KINH
THỦ-LĂNG-NGHIÊM
QUYỂN
SÁU
ĐOẠN
XXVII
VIÊN-THÔNG
VỀ NHĨ-CĂN
Chi
1. - Thuật lại chỗ tu-chứng.
Khi
bấy-giờ, ngài Quán-thế-âm Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: "Thưa
Thế-tôn, tôi nhớ vô-số hằng-sa kiếp về trước, có đức
Phật ra đời, hiệu là Quán-thế-âm; từ đức Phật kia, tôi
phát-tâm Bồ-đề. Đức Phật kia dạy tôi, do nghe, nghĩ và
tu, mà vào Tam-ma-đề.
Ban
đầu, ở trong tính-nghe, vào được dòng viên-thông, không
còn tướng sở-văn nữa. Trần-tướng đã vẳng-lặng, hai
tướng động, tĩnh rõ thật không sinh. Như vậy thêm lần,
các tướng năng-văn, sở-văn đều hết. Không dừng lại nơi
chỗ dứt hết năng-văn, sở-văn mà tiến lên nữa, thì năng-giác,
sở-giác, đều không. Không-giác tột bậc viên-mãn, các tướng
năng-không, sở-không đều diệt. Sinh-diệt đã diệt, thì
bản-tính tịch-diệt hiện-tiền. Bỗng nhiên, vượt ngoài
thế-gian và xuất thế-gian, sáng-suốt cùng khắp mười phương,
được hai cái thù-thắng: Một là, trên hợp với bản-giác-diệu-tâm
thập phương chư Phật, cùng với chư Phật Như-lai đồng một
từ-lực; hai là, dưới hợp với tất-cả chúng-sinh lục-đạo
mười phương, cùng với các chúng-sinh đồng một bi-ngưỡng.
Chi
2. - Do từ-lực, hiện ra 32 ứng-thân
Bạch
Thế-tôn, do tôi cúng-dường đức Quán-âm Như-lai, nhờ Ngài
truyền-thụ cho tôi Như-huyễn Văn-huân Văn-tu Kim-cương-tam-muội,
được cùng chư Phật đồng một từ-lực, nên làm cho thân
tôi thành-tựu 32 ứng-thân vào các cõi-nước.
Bạch
Thế-tôn, nếu các vị Bồ-tát vào Tam-ma-đề, tiến-tu pháp
vô-lậu, thắng-giải hiện đã viên-mãn, tôi hiện ra thân
Phật, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được giải-thoát.
Nếu
các hàng hữu-học tu phép Diệu-minh vẳng-lặng, chỗ thắng-diệu
đã viên-mãn. Tôi ở trước người kia, hiện ra thân Độc-giác,
vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được giải-thoát.
Nếu
các hàng hữu-học đoạn 12 Nhân-duyên; do các nhân-duyên đã
đoạn mà phát ra thắng-tính và thắng-tính đó hiện đã viên-mãn,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân Duyên-giác, vì họ
mà thuyết-pháp khiến cho được giải-thoát.
Nếu
các hàng hữu-học được phép-không của Tứ-đế, tu đạo-đế
vào diệt-đế, thắng-tính hiện viên-mãn, tôi ở trước người
kia, hiện ra thân Thanh-văn, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho
được giải-thoát.
Nếu
chúng-sinh muốn tâm được tỏ-ngộ, không phạm vào cảnh
ngũ-dục và muốn cho thân được thanh-tịnh, tôi ở trước
người kia, hiện ra thân Phạm-vương, vì họ mà thuyết-pháp,
khiến cho được giải-thoát.
Nếu
các chúng-sinh muốn làm Thiên-chúa, thống-lĩnh chư thiên, tôi
ở trước người kia, hiện ra thân Đế-thích, vì họ mà thuyết-pháp,
khiến cho được thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh muốn thân được tự-tại, đi khắp mười phương,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tự-tại-thiên, vì
họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh muốn thân được tự-tại, bay đi trên hư-không,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân Đại-tự-tại-thiên,
vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh muốn thống-lĩnh quỷ-thần, cứu-giúp cõi-nước,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân Thiên-đại-tướng-quân,
vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh muống sinh nơi thiên-cung, sai khiến quỷ-thần,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân Thái-tử, con của Tứ-thiên-vương,
vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh muốn làm vua cõi người, tôi ở trước người
kia, hiện ra thân Vua, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được
thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh muốn làm chủ gia-đình danh-tiếng, thế-gian
kính-nhường, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Trưởng-giả
vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh thích đàm-luận những lời hay, giữ mình trong-sạch,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân Cư-sĩ, vì họ mà thuyết-pháp,
khiến cho được thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh muốn trị cõi-nước, chia-đoán các bang, các
ấp, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tể-quan, vì họ
mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
các chúng-sinh thích các số-thuật, tự-mình nhiếp-tâm giữ
thân, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Bà-la-môn, vì
họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
có người con trai muốn học phép xuất-gia, giữ các giới-luật,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tỷ-khưu, vì họ mà
thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
có người con gái muốn học phép xuất-gia, giữ các cấm-giới,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân Tỷ-khưu-ni, vì họ
mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
có người con trai thích giữ ngũ-giới, tôi ở trước người
kia, hiện ra thân Ưu-bà-tắc, vì họ mà thuyết-pháp, khiến
cho được thành-tựu.
Nếu
có người con gái tự giữ ngũ-giới, tôi ở trước người
kia, hiện ra thân Ưu-bà-di, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho
được thành-tựu.
Nếu
có người con gái lập-thân trong nội-chính, để tu-sửa nhà
nước, tôi ở trước người kia, hiện ra thân Nữ-chúa hay
thân Quốc-phu-nhân, mệnh-phụ, đại-gia, vì họ mà thuyết-pháp,
khiến cho được thành-tựu.
Nếu
có chúng-sinh không phá nam-căn, tôi ở trước người kia, hiện
ra thân đồng-nam, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được
thành-tựu.
Nếu
có người xử-nữ, thích thân xử-nữ, không cầu sự xâm-bạo,
tôi ở trước người kia, hiện ra thân đồng-nữ, vì họ
mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
có chư-thiên muốn ra khỏi loài trời, tôi hiện ra thân chư-thiên,
vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
có các con rồng muốn ra khỏi loài rồng, tôi hiện ra thân
rồng, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được thành-tựu.
Nếu
có dược-xoa muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ,
hiện ra thân dược-xoa, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được
thành-tựu.
Nếu
có càn-thát-bà muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước
họ, hiện ra thân càn-thát-bà, vì họ mà thuyết-pháp, khiến
cho được thành-tựu.
Nếu
có a-tu-la, muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ,
hiện ra thân a-tu-la, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được
thành-tựu.
Nếu
có khẩn-na-la muốn thoát khỏi loài mình, tôi ở trước họ,
hiện ra thân khẩn-na-la, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho
được thành-tựu.
Nếu
có ma-hô-la-già muốn thoát khỏi loài mình; tôi ở trước
họ, hiện ra thân ma-hô-la-già, vì họ mà thuyết-pháp, khiến
cho được thành-tựu.
Nếu
có chúng-sinh thích làm người, tu cho được thân người, tôi
hiện ra thân người, vì họ mà thuyết-pháp, khiến cho được
thành-tựu.
Nếu
có loài phi-nhân, hoặc có hình, hoặc không hình, hoặc có
tưởng, hoặc không tưởng, muốn thoát khỏi loài mình, tôi
ở trước họ, hiện ra thân như họ, vì họ mà thuyết-pháp,
khiến cho được thành-tựu.
Ấy
gọi là 32 ứng-thân diệu-tịnh, vào các cõi-nước. Những
thân ấy đều do vô-tác-diệu-lực của Văn-huân Văn-tu Tam-muội,
mà tự-tại thành tựu.
Chi
3. - Do bi-ngưỡng, bố-thí 14 công-đức vô-úy.
"Bạch
Thế-tôn, do tôi lại dùng vô-tác-diệu-lực của Văn-huân
Văn-tu Kim-cương-tam-muội ấy, cùng với tất-cả lục-đạo
chúng-sinh trong mười phương ba đời, đồng một lòng bi-ngưỡng,
nên khiến các chúng-sinh, nơi thân-tâm tôi, được 14 thứ
công-đức vô-úy:
Một,
là do tôi không tự quán cái tiếng, mà quán cái tâm năng-quán,
nên khiến cho chúng-sinh khổ-não thập phương kia, quán cái
âm-thanh, thì liền được giải-thoát.
Hai,
là tri-kiến đã xoay trở lại, khiến cho các chúng-sinh, dầu
vào đống lửa, lửa không thể đốt được.
Ba,
là quán cái nghe đã xoay trở lại, khiến cho các chúng-sinh
bị nước lớn cuốn đi, mà không chết-đuối.
Bốn,
là diệt hết vọng-tưởng, tâm không sát-hại, khiến các
chúng-sinh vào những nước quỷ, quỷ không thể hại được.
Năm,
là huân-tập và thành-tựu được tính-nghe, cả sáu căn đều
tiêu về bản-tính, đồng như cái nghe, cái tiếng, có thể
khiến cho chúng-sinh, lúc đương bị hại, dao gãy từng đoạn,
khiến cho các binh-khí chạm vào thân người như cắt dòng
nước, như thổi ánh-sáng, bản-tính không hề lay-động.
Sáu,
là huân-tập tính-nghe sáng-suốt thấu khắp pháp-giới, thì
các tính tối-tăm không thể toàn được, có thể khiến cho
chúng-sinh, tuy các loài dược-xoa, la-sát, cưu-bàn-trà, tỳ-xá-già,
phú-dan-na, vân vân ... ở gần một bên, con mắt chúng vẫn
không thể thấy được.
Bảy,
là các tiếng đều viên-tiêu, thấy-nghe đã xoay vào tự-tính,
rời các trần-cảnh hư-vọng, có thể khiến cho các chúng-sinh,
những thứ cùm, dây, gông, xiềng không thể dính vào mình
được.
Tám,
là diệt tướng âm-thanh, viên-thông tính-nghe, phát-sinh từ-lực
cùng khắp, có thể khiến cho chúng-sinh đi qua đường hiểm,
giặc không cướp được.
Chín,
là huân-tập phát ra tính-nghe, rời các trần-tướng, sắc-dục
không lôi-kéo được, có thể khiến cho tất-cả chúng-sinh
đa-dâm, xa rời lòng tham-dục.
Mười,
là thuần một thật-tướng của âm-thanh, không còn gì là
tiền-trần, căn và cảnh điều viên-dung, không có năng, sở
đối-đãi, có thể khiến cho tất-cả chúng-sinh nóng-giận,
rời-bỏ lòng thù-ghét.
Mười
một, là tiêu-diệt trần-tướng, xoay về tính bản-minh, thì
pháp-giới, thân, tâm đều như ngọc lưu-ly, sáng-suốt không
ngăn-ngại, có thể khiến cho những kẻ ngu-ngốc u-mê, xa-rời
hẳn sự si-mê tối-tăm.
Mười
hai, là viên-dung các hình-tướng, xoay tính-nghe trở về đạo-trường
bất-động, hòa vào thế-gian mà không hủy-hoại thế-giới,
cúng-dường được chư Phật Như-lai như số vi-trần, cùng
khắp mười phương, ở bên mỗi mỗi đức Phật, làm vị
Pháp-vương-tử, có thể khiến cho trong pháp-giới, những chúng-sinh
không con, cầu có con trai, sinh ra đứa con trai có phúc-đức
trí-tuệ.
Mười
ba, là sáu căn viên-thông, soi-sáng không hai, trùm khắp thập
phương thế-giới, thành-lập đại-viên-kính Không-như-lai-tạng,
vâng-lĩnh pháp-môn bí-mật của thập-phương vi-trần Như-lai,
không có thiếu-sót, có thể khiến cho trong pháp-giới, những
chúng-sinh không con, cầu có con gái, sinh ra người con gái có
tướng-tốt, đoan-chính, phúc-đức, dịu-dàng, được mọi
người yêu-kính.
Mười
bốn, là trong tam-thiên đại-thiên thế-giới này, có trăm
ức mặt trời, mặt trăng, các Pháp-vương-tử hiện ở trong
thế-gian, số-lượng có đến 62 số cát sông Hằng, đều
tu Phật-pháp, nêu gương-mẫu, giáo-hóa chúng-sinh, tùy-thuận
chúng-sinh, phương-tiện trí-tuệ của mỗi mỗi vị không đồng
nhau. Do tôi được tính viên-thông, phát ra diệu-tính của
nhĩ-căn, cho đến thân-tâm nhiệm-mầu bao trùm khắp pháp-giới,
nên có thể khiến cho chúng-sinh chấp-trì danh-hiệu của tôi,
so với những người chấp-trì danh-hiệu của tất-cả các
vị Pháp-vương-tử số-lượng bằng 62 số cát sông Hằng
kia, phúc-đức hai bên thật bằng bậc, không sai khác.
Bạch
Thế-tôn, một danh-hiệu của tôi cùng với rất nhiều danh-hiệu
kia không khác, là do tôi tu-tập được tính viên-thông chân-thật.
Ấy gọi là 14 sức thí-vô-úy, đem phúc khắp cho chúng-sinh.
Chi
4. - Theo cơ-cảm hiện ra 4 diệu-đức không nghĩ-bàn.
"Bạch
Thế-tôn, do tôi đã được Đạo tu-chứng viên-thông vô-thượng
đó, nên lại khéo được 4 vô-tác-diệu-đức không nghĩ-bàn:
Một,
là do tôi chứng được tính-nghe chí-diệu, nơi tâm-tính không
còn có tướng năng-văn, các sự thấy, nghe, hay, biết không
còn cách-biệt và đều thành một bảo-giác viên-dung thanh-tịnh,
nên tôi có thể hiện ra rất nhiều hình-dung nhiệm-mầu, nói
ra vô-số thần-chú bí-mật. Trong đó, hoặc hiện ra một đầu,
3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, như thế cho đến
108 đầu, 1000 đầu, 10000 đầu, 84000 cái đầu, đầy-đủ
các tướng; hoặc hiện ra hai tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14, 16,
18, 20, 24, như thế cho đến 108 tay, 1000 tay, 10000 tay, 84000 cái
tay bắt-ấn; hoặc hiện ra hai mắt, 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt,
như thế cho đến 108 mắt, 1000 mắt, 10000 mắt, 84000 con mắt
báu thanh-tịnh; hoặc khi thì từ, hoặc khi thì oai, hoặc khi
thì định, hoặc khi thì tuệ, cứu-giúp chúng-sinh được rất
tự-tại.
Hai,
là do cái nghe, cái nghĩ của tôi, thoát ra ngoài sáu trần như
cái tiếng qua bức tường, không thể bị ngăn-ngại, cho nên
diệu-dụng của tôi có thể hiện mỗi mỗi hình, tụng mỗi
mỗi chú, hình đó, chú đó đều có thể đem sức vô-úy mà
bố-thí cho các chúng-sinh; vì thế, cõi nước thập phương
như vi-trần đều gọi tôi là vị Thí-vô-úy.
Ba,
là tôi tu-tập, phát ra căn-tính bản-diệu viên-thông thanh-tịnh,
nên đi qua thế-giới nào, đều khiến cho chúng-sinh xả-thân,
xả đồ trân-bảo, cầu tôi thương-xót.
Bốn,
là do tôi được tâm Phật, chứng đến chỗ rốt-ráo, nên
có thể đem các thứ quý-báu cúng-dường thập phương Như-lai,
cả đến chúng-sinh lục-đạo trong pháp-giới, ai cầu vợ
thì được vợ, cầu con thì được con, cầu Tam-muội thì
được Tam-muội, cầu sống lâu thì được sống lâu, như
thế, cho đến cầu Đại-niết-bàn thì được Đại-niết-bàn.
Chi
5. - Kết-luận về viên-thông nhĩ-căn.
"Phật
hỏi về viên-thông, tôi do văn-chiếu Tam-muội nơi nhĩ-căn
mà duyên-tâm được tự-tại; nhân tướng nhập-lưu, được
Tam-ma-đề, thành tựu quả Bồ-đề, đó là thứ nhất. Bạch
Thế-tôn, đức Phật Như-lai kia, khen tôi khéo được pháp-môn
viên-thông, ở trong Đại-hội, thụ-ký cho tôi cái hiệu là
Quan-thế-âm; do tôi thấy-nghe thấu-suốt mười phương, nên
danh-tiếng Quan-âm cùng khắp thập phương thế-giới".
MỤC
V
CHỈ-ĐÍCH
PHÉP VIÊN-TU
ĐOẠN
I
PHÓNG
HÀO-QUANG, HIỆN ĐIỀM-LÀNH
Khi
bấy giờ, đức Thế-tôn nơi sư-tử tọa, năm vóc đồng phóng
ra hào-quang báu, rọi xa trên đỉnh thập phương Như-lai số
như vi-trần và trên đỉnh các vị Pháp-vương-tử, các vị
Bồ-tát. Các đức Như-lai kia, năm vóc cũng đồng phóng ra
hào-quang báu, từ các thế-giới số như vi-trần đến rọi
trên đỉnh Phật và trên đỉnh các vị Đại-bồ-tát và A-la-hán
trong Hội; rừng cây, ao hồ đều diễn ra pháp-âm; hào-quang
giao-xen cùng nhau như lưới tơ báu. Cả trong đại-chúng được
cái chưa từng có; tất-cả đều được Kim-cương-tam-muội.
Liền khi ấy, trời mưa hoa sen bách-bảo màu xanh, màu vàng,
màu đỏ, màu trắng xen-lộn lẫn nhau, thập phương hư-không
hóa-thành sắc thất-bảo. Đất liền, núi sông của cõi Sa-bà
nầy cùng một lúc không hiện ra, chỉ thấy vi-trần quốc-độ
thập-phương hợp-thành một giới, tiếng hát ca-ngợi tự-nhiên
nổi lên.
ĐOẠN
II
PHẬT
BẢO NGÀI VĂN-THÙ LỰA-CHỌN CĂN VIÊN-THÔNG
Khi
bấy-giờ, đức Như-lai bảo Ngài Văn-thù-sư-lỵ Pháp-vương-tử
rằng: "Ông hãy xét trong 25 vị vô-học Đại-bồ-tát và A-la-hán,
mỗi mỗi đều trình-bày phương-tiện hành-đạo lúc đầu,
đều nói tu-tập tính viên-thông chân-thật; chỗ tu-hành của
các vị kia, thật không có hơn, kém, trước, sau gì khác nhau.
Nay tôi muốn khiến cho ông A-nan khai-ngộ, thì trong 25 phép
tu, phép nào hợp với căn-cơ của ông ấy; lại, sau khi tôi
diệt-độ rồi, chúng-sinh trong cõi nầy vào thừa Bồ-tát,
cầu đạo vô-thượng, thì do pháp-môn phương-tiện gì, được
dễ thành-tựu hơn?"
ĐOẠN
III
LỰA
RA NHỮNG CĂN KHÔNG PHẢI VIÊN
Chi
I. - Tán-thán tính-giác vốn diệu và chỉ rõ mê-vọng vốn
không.
Ngài
Văn-thù-sư-lỵ Pháp-vương-tử, vâng từ-chỉ của Phật, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ nơi chân Phật, dựa
vào uy-thần của Phật, nói bài kệ đáp lại:
"Bản-tính
biển Giác khắp đứng-lặng,
Tính
khắp đứng-lặng vốn nhiệm-mầu,
Bản-minh
chiếu ra hình-như sở,
Lập
tướng sở, bỏ mất bản-minh.
Do
mê-vọng, mà có hư-không,
Nương
hư-không, lập-thành thế-giới;
Tư-tưởng
chăm-chú thành cõi-nước,
Hay-biết
mọi việc, là chúng-sinh.
Hư-không
sinh ra trong đại-giác,
Như
một bọt-nước sinh trong bể;
Các
nước hữu-lậu, như vi-trần
Đều
nương hư-không, mà phát-sinh;
Bọt-nước
diệt, vốn không hư-không,
Huống
nữa là, hình-tướng ba cõi.
Chi
2. - Nêu rõ phương-tiện có mau chậm
"Bản-tính
xoay về, vốn không hai,
Phương-tiện
tu-chứng có nhiều cách,
Cách
nào cũng thông vào bản-tính,
Nói
thuận, nghịch, chỉ là phương-tiện;
Do
hàng sơ-tâm vào Tam-muội,
Bên
mau, bên chậm không đồng nhau.
Chi
3. - Lựa ra 6 trần
"Vọng-tưởng
kết-lại thành sắc-trần,
Hay-biết
không thể thông-suốt được;
Làm
sao, chính chỗ không thông-suốt,
Tu-hành,
lại được tính viên-thông?
Âm-thanh
xen-lộn với lời nói,
Chỉ
nương theo ý-vị danh-từ;
Nếu
một, không trùm được tất-cả,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Hương,
chỉ lúc hợp, mới rõ-biết,
Lúc
rời-cách, thì vốn không có;
Nếu
sở-giác, không được thường-xuyên,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Vị,
không phải bản-nhiên tự có,
Cần
phải nếm, mới biết có vị;
Nếu
giác-quan, không thường duy-nhất,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Xúc,
do các vật chạm mà biết,
Không
vật chạm, thì không thành xúc;
Khi
hợp, khi ly, không nhất-định,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Pháp,
cũng có tên là nội-trần,
Nương
theo trần, tất phải có sở;
Năng
sở, không viên-dung nhập một,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Chi
4. - Lựa-ra 5 căn
"Cái
thấy, tuy rỗng-suốt rất xa,
Nhưng
thấy trước, mà không thấy sau;
Bốn-bề,
còn thiếu mất một nửa,
Thì
làm sao, được tính viên-thông!
Mũi,
có thở ra và thở vào,
Chặng
giữa, hiện không có hơi-thở,
Nếu
không viên-dung sự cách-bức,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Ngoài
sở-nhập, tính-nếm không thành,
Nhân
các vị, mới có hay-biết;
Không
có vị, rốt-ráo không có,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Thân
biết-xúc với cảnh sở-xúc,
Đều
có hạn, không phải cùng khắp;
Nếu
không nhận tính không bờ-bến,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Ý-căn
xen với các loạn-tưởng,
Đứng-lặng,
rốt-cuộc không thấy gì;
Nếu
không thoát được các tưởng-niệm,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?"
Chi
5. - Lựa-ra 6 thức.
"Nhãn-thức,
phát-khởi nhờ căn trần,
Gạn-cùng,
vốn không có tự-tướng;
Cả
tự-thể, còn không nhất-định,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Tâm
nghe rỗng-thấu cả mười phương,
Là
do sức hoằng-thệ rộng-lớn;
Sơ-tâm,
không thể đến chỗ ấy
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Quán
đầu-mũi, vốn là duyên-cơ,
Chỉ
để nhiếp-tâm được an-trụ;
Nếu
cảnh-quán, lại thành sở-trụ,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Thuyết-pháp,
diệu-dụng các danh-từ;
Cốt
phải đã được khai-ngộ trước;
Nếu
lời nói, không phải vô-lậu,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Giữ
giới, chỉ câu-thúc cái thân,
Ngoài
cái thân, lấy gì câu-thúc;
Vốn
không phải cùng khắp tất-cả,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Thần-thông,
do túc-tập từ trước,
Nào
dính gì ý-thức phân-biệt;
Tưởng-niệm,
không thoát-ly sự-vật,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Chi
6. - Lựa-ra 7 đại
"Nếu
quán cái tính của địa-đại,
Thì
nó ngăn-ngại, không thông-suốt;
Pháp
hữu-vi, không phải chân-tính,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Nếu
quán cái tính của thủy-đại,
Quán-tưởng,
đâu phải là chân-thật,
Nếu
không đi đến Diệu-chân-như,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Nếu
quán hỏa-đại, trừ dâm-dục,
Chán
cái có, không phải thật ly;
Phương-tiện,
không hợp với sơ-tâm,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Nếu
quán cái tính của phong-đại,
Động,
tĩnh, đâu phải không đối-đãi;
Đối-đãi,
trái với vô-thượng-giác,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Nếu
quán cái tính của không-đại,
Hư-không
vô-tri, không hay-biết;
Không
biết, khác hẳn với Bồ-đề,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Nếu
quán cái tính của thức-đại,
Thức
sinh-diệt, đâu phải thường-trụ,
Để
tâm trong phân-biệt hư-vọng,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?
Tất-cả
các hành đều vô-thường,
Tưởng-niệm,
vốn trong vòng sinh diệt,
Nhân
và quả, khác nhau như thế,
Thì
làm sao, được tính viên-thông?"
ĐOẠN
IV
CHỌN-LẤY
CÁI CĂN VIÊN-THÔNG
Chi
I. - Hợp với giáo-thể cõi Sa-bà
"Tôi
nay xin bạch đức Thế-tôn,
Phật
ra đời trong cõi Sa-bà,
Trong
cõi nầy, lối dạy chân-thật,
Thanh-tịnh,
do chỗ nói và nghe;
Nay
muốn tu-chứngTam-ma-đề,
Thật
nên do cái nghe mà vào."
Chi
2. - Xưng-tán ngài Quán-thế-âm
"Rời
cái khổ và được giải-thoát,
Hay
thay cho ngài Quán-thế-âm;
Trong
kiếp số như cát sông Hằng,
Vào
cõi Phật như số vi-trần,
Được
sức tự-tại rất to-lớn,
Bố-thí
vô-úy cho chúng-sinh.
Ngài
Quán-thế-âm, tiếng nhiệm-mầu,
Tiếng
trong-sạch và tiếng hải-trào,
Cứu
đời, mọi việc được yên-lành,
Xuất-thế-gian,
được quả thường-trụ."
Chi
3. - Xưng-tán nhĩ-căn.
"Tôi
nay kính bạch đức Như-lai,
Như
lời ngài Quán-âm vừa nói:
Ví-như,
có người trong yên-lặng,
Chung-quanh
mười phương đều đánh trống,
Thì
đồng-thời nghe khắp mười nơi,
Như
thế, mới là viên-chân-thật.
Mắt
bị ngăn-che, không thấy được,
Thiệt-căn,
tỷ-căn cũng như vậy,
Thân-căn,
lúc hợp mới biết-xúc,
Ý-căn,
phân-vân không manh-mối;
Cách
tường, nhĩ-căn vẫn nghe tiếng,
Dầu
xa, dầu gần, đều nghe được;
Năm
căn so-sánh thật không bằng,
Như
thế, mới là thông-chân-thật.
Tính
thanh-trần, có động, có tĩnh,
Trong
tính-nghe thành có, thành không;
Khi
không tiếng, gọi là không nghe,
Đâu
phải thật không còn tính-nghe;
Không
tiếng, tính-nghe đã không diệt,
Có
tiếng, tính-nghe đâu phải sinh;
Trọn-rời
cả hai thứ sinh-diệt,
Như
thế, mới là thường-chân-thật.
Dầu
cho, trong lúc đương ngủ mê,
Không
vì không nghĩ, mà không nghe;
Tính-nghe
ra ngoài sự suy-nghĩ,
Thân,
ý không thể so bằng được.
Chi
4. - Chuyển mê thành ngộ
“Hiện
nay, trong cõi Sa-bà nầy,
Các
thứ thanh-luận được truyền-bá,
Do
chúng-sinh bỏ mất tính-nghe,
Theo
thanh-trần, nên bị lưu-chuyển;
A-nan,
tuy có tính nhớ dai,
Vẫn
không khỏi mắc các tà-niệm;
Há
không phải tùy chỗ chìm-đắm,
Xoay
ngược dòng, thoát khỏi hư-vọng.
A-nan,
ông hãy nghe cho chín,
Nay
tôi nương uy-lực của Phật,
Tuyên-nói
phép Tam-muội chân-thật,
Chắc
như Kim-cương-vương, như-huyễn,
Không
nghĩ-bàn, xuất-sinh chư Phật.
Ông
nghe tất-cả pháp bí-mật
Của
chư Phật, số như vi-trần,
Nếu
trước hết, không trừ dục-lậu,
Nghe
nhiều, chứa-chấp thành lầm-lỗi;
Dùng
cái nghe thụ-trì Phật-pháp,
Sao
lại không tự nghe cái nghe?
Tính-nghe
không phải tự-nhiên sinh,
Nhân
thanh-trần mà có danh-hiệu,
Xoay
cái nghe, thoát-ly thanh-trần,
Cái
thoát-ly ấy, gọi là gì?
Một
căn, đã trở về bản-tính,
Thì
cả sáu căn, được giải-thoát,
Thấy,
nghe như bệnh lòa huyễn-hóa,
Ba
cõi như hoa-đốm hư-không;
Xoay
tính-nghe, gốc lòa tiêu-trừ,
Trần-tướng
tiêu, giác-tính viên-tịnh.
Tột
thanh-tịnh, trí-quang thông-suốt,
Thể
tịch-chiếu trùm khắp hư-không,
Trở
lại xem các việc thế-gian
Thật
giống như chiêm-bao không khác.
Nàng
Ma-đăng-già là chiêm-bao
Thì
còn ai bắt ông được nữa?
Như
các huyễn-sư khéo trong đời,
Làm
trò, thành ra các trai, gái;
Tuy
thấy các căn đều cử-động,
Cốt-yếu,
do cái máy dật dây;
Nghỉ
máy, tất-cả đều yên-lặng,
Các
trò, trở thành không có tính.
Cả
sáu căn cũng giống như thế,
Vốn
đều nương một tính tinh-minh
Chia
ra thành sáu thứ hòa-hợp;
Một
nơi, đã rời-bỏ quay về,
Thì
cả sáu, đều không thành-lập;
Trong
một niệm, trần-cấu đều tiêu,
Chuyển-thành
tính Viên-minh tịnh-diệu,
Còn
sót trần-cấu là học-vị,
Sáng-suốt
cùng-tột, tức Như-lai.
Hỡi
đại-chúng và ông A-nan,
Hãy
xoay lại cái nghe điên-đảo,
Xoay
cái nghe về, nghe tự-tính,
Nhận
tự-tính, thành đạo vô-thượng;
Thật-tính
viên-thông là như thế."
Chi
5. - Chọn lấy nhĩ-căn làm phương-tiện thích-hợp.
"Đây
thật là một đường thẳng tiến
Vào
Niết-bàn của vi-trần Phật;
Các
đức Như-lai trong quá-khứ
Đều
đã thành-tựu pháp-môn nầy;
Các
vị Bồ-tát trong hiện-tại
Điều
viên-minh vào pháp-môn ấy;
Những
người tu-học đời vị-lai
Đều
nên nương theo pháp-môn đó;
Tôi
cũng do pháp ấy mà chứng,
Không
phải chỉ ngài Quán-thế-âm.
Thật
như lời đức Phật Thế-tôn
Đã
hỏi tôi về các phương-tiện
Để
cứu-giúp, trong đời mạt-pháp,
Những
người cầu pháp xuất-thế-gian
Thành-tựu
được tâm-tính Niết-bàn
Thì
ngài Quán-âm là hơn cả.
Còn
tất-cả các phương-tiện khác
Đều
là nhờ uy-thần của Phật,
Tức
nơi sự, rời-bỏ trần-lao,
Không
phải phép tu-học thường-xuyên,
Nông
hay sâu cũng đồng nghe được.
Chi
6. - Đỉnh-lễ cầu gia-bị.
"Xin
đỉnh-lễ tính Như-lai-tạng,
Vô-lậu,
không còn sự nghĩ-bàn,
Nguyện
gia-bị cho đời vị-lai,
Nơi
pháp-môn nầy, không lầm-lẫn.
Đây
là phương-tiện dễ thành-tựu,
Nên
đem dạy cho ông A-nan
Cùng
những kẻ trầm-luân mạt-kiếp,
Chỉ
dùng nhĩ-căn mà tu-tập,
Thì
viên-thông chóng hơn pháp khác;
Tâm-tính
chân-thật là như thế."
ĐOẠN
V
NGHE
PHÁP ĐƯỢC CHỨNG
Lúc
ấy, ông A-nan cùng cả đại-chúng, thân tâm tỏ-rõ, nhận
được sự khai-thị to-lớn, xem quả Bồ-đề và Đại-niết-bàn
của Phật, cũng như có người nhân có việc phải đi xa, chưa
trở về được, song đã biết rõ con đường về nhà. Trong
Pháp-hội, cả đại-chúng, thiên-long bát-bộ, hàng Nhị-thừa
hữu-học và tất-cả các Bồ-tát mới phát-tâm, số-lượng
bằng mười số cát sông Hằng, đều được bản-tâm xa trần-tướng,
rời cấu-nhiễm, được pháp-nhãn thanh-tịnh. Bà Tính-tỷ-khưu-ni
nghe nói bài kệ xong, thành quả A-la-hán; vô-lượng chúng-sinh
đều phát-tâm Vô-đẳng-đẳng-vô-thượng Chính-đẳng-chính-giác.
CHƯƠNG
III
RỘNG
ĐỂ LẠI KHUÔN-PHÉP TU-HÀNH
MỤC
I
NHÂN
ÔNG A-NAN XIN CỨU-ĐỘ ĐỜI VỊ-LAI, PHẬT TÓM NÊU-RA BA NGHĨA
QUYẾT-ĐỊNH
Ông
A-nan sửa áo chỉnh-tề, ở trong đại-chúng, chấp tay đỉnh-lễ;
tâm-tích trọn-sáng, vừa mừng vừa tủi; vì muốn lợi-ích
cho các chúng-sinh vị-lai, cúi đầu bạch Phật: "Thưa đức
Thế-tôn đại-bi, tôi nay đã ngộ được pháp-môn thành Phật,
tu-hành trong đó, được không nghi-hoặc. Tôi thường nghe đức
Như-lai dạy như thế nầy: Tự mình chưa được độ, trước
đã độ người, đó là chỗ phát-tâm của các vị Bồ-tát;
tự mình giác-ngộ viên-mãn, có thể giác-ngộ kẻ khác, đó
là sự ứng-thế của các đức Như-lai. Tôi tuy chưa được
độ, song nguyện độ tất-cả chúng-sinh trong đời mạt-pháp.
Bạch Thế-tôn, các chúng-sinh đó cách Phật ngày càng xa, những
tà-sư thuyết-pháp; số như cát sông Hằng; nếu muốn họ
nhiếp-tâm vào Tam-ma-đề, thì nên khiến họ dựng-lập đạo-trường
thế nào để rời các ma-sự, được không thoái-khuất nơi
tâm Bồ-đề."
Khi
bấy giờ, đức Thế-tôn, ở trong đại-chúng, khen-ngợi ông
A-nan: "Hay lắm, hay lắm, như chỗ ông hỏi về dựng-lập đạo-trường,
cứu-giúp chúng-sinh chìm-đắm trong đời mạt-pháp, ông hãy
nghe cho chín, tôi sẽ vì ông mà nói". Ông A-nan và cả đại-chúng
kính vâng lời-dạy của Phật.
Phật
bảo ông A-nan: "Ông thường nghe tôi, trong Tỳ-nại-gia, tuyên-nói
ba nghĩa quyết-định của sự tu-hành, đó là thu-nhiếp cái
tâm là giới, nhân giới mà sinh định, nhân định mà phát
tuệ, thế gọi là 3 pháp Vô-lậu-học."
MỤC
II
CHỈ-BÀY
BỐN LỜI DẠY-BẢO RÕ-RÀNG QUYẾT-ĐỊNH
ĐOẠN
I
CHỈ
VỀ QUYẾT-ĐỊNH ĐOẠN LÒNG DÂM
"A-nan,
thế nào thu-nhiếp cái tâm thì gọi là giới?
Nếu
chúng-sinh lục-đạo các thế-giới, cái tâm không dâm, thì
không đi theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu phép Tam-muội
cốt để ra khỏi trần-lao, nếu không trừ lòng dâm, thì không
thể ra khỏi trần-lao được. Dầu có nhiều trí thiền-định
hiện-tiền, nếu không đoạn lòng dâm, cũng chắc lạc vào
ma-đạo, hạng trên thành ma-vương, hạng giữa thành ma-dân,
hạng dưới thành ma-nữ; các bọn ma kia cũng có đồ-chúng,
mỗi mỗi tự xưng là thành đạo vô-thượng. Sau khi tôi diệt-độ
rồi, trong đời mạt-pháp, có nhiều bọn ma nầy sôi-nổi
trong thế-gian, gây nhiều việc tham-dâm, lại giả làm người
thiện-tri-thức, khiến cho các chúng-sinh sa vào hầm ái-kiến;
bỏ mất con đường Bồ-đề. Ông dạy người đời tu pháp
Tam-ma-đề, trước hết phải đoạn cái dâm trong tự tâm.
Ấy gọi là lời dạy-bảo rõ-ràng thanh-tịnh, quyết-định
thứ nhất của các đức Như-lai Tiên-Phật Thế-tôn. Vậy
nên ông A-nan, nếu không đoạn lòng dâm mà tu thiền-định,
thì cũng như nấu cát, nấu đá muốn cho thành cơm, dầu trải
qua trăm nghìn kiếp cũng chỉ gọi là cát nóng, đá nóng, vì
cớ sao? Vì đó là giống cát, giống đá, không phải là bản-nhân
của cơm vậy. Ông đem thân dâm cầu diệu-quả của Phật,
dầu được diệu-ngộ, cũng chỉ là gốc dâm, cỗi-gốc đã
thành dâm, thì phải trôi-lăn trong tam-đồ, chắc không ra khỏi,
còn đường nào tu-chứng Niết-bàn Như-lai. Chắc phải khiến
cho thân tâm đều đoạn hết giống dâm, cho đến tính-đoạn
cũng không còn nữa, thì mới trông-mong chứng quả Bồ-đề
của Phật. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật;
không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba-tuần."
ĐOẠN
II
CHỈ
VỀ QUYẾT-ĐỊNH ĐOẠN LÒNG SÁT
"A-nan,
lại các chúng-sinh lục-đạo trong các thế-giới, nếu cái
tâm không sát, thì không theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu
phép Tam-muội, cốt ra khỏi trần-lao, nếu không trừ lòng
sát, thì không thể ra khỏi trần-lao được. Dầu có nhiều
trí thiền-định hiện-tiền, nếu không đoạn lòng sát, thì
chắc phải lạc vào thần-đạo; người bậc trên thì thành
đại-lực-quỷ, người bậc giữa thì thành phi-hành-dạ-xoa
và các loài quỷ-soái, người bậc dưới thì thành địa-hành
la-sát, các loài quỷ-thần kia cũng có đồ-chúng, mỗi mỗi
tự xưng là thành đạo vô-thượng. Sau khi tôi diệt-độ rồi,
trong đời mạt-pháp, có nhiều quỷ-thần nầy sôi-nổi trong
thế-gian, tự nói rằng ăn thịt, được đạo Bồ-đề. A-nan,
tôi khiến hàng tỷ-khưu ăn năm thứ tịnh-nhục, thịt kia
đều do thần-lực tôi hóa-sinh ra, vốn không có mạng-căn.
Xứ Bà-la-môn các ông, đất-đai phần nhiều nóng-ướt, lại
thêm cát đá, rau-cỏ không sinh được; tôi dùng sức đại-bi
gia-bị, nhân sức đại-từ-bi, giả gọi là thịt và các ông
cũng nhận được cái vị như thịt; làm sao, sau khi Như-lai
diệt-độ, người ăn thịt chúng-sinh, lại gọi là Phật-tử!
Các ông nên biết những người ăn thịt đó, dầu cho tâm
được khai-ngộ, giống như Tam-ma-đề, đều là loài la-sát,
quả-báo hết rồi, phải chìm-đắm trong bể khổ, không phải
đệ-tử Phật. Những người như vậy, giết nhau, nuốt nhau,
ăn nhau chưa thôi, làm sao, lại được ra khỏi ba cõi. Ông
dạy người đời tu phép Tam-ma-đề, thứ nữa, phải đoạn
lòng sát. Ấy gọi là lời dạy rõ-ràng thanh-tịnh, quyết-định
thứ hai của các đức Như-lai Tiên-Phật Thế-tôn.
Vậy
nên A-nan, nếu không đoạn lòng sát mà tu thiền-định, thì
cũng ví-như có người tự bịt lỗ tai, cất tiếng kêu to
mà trông-mong người khác không nghe; bọn này gọi là muốn
giấu thì càng lộ. Hàng tỷ-khưu thanh-tịnh và các vị Bồ-tát
đi trong đường rẽ, không dẫm cỏ non, huống nữa là lấy
tay nhổ cỏ; làm sao đức Đại-bi, lại lấy máu thịt của
các chúng-sinh, mà làm đồ-ăn?
Nếu
các hàng tỷ-khưu không mặc những đồ tơ-lụa, là-lượt
phương Đông và không dùng những giày-dép, áo-cừu, áo-len
hay các thứ sữa, phó-mát, đề-hồ, thì những tỷ-khưu
như thế, đối với thế-gian, thật là giải-thoát, trả hết
nợ cũ xong, thì không vào trong ba cõi nữa, vì cớ sao? Dùng
những bộ-phận thân-thể chúng-sinh, thì đều bị ảnh-hưởng
chúng-sinh, cũng như con người ăn giống bách-cốc trong đất,
thì chân không rời khỏi đất. Quyết phải khiến cho thân
tâm, đối với thân-thể hay bộ-phận thân-thể của chúng-sinh,
đều không mặc, không ăn, thì những người như thế, tôi
mới gọi thật là giải-thoát. Như lời tôi nói đây, gọi
là lời nói của Phật; không như lời nói đó, tức là lời
nói của ma Ba-tuần."
ĐOẠN
III
CHỈ
VỀ QUYẾT-ĐỊNH ĐOẠN LÒNG THÂU-ĐẠO
"A-nan,
lại như chúng-sinh lục-đạo trong thế-giới, tâm không thâu-đạo,
thì không theo dòng sinh-tử tiếp-tục. Ông tu phép Tam-muội,
cốt ra khỏi trần-lao, nếu lòng thâu-đạo không trừ, thì
không thể ra khỏi trần-lao được; dầu có nhiều trí thiền-định
hiện-tiền, nếu không đoạn được lòng thâu-đạo, thì chắc
phải lạc vào tà-đạo, hạng trên thì thành tinh-linh, hạng
giữa thì thành yêu-mị, hạng dưới thì thành người tà-đạo
bị các loài quỷ-mị nhập vào; các bọn tà-đạo kia cũng
có đồ-chúng, mỗi mỗi tự xưng là thành đạo vô-thượng.
Sau khi tôi diệt-độ rồi, trong đời mạt-pháp, có nhiều
những hạng yêu-mị tà-đạo ấy sôi-nổi trong thế-gian, chúng
lén-núp gian-dối, tự xưng là thiện-tri-thức, mỗi người
tự xưng đã được đạo-pháp thượng-nhân, lừa-gạt kẻ
không biết, doạ-dẫm khiến cho mất lòng chính-tín; chúng
đi qua đến đâu, cửa nhà người ta đều bị hao-tổn tan-nát.
Tôi dạy hàng tỷ-khưu theo thứ lớp khất-thực để bỏ lòng
tham, thành đạo Bồ-đề. Các hàng tỷ-khưu không tự nấu
ăn, gửi cái sống thừa tạm-bợ trong ba cõi, thị-hiện chỉ
đi về một phen, đi rồi không trở lại nữa. Làm sao, bọn
giặc mượn y-phục đạo Phật, buôn-bán Như-lai, gây các thứ
nghiệp mà đều gọi là Phật-pháp, lại còn chê-bai các vị
tỷ-khưu đầy-đủ giới-luật xuất-gia là đạo Tiểu-thừa;
do chúng làm cho vô-lượng chúng-sinh mắc phải nghi-lầm, nên
sẽ bị đọa vào ngục vô-gián. Sau khi tôi diệt-độ rồi,
nếu có tỷ-khưu phát-tâm quyết-định tu phép Tam-ma-đề,
biết ở trước hình-tượng Như-lai, chính mình thắp một
cây đèn, đốt một đốt ngón tay hay ở trên thân, đốt một
mồi hương, tôi nói người ấy, túc-trái vô-thủy, trong một
thời trả hết, cáo-từ thế-gian, thoát hẳn các lậu. Người
ấy, tuy chưa hiểu rõ đạo vô-thượng-giác, nhưng đối với
Phật-pháp, tâm đã quyết-định; nếu không làm được cái
nhân nhỏ-mọn xả-thân ấy, thì dầu thành đạo vô-vi, cùng
phải lại sinh làm người, trả các nợ củ, như quả-báo
mã-mạch của tôi, thật không sai khác. Ông dạy người đời
tu phép Tam-ma-đề, sau nữa, phải đoạn lòng thâu-đạo. Ấy
gọi là lời-dạy rõ-ràng thanh-tịnh, quyết-định thứ ba
của các đức Như-lai Tiên-Phật Thế-tôn. Vậy nên ông A-nan,
nếu không đoạn lòng thâu-đạo mà tu thiền-định, thì cũng
như người lấy nước rót vào chén thủng, mong cho đầy chén,
dầu trải qua kiếp-số như vi-trần, rốt-cuộc không thể
đầy được. Nếu các hàng tỷ-khưu, ngoài y-bát ra, mảy-may
không tích-trữ, xin ăn có dư, thì bố-thí cho chúng-sinh đói,
nơi nhóm Hội lớn, chấp tay vái chào đại-chúng, có người
đánh-mắng cũng đồng như khen-ngợi, quyết-định rời-bỏ
cả thân và tâm, thân-thịt xương-máu thành sở-hữu chung
của chúng-sinh, không đem những lời-dạy bất-liễu-nghĩa
của Như-lai làm chỗ hiểu của mình, khiến cho kẻ sơ-học
phải lầm-lạc, thì Phật ấn-chứng người ấy, thật được
Tam-muội. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của Phật;
không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba-tuần."
ĐOẠN
IV
CHỈ
VỀ QUYẾT-ĐỊNH ĐOẠN LÒNG VỌNG
"A-nan,
chúng-sinh lục-đạo trong thế-giới như thế, tuy nơi thân
tâm không còn sát, đạo, dâm, cả ba hạnh đã được viên-mãn,
nếu mắc phải đại-vọng-ngữ, thì Tam-ma-đề không được
thanh-tịnh, thành giống ma ái-kiến và mất giống Như-lai;
tức như chưa được gọi rằng được, chưa chứng gọi rằng
chứng, hoặc để cầu thế-gian tôn-trọng tột-bậc, bảo
người khác rằng: Nay tôi đã được quả Tu-đà-hoàn, quả
Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, đạo A-la-hán, thừa Bích-chi-Phật
hay các quả-vị Bồ-tát trong thập-địa hay trước thập-địa,
trông-mong người kia lễ-sám, tham sự cúng-dường. Những tên
nhất-điên-ca ấy, tự tiêu-diệt giống Phật, như người
lấy dao chặt cây đa-la; Phật ấn-ký người ấy, mất hẳn
thiện-căn, không còn chính-tri-kiến, chìm-đắm trong ba bể
khổ, không thành-tựu pháp Tam-muội. Tôi bảo các hàng Bồ-tát
và A-la-hán, sau khi tôi diệt-độ rồi, hiện ra ứng-thân,
sinh trong đời mạt-pháp kia, hiện ra nhiều hình-tướng khác
nhau, đề độ những người còn trong vòng luân-hồi, hoặc
làm sa-môn, bạch-y-cư-sĩ, vua-chúa, quan-lại, đồng-nam, đồng-nữ,
như thế cho đến người dâm-nữ, người quả-phụ, người
gian-dối, trộm-cắp, người hàng-thịt, buôn-bán, để khen-ngợi
Phật-thừa với những người đồng-sự, khiến cho thân tâm
của họ vào được Tam-ma-đề; nhưng rốt-ráo không tự bảo
rằng tôi thật là Bồ-tát, thật là A-la-hán, khinh-xuất nói
với những người chưa học, làm tiết-lậu mật-nhân của
Phật, chỉ trừ đến lâm-chung, hoặc chăng, thầm có những
lời di-chúc; làm sao, lại còn có lừa-gạt chúng-sinh, thành
tội đại-vọng-ngữ. Ông dạy người đời tu phép Tam-ma-đề,
sau-rốt phải đoạn-trừ các đại-vọng-ngữ. Ấy gọi là
lời-dạy rõ-ràng thanh-tịnh, quyết-định thứ tư của các
đức Như-lai Tiên-Phật Thế-tôn.
Vậy
nên ông A-nan, nếu không đoạn-trừ lòng đại-vọng-ngữ,
thì cũng như khắc phân người làm thành hình cây chiên-đàn,
mà muốn được hương-thơm, thật không có lẽ nào như vậy.
Tôi dạy hàng tỷ-khưu lấy trực-tâm làm đạo-trường, trong
hết thảy hành-động, nơi bốn uy-nghi, còn không có giả-dối,
làm sao, lại có kẻ tự xưng đã được đạo-pháp thượng-nhân!
Ví-như người dân-cùng xưng càn là đế-vương để tự chuốc
lấy sự tru-diệt, huống nữa, là vị Pháp-vương, làm sao,
lại dám xưng-càn! Nhân đã không thật, quả ắt quanh-co, như
thế, mà cầu đạo Bồ-đề của Phật, thì cũng như người
muốn cắn rốn, làm sao, mà thành-tựu được. Nếu như các
hàng tỷ-khưu, tâm như dây đàn thẳng, tất-cả đều chân-thật
mà vào Tam-ma-đề, thì hẳn không có các ma-sự, tôi ấn-chứng
người đó, thành-tựu được vô-thượng tri-giác của các
hàng Bồ-tát. Như lời tôi nói đây, gọi là lời nói của
Phật; không như lời nói đó, tức là lời nói của ma Ba-tuần."
WP:
Chơn Hạnh
Kinh
Sách Liên Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Giảng
Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, Thiền Sư Nhẫn Tế
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu