KINH
THỦ-LĂNG-NGHIÊM
QUYỂN
NHÌ
ÐOẠN
VIII
CHỈ
TÍNH-THẤY KHÔNG SINH KHÔNG DIỆT
Khi
bấy giờ ông A-nan cùng cả đại-chúng nghe lời Phật dạy,
thân tâm thư-thái, nghĩ mình từ vô-thủy đến nay, bỏ mất
bản-tâm, lầm-nhận sự phân-biệt bóng-dáng tiền-trần làm
tâm, ngày nay được khai-ngộ như em bé mất sữa, bỗng gặp
mẹ hiền, chấp tay lễ Phật, xin đức Như-lai, ở nơi thân
tâm, chỉ ra chỗ chân chỗ vọng, chỗ hư chỗ thật, ở nơi
hiện-tiền phát-minh ra hai tính sinh-diệt, và không sinh-diệt.
Khi
ấy vua Ba-tư-nặc đứng dậy bạch Phật: “Trước tôi chưa
được vâng nghe lời Phật dạy-bảo, tôi thấy bọn Ca-chiên-diên,
Tỳ-la-chi-tử đều nói thân này chết rồi là mất hẳn và
gọi đó là Niết-bàn; nay tuy được gặp Phật nhưng tôi vẩn
còn hồ-nghi, xin Phật chỉ rõ thế nào chứng-biết tính không
sinh-diệt nơi tâm này. Hiện nay các hàng hữu-lậu trong đại-chúng
cũng đều trông mong được nghe điều ấy.”
Phật
bảo: “Ðại-vương, thân ông hiện đó, nay tôi hỏi ông:
Cái nhục-thân đó của ông có như kim-cương thường còn,
không hư-hỏng hay lại cũng biến-đổi và tan-rã?
- Bạch
Thế-tôn, thân tôi hiện nay rốt-cuộc về sau cũng thay-đổi
và tiêu-diệt”.
Phật
bảo: “Ðaị-vương, ông chưa hề bị diệt, làm sao lại biết
được là phải diệt?
- Bạch
Thế-tôn, cái thân vô-thường thay-đổi của tôi đây, tuy
chưa hề bị diệt; song tôi xét nó hiện nay niệm-niệm dời-đổi,
mãi mãi không thôi như lửa thành tro, lần lần tiêu mất;
vì tiêu mất, mãi mãi không dừng nên tôi biết chắc thân
này rồi phải diệt mất”.
Phật
dạy: “Ðúng thế, Ðại-vương, tuổi-tác của ông nay đã
già-yếu, vậy mặt mày của ông so với lúc còn bé thì như
thế nào?
- Bạch
Thế-tôn, lúc tôi bé nhỏ, da thịt mớn-mơ, đến khi trưởng-thành,
huyết-khí sung-túc; nay thì tuổi già, ngày thêm suy-yếu, hình-sắc
khô-gầy, tinh-thần lẫn-lộn, tóc bạc mặt nhăn, chừng sống
không được bao lâu nữa, so-sánh sao được với lúc đương
còn trẻ-mạnh!”
Phật
bảo: “Ðại-vương, hình-dung của ông, nào phải đương trẻ
mà già liền đâu?”
Vua
bạch: “Thưa Thế-tôn, sự biến-hóa thầm-thầm dời-đổi,
tôi thật không hay; nắng mưa thấm-thoát, lần đến thế nầy.
Vì sao? Khi 20 tuổi, tuy gọi là trẻ, nhưng mặt mày của tôi
đã già hơn khi 10 tuổi; khi 30 tuổi lại sút hơn lúc 20 tuổi
và đến nay đã 60 lại thêm hai tuổi, trông lại lúc 50 tuổi,
còn khỏe-mạnh hơn nhiều. Bạch Thế-tôn, tôi thấy thầm-thầm
dời-đổi như thế; thân nầy đến nay tuy đã suy-yếu, nhưng
trong sự thay-đổi, còn chia từng 10 năm. Nếu tôi suy-xét chín-chắn
hơn nữa thì cái biến-đổi ấy đâu phải từng một kỷ,
thật là mỗi năm mỗi thay-đổi; lại đâu mỗi năm mỗi thay-đổi
mà cũng là mỗi tháng mỗi biến-hóa; lại không những mỗi
tháng mỗi biến-hóa mà còn mỗi ngày mỗi đổi-thay; xét cho
cùng, nghĩ cho kỹ, trong mỗi sát-na, trong mỗi niệm, nó không
thể đứng yên, vậy nên tôi biết thân tôi rốt-cuộc phải
biến-đổi và tiêu-diệt”.
Phật
bảo: “Ðại-vương, ông thấy biến-hóa dời-đổi không ngừng,
ngộ biết là phải diệt; vậy trong lúc diệt đó, ông có
biết trong thân có cái gì không diệt chăng?”
Vua
Ba-tư-nặc chấp tay bạch Phật: “Thật tôi không biết”.
Phật
bảo: “Nay tôi chỉ cho ông cái tính không sinh-diệt, Ðại-vương,
khi ông mấy tuổi, mới thấy nước sông Hằng”.
Vua
bạch: “Khi tôi ba tuổi, mẹ tôi dắt đi yết-lễ thần Kỳ-bà-thiên
thì đã đi qua sông ấy; lúc đó tôi liền biết là nước
sông Hằng”.
Phật
bảo: “Ðại-vương, như lời ông nói: Lúc 20 tuổi thì sút
hơn lúc lên 10, cho đến nay đã 60 tuổi, từng năm, từng tháng,
từng ngày, từng giờ, dời-đổi mãi mãi; vậy khi ông 3 tuổi
thấy nước sông ấy, rồi đến khi 13 tuổi thì nước ấy
thế nào?”
Vua
bạch: “Tôi thấy nước ấy cũng giống khi 3 tuổi, như nhau
không khác và đến nay tuổi đã 62, cũng vẫn không khác”.
Phật
bảo: “Nay ông xét mình đầu bạc mặt nhăn, mặt ông chắc
là nhăn hơn lúc trẻ; vậy cái thấy hiện nay của ông thấy
sông Hằng so với cái thấy lúc nhỏ thấy sông Hằng, có già
trẻ gì không?”
Vua
bạch: “Thưa Thế-tôn, không”.
Phật
bảo: “Ðại-vương, mặt ông tuy nhăn, nhưng cái thấy đó
chưa hề bị nhăn; cái bị nhăn thì thay-đổi, còn cái không
bị nhăn thì không có thay-đổi. Cái thay-đổi thì phải diệt,
còn cái không thay-đổi kia, vốn không sinh-diệt, làm sao trong
ấy, lại nhận sống cái chết của ông, mà ông còn dẫn những
thuyết của bọn Mạt-già-lê kia bảo rằng thân này chết
rồi diệt hẳn”.
Vua
nghe lời Phật dạy như vậy, tin-biết về sau bỏ thân nầy
qua thân khác, cùng với đại-chúng nhẩy-nhót vui-mừng, được
cái chưa từng có.
ÐOẠN
IX
CHỈ
CHỖ TRÁI-NGƯỢC
Ông
A-nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ Phật chấp tay, quỳ
dài bạch Phật: “Thưa Thế-tôn, nếu cái thấy nghe đó thật
không sinh-diệt thì làm sao đức Thế-tôn lại gọi bọn chúng
tôi bỏ mất chân-tính, làm việc trái-ngược? Xin Phật mở
lòng từ-bi, rửa sạch trần-cấu cho chúng tôi”.
Khi
ấy Ðức Như-lai ruỗi cánh tay kim-sắc, ngón tay chỉ xuống,
bảo ông A-nan rằng: “Ông nay thấy tay Mẫu-đà-la tôi là
chính hay là ngược?”
Ông
A-nan bạch: “Chúng-sinh thế-gian cho đó là ngược, còn tôi
thì không biết thế nào là chính, thế nào là ngược”.
Phật
bảo ông A-nan: “Nếu người thế-gian cho đó là ngược, thì
người thế-gian gọi thế nào là chính?”
Ông
A-nan bạch Phật: “Ðức Như-lai đưa cánh tay lên, tay Ðâu-la-miên
chỉ lên trên không thì gọi là chính”.
Phật
liền giơ cánh tay lên và bảo ông A-nan rằng: “Cái trái-ngược
như thế, chỉ là đầu đuôi thay-đổi lẫn nhau; các người
thế-gian lắp đi lắp lại mà xem thấy. Nay lấy cái thân ông
và pháp-thân thanh-tịnh của chư Như-lai, so theo đó mà phát-minh,
thì thân của Như-lai gọi là chính-biến-tri, thân của các
ông gọi là tính trái-ngược; tùy ông xét kỹ nơi thân ông
và thân Phật, cái gọi là trái-ngược đó, do ở chỗ nào
mà gọi là trái-ngược?”
Khi
ấy ông A-Nan cùng cả đại chúng chăm-chăm ngó Phật, tròng
con mắt không lay-động, chẳng biết thân tâm chỗ nào trái-ngược.
Phật phát-lòng từ-bi, thương-xót ông A-nan và đại-chúng,
phát tiếng hải-triều, khắp bảo trong Hội: “Các thiện-nam-tử,
tôi thường nói rằng : “Sắc, tâm, các duyên và các tâm-sở,
các pháp sở-duyên, đều duy tâm-tính biến-hiện. Thân ông,
tâm ông đều là những vật hiện ra trong tâm-tính. Làm sao
các ông lại bỏ mất tâm-tính quý-báu ấy, nhận cái mê trong
ngộ. Mê-muội thành có hư-không, trong hư-không mê-muội ấy,
kết cái mê-muội thành ra có sắc; sắc xen với vọng-tưởng;
tưởng tướng làm thân, nhóm các duyên lay-động bên trong,
giong-ruổi theo cảnh-vật bên ngoài; rồi lấy cái tướng mờ-mịt
lăng-xăng đó làm tâm-tính. Một phen lầm cái tướng ấy làm
tâm thì quyết-định lầm cho rằng tâm ở trong sắc-thân,
mà không biết sắc-thân, cho đến núi sông, hư-không, đất
liền bên ngoài đều là những vật hiện trong tâm-tính; ví-như
bỏ cả trăm nghìn biển lớn trong-lặng, chỉ nhận một cái
bọt nước; rồi cho nó là toàn hết cả nước, cùng-tột
các biển lớn. Bọn ông tức là những người mê-lầm nhiều
lớp, như cánh tay tôi rủ xuống, không có sai khác. Như-lai
gọi là đáng thương-xót đó”.
ĐOẠN
X
LỰA-BỎ
TÂM PHAN-DUYÊN ĐỂ CHỈ TÍNH-THẤY KHÔNG THỂ TRẢ VỀ ĐÂU
Chi
I. - Trình-bày chỗ ngộ, nhưng chưa dám tự-nhận.
Ông
A-nan vâng nghe lời Phật từ-bi cứu-độ dạy bảo, khóc lóc
tréo tay mà bạch Phật rằng: "Tuy tôi vâng nghe diệu-âm của
Phật như vậy, ngộ được chỗ thường-trụ viên-mãn sẵn
có của tâm-tính, nhưng tôi ngộ được pháp-âm của Phật
vừa dạy là tôi hiện lấy tâm phan-duyên mà thỏa-mãn chỗ
ước-mong. Tôi luống được tâm ấy, chưa dám nhận là tâm-tính
bản-lai; mong Phật thương xót, tuyên lời viên-âm, nhổ gốc
nghi-ngờ của tôi, đem về đạo vô thượng."
Chi
2. - Trách còn nhận ngón tay chỉ để lựa ra tâm phân-biệt
đều đã có chỗ trả về.
Phật
bảo ông A-nan: "Bọn ông còn lấy tâm phan-duyên mà nghe pháp
thì cái pháp nhận được đó cũng chỉ là sở-duyên, chứ
không phải nhận được pháp-tính. Ví như có người lấy
ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác thì người kia lẽ
ra phải nhân ngón tay mà thấy mặt trăng. Nếu như người
kia xem ngón tay và cho đó là mặt trăng thì người ấy chẳng
những bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất cả ngón tay chỉ
nữa. Vì sao? Vì nhận ngón tay chỉ làm mặt trăng vậy. Đâu
những bỏ mất ngón tay lại cũng không phân biệt được sáng
và tối. Vì sao? Vì lấy ngón tay tối làm mặt trăng sáng thì
không rõ biết được hai tính sáng tối. Ông cũng như vậy.
Nếu lấy cái phân-biệt pháp-âm tôi làm tâm của ông thì
cái tâm ấy phải rời cái phân-biệt tiếng nói, có tính phân-biệt.
Ví
như người khách ngủ trọ quán trạm, ở tạm rồi đi, rốt
cuộc ở mãi không được, còn người giữ trạm thì không
đi đâu, gọi là chủ trạm. Tâm cũng như vậy, nếu thật
tâm ông thì không đi đâu, làm sao rời cái tiếng, lại không
có tính phân-biệt? Nói như thế chẳng những đối với tâm
phân-biệt các tiếng; cái phân-biệt hình-dung của tôi, rời
các sắc-tướng, cũng không có tính phân-biệt; như vậy cho
đến cái phân-biệt đều không, không phải sắc, không phải
không, mà bọn Câu-xá-ly lầm là minh-đế, thì rời các pháp-trần,
cũng không tính phân-biệt. Như vậy tâm-tính của ông đều
có chỗ trả về, lấy gì mà làm chủ?"
Chỉ
3. - Khai thị cái thấy không chỗ trả về.
Ông
A-nan bạch: "Như tâm-tính của tôi đều có chỗ trả về,
thì tâm-tính của Như-lai dạy, làm sao lại không có chỗ trả
về? Xin Phật thương-xót chỉ bảo cho tôi điều ấy."
Phật
bảo ông A-nan: "Hãy lấy cái tính thấy của ông thấy tôi
đây. Tính thấy ấy tuy không phải là tâm-tính như mặt trăng
thứ hai không phải thật là mặt trăng. Ông hãy nghe cho chín,
nay tôi chỉ cho ông cái nghĩa không thể trả về.
A-nan,
đại-giảng-đường nầy mở rộng phương Đông, khi mặt trời
lên thì sáng, nửa đêm vắng trăng, mây mù mờ-mịt thì lại
tối-tăm; chỗ có các cửa thì thấy thông-suốt; chỗ có tường
nhà thì thấy ngăn bịt; chỗ phân-biệt được, thấy cảnh
sắc-duyên; trong chỗ rỗng trống, toàn là hư-không; cảnh
tượng mù-mịt khi bụi nổi lên; mưa tạnh trời thanh lại
thấy trong sạch.
A-nan,
ông đều xem rõ các tướng biến-hóa ấy, nay tôi trả các
tướng ấy về chỗ bản-nhân của nó. Thế nào là bản-nhân?
A-nan, trong các tướng biến-hóa, cái sáng trả về cho mặt
trời. Vì sao? Vì không mặt trời thì không sáng, nguyên-nhân
cái sáng thuộc về mặt trời, cho nên trả cho mặt trời.
Cái tối trả về cho trăng tối, thông-suốt trả về cho các
cửa, ngăn-bịt trả về cho tường nhà, sắc-duyên trả về
cho phân-biệt, rỗng trống trả về cho hư-không, mù-mịt trả
về cho bụi, trong sáng trả về cho tạnh, và trong thế-gian
có những cái gì, cũng không ra ngoài mấy loại ấy.
Còn
cái tính-thấy của ông thấy tám thứ kia thì ông định trả
về đâu. Vì sao? Nếu trả về cho sáng thì lúc không sáng
lại không thấy tối, nay tuy các thứ sáng tối có sai khác,
cái thấy không có sai khác. Các cái thấy có thể trả về
tự nhiên không phải là ông, còn cái không thể trả về được
thì không phải là ông mà là ai nữa? Vậy thì biết tâm ông
vốn là nhiệm-mầu trong sạch sáng-suốt, ông tự mê-lầm,
bỏ mất tính bản-nhiên mà chịu luân-hồi, thường bị chìm
đắm trong bể sống chết, nên Như-lai gọi là đáng thương
xót".
ĐOẠN
XI
LỰA
RIÊNG TRẦN CẢNH ĐỂ NÊU RA TÍNH THẤY
Chỉ
I. - Vật không phải ta.
Ông
A-nan bạch : "Tuy tôi biết tính-thấy ấy không thể trả về
đâu, nhưng làm sao biết được đó là chân-tính của tôi".
Phật
bảo ông A-nan : "Nay tôi lại hỏi ông : hiện ông chưa được
đạo-quả vô-lậu thanh-tịnh, nhờ thần-lực của Phật, mới
thấy được cõi sơ-thiền, không bị ngăn-ngại. Ông A-na-luật
thì thấy cõi Diêm-phù-đề như xem quả am-ma-la trong bàn tay.
Các vị Bồ-tát thấy trăm nghìn cõi thập phương Như-lai,
cùng tột các quốc-độ thanh-tịnh, số như vi-trần, không
chỗ nào không thấy. Còn chúng-sinh thì thấy rõ được không
quá gang tấc.
A-nan,
nay tôi cùng ông hãy xem cung-điện của Tứ-thiên-vương, chặng
giữa xem khắp các loài thủy, lục, không, hành, tuy có nhiều
hình-tượng sáng tối khác nhau, nhưng không cái gì là không
phải tiền-trần chia cắt ngăn ngại. Ông hãy ở nơi đó phân-biệt
cái gì là mình, cái gì là vật khác. Nay tôi hãy đưa ông
lựa trong sự thấy đó, cái gì là tâm-thể của ông, cái
gì là cái hình-tượng của vật. A-nan, cùng tột sức thấy
của ông, từ mặt trời, mặt trăng đều là vật, chứ không
phải ông; đến Thất-kim sơn, xem xét cùng khắp, tuy có những
thứ hào-quang nhưng cũng là vật chứ không phải là ông; lần
lần xem đến mây kéo, chim bay, gió động, bụi nổi, cây cối
núi sông, cỏ rác người vật, đều là vật chứ không phải
là ông.
Chi
2. - Cái thấy không phải là vật.
A-nan,
các vật gần xa đó, tuy sai khác nhau, nhưng đồng do cái thấy
của ông thanh-tịnh trông thấy, thì các thứ vật kia tự có
sai khác mà tính-thấy của ông không có sai khác. Cái thấy
nhiệm-mầu sáng-suốt đó thật là tính-thấy của ông.
Nếu
cái thấy là vật thì ông cũng có thể thấy cái thấy của
tôi. Nếu cho rằng đồng thấy sự vật là thấy cái thấy
của tôi thì khi tôi không thấy, sao lại không thấy được
cái chỗ không thấy của tôi? Nếu nói rằng thấy cái không
thấy thì tự-nhiên cái đó không phải là cái tướng của
cái không thấy; còn nếu không thấy được chỗ không thấy
của tôi, thì cái thấy bản-nhiên không phải là vật, làm
sao lại không phải là ông?
Chi
3. - Vật và ta không thể xen lộn.
Lại
như cái thấy là vật thì đương khi ông thấy vật đó, ông
đã thấy được vật, vật cũng thấy được ông, thế thì
thể-tính xen lộn và ông cùng tôi với cả thế-gian không
thành-lập được.
A-nan,
nếu khi ông thấy là chính ông thấy, chứ không phải tôi,
thì cái thấy cùng khắp đó không phải là ông thì còn là
ai nữa.
Làm
sao lại tự-nghi cái chân-tính của ông. Chân-tính của ông,
ông không tự-nhận lấy, lại chấp lời nói của tôi, mà
cầu chứng thật".
Chi
4. - Nghi cái thấy có lớn nhỏ đứt nối.
Ông
A-nan bạch Phật rằng: Thưa Thế-tôn, nếu cái tính thấy đó
chắc là tôi, chứ không phải ai khác, thì khi tôi cùng Như-lai
xem cung-điện quý báo của Tứ-thiên-vương, xem mặt trời
mặt trăng, cái thấy ấy cùng khắp cả cõi Sa-bà, khi lui về
tịnh-xá thì chỉ thấy cảnh vườn chùa, đến khi thanh tâm
nơi phòng chái thì lại chỉ thấy một chái nhà. Thưa Thế-tôn,
cái thấy như vậy, bản thể của nó cùng khắp một cõi,
nay ở trong phòng thì chỉ thấy một phòng; thế là cái thấy
rút lớn thành nhỏ hay là tường nhà chia cắt làm cho đứt
đoạn. Nay tôi không biết nghĩa đó thế nào, xin Phật vì
tôi từ-bi chỉ rõ".
Chi
5. - Chỉ tiền-trần làm ngăn-ngại.
Phật
bảo ông A-nan: "Tất-cả các thứ trong, ngoài, lớn nhỏ của
thế-gian đều thuộc về tiền-trần, không nên nói rằng cái
thấy có co có ruỗi. Ví như trong đồ vuông thì thấy hư-không
vuông; nay tôi hỏi ông: Cái hư-không vuông thấy được trong
đồ vuông ấy, là nhất-định vuông hay không nhất-định
vuông? Nếu nhất-định vuông thì khi thay đồ tròn vào, lẽ
ra hư-không tròn; nếu không nhất định thì trong đồ vuông,
lẽ ra không có hư-không vuông. Ông nói không biết nghĩa đó
do đâu, nghĩa đó như vậy, sao còn do đâu được.
A-nan,
nếu muốn nhận được tính không vuông không tròn, chỉ trừ-bỏ
cái vuông của đồ-đạc, chứ bản-thể hư-không vốn không
vuông, không nên nói rằng lại phải trừ cả cái vuông của
hư-không nữa.
Lại
như lời ông hỏi: Khi vào trong phòng, rút cái thấy làm cho
nhỏ lại thì khi ngửa xem mặt trời, há lại kéo cái thấy
ngang với mặt trời? Nếu xây tường nhà chia-cắt cái thấy
làm cho đứt-đoạn, thì đến khi xoi một lỗ nhỏ, sao lại
không thấy dấu-nối. Nghĩa ấy không đúng.
Chi
6. - Khai-thị về chuyển được vật.
Tất-cả
chúng-sinh từ vô-thủy đến nay, lầm mình là vật, bỏ mất
tâm-tính, bị vật xoay-chuyển, cho nên trong đó thấy lớn
thấy nhỏ. Nếu biết chuyển được vật thì đồng với Như-lai,
thân tâm đều viên-mãn sáng-suốt, nơi đạo-trường bất-động
đó, trên đầu một mảy lông cũng có thể trùm-chứa thập
phương quốc-độ".
MỤC
III
PHẬT
NÊU RA TÍNH-THẤY RA NGOÀI CÁC NGHĨA "THỊ" VÀ "PHI-THỊ"
("Thị"
thì tức là cái thấy - "Phi-thị" thì ra ngoài cái thấy).
ĐOẠN
I
NGHI
TÍNH-THẤY HIỆN Ở TRƯỚC MẮT
Ông
A-nan bạch Phật rằng: "Thưa Thế-tôn, nếu cái thấy đó,
chắc là chân-tính của tôi thì cái chân-tính đó, hiện ở
trước mắt tôi; cái thấy đó đã là chân-tính của tôi thì
thân tâm tôi, hiện nay, lại là vật gì? Mà nay thân tâm ấy
thật có phân-biệt, còn cái thấy kia thì không phân-biệt
riêng gì thân tôi. Nếu nó thật là tâm tôi, làm cho tôi hiện
nay có thấy, vậy tính-thấy ấy đã thật là tôi, còn thân
nầy không phải là tôi thì nào khác gì đức Như-lai trước
kia đã hỏi-vặn rằng: " Vật thấy được tôi". Xin Phật
rủ lòng đại-từ, chỉ-bày cho chỗ chưa ngộ".
ĐOẠN
II
CHỈ
RA "KHÔNG CÓ CÁI GÌ TỨC LÀ CÁI THẤY"
Phật
bảo ông A-nan : "Nay ông nói rằng: Cái thấy ở trước mắt
ông, nghĩa ấy không đúng. Nếu thật ở trước mắt ông và
ông thật thấy được thì cái thấy đó đã có chỗ ở, không
phải không chỉ ra được. Vậy nay tôi cùng ông ngồi trong
rừng Kỳ-đà, trông khắp rừng, suối với các điện, đường,
trên đến mặt trời, mặt trăng, trước đối với sông Hằng.
Nay ông hãy ở trước sư-tử-tọa của tôi, giơ tay chỉ-bày
trong các tướng kia, chỗ dâm là rừng, cái sáng là mặt
trời, ngăn-ngại là vách, thông-suốt là hư-không, như thế
cho đến cỏ cây, mảy-mún, tuy lớn nhỏ khác nhau, nhưng đã
có hình thì không cái gì là không chỉ đích ra được. Vậy
nếu cái thấy, hiện ở trước mắt ông thì ông hãy lấy
tay chỉ rõ đích-xác cái gì là cái thấy. A-nan, ông nên biết,
nếu hư-không là cái thấy, thì hư-không đã thành cái thấy,
còn cái gì mới là hư-không; nếu vật là cái thấy, thì vật
đã là cái thấy, còn cái gì mới là vật. Ông hãy chín-chắn
chia-chẻ trong muôn hiện-tượng, tách ra cái thấy, chỉ-bày
cho tôi như các vật kia, rõ-ràng không lầm-lẫn".
Ông
A-nan bạch: "Nay tôi ở giảng-đường nầy, trông xa đến sông
Hằng, trên đến mặt trời, mặt trăng, giơ tay chỉ ra, đưa
mắt trông ra, thì những cái chỉ được đều là vật, chứ
không có cái gì là cái thấy. Bạch Thế-tôn, như lời Phật
vừa dạy, chẳng những hàng hữu-lậu sơ-học Thanh-văn như
chúng tôi, mà cho đến các vị Bồ-tát cũng không thể, ở
nơi hiện-tượng muôn vật, chỉ ra cái thấy, rời tất-cả
vật, riêng có tự-tính".
Phật
dạy: "Đúng thế, đúng thế".
ĐOẠN
III
CHỈ
RA KHÔNG CÓ CÁI GÌ RA NGOÀI CÁI THẤY
Phật
lại bảo ông A-nan: "Như lời ông nói: Không có cái thấy,
rời tất-cả vật, riêng có tự-tính; thì trong tất-cả các
vật đã chỉ được, không có cái gì là cái thấy cả. Nay
tôi lại bảo ông: Ông cùng Như-lai ngồi trong rừng Kỳ-đà,
lại xem rừng vườn cho đến mặt trời mặt trăng, nhiều
thứ hình-tượng khác nhau, trong đó, chắc không có cái thấy
mà ông có thể chỉ ra được. Vậy ông hãy phát-minh trong
các vật đó, có cái gì ra ngoài cái thấy?"
Ông
A-nan bạch: "Thật tôi thấy khắp rừng Kỳ-đà nầy, không
biết trong đó có cái gì ra ngoài cái thấy. Vì sao? Nếu cái
cây ra ngoài cái thấy thì sao lại thấy cây, còn nếu cái
cây tức là cái thấy thì sao lại là cây; như thế cho đến
nếu hư-không ra ngoài cái thấy, thì sao thấy được hư-không,
còn nếu hư-không tức là cái thấy, thì sao lại là hư-không.
Tôi lại suy-nghĩ, phát-minh chín-chắn trong muôn hình-tượng,
thật không có cái gì ra ngoài cái thấy cả".
Phật
dạy: "Đúng thế, đúng thế".
ĐOẠN
IV
NGÀI
VĂN-THÙ KÍNH XIN PHẬT PHÁT-MINH HAI THỨ
Khi
ấy trong đại-chúng, những vị chưa chứng-quả vô-học, nghe
Phật dạy như thế, mờ-mịt chẳng biết nghĩa ấy đầu đuôi
thế nào, nên đồng-thời sợ-hãi, không giữ được tâm thanh-tịnh.
Đức
Như-lai biết đại-chúng tâm-niệm rối-loạn, sinh lòng thương-xót,
an-ủi ông A-nan và cả đại-chúng rằng: "Các thiện-nam-tử,
bậc vô-thượng Pháp-vương, lời nói chân-thật, như tính
chân-như mà nói, không lừa không dối, không phải như bốn
thứ luận-nghị càn-giỡ bất-tử của bọn Mạt-già-lê; ông
hãy suy-nghĩ cho chín-chắn, chớ phụ lòng thương-mến của
tôi".
Lúc
ấy ngài Pháp-vương-tử Văn-thù-sư-lỵ thương xót hàng tứ-chúng,
ở trong đại-chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đỉnh-lễ
chân Phật, chấp tay cung-kính mà bạch Phật rằng: "Thưa Thế-tôn,
đại-chúng nầy không ngộ được chỗ đức Như-lai phát-minh
ra hai nghĩa "thị" và "phi-thị" nơi hai thứ "cái thấy" và
"sắc không". Bạch Thế-tôn, nếu những hiện tượng sắc
không nơi tiền-cảnh, tức là cái thấy, thì lẽ ra có chỗ
chỉ được, còn nếu ra ngoài cái thấy, thì lẽ ra không thể
thấy được; mà nay đại-chúng không rõ nghĩa ấy do đâu,
nên mới kinh-sợ, chứ không phải vì trước đây thiện-căn
ít-ỏi; kính mong đức Như-lai thương-xót, phát-minh cho rõ
các vật-tượng ấy và cái thấy ấy vốn là vật gì, mà
ở trong đó, lại không có các nghĩa "thị" và "phi-thị".
ĐOẠN
V
CHỈ
ĐÍCH TÍNH-THẤY KHÔNG CÓ CÁC NGHĨA "THỊ" VÀ "PHI-THỊ"
Phật
bảo ngài Văn-thù cùng cả đại-chúng rằng: "Thập phương
Như-lai và các vị đại-Bồ-tát ở trong tự-trụ Tam-ma-điạ,
thì cái "thấy", cái "bị-thấy" và các tương-tướng hoa-đốm
hư-không, vốn không có gì. Cái "thấy" và cái "bị thấy"
đó vốn là tâm-tính Bồ-đề nhiệm-mầu trong-sạch sáng-suốt,
làm sao trong đó, lại còn có các nghĩa "thị" và "phi-thị"?
Văn-thù,
nay tôi hỏi ông: Như ông đây là Văn-thù, nơi ông lại có
cái tức là Văn-thù hay không có Văn-thù?
- Bạch
Thế-tôn, đúng thế. Tôi đây thật là Văn-thù, nơi tôi không
có cái gì tức là Văn-thù, vì sao? Vì nếu có cái ấy, thì
thành ra hai Văn-thù, nhưng tôi hiện nay không phải là không
Văn-thù; trong đó thật không có hai tướng "thị" và "phi-thị".
Phật
bảo: "Tính-thấy nhiệm-mầu sáng-suốt với các thứ sắc,
không thì cũng như vậy. Vốn một tâm-tính vô-thượng Bồ-đề,
lầm-nhận là sắc, không cùng với nghe, thấy, như dụi con
mắt, thấy có hai mặt trăng, thì mặt trăng nào mới thật
là mặt trăng, còn mặt trăng nào lại không phải là mặt
trăng. Văn-thù, chỉ có một mặt trăng thật, trong ấy tự
không có cái gì thật là mặt trăng hay không phải là mặt
trăng. Vậy nên hiện nay, các ông phát-minh ra các thứ xem-thấy
và trần-cảnh, đều gọi là vọng-tưởng, không thể ở trong
đó, chỉ ra các nghĩa "thị" và "phi-thị". Nhưng do tất-cả
đều là tâm-tính nhiệm-mầu sáng-suốt nên có thể làm cho
các ông ra ngoài các nghĩa "chỉ được" và "không chỉ được".
MỤC
IV
PHÁ
NHỮNG THUYẾT NHÂN-DUYÊN TỰ-NHIÊN ĐỂ BÀY-TỎ SỰ THẬT NHẬN-THẤY
TÍNH-THẤY
ĐOẠN
I
NGHI
TÂM-TÍNH TỰ-NHIÊN NHƯ THẦN-NGÃ
Ông
A-nan bạch Phật rằng: "Thưa Thế-tôn, thật như lời Pháp-vương
dạy, tâm-tính cùng khắp thập phương thế-giới, yên-lặng
thường-trụ, không có sinh-diệt; điều ấy so với thuyết
ông Phạm-chi Sa-tỳ ca-la ngày xưa nói về minh-đế, hay các
thuyết ngoại-đạo như bọn Đầu-hói nói có chân-ngã cùng
khắp mười phương, khác nhau thế nào? Ở núi Lăng-già, đức
Thế-tôn đã từng, vì các ông Đại-tuệ, chỉ-dạy rằng:
Bọn ngoại-đạo kia thường nói tự-nhiên, còn Phật nói nhân-duyên,
không phải cảnh-giới của bọn kia. Nay tôi xét cái tâm-tính
đó tự-nhiên, không phải sinh, không phải diệt, xa-rời tất-cả
các điều trái-ngược, luống-dối, giống như không phải
là nhân-duyên, cũng không phải là cái tự-nhiên của bọn
kia. Xin Phật khai-thị thế nào, cho chúng tôi khỏi mắc tà-kiến
và được tâm-tính trong-sạch nhiệm-mầu sáng-suốt".
ĐOẠN
II
CHỈ
RA KHÔNG PHẢI LÀ TỰ-NHIÊN
Phật
bảo ông A-nan: "Nay tôi phương-tiện chỉ-bày, chân-thật bảo
ông như vậy, ông còn chưa ngộ, lại lầm là tự-nhiên. A-nan,
nếu chắc là tự-nhiên, tự phải chỉ rõ thể-tính tự-nhiên.
Ông hãy xét cái tính-thấy kia lấy cái gì làm tự-thể. Cái
thấy đó lại là lấy cái sáng làm tự-thể, lấy cái tối
làm tự-thể, lấy hư-không làm tự thể hay lấy ngăn-bịt
làm tự-thể. A-nan, nếu lấy cái sáng làm tự-thể thì lẽ
ra không thấy được tối, nếu lấy hư-không làm tự-thể
thì lẽ ra không thấy được ngăn-bịt, như vậy cho đến
lấy các tướng tối mà làm tự-thể thì đến khi sáng, tính-thấy
đã diệt mất rồi, làm sao còn thấy được sáng ?"
ĐOẠN
III
NGHI
LÀ NHÂN-DUYÊN
Ông
A-nan bạch : "Chắc cái tính-thấy ấy không phải là tự-nhiên,
thì nay tôi phát-minh được, nó do nhân-duyên mà sinh; nhưng
tâm còn chưa rõ, xin hỏi đức Như-lai, nghĩa-lý thế nào cho
hợp với tính nhân-duyên".
ĐOẠN
IV
CHỈ
RA TÍNH-THẤY KHÔNG PHẢI LÀ NHÂN-DUYÊN VÀ KẾT-LUẬN TÍNH-THẤY
RỜI CÁC DANH-TƯỚNG
Phật
dạy: "Ông nói nhân-duyên, tôi lại hỏi ông: Nay ông do nhân-duyên
mà có thấy; tính-thấy hiện trước đó, vậy tính-thấy,
ấy lại là nhân cái sáng mà có thấy, nhân cái tối mà có
thấy, nhân hư-không mà có thấy hay nhân ngăn-bịt mà có thấy?
A-nan, nếu tính-thấy nhân cái sáng mà có, thì lẽ ra không
thấy được tối, còn như nhân cái tối mà có, thì lẽ ra
không được sáng; như vậy cho đến nhân hư-không, nhân ngăn-bịt,
thì cũng đồng như nhân cái sáng và cái tối. Lại nữa, A-nan,
cái thấy ấy lại là nương cái sáng mà có thấy, nương cái
tối mà có thấy, nương hư-không mà có thấy hay là nương
ngăn-bịt mà có thấy? A-nan, nếu nương hư-không mà có thấy,
thì lẽ ra không thấy được ngăn-bịt; nếu nương ngăn-bịt
mà có thấy, thì lẽ ra không thấy được hư-không; như vậy
cho đến nương cái sáng, nương cái tối cũng đồng như nương
hư-không, nương ngăn-bịt. Nên biết tính-thấy như vậy, không
phải nhân, không phải duyên, không phải tự-nhiên, cũng không
phải không tự-nhiên, không có nghĩa "không phải" hay "không
không phải", không có nghĩa "tức là" hay "không tức là", rời
hết tất-cả các tướng, tức là tất-cả sự vật; làm sao
trong ấy, ông lại định đem các danh-tướng hí-luận thế-gian
mà phân biệt cho được. Thế cũng như lấy bàn tay, nắm-bắt
hư-không, chỉ thêm nhọc sức, chứ làm sao hư-không lại để
cho ông nắm-bắt".
ĐOẠN
V
LẠI
NGHI NHÂN-DUYÊN
Ông
A-nan bạch Phật rằng : "Thưa Thế-tôn, chắc cái tâm-tính
ấy, không phải nhân-duyên, thế sao đức Thế-tôn lại thường
chỉ-dạy cho các hàng tỷ-khưu rằng : Tính-thấy có bốn thứ
nhân-duyên, nghĩa là nhân hư-không, nhân ánh-sáng, nhân cái
tâm và nhân con mắt. Nghĩa đó thế nào?
ĐOẠN
VI
PHẬT
LẠI BÁC NHÂN-DUYÊN, TỰ-NHIÊN ĐỂ NÊU RA TÍNH-THẤY RỜI CẢ
BỐN TƯỚNG
Phật
bảo : A-nan, tôi nói như thế là nói về các tướng nhân-duyên
thế-gian, đó không phải là đệ-nhất-nghĩa. A-nan, tôi lại
hỏi ông : Các người thế-gian nói : Tôi thấy được, thì
thế nào, họ gọi là thấy, còn thế nào, họ gọi là không
thấy?"
Ông
A-nan bạch : Người đời nhân ánh sáng mặt trời, mặt trăng
và đèn, thấy các hình-tướng, thì gọi là thấy, còn nếu
không có ba thứ ánh sáng đó, thì không thể thấy được."
- A-nan,
nếu khi không sáng mà gọi là không thấy, thì lẽ ra không
thấy được tối; nếu đã thấy được tối, thì khi đó,
chỉ là không sáng, chứ đâu phải là không thấy. A-nan, nếu
trong lúc tối, vì không thấy sáng mà gọi là không thấy;
vậy nay, trong lúc sáng, không thấy cái tối, thì lại cũng
phải gọi là không thấy; thế thì cả hai lúc sáng, tối,
cũng đều gọi là không thấy cả. Còn nếu như hai cái sáng
và tối tự lấn-át nhau, chứ không phải trong đó, tính-thấy
của ông tạm-thời không có; thế thì biết cả hai lúc đều
gọi là thấy, chứ sao lại gọi là không thấy. A-nan, vì vậy
ông nên biết rằng : Trong lúc thấy sáng, cái thấy không phải
là cái sáng, trong lúc thấy tối, cái thấy không phải là
cái tối, trong lúc thấy hư-không, cái thấy không phải là
hư-không, trong lúc thấy ngăn-bịt, cái thấy không phải là
ngăn-bịt.
ĐOẠN
VII
CHỈ
THẲNG SỰ THẬT NHẬN-THẤY TÍNH-THẤY
"Bốn
nghĩa đó đã thành-lập rồi, ông lại nên biết : Khi nhận-thấy
tính-thấy thì tính-thấy không phải là cái thấy. Tính-thấy
còn rời cả cái thấy và cái thấy không thể đến nơi tính-thấy
được; làm sao, ông còn nói đến những nhân-duyên, tự-nhiên
và tướng hòa-hợp? Bọn Thanh-văn ông hẹp-hòi không biết,
không thông-suốt được sự thật thanh-tịnh, nay tôi chỉ-dạy
cho ông, ông nên khéo suy-nghĩ, không được trễ-nãi trên đường
Bồ-đề nhiệm-mầu".
MỤC
V
CHỈ
RA CÁI NHẬN-THỨC SAI-LẦM ĐỂ BÀY-TỎ THỂ-TÍNH CHÂN-THẬT
ĐOẠN
I
XIN
CHỈ-DẠY CÁI NGHĨA : NHẬN-THẤY TÍNH-THẤY KHÔNG PHẢI LÀ
CÁI THẤY
Ông
A-nan bạch Phật rằng : "Thưa Thế-tôn, như đức Thế-tôn,
vì bọn chúng-tôi, chỉ-dạy về nhân-duyên, tự-nhiên các
tướng hòa-hợp và không hòa-hợp, tâm tôi còn chưa khai-ngộ;
nay lại nghe Phật dạy "nhận-thấy tính-thấy không phải là
cái thấy" thì càng thêm lúng-túng, cúi xin Phật thương-xót,
bố-thí cho con mắt đại-trí-tuệ, chỉ-bày cho chúng tôi tâm-tính
trong-sạch sáng-suốt". Ông A-nan nói như vậy rồi, khóc lóc
đỉnh-lễ, vâng nghe thánh-chỉ của Phật.
ĐOẠN
II
TRƯỚC
KHI DẠY PHÉP TỔNG-TRÌ, DẶN-BẢO PHẢI NGHE CHO CHÍN-CHẮN
Khi
bấy giờ. đức Thế-tôn thương-xót ông A-nan và cả đại-chúng,
định sẽ chỉ-dạy phép đại-tổng-trì là con đường tu-hành
nhiệm-mầu các pháp Tam-ma-đề, bảo ông A-nan rằng : "Ông
tuy nhớ lâu, chỉ thêm phần học rộng, nhưng nơi vi-mật quán
chiếu Xa-ma-tha, tâm còn chưa rõ. Nay ông hãy nghe cho chín-chắn,
tôi sẽ vì ông phân-tích chỉ-bày, đồng-thời cũng khiến
cho những kẻ hữu-lậu tương-lai được quả Bồ-đề.
ĐOẠN
III
CHỈ
RA HAI THỨ NHẬN-THỨC SAI-LẦM
Chi
1. - Chỉ ra hai thứ sai-lầm
A-nan,
tất-cả chúng-sinh luân-hồi trong thế-gian đều do hai nhận-thức
sai-lầm, phân-biệt trái-ngược, chính nơi tâm-tính mà phát-sinh,
chính theo nghiệp-báo mà xoay-vần. Hai nhận-thức ấy là gì?
Một là nhận-thức sai-lầm nghiệp riêng của chúng-sinh, hai
là nhận-thức sai-lầm nghiệp-chung của chúng-sinh.
Chi
2. – Nhận-thức sai-lầm nghiệp-riêng.
Thế
nào gọi là nhận-thức sai-lầm nghiệp-riêng? A-nan, như người
thế-gian, con mắt bị bệnh lòa thì ban đêm trông ngọn đèn,
riêng có thấy bóng tròn ngũ sắc bao-phủ. Ý ông nghĩ thế
nào? Cái bóng tròn hiện ra nơi ngọn đèn, đó, là sắc của
ngọn đèn hay là sắc của cái thấy? A-nan, nếu như là cái
sắc của ngọn đèn, thì sao những người không lòa lại không
cùng thấy, mà chỉ có người lòa mới thấy bóng tròn. Nếu
như là sắc của cái thấy, thì cái thấy đã thành sắc rồi,
còn cái người lòa kia thấy được bóng tròn thì gọi là
cái gì?
Lại
nữa, A-nan, nếu cái bóng tròn kia ngoài ngọn đèn, riêng mình
tự có, thì lẽ ra khi trông qua bình-phong, bức màn, bàn trà,
ghế ngồi, đều có bóng tròn hiện ra; còn nếu ngoài cái
thấy, bóng tròn, riêng mình tự có, thì lẽ ra không thể thấy
được, làm sao người lòa lại thấy bóng tròn. Vậy nên biết
rằng : Sắc thật ở nơi ngọn đèn, cái thấy bị bệnh làm
ra có bóng tròn. Cả cái bóng tròn và cái thấy bóng tròn đều
là bệnh lòa. Nhận thấy được bệnh lòa thì cái nhận thấy
đó không phải là bệnh; rốt-cuộc không nên nói rằng bóng
tròn là ngọn đèn hay là cái thấy, trong đó còn có bệnh
lòa không phải ngọn đèn, không phải cái thấy. Ví như mặt
trăng thứ hai, không phải thật-thể mặt trăng và cũng không
phải là cái bóng của mặt trăng. Vì sao? Vì thấy có mặt
trăng thứ hai là do dụi mắt mà thành ra vậy. Các người
có trí, không nên bảo rằng mặt trăng dụi mắt mà thành
ra đó, là hình-tướng hay không phải là hình-tướng, là ra
ngoài cái thấy hay không ra ngoài cái thấy. Bóng tròn cũng
như vậy, nó do bệnh lòa mắt mà thành; nay dầu muốn gọi
cái gì là ngọn đèn hay là cái thấy cũng không được, huống
nữa, còn phân-biệt là không phải nhọn đèn hay không phải
là cái thấy!
Chi
3. - Nhận thức sai-lầm nghiệp-chung.
Thế
nào gọi là nhận-thức sai-lầm nghiệp-chung?
A-nan,
cõi Diệm-phù-đề này, trừ nước biển-cả ra, trong đó đất-bằng
có 3.000 châu, châu lớn chính giữa, bao-quát từ Đông sang
Tây, có đến 2.300 nước lớn. Còn các châu nhỏ khác ở trong
các biển, trong đó có châu đến 200, 300 nước hoặc có một
chục, hai chục, cho đến 30, 40, 50, nước. A-nan, nếu ở trong
đó có một châu nhỏ, chỉ có hai nước, mà riêng người
trong một nước đồng-cảm ác-duyên, thì chúng-sinh trong nước
đó thấy tất-cả những cảnh-giới không tốt; hoặc thấy
hai mặt trời, hoặc thấy hai mặt trăng, cho đến thấy nhiều
ác-tướng khác, như vựng, thích, bội, quyết, tuệ, bột,
phi, lưu, phụ-nhĩ, hồng-nghê; chỉ nước đó thấy, còn chúng-sinh
nước bên kia, thì vốn không thấy và cũng không nghe.
ĐOẠN
IV
SO-SÁNH
CÁI THẤY HIỆN-TIỀN ĐỂ CHỈ RÕ Ý-NGHĨA : "NHẬN-THẤY TÍNH-THẤY
KHÔNG PHẢI LÀ CÁI THẤY" XA-RỜI TƯỚNG HÒA-HỢP, VIÊN-MÃN
ĐẠO BỒ-ĐỀ.
Chi
1. - Dùng nhận-thức nghiệp-riêng để chỉ rõ thế nào là
nhận-thấy tính-thấy.
"A-nan,
tôi nay đem hai việc đó, lui tới kết-hợp mà chỉ rõ.
A-nan,
như cái nhận-thức sai-lầm nghiệp-riêng của chúng-sinh kia,
thấy nơi ngọn đèn hiện ra bóng tròn, tuy giống như tiền-cảnh,
nhưng rốt-cuộc là do bệnh lòa của người ấy tạo-thành.
Lòa là bệnh của cái thấy, không phải do sắc-tướng tạo
ra; song người nhận-thấy được bệnh lòa vẫn không có lỗi-lầm
gì về cái thấy cả.
So-sánh
với hiện nay, ông dùng con mắt xem thấy núi sông, cõi nước
và các chúng-sinh, đều là do bệnh thấy vô-thủy tạo-thành.
Cái thấy và cái bị thấy duyên nhau, hình-như hiện ra tiền-cảnh,
thật-chất vốn là bệnh lòa, năng-kiến sở-kiến của tâm-tính
mà thôi.
Giác-ngộ
rằng thấy như thế tức là bệnh lòa, thì cái tâm giác-ngộ
đó nhận-thức không lòa. Giác-ngộ thấy như thế là bệnh
lòa, thì cái giác-ngộ đó không phải trong phạm-vi bệnh lòa;
đó thật là nhận-thấy tính-thấy, sao còn gọi là thấy,
nghe, hay, biết.
Vậy
nên nay ông thấy tôi cùng ông và thập loại chúng-sinh trong
thế-gian đều là thấy lòa, chứ không phải là thấy được
cái bị bệnh lòa. Cái tính-thấy chân-thật kia, vốn ra ngoài
bệnh lòa, cho nên không gọi là cái thấy.
Chi
2. - Lấy nghiệp-chung so với nghiệp-riêng đi đến nhận-rõ
sự thật mười phương.
A-nan,
như lấy nhận-thức sai-lầm nghiệp-chung kia của chúng-sinh,
so với nhận-thức sai-lầm nghiệp-riêng của một người,
thì một người đau mắt cũng đồng như cả một nước kia;
người đau mắt thấy bóng tròn là do bệnh lòa giả-dối sinh
ra; còn trong một nước kia, hiện ra các thứ không tốt là
do ác-duyên nghiệp-chung của chúng-sinh tạo nên; cả hai đều
do nhận-thức sai-lầm vô-thủy giả-dối sinh ra. Tỷ-lệ với
3000 châu, với bốn biển lớn trong cõi Diêm-phù-đề, với
thế-giới Sa-bà cho đến nước hữu-lậu và các chúng-sinh
trong mười phương, đồng là nơi tâm-tính nhiệm-mầu sáng-suốt,
các bệnh duyên thấy, nghe, hay, biết, sai-lầm, hòa-hợp giả-dối
sinh ra, hòa-hợp giả-dối diệt mất. Nếu xa-rời được các
bệnh duyên hòa-hợp và không hòa-hợp thì cũng diệt-trừ
được các nguyên-nhân chết sống, đầu-đủ tính Bồ-đề
không sinh-diệt, bản-tâm thanh-tịnh, bản-giác thường an-trụ.
Chi
3. - Phá xích nghĩa hòa-hợp.
A-nan,
ông tuy đã ngộ tâm-tính nhiệm-mầu sáng-suốt, vốn không
phải nhân-duyên, không phải tự-nhiên, nhưng còn chưa rõ tâm-tính
như vậy không phải hòa-hợp mà sinh, cũng không phải không
hòa-hợp.
A-nan,
nay tôi lại lấy nơi tiền-trần hỏi ông, ông còn đem tất-cả
những tính nhân-duyên hòa-hợp của tư-tưởng sai-lầm thế-gian
mà tự nghi-ngờ rằng chứng tâm Bồ-đề cũng do hòa-hợp
mà phát-khởi. Thì hiện nay, cái thấy của ông lại là hòa
với cái sáng, hòa với cái tối, hòa với cái thông-suốt
hay hòa với cái ngăn-bịt? Nếu hòa với cái sáng thì ông
đang thấy sáng, cái sáng hiện đó, vậy chỗ nào xen-lộn
với cái thấy? Cái thấy cái sáng có thể nhận-rõ, còn hình-trạng
xen-lộn, thì như thế nào? Nếu cái sáng ra ngoài cái thấy,
thì làm sao thấy được sáng? Còn nếu cái sáng tức là cái
thấy, thì làm sao lại thấy được cái thấy? Như cái thấy
cùng khắp, thì còn chỗ nào hòa được với cái sáng, còn
như cái sáng cùng khắp, thì lẽ ra không hòa được với cái
thấy. Cái thấy đã khác với cái sáng thì khi xen-lộn vào,
tất phải làm mất tính-cách của cái sáng. Cái thấy xen vào,
làm mất tính-cách của cái sáng mà nói hòa với cái sáng
là không đúng nghĩa. Đối với cái tối, cái thông-suốt và
cái ngăn-bịt thì cũng như vậy.
Lại
nữa, A-nan, hiện nay cái thấy nhiệm-mầu sáng-suốt của ông
lại là hợp với cái sáng, hợp với cái tối, hợp với cái
thông-suốt hay hợp với cái ngăn-bịt? Nếu hợp với cái
sáng thì đến khi tối, cái sáng đã mất rồi, cái thấy đó
đã không hợp với cái tối, làm sao thấy được cái tối?
Nếu khi thấy tôi mà không hợp với cái tối thì lẽ ra khi
hợp với cái sáng, không thấy được cái sáng; mà đã không
thấy được sáng thì làm sao họp với cái sáng và rõ-biết
cái sáng không phải là tối. Đối với cái tối, cái thông-suốt,
cái ngăn-bịt thì cũng như vậy".
Chi
4. - Phá xích nghĩa không hòa-hợp.
Ông
A-nan bạch Phật rằng : "Thưa Thế-tôn, như chỗ tôi suy-nghĩ,
cái tâm-tính ấy đối với các trần-cảnh và các tâm-niệm
nhớ-nghĩ, không hòa-hợp chăng?"
Phật
dạy: "Nay ông lại nói tâm-tính không hòa-hợp thì tôi lại
hỏi ông : Cái tính-thấy gọi là không hòa-hợp đó, lại
là không hòa với cái sáng, không hòa với cái tối, không
hòa với cái thông-suốt, hay không hòa với cái ngăn-bịt?
Nếu không hòa với cái sáng, thì giữa cái thấy và cái sáng
phải có ranh-giới. Ông nay hãy xét cho kỹ : Chỗ nào là cái
sáng, chỗ nào là cái thấy. Nơi cái thấy và nơi cái sáng,
thì lấy từ đâu làm ranh-giới. A-nan, nếu bên cái sáng, chắc
không có cái thấy, thì hai cái không đến với nhau, cái thấy
tự-nhiên không biết được cái sáng ở đâu, làm sao mà thành-lập
được ranh-giới. Đối với cái tối, cái thông-suốt, cái
ngăn-bịt thì cũng như vậy.
Lại
cái thấy, gọi là không hòa-hợp đó, là không hợp với cái
sáng, không hợp với cái tối, không hợp với cái thông-suốt
hay không hợp với cái ngăn-bịt? Nếu không hợp với cái
sáng, thì cái thấy với cái sáng, tính trái-ngược nhau, như
cái nghe với cái sáng, không đụng chạm gì với nhau cả;
thế thì, cái thấy còn không biết cái sáng ở đâu, làm sao
phát-minh được những lẽ hợp hay không hợp? Đối với cái
tối, cái thông-suốt, cái ngăn-bịt thì cũng như vậy.
MỤC
VI
TÓM-THU
BỐN KHOA VÀ BẢY ĐẠI VỀ NHƯ-LAI-TẠNG ĐỂ PHÁT-KHỞI CHỔ
CHÂN-NGỘ
ĐOẠN
I
TÓM-THU
"A-nan,
ông còn chưa rõ tất-cả các tướng huyễn-hóa nơi tiền-trần,
chính nơi tâm mà sinh ra, rồi theo nơi tâm mà diệt mất. Cái
huyễn-hóa giả-dối gọi là tướng, mà cái tính chính là
tâm-tính nhiệm-mầu sáng-suốt; như vậy, cho đến 5 ấm, 6
nhập, 12 xứ và 18 giới, nhân-duyên hòa-hợp giả-dối có
sinh ra, nhân-duyên chia-lìa giả-dối gọi rằng diệt; mà không
biết rằng sinh, diệt, đi, lại đều vốn là tính chân-như
cùng khắp, không lay-động, nhiệm-mầu, sáng-suốt, thường-trụ
của Như-lai-tạng. Trong tâm-tính chân-thường đó, cầu cho
ra những cái đi, lại, mê, ngộ, sống, chết, hẳn không thể
được.
ĐOẠN
II
THU
NĂM ẤM LÀ SẮC, THỤ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC
Chi
I. - Thu sắc-ấm.
"A-nan,
làm sao 5 ấm vốn là tính chân-như nhiệm-mầu của Như-lai-tạng.
A-nan, ví như có người đem con mắt trong-sạch, xem hư-không
trong sáng, chỉ thấy một hư-không trong-sáng, hẳn không thấy
gì. Người kia, không lý do gì, lại bắt con mắt không lay-động;
ngó chăm mãi, phát ra mỏi-mệt thì ở giữa hư-không, riêng
thấy có hoa-đốm lăng-xăng và có tất-cả những tướng giả-dối
lộn-xộn; nên biết sắc-ấm cũng lại như vậy.
A-nan,
các hoa-đốm lăng-xăng ấy, không phải từ hư-không mà đến,
không phải từ con mắt mà ra. Thật vậy, A-nan, nếu từ hư-không
mà đến, thì đã từ hư-không mà đến, rồi phải trở vào
hư-không; mà đã có ra có vào, thì không phải là hư-không
nữa. Hư-không, nếu lại không phải là hư-không, thì tự-nhiên
không thể dung-nạp hoa-đóm sinh-diệt trong ấy, như thân-thể
ông A-nan, không dung-nạp được một ông A-nan nữa.
Nếu,
hoa-đốm từ con mắt mà ra, thì đã từ con mắt mà ra, rồi
phải trở vào con mắt; lại cái tính hoa-đốm ấy đã từ
con mắt mà ra, thì lẽ ra phải có thấy. Nếu như có thấy
thì khi đi ra, đã làm hoa-đốm giữa hư-không, đến khi xoay
về, phải thấy được con mắt. Nếu không có thấy, thì khi
đi ra đã làm mờ hư-không, đến khi trở về phải làm mờ
con mắt. Lại như thế, khi thấy hoa-đốm, lẽ ra con mắt không
mờ, làm sao, chỉ khi thấy hư-không trong suốt, thì mới gọi
là con mắt trong-sáng? Vậy nên biết rằng sắc-ấm là giả-dối,
vốn không phải tính nhân-duyên, không phải tính tự-nhiên.
Chi
2. - Thu Thụ-ấm.
A-nan,
ví như có người tay chân yên-ổn, trăm vóc điều-hòa, bỗng
như quên mình, không có gì là trái là thuận; người ấy không
lý do gì, lấy hai bàn tay xoa nhau giữa hư-không, thì nơi hai
bàn tay giả-dối sinh ra những cảm xúc trơn, rít, lạnh, nóng.
Nên biết thụ-ấm cũng lại như vậy.
A-nan,
các cảm-xúc giả-dối kia, không phải từ hư-không mà đến,
không phải từ bàn tay mà ra. Thật vậy, A-nan, nếu từ hư-không
mà đến, thì đã sinh cảm-xúc nơi bàn tay, sao lại không sinh
cảm-xúc nơi thân-thể, không lẽ hư-không lại biết lựa
chỗ sinh ra cảm-xúc. Nếu như từ bàn tay mà ra, thì lẽ ra
không cần hai bàn tay phải hợp lại. Lại đã từ bàn tay
mà ra, thì khi bàn tay hợp lại, biết có cảm-xúc, đến khi
bàn tay rời ra, thì cảm-xúc phải chạy vào và xương tủy
cánh tay, lẽ ra phải biết đường vào của cảm-xúc; rồi
lại phải có tâm hay-biết, biết ra, biết vào, và phải có
một vật đi lại trong thân, sao lại phải chờ đến hai tay
hợp lại mới gọi là cảm-xúc.Vậy nên biết rằng thụ-ấm
là giả-dối, vốn không phải tính nhân-duyên, không phải
tính tự-nhiên.
Chi
3. - Thu tưởng-ấm
A-nan,
ví như có người, khi nghe nói đến quả mơ chua thì trong miệng
có nước bọt chảy ra; khi nghĩ đến đứng trên dốc cao thì
lòng bàn chân ghê-rợn. Nên biết tưởng-ấm cũng lại như
vậy.
A-nan,
câu chuyện mơ chua như thế, không phải do quả mơ sinh ra,
không phải do cái miệng mà vào. Thật vậy, A-nan, nếu do quả
mơ sinh ra, thì quả mơ tự nói lấy, sao phải đợi người
ta nói; nếu do cái miệng mà vào, thì lẽ ra cái miệng tự
nghe lấy, cần gì đến lỗ tai; nếu riêng mình lỗ tai nghe,
thì nước bọt kia, sao không từ lỗ tai chảy ra. Câu chuyện
nghĩ đến đứng trên dốc cao cũng giống như vậy. Vậy nên
biết rằng tưởng-ấm là giả-dối, vốn không phải tính
nhân-duyên, không phải tính tự-nhiên.
Chi
4. - Thu hành-ấm.
A-nan,
ví như dòng nước dốc, sóng mòi nối nhau, lớp trước lớp
sau, không vượt khỏi nhau. Nên biết hành-ấm cũng lại như
vậy.
A-nan,
dòng nước như vậy không nhân hư-không mà sinh, không nhân
nước mà có, không phải tính nước, cũng không ra ngoài hư-không
và nước. Thật vậy, A-nan, nếu nhân hư-không mà sinh, thì
cả thập phương hư-không vô cùng tận, phải thành dòng nước
vô cùng tận và tự-nhiên thế-giới đều bị chìm-đắm cả.
Nếu nhân nước mà có, thì dòng nước dốc ấy bản-tính
lẽ ra không phải là nước nữa và hiện nay, đã có thể
chỉ ra hai tướng của nước và của dòng nước khác nhau.
Nếu dòng nước dốc tức là tính nước thì khi nước đứng
lại, lẽ ra không phải là nước nữa; nếu ra ngoài hư-không
và nước thì không có cái gì ở ngoài hư-không và, ngoài
nước ra, không thể có dòng nước. Vậy nên biết rằng hành-ấm
là giả-dối, vốn không phải tính nhân-duyên, không phải
tính tự-nhiên.
Chi
5. - Thu thức-ấm.
A-nan,
ví như có người lấy bình tần-già, bịt cả hai lỗ, rồi
vác đầy bình hư-không, đi xa nghìn dặm, đem cho nước khác.
Nên biết thức-ấm cũng lại như vậy.
A-nan,
cái hư-không đó, không phải đến từ phương kia, cũng không
phải
đưa vào phương nầy. Thật vậy, A-nan, nếu đến từ phương
kia, thì trong cái bình đã đựng hư-không đem đi, ở chỗ
cũ cái bình phải thiếu hư-không; nếu đưa vào phương nầy,
thì khi mở miệng bình trút ra, phải thấy hư-không ra. Vậy
nên biết rằng thức-ấm là giả-dối, vốn không phải tính
nhân-duyên, không phải tính tự-nhiên.
WP:
Chơn Hạnh
Kinh
Sách Liên Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Giảng
Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, Thiền Sư Nhẫn Tế
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu