, nạn ngục, nạn gió, lửa, nước, cho đến đói-khát
bần-cùng, liền được tiêu-tan. Thập phương Như-lai theo chú-tâm
nầy, có thể nơi mười phương, phụng-sự thiện-tri-thức,
trong bốn uy-nghi, cúng-dường được như-ý; trong Pháp-hội
hằng-sa Như-lai, được suy-tôn là vị Đại-pháp-vương-tử.
Thập phương Như-lai dùng chú-tâm nầy, có thể nơi mười
phương, nhiếp-thụ các nhân-thân, khiến cho các hàng Tiểu-thừa
nghe tạng bí-mật, không sinh lòng kinh-sợ. Thập phương Như-lai
tụng chú-tâm nầy, thành-đạo Vô-thượng-giác, ngồi dưới
cây Bồ-đề, vào Đại-niết-bàn. Thập phương Như-lai truyền
chú-tâm nầy, sau khi diệt-độ rồi, phó-chúc Pháp-sự của
Phật, được trụ-trì rốt-ráo; giới-luật nghiêm-tịnh, thảy
đều trong-sạch."
ĐOẠN
IV
KHAI-THỊ
CHÚ-TÂM, NÓI RỘNG KHÔNG HẾT
"Nếu
tôi nói chú "Phật-đỉnh-quang-tụ bát-đát-ra" nầy, từ sáng
đến tối, các tiếng nối nhau, trong đó những chữ, những
câu cũng không trùng-điệp, trải qua kiếp-số như cát sông
Hằng, rốt-cuộc không thể hết được. Chú nầy cũng gọi
tên là Như-lai-đỉnh."
ĐOẠN
V
KHAI-THỊ
SỨC CỦA THẦN-CHÚ THÀNH-TỰU ĐƯỢC THẾ-GIAN VÀ XUẤT-THẾ-GIAN,
THÊM TRÍ-TUỆ, TIÊU NGHIỆP-CHƯỚNG
"Hàng
hữu-học các ông chưa hết luân-hồi, phát-lòng chí-thành
tu chứng quả A-la-hán, nếu không trì-chú nầy, khi ngồi đạo-trường,
mà khiến thân tâm xa-rời được các ma-sự, thì không thể
được.
A-nan,
nếu trong các thế-giới, có những chúng-sinh, tùy cõi-nước
mình sinh ra, nào vỏ cây hóa, nào lá cây bối, nào giấy trắng,
nào bạch-diệp, dùng để viết-chép chú nầy, đựng trong
túi thơm; nếu người đó tối-tăm chưa tụng, chưa nhớ được,
mà hoặc đeo trên mình, hoặc viết trong nhà ở, thì nên biết
người ấy, trọn đời tất-cả các thứ độc không thể
hại được.
A-nan,
nay tôi vì ông tuyên lại chú nầy, cứu-giúp trong thế gian
được đại-vô-úy và thành-tựu trí xuất-thế-gian cho chúng-sinh.
Nếu
sau khi tôi diệt-độ rồi; chúng-sinh trong đời mạt-pháp,
có người biết tự mình tụng, hoặc dạy người khác tụng-chú
nầy, nên biết những chúng-sinh trì-tụng như vậy, lửa không
đốt được, nước không đắm được, độc lớn, độc nhỏ
không thể hại được, cho đến các hàng thiên, long, quỷ,
thần, tinh, kỳ, ma, mị, có những chú-dữ, đều không làm
gì được. Tâm người ấy được chính-thụ; tất-cả chú-trớ,
yểm-cổ, thuốc-độc, kim-độc, ngân-độc và độc-khí muôn
vật như cỏ, cây, sâu, rắn, vào miệng người ấy đều thành
vị cam-lộ. Tất-cả ác-tinh với các quỷ-thần, lòng dữ
hại người, đối với người ấy, cũng không thể khởi ra
ác-niệm; Tần-na, Dạ-ca và các quỷ-vương dữ khác, cùng
với quyến-thuộc, đều lĩnh-ơn sâu, thường gìn-giữ ủng-hộ.
A-nan,
nên biết chú nầy, thường có 84.000 na-do-tha hằng-hà-sa câu-chi
chủng-tộc Kim-cương-tạng-vương Bồ-tát, mỗi mỗi đều
có những chúng Kim-cương làm quyến-thuộc, ngày đêm theo hầu.
Giả-sử có chúng-sinh, với tâm tán-loạn, chứ không phải
Tam-ma-đề, tâm nhớ niệm-trì chú nầy; thì các Kim-cương-vương
đó, cũng thường theo bên thiện-nam-tử kia, huống nữa, là
những người có tâm Bồ-đề quyết-định; đối với những
người nầy, các vị Kim-cương-tạng-vương Bồ-tát đó, dùng
tịnh-tâm thầm xúc-tiến, phát-huy thần-thức; người ấy
liền khi đó, tâm nhớ lại được 84.000 hằng-ha-sa kiếp,
rõ-biết cùng khắp, được không nghi-hoặc. Từ kiếp thứ
nhất cho đến thân cuối-cùng, đời đời người ấy không
sinh vào các loài dược-xoa, la-sát, phú-đan-na, ca-tra-phú-đan-na,
cưu-bàn-trà, tỳ-xá-già, vân vân..., cùng các loài ngạ-quỷ,
có hình, không hình, có tưởng, không tưởng và những chỗ
dữ như thế. Thiện-nam-tử đó, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc
viết, hoặc chép, hoặc đeo, hoặc giữ, hoặc cúng-dường
nhiều cách chú nầy, thì kiếp kiếp không sinh vào những nơi
bần-cùng hạ-tiện, không thể ưa-thích.
Các
chúng-sinh đó, dù cho chính mình không làm việc phúc, thập
phương Như-lai có các công-đức đều cho họ hết, do đó,
họ được trong những kiếp hằng-sa vô-số, không thể nói,
không thể nói hết, thường cùng chư Phật đồng sinh một
chỗ; vô-lượng công-đức nhóm-lại như trái ác-xoa, đồng
một chỗ huân-tu, hằng không phân-tán. Vậy nên, có thể khiến
người phá giới, mà giới-căn cũng được thanh-tịnh; người
chưa được giới, khiến cho được giới; người chưa tinh-tiến,
khiến cho tinh-tiến; người không trí-tuệ, khiến được trí-tuệ;
người không thanh-tịnh, mau được thanh-tịnh; người không
giữ trai-giới, tự thành có trai-giới. A-nan, thiện-nam-tử
ấy, khi trì-chú nầy, giả-sử có phạm cấm-giới khi chưa
thụ-trì, thì sau khi trì-chú, các tội phá giới, không luận
nặng nhẹ, một thời, đều tiêu-diệt, dù đã uống rượu,
ăn thứ ngũ tân và các thứ không sạch, tất-cả chư Phật,
Bồ-tát, Kim-cương, Thiên-tiên, Quỷ-thần không cho là có lỗi;
dù mặc y-phục rách-nát không sạch, thì một cái đi, một
cái đứng, thảy đồng như thanh-tịnh; dù không lập đàn,
không vào đạo-trường, cũng không hành-đạo mà tụng-trì
chú nầy, thì công-đức cũng như vào đàn, hành-đạo, không
có khác vậy; dù gây những tội nặng ngũ-nghịch, vô-gián
và phạm những tội tứ-khí, bát-khí của tỷ-khưu và tỷ-khưu-ni,
thì khi tụng-chú nầy rồi, cũng như gió mạnh thổi-tan đống
cát, những nghiệp nặng như vậy, đều diệt-trừ hết, không
còn chút mảy-may. A-nan, nếu có chúng-sinh, từ vô-lượng vô-số
kiếp đến nay, có tất-cả những tội-chướng nhẹ, nặng
mà trong các đời trước, chưa kịp sám-hối, nếu biết đọc,
tụng, viết, chép chú nầy, giữ đeo trên thân mình hay để
nơi chỗ ở, như trang, trạch, viên, quán, thì những nghiệp
chứa-nhóm từ trước như vậy, đều tiêu-tan như nước sôi
tiêu tuyết, chẳng bao lâu, đều ngộ được vô-sinh-nhẫn.
ĐOẠN
VI
KHAI-THỊ
TRÌ-CHÚ THÌ ĐƯỢC MÃN-NGUYỆN VÀ ĐƯỢC SINH VÀO NƠI TỐT
"Lại
nữa, A-nan, nếu có người đàn-bà chưa sinh con trai, con gái,
mong-cầu có thai, mà biết chí-tâm nhớ niệm-chú, hoặc ở
trên mình đeo chú Tất-đát-đa-bát-đát-ra nầy, thì liền
sinh những con trai, con gái có phúc-đức trí-tuệ; người cầu
sống lâu, thì được sống lâu, người cầu quả-báo mau được
viên-mãn, thì mau được viên-mãn, cho đến về thân-mệnh,
sắc-lực, thì cũng được viên-mãn như vậy; sau khi mệnh-chung,
tùy nguyện được vãng-sinh trong thập phương quốc-độ, chắc-chắn
không sinh nơi biên-địa hạ-tiện, huống nữa là các tạp-hình.
ĐOẠN
VII
KHAI-THỊ
SỨC CHÚ CÓ THỂ TIÊU QUỐC-NẠN, DÂN-TAI
"A-nan,
nếu các cõi-nước, các châu, các huyện, các làng-xóm bị
nạn đói-kém, dịch-lệ, hoặc ở những nơi có đao-binh, tặc-nạn,
đánh nhau, cãi nhau và tất-cả những nơi có ách-nạn khác,
viết thần-chú nầy, để trên bốn cửa thành, cùng các tháp
hay trên các thoát-xà và khiến chúng-sinh hiện có trong cõi-nước,
kính-rước chú nầy, lễ-bái cung-kính nhất-tâm cúng-dường,
khiến trong nhân-dân, mỗi mỗi người đeo chú trong mình, hoặc
để nơi chỗ ở, thì tất-cả tai-ách thảy đều tiêu-diệt.
A-nan, chúng-sinh trong cõi-nước, chỗ nào, chỗ nào có được
chú nầy, thì thiên-long vui-mừng, mưa-gió thuận-thời, ngũ-cốc
được mùa, dân-chúng an-vui; lại có thể trấn được tất-cả
ác-tinh, nó tùy nơi, biến ra những điều quái-dị; tai-chướng
không khởi lên, người không hoạnh-tử, chết-yểu, gông-cùm,
xiềng-xích không dính vào mình, ngày đêm ngủ yên, thường
không ác-mộng. A-nan, cõi Sa-bà nầy có 84.000 ác-tinh tai-biến,
28 đại-ác-tinh làm thượng-thủ, lại có 8 đại-ác-tinh làm
chủ, xuất-hiện trên đời với nhiều hình-trạng, có thể
sinh ra các tai-nạn dị-kỳ cho chúng-sinh; chỗ nào có chú này,
thì tất-cả đều tiêu-diệt, lấy 12 do-tuần làm vòng kết-giới,
các tai-biến hung-dữ, hẳn không thể vào được.
ĐOẠN
VIII
BẢO-HỘ
HÀNG SƠ-TÂM RỜI MA-CHƯỚNG, CHÓNG KHAI-NGỘ
"Vậy
nên Như-lai tuyên-dạy chú nầy, bảo-hộ cho những người
tu-hành sơ-học, trong đời vị-lai, vào Tam-ma-đề, thân tâm
thư-thái, được đại-an-ẩn, không còn tất-cả các ma, quỷ-thần,
và những oan-khiên đời trước, nghiệp cũ, nợ xưa, từ vô-thủy
tới nay, đến khuấy-hại nhau. Ông với những người hữu-học
trong chúng và những kẻ tu-hành đời vị-lai, y như lời-dạy
của tôi mà lập đàn-trường, đúng theo pháp mà trì-giới,
gặp được tăng-chúng thanh-tịnh chủ-trì việc thụ-giới,
đối với chú-tâm nầy, không sinh lòng nghi-hối; những thiện-nam-tử
như thế, chính nơi cái thân cha mẹ sinh ra, mà không được
tâm-thông, thì thập phương Như-lai bèn là vọng-ngữ".
ĐOẠN
IX
KIM-CƯƠNG
THIỆN-THẦN TRONG HỘI PHÁT-NGUYỆN BẢO-HỘ RỘNG-RÃI
Phật
dạy lời ấy rồi, vô-lượng trăm ngàn Kim-cương trong Hội,
một thời đứng trước Phật, chấp tay đỉnh-lễ mà bạch
Phật rằng: "Như lời Phật dạy, chúng tôi phải thành tâm
bảo-hộ những người tu-đạo Bồ-đề như vậy".
Khi
bấy giờ, Phạm-vương và Thiên-đế-thích, Tứ-thiên đại-vương
cũng ở trước Phật, đồng-thời đỉnh-lễ mà bạch Phật
rằng: "Xét có người lành tu-học như vậy, chúng tôi phải
hết lòng chí-thành bảo-hộ, khiến cho trong một đời, tu-hành
được như nguyện".
Lại
có, vô-lượng Đại-tướng-dược-xoa, các vua La-sát, vua Phú-đan-na,
vua Cưu-bàn-trà, vua Tỳ-xá-già, các Đại-quỷ-vương như Tần-na,
Dạ-ca, và các Quỷ-xoái, cũng ở trước Phật, chất tay đỉnh-lễ
mà bạch Phật rằng: "Chúng tôi cũng thệ-nguyện hộ-trì cho
người đó, khiến cho tâm Bồ-đề mau được viên-mãn".
Lại
có, không lường Nhật, Nguyệt thiên-tử, Phong-sư, Vũ-sư,
Vân-sư, Lôi-sư cùng với Điện-bá và các Niên-tuế-tuần-quan,
chư tinh và quyến-thuộc, vân vân..., cùng ở trong Hội, đỉnh-lễ
chân Phật mà bạch Phật rằng: "Chúng tôi bảo-hộ người
tu-hành ấy, lập ra đạo-trường, được không e-sợ".
Lại
có, vô-lượng Sơn-thần, Hải-thần, tất-cả tinh-kỳ, đất-đai
muôn vật, thủy, lục, không, hành, với Phong-thần-vương và
Chư-thiên Vô-sắc-giới, ở trước Như-lai, đồng-thời cúi
đầu bạch Phật rằng: "Chúng tôi cũng bảo-hộ người tu-hành
ấy, được thành Bồ-đề, hẳn không ma-sự".
Khi
bấy giờ, 84.000 na-do-tha hằng-hà-sa Câu-chi Kim-cương-tạng-vương
Bồ-tát, ở trong đại Hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
đỉnh-lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: "Thế-tôn, như
bọn chúng tôi, công-nghiệp tu-hành, đã thành đạo Bồ-đề
lâu rồi, mà không nhận-lấy Niết-bàn, thường theo chú nầy,
cứu-giúp những người chân-chính tu-hành pháp Tam-ma-đề trong
đời mạt-pháp. Bạch Thế-tôn, những người tu-tâm vào chính
định như thế, dù ở đạo-trường, hay là những lúc kinh-hành,
cho đến khi tán-tâm đi chơi trong làng-xóm, đồ-chúng chúng
tôi thường phải đi theo thị-vệ người ấy, dù cho Ma-vương,
Đại-tự-tại-thiên muốn được phương-tiện khuấy-phá,
cũng không thể được; các quỷ-thần nhỏ, phải cách xa người
lành ấy, ngoài 10 do-tuần, trừ khi, họ phát-tâm thích người
tu-thiền. Bạch Thế-tôn, những ác-ma như thế, hay quyến-thuộc
của ma, muốn đến xâm-lấn khuấy-phá người lành ấy, chúng
tôi dùng bảo-xứ đập-nát cái đầu như vi-trần, thường
khiến cho người ấy tu-hành được như nguyện."
MỤC
VI
KHAI-THỊ
NHỮNG VỊ-TRÍ TU-CHỨNG TRƯỚC SAU
ĐOẠN
I
ÔNG
A-NAN XIN KHAI-THỊ VỀ NHỮNG DANH-MỤC THỨ-BẬC TU-HÀNH
Ông
A-nan, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đỉnh-lễ nơi chân Phật
mà bạch Phật rằng: "Chúng tôi ngu-độn, ưa tuệ đa-văn,
đối với các tâm hữu-lậu, chưa cầu thoát-ly, nhờ Phật
từ-bi dạy-bảo được lối huân-tu chân-chính, thân tâm khoan-khoái,
được lợi-ích lớn. Bạch Thế-tôn, những người tu-chứng
pháp Tam-ma-đề của Phật như thế, chưa đến Niết-bàn, thì
thế nào gọi là Can-tuệ-địa, trong 44 tâm, đến thứ-bậc
nào, mới được danh-mục tu-hành, đến phương-sở nào, mới
gọi là nhập-địa, thế nào, gọi là Đảng-giác Bồ-tát?"
Nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, trong đại-chúng
đều nhất-tâm, chăm-chỉ mong-đợi từ-âm của Phật.
ĐOẠN
II
KHEN-NGỢI
VÀ HỨA SẼ CHỈ TRƯỚC CHO
Khi
bấy giờ, đức Thế-tôn khen ông A-nan rằng: "Hay thay! Hay thay!
Các ông lại biết, vì cả đại-chúng và hết thảy chúng-sinh
tu Tam-ma-đề, cầu pháp Đại-thừa trong đời mạt-pháp, xin
tôi chỉ trước đường tu-hành vô-thượng chân-chính từ
phàm-phu đến Đại-niết-bàn; nay ông hãy nghe cho chín, tôi
sẽ vì ông mà nói".
Ông
A-nan và đại-chúng chấp tay sạch lòng, yên-lặng thụ-giáo.
ĐOẠN
III
KHAI-THỊ
HAI CÁI NHÂN ĐIÊN-ĐẢO
Phật
dạy: "A-nan, nên biết diệu-tính là viên-minh, rời các danh-tướng,
bản-lai không có thế-giới chúng-sinh. Nhân cái vọng mà có
sinh, nhân cái sinh mà có diệt, sinh-diệt gọi là vọng, diệt
vọng gọi là chân, ấy gọi là hai hiệu chuyển-y vô-thượng
Bồ-đề và Đại-niết-bàn của Như-lai.
A-nan,
nay ông muốn tu pháp Chân-tam-ma-đề, đến thẳng Đại-niết-bàn
của Như-lai, trước hết, phải biết hai cái nhân điên-đảo
của thế-giới và chúng-sinh nầy; điên-đảo không sinh, đó
là Chân-tam-ma-đề của Như-lai.
A-nan,
thế nào gọi là điên-đảo về chúng-sinh? Do cái tâm bản-tính
là minh và tính-minh ấy viên-mãn cùng khắp, nên nhân tính-minh
phát ra hình-như có tính; mà vọng-kiến nhận là có tính sinh
ra, từ chỗ rốt-ráo là không, lại thành rốt-ráo là có.
Có cái sở-hữu như thế, là do phi-nhân làm nhân và những
tướng năng-trụ, sở-trụ rốt-ráo không có cỗi-gốc. Rồi
gốc nơi cái vô-trụ đó, mà kiến-lập ra thế-giới và các
chúng-sinh.
Vì
mê, không nhận được tính viên-minh sẵn có, nên sinh ra hư-vọng,
tính hư-vọng không có tự-thể, không phải thật có chỗ
nương-đứng. Hầu muốn trở lại chân-tính, thì cái muốn
chân đó, đã không phải là tính chân-như chân-thật. Cầu
trở lại không đúng chân-lý, thì hiện-thành ra những phi-tướng:
không phải sinh gọi rằng sinh, không phải trụ gọi rằng
trụ, không phải tâm gọi rằng tâm, không phải pháp gọi
rằng pháp.
Xoay-vần
phát-sinh và sinh-lực phát-huy, huân-tập thành ra nghiệp-báo;
đồng-nghiệp thì cảm với nhau, nhân đó, lại cảm ra các
nghiệp diệt nhau, sinh nhau, do đó, mới có điên-đảo về
chúng-sinh.
A-nan,
thế nào gọi là điên-đảo về thế-giới? Do có cái sở-hữu
đó, nên từng phần, từng đoạn giả-dối sinh ra, vì thế,
mà không-gian thành-lập; do phi-nhân làm nhân, không có năng-trụ,
sở-trụ, nên dời-đổi mãi, không có năng-trụ, sở-trụ,
nên dời-đổi mãi, không an-trụ, vì thế, mà thời-gian thành-lập.
Ba đời bốn phương, hòa-hợp can-thiệp cùng nhau, chúng-sinh
biến-hóa thành 12 loài. Vậy nên trong thế-giới, nhân động
có tiếng, nhân tiếng có sắc, nhân sắc có hương, nhân hương
có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị biết pháp, sáu vọng-tưởng
càn-loạn thành ra nghiệp-tính, do đó, 12 cách đối-hiện xoay-vần
mãi mãi. Vậy nên trong thế-gian, những thanh, hương, vị, xúc
biến-đổi cùng-tột, đến 12 lần xoay trở lại.
Dựa
trên những tướng điên-đảo, xoay-vần đó, nên trong thế-giới
có những loài noãn-sinh, thai-sinh, thấp-sinh, hóa-sinh, hữu-sắc,
vô-sắc, hữu-tưởng, vô-tưởng, hoặc phi-hữu-sắc, hoặc
phi-vô-sắc, hoặc phi-hữu-tưởng, hoặc phi-vô-tưởng.
A-nan,
nhân trong thế-giới có hư-vọng luân-hồi, điên-đảo về
động, nên hòa-hợp với khí, thành ra 84.000 loạn-tưởng bay-lặn,
vì vậy, nên có mầm-trứng trôi-lăn trong cõi-nước; cá, chim,
rùa, rắn, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có tạp-nhiễm luân-hồi, điên-đảo về dục,
nên hòa-hợp với tư, thành ra 84.000 loạn-tưởng ngang dọc;
vì vậy, nên có bọc-thai trôi-lăn trong cõi-nước; người,
súc, rồng, tiên, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có chấp-trước luân hồi, điên-đảo về
thú, nên hòa-hợp với noãn, thành ra 84.000 loạn-tưởng nghiêng-ngửa
vì vậy, nên có tế-thi thấp-sinh trôi-lăn trong cõi-nước;
nhung-nhúc, quậy-động, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có biến-dịch luân-hồi, điên-đảo về giả,
nên hòa-hợp với xúc, thành ra 84.000 loạn-tưởng mới cũ;
vì vậy, nên có yết-nam hóa-sinh trôi-lăn trong cõi-nước;
chuyển-thoái, phi-hành, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có lưu-ngại luân-hồi, điên-đảo về chướng,
nên hòa-hợp với trước, thành ra 84.000 loạn-tưởng tinh-diệu;
vì vậy, nên có yết-nam sắc-tướng trôi-lăn trong cõi-nước;
hưu-cửu, tinh-minh, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có tiêu-tán luân-hồi, điên-đảo về hoặc,
nên hòa-hợp với ám, thành ra 84.000 loạn-tưởng thầm-ẩn,
vì vậy, nên có yết-nam vô-sắc trôi-lăn trong cõi nước;
không tán tiêu trầm, các loại đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có võng-tượng luân-hồi, điên-đảo về ảnh,
nên hòa-hợp với ức, thành ra 84.000 loạn-tưởng tiềm-kết;
vì vậy, nên có yết-nam hữu-tưởng trôi-lăn trong cõi-nước;
thần-quỷ tinh-linh, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có ngu-độn luân-hồi, điên-đảo về si, nên
hòa-hợp với ngoan, thành ra 84.000 loạn-tưởng khô-cảo; vì
vậy, nên có yết-nam vô-tưởng trôi-lăn trong cõi-nước; tinh-thần
hóa làm đất, cây, vàng, đá, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có tương-đãi luân-hồi, điên-đảo về ngụy,
nên hòa-hợp với nhiễm, thành ra 84.000 loạn-tưởng nhân-y;
vì vậy, nên có yết-nam, không phải có sắc mà có sắc, trôi-lăn
trong cõi-nước; những giống thủy-mẫu, dùng tôm làm mắt,
các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có tương-đẫn luân-hồi, điên-đảo về tính,
nên hòa-hợp với chú, thành ra 84.000 loạn-tưởng hô-triệu;
vì vậy, nên có yết-nam, không phải vô-sắc mà vô-sắc, trôi-lăn
trong cõi-nước, chú-trớ, yếm-sinh, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có hợp-vọng luân-hồi, điên-đảo về võng,
nên hòa-hợp với dị, thành ra 84.000 loạn-tưởng hồi-hỗ;
vì vậy, nên có yết-nam, không phải có tưởng mà có tưởng,
trôi-lăn trong cõi-nước; những giống tò-vò, mượn chất
khác thành cái thân của mình, các loài đầy-nhẩy.
Nhân
trong thế-giới có oán-hại luân-hồi, điên-đảo về sát,
nên hòa-hợp với quái, thành ra 84.000 tư-tưởng ăn thịt cha-mẹ;
vì vậy, nên có yết-nam, không phải vô-tưởng mà vô-tưởng,
trôi-lăn trong cõi-nước; như con thổ-kiêu, ấp khối đất
làm con, và chim phá-kính; ấp quả cây-độc làm con, con lớn
lên, thì cha mẹ đều bị chúng ăn thịt, các loài đầy-nhẩy.
Ấy
gọi là mười hai chủng-loại chúng-sinh.
WP:
Chơn Hạnh
Kinh
Sách Liên Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Giảng
Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, Thiền Sư Nhẫn Tế
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu