KINH
THỦ-LĂNG-NGHIÊM
QUYỂN
NHẤT
ÐỀ-MỤC
KINH
Kinh
Ðại-Phật-đỉnh, Như-lai mật-nhân, tu-chứng liễu-nghĩa,
chư Bồ-tát vạn-hạnh, Thủ-lăng-nghiêm (Suramgama), gọi tắt
là Kinh Thủ-lăng-nghiêm.
Sa-môn
tên là Bát-lạt-mật-đế, người Thiên-trúc dịch.
Sa-môn
tên là Di-già-thích-ca người Ô-trành, dịch theo tiếng Trung-quốc.
Ðệ-tử
thụ Bồ-tát-giới, tên là Phòng-Dung, chức Ðồng-trung-thư
môn-hạ Bình-chương-sự, ghi-chép lời dịch.
PHẦN
THỨ NHẤT - PHẦN TỰA
CHƯƠNG
I
TỰA
CHUNG
Như
vậy tôi được nghe trong một thời, Phật ở tịnh xá Kỳ-Hoàn
thành Thất-La-Phiệt, cùng với chúng đại-tỷ-khưu một nghìn
hai trăm năm mươi vị, đều là bậc vô lậu Ðại-A-la-hán.
Các vị phật-tử trụ-trì, khéo vượt trên chư hữu, ở các
quốc-độ đầy-đủ uy-nghi, theo Phật chuyển Pháp-luân, có
khả-năng thật-hiện lời di-chúc nhiệm-mầu của Phật, nghiêm-giữ
giới-luật thanh-tịnh để làm khuôn phép cho ba cõi, hiện
thân vô số, cứu-vớt chúng-sinh, tột đời vị-lai, khỏi
các trần-lụy. Các vị tên là : Ðại-trí Xá-lỵ-phất, Ma-ha
Mục-kiền-liên, Ma-ha Câu-si-la, Phú-lâu-na-di-đa-la-ni-tử, Tu-bồ-đề,
Ưu-ba-ni-sa-đà làm thượng-thủ.
Lại
có vô số các vị Bích-chi vô-học và sơ-tâm đồng đến
chổ Phật giảng đạo.
Nhằm
ngày các vị tỷ-khưu mãn hạ tự-tứ, các vị Bồ-tát, từ
mười phương đến, xin Phật giải-quyết nghi-hoặc, kính vâng
đức Từ-Nghiêm, thỉnh-cầu nghĩa thâm-mật.
Ðức
Như-Lai giải pháp-tọa, ngồi khoan-thai, vì cả trong Hội tỏ-bày
nghĩa sâu. Chúng Hội thanh-tịnh được pháp chưa từng có.
Giọng nói của Phật hòa-nhã như tiếng chim ca-lăng-tầng-già,
nghe khắp mười phương. Hằng sa Bồ-tát đều đến đạo-trường,
có ngài Văn-thù-sư-lỵ làm thượng-thủ.
CHƯƠNG
II
TỰA
RIÊNG
DUYÊN-KHỞI
CỦA KINH
Khi
ấy vua Ba-tư-nặc, nhân ngày kỵ phụ-vương, mở tiệc chay
mời Phật thụ-trai nơi cung-cấm; vua sắm đủ các món ăn
quý-báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Ðại-Bồ-Tát.
Trong thành lại có các trưởng-giả cư-sĩ đồng-thời cùng
trai-tăng, chờ Phật đến chứng. Phật khiến ngài Văn-thù
chia lãnh các vị Bồ-Tát và A-la-hán đi đến các nhà trai-chủ.
Duy
có ông A-nan trước đả nhận lời mời riêng, đi xa chưa về,
không kịp dự hàng tăng-chúng. Ông về một mình, không có
Thượng-tọa và A-xà-lê cùng đi và ngày ấy cũng không được
ai cúng-dường. Lúc bấy giờ ông cầm bình-bát vào trong một
thành trên đường đi, theo thứ lớp khất-thực; tâm ông trước
hết cầu được một người tối hậu đàn-việt làm trai-chủ,
không kể sang hèn, phát-tâm làm sao cho tất-cả chúng sinh được
viên-thành vô lượng công-đức. Ông A-nan đã biết đức Phật
Thế-Tôn quở ông Tu-bồ-đề và ông Ðại-ca-diếp làm A-la-hán
mà tâm không công-bằng. Ônh kính vâng lời dạy vô giá của
Phật độ-thoát mọi điều chê-bai nghi-hoặc. Ông đến bên
thành, thong-thả vào cửa, uy-nghi nghiêm-chỉnh, kính giữ phép
hóa-trai.
Trong
khi khất-thực, ông A-nan đi qua nhà người dâm-nữ Ma-đăng-già,
bị phép huyển-thuật. Nàng ấy dùng tà-chú Tiên-phạm-thiên
đạo Sa-tỳ-ca-la bắt vào phòng riêng, dựa-kề vuốt-ve làm
cho ông A-nan gần phá giới-thể.
Ðức
Như-lai biết ông A-nan mắc phải dâm-thuật, nên dùng trai rồi,
liền trở về tịnh-xá. Vua cùng đại-thần, trưởng-giả
cư-sĩ đều đi theo Phật, mong nghe những pháp chủ-yếu của
đạo Phật.
Khi
ấy trên đỉnh đức Thế-tôn, phóng hào-quang bách-bảo vô-úy;
trong hào-quang hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, có hoá-thân của
Phật kết-già ngồi trên, tuyên-đọc thần-chú , khiến ngài
Văn-thù đem chú nầy đến giúp-đỡ, tiêu-diệt tà-chú, đưa
ông A-nan cùng nàng Ma-đăng-già đều về chỗ Phật ở.
Ông
A-nan thấy Phật, đỉnh-lể khóc-lóc, giận mình từ vô-thủy
đến nay, một bề học rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo-lực,
tha-thiết xin Phật dạy cho những phép xa-ma-tha, tam-ma, thiền-na,
là những phương-tiện tu-hành đầu tiên để thành đạo Bồ-đề
của thập phương Như-lai. Lúc ấy lại có hằng-sa Bồ-tát,
Ðại-A-la-hán và Bích-chi-Phật, từ mười phương đến, thảy
đều mong nghe Phật dạy, lui về chổ ngồi, yên-lặng lĩnh-thụ
thánh-chỉ của Phật.
PHẦN
THỨ HAI - PHẦN CHÍNH-TÔNG
CHƯƠNG
I
CHỈ
NGAY CHỖ VIÊN-NGỘ
MỤC
I
GẠN-HỎI
CÁI TÂM
ÐOẠN
I
NÊU
TRƯỚC NGUYÊN-DO CỦA THƯỜNG-TRỤ VÀ LƯU-CHUYỂN
Phật
bảo ông A-nan : "Tôi với ông đồng phái, tình như anh em ruột;
lúc ông mới phát-tâm thì ở trong Phật-pháp, thấy những
tướng tốt gì mà bỏ được những ân-ái sâu-nặng thế-gian?"
Ông
A-nan bạch Phật: "Tôi thấy 32 tướng của Như-lai tốt-đẹp
lạ thường, hình-thể sáng-suốt như ngọc lưu-ly, thường
tự suy-nghĩ: Tướng ấy không thể do dục-ái sinh ra, vì sao?
giống dâm-dục nhơ-nhớp, tanh-hôi kết-cấu, máu mủ xen-lộn,
làm sao sinh được thân vàng thắm chói trong-sạch sáng-suốt
như vậy, nên tôi ước-mong, cắt tóc theo Phật tu-học".
Phật
dạy: "Hay thay, A-nan, các ông nên biết hết thảy chúng-sinh
từ vô-thủy đến nay sống chết nối luôn, đều do không
biết thể-tính trong-sạch sáng-suốt của thường-trụ chân-tâm
mà lại chỉ dùng các vọng-tưởng, vì vọng-tưởng đó không
chân-thật nên mới có luân-hồi. Nay ông muốn học đạo vô-thượng
Bồ-đề, phát-minh chân-tính thì nên lấy tâm ngay-thẳng mà
đáp lại những câu hỏi của tôi. Thập phương Như-lai đều
do một đường thoát-ly sinh-tử là dùng tâm ngay-thẳng. Tâm
mà nói là ngay-thẳng thì cứ như vậy, từ địa-vị đầu
đến địa-vị cuối cùng, chặng giữa, hẳn không có những
tướng quanh-co.
A-nan,
nay tôi hỏi ông : "Ðương khi ông do 32 tướng của Như-lai
mà phát-tâm thì ông đem cái gì mà thấy và cái gì ưa-muốn?"
Ông
A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, ưa-muốn như vậy là dùng
cái tâm và con mắt của tôi. Do mắt thấy tướng tốt Như-lai,
tâm sinh ưa-muốn nên tôi phát-tâm muốn tu-hành thoát khỏi
sống chết".
Phật
bảo ông A-nan: "Như lời ông nói : Thật do tâm và con mắt
mà có ưa muốn. Nếu không biết tâm và con mắt ở đâu thì
không thể hàng-phục được trần-lao; ví như ông vua một
nước bị giặc xâm-lấn, phát-binh đánh-dẹp, thì binh ấy
cần biết giặc ở chỗ nào mới đánh-dẹp được. Hiện
ông còn mắc phải luân-hồi là lỗi tại tâm và con mắt của
ông". Nay tôi hỏi ông: "Tâm và con mắt ấy hiện ở chỗ nào?"
ÐOẠN
II
CHẤP
TÂM Ở TRONG THÂN
Ông
A-nan bạch Phật : "Thưa Thế-Tôn tất-cả mười loài chúng-sinh
trong
thế-gian đều cho cái tâm hay biết là ở trong thân. Dầu tôi
xem con mắt như hoa sen xanh của Như-lai cũng ở trên mặt Phật;
tôi thấy con mắt vật-chất của tôi ở trên mặt tôi. Như
vậy thì tâm hay biết thật ở trong thân".
Phật
bảo ông A-nan : "Hiện nay ông ngồi trong giảng-đường Như-lai.
Ông hãy xem rừng Kỳ-đà hiện ở chỗ nào?"
- Thưa
Thế-tôn, giảng-đường cao lớn thanh-tịnh này ở trong vườn
Cấp-cô-độc, còn rừng Kỳ-đà hiện thật ở ngoài giảng-đường.
- A-nan,
nay ông ở trong giảng-đường thì ông thấy cái gì trước?
- Thưa
Thế-tôn, tôi ở trong giảng-đường, trước thấy Như-lai,
sau xem đại-chúng, rồi trông ra ngoài thấy vườn rừng.
- A-nan,
do đâu ông thấy được vườn rừng?
- Thưa
Thế-tôn, do các cửa giảng-đường mở rộng nên tôi ở trong
thấy suốt được đến ra ngoài xa.
Khi
ấy đức Thế-tôn, ở trong đại-chúng, đưa cánh tay kim-sắc
xoa đầu ông A-nan, chỉ-bảo ông A-nan và đại-chúng rằng
: "Có pháp Tam-ma-đề tên là Đại-phật-đỉnh-thủ-lăng-nghiêm-vương,
gồm đủ muôn hạnh. Thập phương Như-lai đều do một pháp-môn
ấy vượt lên đường diệu-trang-nghiêm. Ông nên chăm-chú
lắng nghe". Ông A-nan đỉnh-lễ, kính vâng lời Phật dạy.
Phật
bảo ông A-nan: "Như ông vừa nói: Ở trong giảng-đường, do
cửa mở rộng nên ông trông xa thấy được rừng vườn; phỏng
có chúng-sinh nào ở trong giảng-đường, không thấy Như-lai
mà lại thấy được ngoài giảng-đường chăng?"
Ông
A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, ở trong giảng-đường không
thấy Như-lai mà thấy được rừng suối ở ngoài, thật không
có lẽ nào như vậy".
- A-nan,
chính ông cũng vậy. Cái tâm của ông rõ-biết hết thảy.
Nếu hiện nay cái tâm rõ-biết ấy thật ở trong thân thì
trước hết nó phải rõ-biết trong thân-thể. Vậy có chúng-sinh
nào, trước thấy bên trong thân, rồi sau mới thấy những
vật ở ngoài không? Dầu không thấy được tim gan tì vị,
nhưng móng tay mọc, tóc dài ra, gân chuyển, mạch nhảy, lẽ
phải rõ-biết, sao lại không biết? Đã không biết bên trong,
sao lại biết được bên ngoài? Vậy nên biết rằng ông nói
cái tâm hay-biết hiện ở trong thân, thật không có lẽ nào
như vậy.
ĐOẠN
III
CHẤP
TÂM Ở NGOÀI THÂN.
Ông
A-nan cúi đầu bạch Phật: "Tôi nghe lời Phật dạy như vậy,
mới rõ tâm tôi thật ở ngoài thân. Vì sao? Ví như đèn thắp
trong phòng, trước hết phải chiếu trong phòng, rồi sau mới
do nơi cửa chiếu sáng ngoài sân. Hết thảy chúng-sinh không
thấy bên trong thân mà riêng thấy bên ngoài, cũng như ngọn
đèn, để ở ngoài phòng, không thể chiếu sáng trong phòng.
Nghĩa ấy rõ-ràng, có lẽ không lầm, chưa biết có đúng với
nghĩa-lý rốt-ráo của Phật hay không?"
Phật
bảo ông A-nan: "Vừa rồi, các tỷ-khưu theo tôi khất-thực
trong thành Thất-la-phiệt, nay đã về rừng Kỳ-đà. Tôi đã
thụ-trai rồi, ông hãy xem trong hàng tỷ-khưu, khi một người
ăn thì các người khác có no không?"
Ông
A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, không; vì rằng các tỷ-khưu
tuy là A-la-hán, nhưng thân-thể khác nhau, lẽ nào một người
ăn lại làm cho cả chúng đều no được".
Phật
bảo ông A-nan: "Nếu cái tâm hay-biết của ông thật ở ngoài
thân thì thân và tâm riêng-cách, tất-nhiên không dính-líu
gì với nhau; vậy cái gì tâm biết thì thân không thể hay,
cái gì thân hay thì tâm không thể biết. Nay tôi giơ tay đâu-la-miên
cho ông xem, trong khi mắt ông thấy thì tâm ông có biết là
tay của tôi không?"
Ông
A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, đúng thế".
Phật
bảo ông A-nan: "Nếu thân với tâm cùng hay-biết một lúc với
nhau thì làm sao tâm lại ở ngoài thân? Vậy nên biết rằng
ông nói tâm hay-biết hiện ở ngoài thân, thật không có lẽ
nào như vậy".
ĐOẠN
IV
CHẤP
TÂM NÚP SAU CON MẮT
Ông
A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, như lời Phật dạy: vì không
thấy bên trong, tâm không ở trong thân, vì thân tâm cùng biết,
không thể rời nhau, tâm không ở ngoài thân, nay tôi suy-nghĩ,
biết tâm ở một chổ!"
Phật
dạy: "Chỗ ấy ở đâu?"
Ông
A-nan bạch Phật: "Cái tâm hay-biết đã không biết bên trong
mà lại thấy bên ngoài, theo ý tôi nghĩ thì nó núp sau con
mắt. Ví như có người lấy chén lưu-ly úp vào hai con mắt,
con mắt tuy có vật úp vào nhưng không làm ngăn-ngại, con mắt
kia liền thấy thì liền phân-biệt được ngay. Song tâm hay-biết
của tôi không thấy bên trong là vì tâm ở nơi con mắt; nhưng
lại thấy bên ngoài rõ-ràng, không bị ngăn-ngại, là vì tâm
núp sau con mắt".
Phật
bảo ông A-nan: "Như ông vừa nói: Tâm núp sau con mắt như con
mắt núp sau chén lưu-ly; vậy người kia đương khi lấy chén
lưu-ly úp vào hai mắt, trông-thấy núi sông thì có trông-thấy
chén lưu-ly không?"
-Thưa
Thế-tôn, đúng thế, người ấy đương khi lấy chén lưu-ly
úp vào hai mắt, thật có thấy chén lưu-ly.
Phật
bảo ông A-nan: "Nếu tâm ông núp sau con mắt như con mắt núp
sau chén lưu-ly thì trong khi trông-thấy núi sông sao không trông-thấy
con mắt? Nếu trông-thấy con mắt thì con mắt hình như ngoại-cảnh,
không thể liền thấy mà liền biết được. Nếu không thấy
được con mắt thì sao lại nói rằng tâm hay-biết núp sau
con mắt như con mắt núp sau chén lưu-ly? Vậy nên biết rằng
ông nói cái tâm hay-biết núp sau con mắt như con mắt núp sau
chén lưu-ly, thật không có lẽ nào như vậy".
ĐOẠN
V
CHẤP
NHẮM MẮT THẤY TỐI LÀ THẤY BÊN TRONG THÂN
Ông
A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, nay tôi lại nghĩ như vầy:
Trong thân-thể chúng-sinh này, phủ-tạng ở trong, khiếu-huyệt
ở ngoài, có tạng thì tối, có khiếu thì sáng. Nay tôi trả-lời
Phật rằng: Mở mắt thấy sáng gọi là thấy bên ngoài, nhắm
mắt thấy tối gọi là thấy bên trong. Nghĩa ấy thế nào?"
Phật
bảo ông A-nan: "Đương khi ông nhắm mắt thấy tối, cái cảnh
tối ấy là đối với mắt hay không đối với mắt. Nếu
đối với mắt thì cái tối trước mắt, sao lại ở trong
thân? Nếu thành ở trong thân thì khi ở trong phòng tối, không
có ánh sáng mặt trời, mặt trăng và đèn, cái gì ở trong
phòng tối đó đều là tam-tiêu lục-phủ của ông hay sao?
Còn như cái tối không đối với mắt, thì làm sao thành ra
có thấy? Dầu tách-rời lối thấy bên ngoài mà cho rằng con
mắt đối vào trong nên thấy tối, thì nhắm mắt thấy tối,
gọi là thấy bên trong thân; vậy mở mắt thấy sáng sao lại
không thấy cái mặt. Nếu không thấy cái mặt thì cái nghĩa
con mắt đối vào trong, không thành-lập được. Còn như thấy
được cái mặt thì cái tâm hay-biết ấy và con mắt đều
ở ngoài hư-không, sao lại thành ở trong thân được? Nếu
tâm và con mắt ở ngoài hư-không thì tất-nhiên không phải
là thể-chất của ông, vì không lẽ hiện nay Như-lai thấy
mặt ông cũng là thân của ông hay sao? Và như thế thì con
mắt đã biết, thân ông lẽ phải không biết. Nếu ông chấp
rằng thân và con mắt đều có biết thì ông phải có hai tính-biết,
rồi chính một thân ông sẽ thành hai đức Phật hay sao? Vậy
nên biết rằng ông nói thấy tối là thấy bên trong thân,
thật không có lẽ nào như vậy".
ĐOẠN
VI
CHẤP
TÂM HỢP VỚI CHỖ NÀO THÌ LIỀN CÓ Ở CHỔ ẤY
Ông
A-nan bạch Phật: " Tôi thường nghe Phật chỉ-dạy tứ-chúng
: Do tâm sinh nên các thứ pháp sinh, do pháp sinh nên các thứ
tâm sinh. Nay tôi suy-nghĩ thì tức cái thể suy-nghĩ đó thật
là tâm-tính của tôi, hễ hợp với chỗ nào thì tâm liền
có ở chỗ đó, chứ không phải ở trong, ở ngoài hay ở chặng
giữa".
Phật
bảo ông A-nan: "Nay ông nói rằng : Do pháp sinh nên các thứ
tâm sinh, hễ hợp với chỗ nào thì tâm liền có ở chỗ đó.
Cái tâm ấy nếu không có tự-thể thì không thể hợp được;
chứ còn nếu không có tự-thể mà vẩn hợp được thì giới
thứ 19 cùng trần thứ 7 hợp lại được hay sao? Nghĩa ấy
quyết không đúng. Còn nếu có tự-thể thì trong khi ông lấy
tay tự gãi thân ông, cái tâm biết gãi của ông ở trong thân
ra hay từ bên ngoài vào? Như ở trong thân ra thì lại phải
thấy bên trong, còn như từ ngoài vào thì trước hết phải
thấy cái mặt".
Ông
A-nan bạch Phật: " Thấy là con mắt, còn tâm thì biết chứ
không phải thấy như con mắt; nói tâm thấy là không đúng
nghĩa".
Phật
dạy: " Nếu con mắt thấy được thì khi ông ở trong phòng,
cái cửa có thấy được không? Lại những người chết rồi,
vẫn còn con mắt, lẽ ra phải thấy được vật; mà nếu thấy
được vật thì sao gọi là chết. A-nan, lại nếu cái tâm
hay-biết của ông phải có tự-thể thì có một thể hay có
nhiều thể? Nay tâm ở nơi thân ông, thể ấy cùng khắp cả
mình hay không cùng khắp? Nếu tâm có một thể thì ông lấy
tay gãi một chi, lẽ ra cả tứ chi đều biết; mà nếu đều
biết thì lại không biết gãi ở chỗ nào. Nếu biết chỗ
gãi thì cái thuyết một thể của ông tự-nhiên không thể
thành-lập được. Nếu như có nhiều thể thì thành ra nhiều
người, còn biết cái thể nào là thể của ông. Nếu cái
thể ấy cùng khắp cả mình thì lại như trước kia, không
biết được chỗ gãi. Nếu còn như không cùng khắp thì khi
ông chạm trên đầu, đồng-thời cũng chạm dưới chân, hễ
đầu có biết, lẽ ra chân phải không biết, nhưng hiện nay
ông lại không phải như thế. Vậy nên biết rằng hễ hợp
với chỗ nào, tâm liền có ở chỗ đó, thật không có lẽ
nào như vậy".
ĐOẠN
VII
CHẤP
TÂM Ở CHẶNG GIỮA
Ông
A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, trong khi Phật nói thật-tướng
với các vị pháp-vương-tử như ngài Văn-thù, tôi có nghe
đức Thế-tôn cũng dạy rằng: Tâm không ở trong, cũng không
ở ngoài. Theo ý tôi nghĩ: Tâm ở trong thân, sao lại không
thấy bên trong; tâm ở ngoài thân thì thân và tâm không cùng
biết. Vì tâm không biết bên trong nên không thể nói tâm ở
trong thân, vì thân và tâm cùng biết nên nói tâm ở ngoài
cũng không đúng lý. Nay thân và tâm cùng biết, lại tâm không
thấy được bên trong thân thì tâm phải ở chặng giữa".
Phật
bảo ông A-nan: "Ông nói "ở chặng giữa" thì cái giữa ấy
chắc không lẫn-lộn và không phải không có chỗ. Nay ông
nhận-định cái giữa ấy ở chỗ nào, ở nơi cảnh hay ở
nơi thân? Nếu ở nơi thân mà ở một bên thì không phải
là giữa; còn nếu ở giữa thân thì cũng như ở trong thân.
Nếu cái giữa ở nơi cảnh thì có thể nêu ra được hay không
thể nêu ra được? Không nêu ra được thì cũng như không
có cái giữa, còn nêu ra được thì lại không nhất-định
ở giữa. Vì sao? Ví như có người lấy một cây nêu, nêu
một chỗ làm cái giữa, thì phương Đông trông qua, cái nêu
lại ở phương Tây; phương Nam nhìn ra, cái nêu thành ở phương
Bắc. Cái giữa nêu ra đã lẫn-lộn thì tâm phải rối-bời,
không rõ ở đâu".
Ông
A-nan bạch Phật: "Cái giữa của tôi nói, không phải hai thứ
ấy. Như đức Thế-tôn thường dạy: Nhãn-căn và sắc-trần
làm duyên, phát-sinh nhãn-thức. Nhãn-căn có phân-biệt, sắc-trần
không hay-biết, nhãn-thức sinh ra ở giữa thì tâm ở chỗ
đó".
Phật
dạy: "Nếu tâm ông ở giữa căn và trần thì cái thể tâm
ấy gồm cả hai bên hay không gồm cả hai bên? Nếu gồm cả
hai bên thì ngoại-vật và tâm-thể xen-lộn, còn biết tâm
là gì? Ngoại-vật không phải có biết như tâm-thể; bên có
biết, bên không biết, trái hẳn lẫn nhau thì lấy cái gì
làm cái ở giữa? Gồm cả hai bên cũng không được và nếu
không phải có biết và cũng không phải không biết thì tức
là không có thể-tính, lấy gì làm cái tướng ở giữa. Vậy
nên biết rằng ông nói cái tâm phải ở chặng giữa, thật
không có lẽ nào như vậy".
ĐOẠN
VIII
CHẤP
TÂM KHÔNG DÍNH-DÁNG VÀO ĐÂU TẤT-CẢ
Ông
A-nan bạch Phật: "Thưa Thế-tôn, trước đây tôi thấy Phật
cùng chuyển pháp-luân với 4 vị đại-đệ-tử là Đại-mục-liên,
Tu-bồ-đề, Phú-lâu-na, Xá-lỵ-phất, Phật thường dạy :
Cái tính của tâm hay-biết cũng chẳng ở trong, cũng chẳng
ở ngoài, cũng chẳng ở chặng giữa, chẳng ở chỗ nào cả,
không dính-dáng vào đâu tất-cả thì gọi là tâm. Vậy tôi
lấy cái không dính-dáng của tôi mà gọi là tâm, có được
chăng?".
Phật
bảo ông A-nan: "Ông nói tính của tâm hay-biết, không ở đâu
cả. Vậy các vật-tượng thế-gian như hư-không và các loài
thủy, lục, không, hành, gọi là tất-cả sự-vật mà ông
không dính-dáng vào, là có hay là không có? Không, thì đồng
như lông rùa, sừng thỏ, còn gì mà không dính-dáng? Đã có
cái không dính-dáng thì không thể gọi là không. Không có
tướng thì là không, không phải không thì có tướng; có tướng
thì có chỗ ở, làm sao lại không dính-dáng được. Vậy nên
biết rằng ông nói cái không dính-dáng vào đâu tất-cả gọi
là tâm hay-biết, thật không có lẽ nào như vậy".
MỤC
II
CHỈ
RÕ TÍNH-THẤY
ĐOẠN
I
CẦU
ĐI ĐẾN CHO CHÂN-THẬT
Khi
bấy giờ ông A-nan, ở trong đại-chúng, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, trật vai áo bên phải, đầu gối bên phải chấm
đất, chấp tay cung-kính mà bạch Phật rằng: "Tôi là em rất
nhỏ của Như-lai, nhờ Phật thương-yêu, nay tuy được xuất-gia,
còn ỷ-lại nơi lòng thương của Phật. Vì vậy nên tôi học
rộng nghe nhiều mà chưa chứng-quả vô-lậu, không uốn-dẹp
được chú Sa-tỳ-cà-la, bị nó bắt phải vào nhà dâm-nữ;
nguyên-do là vì không biết đường tu-tập đi đến chỗ chân-thật.
Cầu xin Thế-tôn đại từ thương-xót, chỉ-dạy cho chúng
tôi đường tu Xa-ma-tha, cũng khiến cho những ngưòi không tin
trừ-bỏ những tư-tưởng xấu".
Ông
A-nan nói như vậy rồi, năm vóc gieo xuống đất, cùng với
đại-chúng, hết lòng mong được nghe lời Phật dạy.
ĐOẠN
II
PHÓNG
HÀO-QUANG NÊU RA TÍNH-THẤY VIÊN-MÃN SÁNG-SUỐT
Khi
bấy giờ đức Thế-tôn, từ trước mặt, phóng ra các thứ
hào-quang, hào-quang ấy chói sáng như trăm nghìn mặt trời,
khắp các thế-giới chư Phật, sáu thứ rung-động, như thật
các cõi nước mười phương, nhiều như vi-trần, hiện ra trong
một lúc. Oai-thần của Phật khiến các thế-giới hợp
lại thành một thế-giới. Trong thế-giới nầy, tất-cả các
vị Bồ-tát hiện có, đều an-trụ nơi nước mình, chấp tay
vâng nghe lời Phật dạy.
ĐOẠN
III
CHỈ
HAI THỨ CỖI-GỐC ĐỂ PHÂN-BIỆT MÊ VÀ NGỘ.
Phật
bảo ông A-nan: “Tất-cả chúng-sinh từ vô-thủy đến nay
điên-đảo nhiều cách, giống nghiệp tự-nhiên nhóm lại như
chum quả ác-xoa. Những người tu-hành không thành được đạo
vô-thượng Bồ-đề, đến nỗi lại thành Thanh-văn, Duyên-giác
hoặc thành ngoại-đạo, chư Thiên, Ma-vương hay bà con Ma, đều
do không biết hai chữ cỗi-gốc, tu-tập sai-lầm, cũng như
nấu cát mà muốn thành cơm, dầu trải qua nhiều kiếp như
vi-trần, rốt-cuộc vẫn không thể thành được. Thế nào
là hai thứ cỗi-gốc? A-nan, một là cái cỗi-gốc sống chết
vô-thủy, tức như ông ngày nay cùng các chúng-sinh dùng cái
tâm phan-duyên mà làm tự-tính. Hai là cái thể bản-lai thanh-tịnh
Bồ-đề Niết-bàn vô-thủy thì như hiện nay cái tính bản-minh
thức-tính của ông, sinh ra các duyên ma lại bị bỏ rơi. Do
các chúng-sinh bỏ rơi cái bản-minh ấy nên tuy cả ngày sống
trong tính bản-minh mà không tự-giác, oan-uổng vào trong lục
đạo.
ÐOẠN
IV
NƯƠNG
CÁI THẤY, GẠN-HỎI CÁI TÂM
A-nan,
nay ông muốn biết đường tu Xa-ma-tha ra khỏi sống chết,
tôi lại hỏi ông :
Liền
đó đức Như-lai giơ cánh tay kim-sắc, co năm ngón tay, bảo
ông A-nan : « Ông có thấy không ? »
Ông
A-nan bạch Phật : « Thấy».
Phật
bảo: “Ông thấy cái gì?”
Ông
A-nan bạch: “Tôi thấy Như-lai giơ cánh tay, co ngón tay thành
nắm tay sáng-ngời, chói tâm và con mắt của tôi”.
Phật
bảo: “Ông đem cái gì mà thấy?”.
Ông
A-nan bạch: “Tôi cùng đại-chúng đều đem con mắt mà thấy”.
Phật
bảo ông A-nan: “Ông trả-lời tôi rằng Như-lai co ngón tay
làm thành nắm tay sáng-ngời, chói tâm và con mắt của ông;
con mắt ông thì thấy được, còn ông lấy cái gì làm tâm
để đối với cái nắm tay chói-sáng của tôi?”.
Ông
A-nan bạch: “Như-lai hiện nay gạn-hỏi tâm ở chỗ nào, tôi
thì dùng tâm suy-nghĩ tìm-xét: Tức cái biết suy-nghĩ ấy,
tôi lấy nó làm tâm”.
ÐOẠN
V
CHỈ
CÁI BIẾT SUY-XÉT CÓ THỂ-TÍNH.
Phật
bảo: “Sai rồi, A-nan, cái ấy không phải là tâm của ông”.
Ông
A-nan giựt-mình, rời chỗ ngồi, chấp tay đứng dậy bạch
Phật: “Cái ấy không phải là tâm tôi thì gọi là cái gì?”
Phật
bảo ông A-nan: “Cái ấy là cái tưởng-tượng những tướng
giả-dối tiền-trần, nó làm mê-lầm chân-tính của ông. Do
từ vô-thủy cho đến đời này, ông nhận tên giặc ấy làm
con, bỏ mất tính bản-lai thường-trụ nên phải chịu luân-hồi”.
Ông
A-nan bạch Phật: “Thưa Thế-tôn, tôi là em yêu của Phật,
vì tâm yêu Phật nên tôi xuất-gia. Tâm tôi chẳng những cúng-dường
đức Như-lai, mà còn trải qua hằng-sa quốc-độ, thừa-sự
chư Phật và các vị thiện-tri-thức; phát-lòng đại-dũng-mãnh,
làm tất-cả những pháp-sự khó làm, là đều dùng cái tâm
ấy. Dầu cho hủy-báng Phật-pháp, rời-bỏ hẳn thiện-căn,
cũng nhân cái tâm ấy. Nay Phật phát-minh cái ấy không phải
là tâm thì tôi thành không có tâm, như cây như đất, vì ngoài
cái hay-biết ấy ra, tôi lại không còn gì nữa. Sao đức Như-lai
lại bảo cái ấy không phải là tâm? Tôi thật kinh-sợ và
cả trong đại-chúng nầy không ai là không nghi-hoặc, xin Phật
rủ lòng từ-bi, chỉ-dạy cho những chỗ chưa giác-ngộ”.
Khi
bấy giờ đức Thế-tôn chỉ-dạy ông A-nan và cả đại-chúng,
khiến cho tâm được vô-sinh-pháp-nhẫn, nơi sư-tử-tọa, xoa
đầu ông A-nan và bảo ông rằng: “Như-lai thường nói: Các
pháp phát-sinh là duy-tâm biến-hiện, tất-cả nhân-quả, thế-giới,
vi-trần, đều nhân cái tâm thành có thể-tính. A-nan, như trong
các thế-giới, hết thảy sự-vật hiện có, cả đến ngọn
cỏ lá, cây, sợi dây, thắt nút, gạn-xét cỗi-gốc, đều
có thể-tính, dầu cho hư-không cũng có tên, có tướng; huống
chi cái tâm sáng-suốt thanh-tịnh nhiệm-mầu, làm cho hết thảy
sự vật có thể-tính mà tự mình lại không có thể-tính.
Nếu
ông quyết-chấp cái tính hay-biết suy-xét phân-biệt là tâm
của ông thì cái tâm ấy phải rời sự-nghiệp các trần:
sắc, thanh, hương, vị, xúc, riêng có toàn-tính; chứ như hiện
nay ông vâng nghe pháp-âm của tôi, đó là nhân cái tiếng mà
có phân-biệt: dầu cho diệt hết tất-cả cái thấy, nghe,
hay, biết, bên trong nắm-giữ cái u-nhàn, không biết, không
nghĩ thì đó cũng còn là sự phân-biệt bóng-dáng pháp-trần
mà thôi.
Chẳng
phải tôi bảo ông chấp cái ấy không phải là tâm, nhưng
ông phải, chính nơi tâm ông, suy-xét chín-chắn, nếu rời
tiền-trần có tính phân-biệt, thì đó mới thật là tâm của
ông. Nếu tính phân-biệt, rời tiền-trần, không còn tự-thể
thì nó chỉ là sự phân-biệt bóng-dáng tiền-trần. Tiền-trần
không phải thường-trụ, khi thay đổi diệt mất rồi, thì
cái tâm nương vào tiền-trần ấy cũng đồng như lông rùa
sừng thỏ và pháp-thân của ông cũng thành như đoạn-diệt,
còn gì mà tu-chứng vô-sinh-pháp-nhẫn”.
ÐOẠN
VI
CHỈ
RÕ TÍNH-THẤY KHÔNG PHẢI LÀ CON MẮT
Lúc
ấy ông A-nan cùng cả đại-chúng lặng-im ngơ-ngác.
Phật
bảo ông A-nan: “Trong thế-gian, tất-cả những người tu-học,
hiện tuy đã tu đến chín bậc định, nhưng không diệt hết
được mê-lầm, thành A-la-hán, đều do chấp cái vọng-tưởng
sống chết, lầm nó là tính chân-thật, vậy nên nay ông tuy
được học rộng nghe nhiều, không thành chính-quả”.
Ông
A-nan nghe rồi, lại đau-xót khóc-lóc, năm vóc gieo xuống đất,
quỳ dài chấp tay mà bạch Phật rằng: “Từ khi tôi theo Phật
phát-tâm xuất-gia, ỷ-thị oai-thần của Phật, thường tự
mình suy-nghĩ, không cần phải tu, hầu như cho rằng đức Như-lai
sẽ ban cho phép Tam-muội, không biết thân tâm vốn không thay-thế
nhau được; bỏ mất bản-tâm của tôi; thân tuy xuất-gia nhưng
tâm không đi vào chính-đạo, cũng như người con cùng-khổ,
bỏ cha trốn-lánh. Ngày nay mới biết, tuy được nghe Phật-pháp
nhiều, nếu không tu-hành thì chẳng khác gì người không nghe,
cũng như người ta nói ăn mà không ăn, rốt-cuộc không thể
no được.
Thưa
Thế-tôn, chúng tôi hiện nay còn bị hai chướng ràng-buộc,
do vì không biết tâm-tính yên-lặng thường-trụ, xin đức
Như-lai thương-xót kẻ nghèo-khó rách-rưới, phát-khởi tâm
nhiệm-mầu sáng-suốt, mở đạo-nhãn cho chúng tôi”.
Lúc
ấy đức Như-lai từ chữ Vạn trước ngực, phóng ra hào-quang
báu, hào-quang ấy rực-rỡ có trăm nghìn sắc, sáng khắp một
lúc tất-cả thế-giới chư Phật mười phương số như vi-trần.
Hào-quang soi khắp trên đỉnh các đức Như-lai Thập phương
bảo-sát, xoay về soi đến ông A-nan và cả đại-chúng”,
rồi Phật bảo ông A-nan rằng: “Nay tôi vì ông dựng pháp-tràng
lớn, đồng-thời khiến cho tất-cả thập phương chúng-sinh
được tâm-tính nhiệm-mầu sâu-kín, trong-sạch, sáng-suốt
và đạo-nhãn thanh-tịnh.
A-nan,
trước ông trả-lời rằng thấy nắm tay chói-sáng, cái chói-sáng
nắm tay ấy do đâu mà có, làm sao thành ra nắm tay, ông đem
cái gì mà thấy?”
Ông
A-nan bạch: “Toàn thân Phật như vàng Diêm-phù-đàn, sáng-ngời
như núi báu, do đức-tính thanh-tịnh sinh ra nên có hào-quang
chói-sáng. Thật tôi lấy con mắt mà thấy năm ngón tay Phật
co nắm lại, giơ cho người xem, nên có tướng nắm tay”.
Phật
bảo ông A-nan: “Như-lai ngày nay xác-thật bảo ông. Những
người có trí cần do ví-dụ mà được khai-ngộ. A-nan, ví
như nắm tay tôi, nếu không có bàn tay tôi thì không thành
nắm tay tôi, lại nếu không có con mắt ông, thì không thành
cái thấy của ông. Lấy cái thấy của ông mà so-sánh với
nắm tay của tôi, ý-nghĩa có cân nhau không?”
Ông
A-nan bạch Phật: “Ðúng vậy, thưa Thế-tôn, đã không có
con mắt của tôi thì không thành cái thấy của tôi, đem cái
thấy của tôi so với nắm tay Như-lai, sự nghĩa giống nhau
không khác”.
Phật
bảo ông A-nan: “Ông nói giống nhau, nghĩa ấy không đúng.
Vì sao? Như người không có bàn tay thì tuyệt-nhiên không
có nắm tay; chứ người không có con mắt kia, không phải hoàn-toàn
không thấy. Là vì làm sao? Ông thử ra đường hỏi những
người đui: Anh thấy cái gì? Thì những người đui kia chắc
sẽ trả-lời: Hiện nay trước mắt tôi chỉ thấy tối đen,
không thấy gì khác. Lấy cái nghĩa ấy mà xét thì tiền-trần
tự tối, chứ cái thấy nào có hao-kém gì”.
Ông
A-nan bạch Phật: “Những người đui trước mắt chỉ thấy
tối đen, sao gọi là thấy được”.
Phật
bảo ông A-nan: “Các người đui không có con mắt chỉ thấy
tối đen, so với người có con mắt ở trong nhà tối thì hai
cái tối đen ấy khác nhau hay không khác nhau?
- Thật
vậy, thưa Thế-tôn, người ở trong nhà tối với những người
đui kia, so-sánh hai cái tối đen thật không thể khác nhau.
- A-nan,
nếu người không có con mắt, thấy trước hoàn-toàn tối
đen, bỗng-nhiên được con mắt sáng, trở lại thấy các thứ
sắc nơi tiền-trần mà gọi là con mắt thấy; thì người
ở trong nhà tối kia, thấy trước hoàn-toàn tối đen, bỗng-nhiên
được cái đèn sáng, cũng thấy các thứ sắc nơi tiền-trần,
lẽ ra phải gọi là cái đèn thấy. Nếu như cái đèn thấy
thì đèn đã thấy được, tự-nhiên không thể gọi là đèn;
lại cái đèn nó thấy thì dính-líu gì đến ông. Vậy nên
biết rằng đèn làm tỏ các sắc, nhưng thấy như vậy là
mắt chứ không phải đèn; mắt làm tỏ các sắc, nhưng thấy
như vậy là tâm chứ không phải mắt”.
Ông
A-nan tuy được lời Phật dạy như vậy, cùng với đại-chúng,
miệng tuy im-lặng, tâm chưa khai-ngộ, còn mong đức Như-lai
từ-tâm chỉ-bày, chấp tay sạch lòng, đợi Phật dạy-bảo.
ÐOẠN
VII
GẠN-HỎI
Ý-NGHĨA HAI CHỮ “KHÁCH-TRẦN” ÐỂ CHỈ RA CÁI THẤY LÀ
CHỦ, LÀ KHÔNG
Khi
bấy giờ đức Thế-tôn ruỗi tay Ðâu-la-miên sáng-ngời, mở
năm ngón tay, bảo ông A-nan và đại-chúng rằng: “Lúc tôi
mới thành-đạo, ở trong Lộc-viên, có dạy bọn ông A-nhã-đa,
năm vị tỷ-khưu và tứ-chúng rằng” Tất-cả chúng-sinh không
thành đạo Bồ-đề và A-la-hán, là do những phiền-não khách-trần
mê-hoặc. Thuở đó, bọn ông do đâu mà khai-ngộ, hiện nay
thành được thánh-quả?”
Khi
ấy ông Kiều-trần-na đứng dậy bạch Phật: “Tôi nay già-cả,
ở trong đại-chúng, riêng được cái danh là “Hiểu”, do
tôi ngộ được hai chữ khách-trần mà thành chính-quả. Bạch
Thế-tôn, ví-như người khách đi đường, vào trọ quán-xá,
hoặc ngủ hoặc ăn, ăn ngủ xong rồi, xếp đồ lên đường,
không ở yên được; nếu thật là người chủ, tự-nhiên
không phải đi đâu. Tôi nghĩ như vầy: Không ở yên thì gọi
là khách, còn ở yên thì gọi là chủ. Tôi lấy cái “không
ở yên” làm ý-nghĩa chữ khách. Lại như mới tạnh, mặt
trời chiếu-sáng trên cao, ánh sáng vào trong lỗ hỡ, bày-tỏ
hình-dáng bụi trần giữa hư-không. Trần thì lay-động, hư-không
thì yên-lặng. Tôi nghĩ như vậy: Ðứng-lặng gọi là không,
lay-động gọi là trần, tôi lấy cái “lay-động” làm ý-nghĩa
chữ trần”.
Phật
dạy: “Ðúng thế”.
Khi
bấy giờ đức Như-lai ở trong đại-chúng co năm ngón tay,
co rồi lại mở, mở rồi lại co, bảo ông A-nan rằng: “Nay
ông thấy gì?”.
Ông
A-nan đáp: “Tôi thấy bàn tay Bách-bảo-luân của Như-lai,
ở trong chúng, lúc mở lúc nắm”.
Phật
bảo ông A-nan: “Ông thấy tay tôi ở trong chúng khi mở khi
nắm, đó là tay tôi có mở có nắm hay là cái thấy của ông
có mở có nắm?”.
Ông
A-nan bạch: “Bàn tay báu của Thế-tôn ở trong chúng khi mở
khi nắm; tôi thấy bàn tay Như-lai tự mở tự nắm, chứ không
phải tính-thấy của tôi có mở có nắm”.
Phật
bảo: “Cái gì động, cái gì tĩnh?”.
Ông
A-nan bạch: “Bàn tay Phật không ở yên, chứ tính-thấy của
tôi còn không có tĩnh, lấy gì gọi là không ở yên nữa”.
Phật
dạy: “Ðúng thế”,
Lúc
ấy đức Như-lai từ trong bàn tay, phát một đạo hào-quang
báu qua bên phải ông A-nan, ông A-nan liền quay đầu trông qua
bên phải, Phật lại phát một đạo hào-quang qua bên trái
ông A-nan, ông A-nan lại cũng quay đầu trông qua bên trái. Phật
bảo ông A-nan: “Hôm nay đầu ông vì sao lại lay-động?”
Ông
A-nan bạch: “Tôi thấy đức Như-lai phát hào-quang báu qua
bên trái và qua bên phải của tôi nên tôi trông qua bên trái
bên phải, đầu tự lay-động.
- A-nan,
ông trông hào-quang của Phật mà lay-động cái đầu, quay qua
bên phải bên trái, đó là cái đầu của ông động hay là
cái thấy động?
- Thưa
Thế-tôn, đầu tôi tự-động chứ tính-thấy của tôi còn
không ở đâu, lấy gì mà lay-động”.
Phật
dạy: “Ðúng thế”.
Lúc
bấy giờ đức Như-lai bảo với vả đại-chúng rằng: “Như
các chúng-sinh lấy cái lay-động mà gọi là trần, lấy cái
không ở yên mà gọi là khách, thì các ông hãy xem ông A-nan,
đầu tự lay-động mà cái thấy không lay-động, lại hãy
xem bàn tay tôi tự mở tự nắm mà cái thấy không ruỗi không
co. Làm sao các ông hiện nay lại lấy cái động làm thân,
lấy cái động làm cảnh, tự đầu đến cuối, niệm-niệm
sinh-diệt, bỏ mất chân-tính, làm việc trái-ngược; tâm-tính
mất chỗ chân-thật, nhận vật làm mình, xoay-vần trong ấy,
tự-nhận lấy cái trôi-lăn trong lục-đạo”.
WP:
Chơn Hạnh
Kinh
Sách Liên Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Giảng
Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, Thiền Sư Nhẫn Tế
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu