Tiểu
Sử Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Lời
Nói Đầu của Dịch Gỉa
Quyển
Một
Phần
Thứ Nhất: Phần Tựa
Phần
Thứ Hai: Phần Chánh Tông
Chương
I Chỉ Ngay Chỗ Viên Ngộ
01.
Gạn Hỏi Cái Tâm
02.
Chỉ Rõ Tính Thấy
Quyển
Hai
Chỉ
Rõ Tính Thấy (Tiếp Theo)
03.
Phật Nêu Ra Tính Thấy Ngoài Các Nghĩa Thị và Phi Thị
04.
Phá Những Thuyết Nhân Duyên, Tự Nhiên để bày Tỏ Sự Thật
Nhận Thấy Tính Thấy
05.
Chỉ Ra Cái Nhận Thức Sai Lầm Để Bày Tỏ Thề Tính Chân
Thật
06.
Tóm Thu Bốn Khoa và Bảy Đại Về Như Lai Tạng để Phát khởi
Chỗ Chân Ngộ
Quyển
Ba
Tóm
Thu Bốn Khoa và Bảy Đại Về Như Lai Tạng để Phát khởi
Chỗ Chân Ngộ (Tiếp Theo)
Quyển
Bốn
07.
Chỉ Rõ Sự Tiếp Tục Giả Dối Sinh Ra và Các Đại Không
Ngăn Ngại Lẫn Nhau
08.
Chỉ Tính Diệu Minh Hợp Về Như Lai Tạng, Rời Cả Hai Nghĩa
Phi (không là) và Tức (tức là)
09.
Chỉ Mê Vọng Không Có Nhân, Hết Mê Tức Bồ Đề
10.
Lại Phá Xích Nhân Duyên, Tự Nhiên và Trách Chỉ Biết Nghe
Nhiều
11.
Chỉ Nghĩa Quyết Định
12.
Đánh Chuông Thật Nghiệm Tính Thường
Quyển
Năm
Chương
II: Nương Chỗ Ngộ Mà Viên Tu
01.
Nêu Ra Cái Căn Để Chỉ Rõ Chỗ Mê
02.
Cột Khăn Để Chỉ Đầu Nút
03.
Chỉ Cởi Nút Trước Sau
04.
Gạn Hỏi Đại Chúng Về Viên Thông
Quyển
Sáu
Viên
Thông Về Nhĩ Căn
05.
Mục Đích Phép Viên Tu
Chương
III: Rộng Để Lại Khuôn Phép Tu Hành
01.
Nhân Ông A Nan Xin Cứu Độ Đời Vị Lai, Phật Tóm Nêu Ra Ba
Nghĩa Quyết Định
02.
Chỉ Bày Bốn Lời Dạy Bảo Rõ Ràng Quyết Định
Quyển
Bảy
03.
Phật Khai Thị Về Mật giáo, Thầm Giúp Cho Những Người Tu
Hành
04.
Khai Thị Những Phép Tắc Lập Đạo Trường Tu Tu Trì
05.
Tuyên Nói Tâm Chú Rộng Khai Thị Những Lợi Ích
06.
Khai Thị Những Vị Trí Tu Chứng Trước Sau
Quyển
Tám
07.
Chỉ Dạy Tên Kinh
08.
Nghe Pháp Được Tăng Tiến
Chương
IV: Phân Biệt Kỹ Càng Các Nghiệp Quả, Phân Tách Rạch Ròi
Về Tà Ma Ngoại Đạo
01.
Hỏi Về Những Tập Khí Vốn Có Sinh Khởi Ra Lục Đạo
02.
Hỏi Về Việc Bác Không Có Nhân Quả, CBị Sa Mãi Vào Địa
Ngục và Về Nghiệp Chung, Nghiệp Riêng
03.
Khai Thị Về Phận Trong, Phận Ngoài Của Chúng Sinh
04.
Chỉ Ra Nười Tập Nhân và Sáu Giao Báo
05.
Tu Nhân Riêng Biệt, Thành Quả Hư Vọng
06.
Các Cõi Trời Sai Khác
Quyển
Chín
07.
Khai Thị Chỗ Hư Vọng Của Bảy Loài Để Khuyến Khích tu
Hành Chánh Pháp
08.
Phân Biệt Các Ấm Ma
Quyển
Mười
09.
Chỉ Rõ Thứ Lớp Tiêu Diệt Các Ấm và Giới Hạn Phạm Vi
Các Ấm
Phần
Thứ Ba: Phần Lưu Thông
01.
Lưu Thông Của Kinh Này
02.
Lưu Thông Chung
Kinh
Sách Liên Hệ:
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Giảng
Kinh Lăng Nghiêm, HT. Thích Duy Lực
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông, Thiền Sư Nhẫn Tế
Tổng
Luận Kinh Lă ng Nghiêm Trưc Chỉ, HT. Thích Thiện Siêu
TIỂU-SỬ
ĐẠO-HỮU
TÂM-MINH
LÊ-ĐÌNH-THÁM
Đạo-hữu
LÊ-ĐÌNH-THÁM, pháp-danh TÂM-MINH, tự CHÂU-HẢI, chánh-quán
làng Đông-mỹ (Phú-mỹ), tổng Phú-khương, phủ Điện-bàn,
tỉnh Quảng-Nam, là thứ-nam của Cụ Đông-các Điện đại-học-sĩ
sung chức Binh-bộ Thượng-thư LÊ-ĐỈNH (Triều Tự-Đức),
và Cụ kế-thất PHAN-THỊ-HIỆU, snah năm 1897 (Đinh-Dậu) tại
Quảng-Nam;
Lúc
nhỏ theo Nho-học, thụ-huấn trực-tiếp với Cụ Thượng thân-sinh
ở nhà, cùng với bào-huynh là Đông-Dương y-sĩ LÊ-ĐÌNH-DƯƠNG
(1), tuy tuổi còn non, song cả hai đều thông-đạt kinh-sách,
văn bài thi phú đều làm được, nhất là Đạo-hữu có biệt-tài
ứng-đối nhanh, nổi tiếng thần-đồng và là một danh-kỳ
hữu-hạng tại quê nhà;
Lớn
lên theo tân-học, thông-minh xuất-chúng, được thầy yêu bạn
mến, luôn luôn dẫn đầu lớp và chiếm-đoạt khôi-thủ trong
tất-cả các kỳ thi từ cấp tiểu-học đến đại-học, Đạo-hữu
tốt-nghiệp Thủ-khoa Đông-dương Y-sĩ khóa năm 1916 tại
Trường Cao-Đẳng Y-khoa Đông-dương Hà-Nội, và Y-khoa Bác-sĩ
ngạch Pháp-quốc khóa năm 1930 tại Y-khoa Đại-học-đường
Hà-Nội;
Ra
trường nhằm lúc Phong-Trào Vua DUY-TÂN KHỞI-NGHĨA thất-bại,
bào-huynh là Đông-dương Y-sĩ LÊ-ĐÌNH-DƯƠNG bị bắt đày
lên Ban-mê-thuột, Đạo-hữu bị nhà cầm-quyền Thực-dân
Pháp tình-nghi theo-dõi, nên trong suốt thời-gian phục-vụ tại
các Bệnh-viện Bình-Thuận, Sông-Cầu, Qui-Nhơn, Tuy-Hòa (1916-1923)
ngoài công-tác chuyên-môn, Đạo-hữu chỉ lo học-hỏi và nghiên-cứu
thêm về Nho, Y, Lý, Số;
Năm
1926, phụ-trách Y-sĩ điều-trị tại Bệnh-viện Hội-An, trong
một dịp viếng chùa TAM-THAI (Ngũ-Hành-Sơn) được đọc bài
Kệ sau đây, ghi trên vách chùa, mà Đạo-hữu chú-ý đến
Phật-Giáo :
<
Bồ-Đề bổn vô thọ,
Minh-cảnh diệc phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhã trần-ai.> (2)
Tiếp
đó, được tin nhà Cách-mạng PHAN-CHÂU-TRINH từ trần tại
Saigon, Đạo-hữu cùng một số Thân-hào Nhân-sĩ và Công-chức
Trí-thức Quảng-Nam tổ-chức lễ truy-điệu trọng-thể và
cùng thọ tang Cụ PHAN. Một tháng sau, Đạo-hữu được khẩn-lệnh
đổi đi Hà-Tĩnh;
Năm
1928, được thuyên-chuyển về Huế, làm Y-sĩ-trưởng tại
Viện Bào-chế và Vi-trùng-hục PASTEUR, cọng-tác với Bác-sĩ
NORMET, Giám-đốc Y-tế Trung-phần, phát-minh ra SÉRUM NORMET,
được Y-giới Pháp-Việt đương-thời rất trọng-vọng.
Cũng
năm ấy, Đạo-hữu lên chùa TRÚC-LÂM thỉnh-giáo Hòa-Thượng
GIÁC-TIÊN về thâm-nghĩa bài Kệ chùa TAM-THAI rồi phát-tâm
cùng Thượng-tọa THÍCH-MẬT-KHẾ nghiên-cứu Giáo-Lý, học-hỏi
Kinh-Điển, tụng Kinh niệm Phật và phát-nguyện trường-trai,
làm lễ Quy-Y, thọ Ưu-Bà-Tắc-giới, có pháp-danh TÂM-MINH từ
đó;
Năm
1929-1932, sau hai năm liền thọ-giáo với Hòa-Thượng PHƯỚC-HUỆ
(Hòa-Thượng chùa THẬP-THÁP, Bình-Định), đồng-thời chịu
ảnh-hưởng cuộc Trùng-hưng Phật-Giáo Trung-Hoa của Ngài THÁI-HƯ
PHÁP-SƯ qua sách báo HẢI-TRIỀU-ÂM, Đạo-hữu vâng lời chư
Đại-Lão Hòa-Thượng PHƯỚC-HUỆ, GIÁC-TIÊN, GIÁC-NHIÊN, TỊNH-HẠNH,
TỊNH-KHIẾT, đứng ra triệu-tập 18 vị đồng-lữ thảo Điều-lệ
xin thành-lập HỘi AN-NAM PHẬt-HỌC, đặt trụ-sở đầu-tiên
tại chùa TRÚC-LÂM, do Đạo-hữu làm Hội-trưởng, dưới sự
chứng-minh sáng-lập của quý vị Hòa-Thượng nói trên và
Đạo-hữu bắt-đầu thuyết-pháp tại chùa TỪ-QUANG, giảng-giải
Kinh Luận tại tư-thất cho một số tín-hữu nhiệt-tâm cầu
Đạo (quý Hòa-Thượng GIẢI-NGẠN, Sư-Bà DIỆU-KHÔNG, Thượng-Tọa
MINH-CHÂU, lúc chưa xuất-gia, đều được nối tiếp đào-tạo
trong những khóa-giảng này);
Năm
1933, phụ-trách Y-sĩ Giám-đốc Bệnh-viện bài Lao Huế, Đạo-hữu
là một danh-y uy-tín nhất tại Đế-đô.
Về
Phật-sự, Đạo-hữu:
* Khởi-công
trùng-tu Tổ-Đình Từ-Đàm làm Trụ-sở Trung-ương của Hội.
*Cử-hành
Đại-Lễ Phật-Đản (Mồng tám tháng Tư Âm-lịch) đầu-tiên
vô cùng trọng-thể tại chùa DIỆU-ĐẾ, gây ảnh-hưởng lớn
lao trong mọi giới,
*Chủ-trương
xuất-bản NGUYỆT-SAN VIÊN-ÂM, cơ-quan ngôn-luận và truyền-bá
Giáo-Lý của Hội do Đạo-hữu làm Chủ-nhiệm kiêm Chủ-bút,
*Thiết-lập
cơ-sở đào-tạo Tăng-Tài: Cấp Trung-Tiểu-học tại chùa BẢO-QUỐC
do Hòa-Thượng THÍCH-TRÍ-ĐỘ làm Dốc-Giáo (quý Hòa-Thượng
THIỆN-HOÀ, THIỆN-HOA, Thượng-tọa THIỆN-SIÊU, TRÍ-QUANG, THIỆN-MINH,
TRÍ-TỊNH, NHẬT-LIÊN... đều xuất-than tại Trường này),
cấp Đại-học tại chùa TÂY-THIÊN do chính Đạo-hữu phụ-trách
giảng-diễn về Luận-Học và Triết-Lý Đông, Tây (quý Hòa-Thượng
ĐÔN-HẬU, TRÍ-THỦ, MẬT-HIỂN, MẬT-NGUYỆN, MẬt-THỂ... đều
xuất-thân tại Trường này),
*
Xúc-tiến thành-lập các Tỉnh-Hội, Chi-Hội, Khuông-Hội khắp
nơi tại Trung-Phần, mở đầu là Tỉnh-Hội THỪA-THIÊN, ĐÀ-NẲNG,
QUẢNG-NAM...;
-Năm
1934, tuy việc chuyên-môn, việc Hội, việc Báo-chí, việc Phật-học-viện
rất bề-bộn, nhưng Đạo-hữu không lúc nào xao-lãng sự học,
sự tu và sở-trường của Đạo-hữu là giảng-diễn Phật-Pháp;
chính nhờ lối giải-thích, trình-bày Phật-Pháp một cách
sáng-sủa, hợp-cơ mà Đạo-hữu đã áp-dụng, một số đông
đồng-học, Cựu-học cũng như Tân-học, bình-dân cũng như
trí-thức, đã hiểu Đạo Phật rất mau-chóng và đứng-đắn.
Đạo-hữu thật xứng-đáng là một vị Pháp-sư Cư-sĩ, vừa
Tông-Thông vừa Thuyết-thông khéo đưa Phật-Pháp ra giữa ánh-sáng
như đưa viên ngọc quý ra khỏi những thế-lực vô-minh vùi-lấp;
Mùa
Đông 1934, Hòa-Thượng GIÁC-TIÊN viên-tịch, ý-thức được
trách-nhiệm hoằng-dương Chánh-pháp và duy-trì sinh-hoạt Giáo-Hội,
nên trong lời ai-điếu Hòa-Thượng Bổn-Sư, Đạo-hữu đã
phát-nguyện dõnh-mãnh như sau:
"Kiến-tướng
nguyên vọng, kiến-tánh nguyên chơn, viên giác diệu-tâm ninh
hữu ngã;
Chúc-pháp
linh truyền, chúc-sanh linh độ, thừa-đương di-huấn khởi
vô nhân;"
Tạm
dịch :
"Tướng
các Pháp tuy vọng, tánh các Pháp vốn chơn, Hòa-Thượng đâu
có mất, còn; Chánh-Pháp, cần phải truyền, chúng-sanh cần
phải độ, lời di-huấn đó, con nguyện xin gánh-vác";
Năm
1935, để thích-ứng với nhu-cầu tiến-triển của Hội, bản
Điều-lệ của Hội được tu-chỉnh qua quyết-nghị của Đại-hội-đồng:
Một Ban Tổng-Trị-Sự được thiết-lập tại Huế trực-tiếp
điều-hành các Tỉnh-Hội và năm nào Đạo-hữu cũng được
Đại-hội tín-nhiệm công-cử vào chức-vụ Hội-Trưởng hoặc
Cố-Vấn để điều-hành Phật-sự chung;
Mùa
Thu năm này, Đạo-hữu dời nhà từ Bệnh-Viện lên ở số
31 đường Nguyễn-Hoàng (dốc Bến-Ngự), tiếp-tục giảng
Kinh, viết báo, quy-tụ một số thanh-niên Phật-tử trí-thức
thành-lập ĐOÀN THANH-NIÊN PHẬT-HỌC ĐỨC-DỤC, sáng-lập
GIA-ĐÌNH PHẬT-HOÁ-PHỔ (tiền-thân của GIA-ĐÌNH PHẬT-TỬ
VIỆT-NAM ngày nay) nhằm duy-trì đạo-đức, xây-dựng chánh-tín
cho đàn hậu thế;
Ngoài
ra, theo gương Phật-giáo Trung-Hoa, qua nhiều năm nghiên-cứu
kế-hoạch và vận-động phương-tiện, quyết-tâm xây-dựng
nền-móng vĩnh-cửu cho cơ-sở đào-tạo Tăng-Tài, năm 1944,
Đạo-hữu sắp-xếp di-chuyển các Phật-học-viện lên thiết-trí
tại Kim-Sơn, thành-lập TỔNG-LÂM KIM-SƠN (Huế), nhưng thời-cuộc
không cho phép, công-tác đành phải tạm ngưng, sau hai năm hoạt-động;
Nhờ
công-đức của Đạo-hữu, vừa tài-thí vừa Pháp-thí, chủ-trương
và duy-trì mà HỘI AN-NAM PHẬT-HỌC, NGUYỆT-SAN VIÊN-ÂM (3)
và PHẬT-HỌC-VIỆN đã vượt khỏi mọi thăng-trầm vất-vả,
mọi chướng-ngại thế-gian, gây được một thanh-thế lớn
giữa trào-lưu PHỤC-HƯNG ĐẠO-PHÁP, PHỤC-HƯNG DÂN-TỘC, kích-động
PHẬT-GIÁO NAM, BẮC đưa PHẬT-GIÁO nước nhà từ chỗ quên-lãng
đến địa-vị như ngày nay;
Năm
1945 sau cuộc Đảo-chánh Nhật, được Chánh-Phủ TRẦNH-TRỌNG-KIM
mời giữ chức-vụ Giám-Đốc Y-Tế Trung-Phần kiêm Giám-Đốc
Bệnh-Viện Huế;
Mùa
Đông 1946, chiến-cuộc bùng-nổ, dân-chúng Huế tản-cư, Đạo-hữu
cùng gia-đình cũng tản-cư về nguyên-quán Quảng-nam, tham-gia
Kháng-Chiến chống Pháp;
Năm
1947-1949, làm chủ-tịch Ủy-Ban Hành-Chánh Kháng-Chiến Miền
Nam Trung-bộ tại Liên-Khu V và tập-họp một số cựu Đoàn-viên
Thanh-Niên Phật-Học-Đức-Dục, cựu Huynh-trưởng Gia-Đình
Phật-Tử, cựu Hội-viên Hội Phật-Học cùng những phần-tử
trí-thức Kháng-Chiến thành-lập PHONG-TRÀO PHẬT-GIÁO VÀ DÂN-CHỦ-MỚI
do chính Đạo-hữu chủ-trì và hướng-dẫn nghiên-cứu và
so-sánh giữa Giáo-Lý nhà Phật và Chủ-thuyết Mác-Lê tại
Bồng-Sơn (Bình-Định);
Mùa
Hạ 1949, được điện mời ra Bắc, đề-bạt làm Chủ-Tịch
Phong-Trào Vận-Động Hòa-Bình Thế-Giới, mặc-dù tình-thế
đảo-điên, nhân-tâm điên-đảo, nhưng Đạo-hữu vẫn an-nhiên
diễn-giảng, nhân-tâm điên-đảo, nhưng Đạo-hữu vẫn an-nhiên
diễn-giảng, phiên-dịch Phật-Pháp. Cuối-cùng trọn bộ KINH
THỦ-LĂNG-NGHIÊM được dịch và xuất-bản vào mùa Xuân năm
Tân-Sửu (1961) tại chùa QUÁN-SỨ (Hà-Nội) và từ-trần ngày
23-04-1969 (tức ngày Mồng bảy tháng Ba năm Kỷ-Dậu) tại Hà-Nội.
Thọ 73 tuổi.
Saigon,
Mùa Vu-Lan năm Quý-Sửu.
GHI-CHÚ:
(1)
- Y-sĩ LÊ-ĐÌNH-DƯƠNG tốt-nghiệp Á-khôi Đông-dương Y-sĩ
khóa đầu-tiên năm 1915 tại Trường Cao-đẳng Y-khoa Đông-dương,
Hà-Nội, và được bổ-nhiệm Y-sĩ điều-trị tại bệnh-Viện
Hội-An (Quảng-Nam), tham-gia VIỆT-NAM QUAN-PHỤC-HỘI, cùng với
Cụ TRẦN-CAO-VÂN, THÁI-PHIÊN, PHAN-THÀNH-TÀI...phụ-trách lãnh-đạo
Phong-Trào Vua DUY-TÂN KHỞI-NGHĨA tại nam-Ngãi và bị thực-dân
Pháp bắt đày lên Ban-mê-thuột năm 1916, cuối-cùng không chịu
nổi sự tủi-nhục và đày-ải khắc-nghiệt của viên Công-sứ
Thực-dân SABATIER nên Y-sĩ đã uống Cyanure de Mercure để tự
sát năm 1919. Hưởng-dương 26 tuổi.
(2)
- Tác-giả là Ngài LỤC-TỔ HUỆ-NĂNG.
(3)
- Sau này, một loại sách nữa do Thanh-niên Phật-tử trí-thức
được Đạo-hữu hướng-dẩn biên-tập, đó là PHẬT-HỌC
TÙNG-THƯ.
LỜI
NÓI ĐẦU
Chư
Phật ra đời chỉ nhằm một mục-đích là dạy-bảo chỉ-bày
cho chúng-sinh giác-ngộ và thật-chứng Pháp-giới-tính như
Phật. Pháp-giới-tính là tính bản-nhiên của tất-cả sự
vật, nghĩa là của tất-cả các chuyển-động và các hiện-tượng
trong vũ-trụ.
Tính
bản-nhiên ấy là tính "trùng-trùng duyên-khởi", nghĩa là tính
ảnh-hưởng dây chuyền của một sự vật đối với tất-cả
sự vật, của tất-cả sự vật đối với một sự vật.
Ví như một con cá nhỏ vẫy đuôi, tuy rung-động rất ít,
nhưng nếu có khả-năng đo-lường chính-xác, thì cũng có thể
thấy ảnh-hưởng cùng khắp bốn bể.
Do
mỗi sự vật đều chịu ảnh-hưởng của tất-cả sự vật
nên đều chuyển-biến không ngừng. Do mỗi sự vật chuyển-biến
không ngừng nên ảnh-hưởng lại tất-cả sự vật đều chuyển-biến
không ngừng. Song ảnh-hưởng của các loại sự vật đối
với một sự vật không giống nhau, cái thì trực-tiếp, cái
thì gián-tiếp qua một hay nhiều lớp, do đó tác-động cũng
không giống nhau. Trong ảnh hưởng phức-tạp của tất-cả
sự vật làm cho một sự vật xuất-hiện và chuyển-biến,
đạo Phật đã rút ra một quy-luật bản-nhiên là luật nhân-quả.
Luật
nhân-quả là một quy-luật rất sinh-động không phải luôn
luôn đơn-giản như trồng lúa thì được lúa. Lại chính việc
trồng lúa được lúa cũng không đơn-giản lắm, vì phải
có đất, có nước, phân, cần, giống, phải kể đến thời-tiết
thuận-nghịch, đến kỹ-thuật cấy cày, vân vân... thì mới
chắc được lúa và được nhiều lúa. Vì thế nên nhân-quả
và định-mệnh khác nhau rất nhiều. Định-mệnh thì việc
gì cũng đã định trước rồi, không làm sao tránh khỏi được
; còn nhân-quả thì chẳng những có nhân quá-khứ sinh quả
hiện-tại, mà lại còn có nhân hiện-tại sinh quả hiện-tại
(trong đó có cả ảnh-hưởng của hoàn-cảnh, ảnh-hưởng
của tư-tưởng hành-động bản thân). Hai dây chuyền nhân-quả
đó thường-xuyên ảnh-hưởng lẫn nhau, làm cho quả-báo hiện-tại
thay đổi từng giờ từng phút. Vật-chất có nhân-quả vật-chất,
tâm-thức có nhân-quả tâm-thức ; hai bên ảnh-hưởng lẫn
nhau, nhưng không nhất-thiết giống nhau. Đối với đạo Phật,
nhân-quả tâm-thức là chủ-yếu, vì nó quy-định sự tiến-hóa
hay
thoái-hóa trên con đường giải-thoát.
Các
vị Thanh-văn, Duyên-giác, theo đạo-lý nhân-quả, trừ-bỏ
nguyên-nhân luân-hồi và chứng quả vô-sinh, nhưng vẩn còn
tu-chứng trong nhân-quả, chứ chưa rõ được then-chốt nhân-quả.
Then-chốt
nhân-quả là Pháp-giới-tính trùng-trùng duyên-khởi, nghĩa
là một sự vật duyên tất-cả sự vật, tất-cả sự vật
duyên một sự vật, trong một có tất-cả, trong tất-cả có
một, một tức là tất-cả, tất-cả tức là một. Tính ấy
gọi là tính chân-như, là thật-tướng, là Phật-tính, là
Như-lai-tạng-tính, là pháp-tính, là tâm-tính, vân vân...
Tính
ấy bình-đẳng, không thật có sinh, có diệt, có người, có
mình, có tâm, có cảnh, có thời-gian, có không-gian, không thấp,
không cao, không mê, không ngộ ; tính ấy duyên-khởi ra tất-cả
sự vật, không có ngăn-ngại, đồng-thời cũng tức là bản-tính
của tất-cả sự vật, không hề thay-đổi.
Tam
thế chư Phật, chư Đại-Bồ-tát, thật chứng và nhập một
với Pháp-giới-tính nên phát-khởi vô-duyên đại-từ, đồng-thể
đại-bi, hiện ra vô số thân, theo duyên hóa-độ vô-lượng
vô-biên chúng-sinh, nhưng vẫn không gì ra ngoài Pháp-giới-tính.
Chúng-sinh chưa chứng được Pháp-giới-tính nên theo duyên
mà luân-hồi trong lục-đạo. Nhận-thức khác nhau nên chỗ
thụ-dụng của Phật và của chúng-sinh khác nhau, nhưng Pháp-giới-tính
vẫn như vậy, không thêm không bớt.
Pháp-giới-tính
là tính-chung của các loài vô-tình như cây, như đá và của
các loài hữu-tình như động-vật ; nhưng chỉ các loài hữu-tình,
đặc-biệt các loài có trình-độ nhận-thức khá cao như loài
người, mới có khả-năng chứng được Pháp-giới-tính và
thành Phật-đạo. Do đó nên Pháp-giới-tính nơi các loài hữu-tình
cũng gọi là Phật-tính.
Các
loài hữu-tình chủ-yếu là những cái tâm làm cho có sống,
có cảm-giác, có nhận-thức, có suy-nghĩ, có ghi-nhớ, vân
vân... Cái tâm là một sự vật nên bản-tính vẫn là Pháp-giới-tính
như các sự vật khác.
Khi
học đạo và tu-chứng, tâm ấy có thể quan-sát Pháp-giới-tính
nơi cây, nơi đá, hay quan-sát Pháp-giới-tính nơi tự-tâm ;
nhưng khi xét-nhận được Pháp-giới-tính nơi tự-tâm thì
có phần dễ nhập một với Pháp-giới-tính hơn là khi xét-nhận
được Pháp-giới-tính nơi cây nơi đá.
Vì
thế Phật thường dạy người đời tu-chứng Pháp-giới-tính
nơi tự-tâm mình và gọi Pháp-giới-tính đó là tâm-tính.
Song
tâm-tính vốn là Pháp-giới-tính, chứ không phải tính riêng
của tự-tâm và khi chứng-ngộ được tâm-tính rồi thì cả
tâm riêng cũng không còn nữa.
Phật
thuyết-pháp theo căn-cơ của chúng-sinh, nên pháp của Phật,
khi thấp, khi cao, khi quyền, khi thật, khác nhau. Nhưng dầu
Phật dạy "tam-quy, ngũ-giới, thập-thiện", dạy "tứ-đế,
thập nhị nhân-duyên" hay dạy về pháp-tính, pháp-tướng,
tâm-tính, chân-như, chân-không, thật-tướng, vân vân... Phật
luôn luôn nhằm mục-đích chỉ-bày cho chúng-sinh chứng-ngộ
trí-tuệ của Phật, nghĩa là chứng-ngộ Pháp-giới-tính.
Kinh
Thủ-lăng-nghiêm là một kinh Đại-thừa, chính nơi thấy nghe
thông-thường của chúng-sinh mà chỉ ra tâm-tính, rất thích-hợp
với căn-cơ hiện nay.
Chúng
tôi chung sức chung trí dịch kinh ấy ra quốc văn, đồng-thời
nêu ra đại-ý của kinh để giúp-đở người học Đạo hiểu
thêm những lời Phật dạy. Chúng tôi tìm cách không nói rộng
mà nói gọn, không nói khó mà nói dễ, tránh những danh-từ
không cần-thiết và dùng những lời lẽ phổ-thông để tiện
cho các bạn mới phát-tâm nghiên-cứu Phật-pháp.
Mặc
dầu như thế, chúng tôi cố-gắng phản-ảnh đầy-đủ nghĩa-lý
nhiệm-mầu tronh kinh, hầu mong có vị túc-căn túc-trí nương
theo nghĩa-lý ấy mà trực-nhận tâm-tính thì ba tạng kinh-điển
tuy nhiều cũng không ra ngoài kinh Thủ-lăng-nghiêm vậy.
Bản-nguyện
chúng tôi thì lớn, nhưng năng-lực còn có hạn, trông mong
thập phương thiện-trí-thức phê-bình giúp-đỡ cho chúng tôi
làm tròn công-đức, báo ơn Tam-bảo trong muôn một.
Viết
tại chùa Quán-Sứ, Hà-Nội,
Mùa
Xuân năm Tân-Sửu (1961)
TÂM-MINH
LÊ-ĐÌNH-THÁM
WP:
Chơn Hạnh