1.
[1]
Năm trụ phiền não: Còn gọi là năm trụ địa phiền não.
Trụ là gốc rễ. Địa là bền chắc sây dày. Nghĩa là năm
thứ phiền não gốc rễ sâu dày này hay sanh ra những phiền
não ngọn ngành nhánh lá. Những gì là năm?
1.
Kiến nhứt xứ trụ địa: Kiến hoặc phiền não của thân
kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ trong
tam giới. Hành giả khi thể nhập kiến đạo thì đoạn kiến
nhứt xứ phiền não, nên gọi là kiến nhứt xứ trụ địa.
2.
Dục ái trụ địa: Trong các phiền não cõi Dục giới trừ
kiến hoặc và vô minh hoặc ra, trong đó lỗi lầm nặng nề
nhất là ái trước, nên gọi là Dục ái trụ địa.
3.
Sắc ái trụ địa: Các phiền não cõi Sắc giới, trừ kiến
hoặc và vô minh hoặc ra, trong đó lỗi lầm nặng nề nhất
là ái trước, nên gọi là Sắc ái trụ địa.
4.
Hữu ái trụ địa: Trong các phiền não của cõi Vô sắc giới,
trừ kiến hoặc và vô minh hoặc ra, trong đó lỗi lầm nặng
nề nhất là ái trước, thế nên ái tiêu biểu cho danh xưng.
Hữu ái là còn có ái nhiễm thì còn sanh tử. Ái trong cõi
Vô sắc giới đối với quả báo sanh tử, ái là phiền não
rốt cùng, nên gọi là Hữu ái trụ địa.
5.
Vô minh trụ địa: Tức chỉ cho tất cả vô minh trong ba cõi.
Vô minh làm si ám tâm thể. Bởi không có trí huệ sáng soi,
nên là căn bản của tất cả phiền não. Ngũ trụ địa hay
năm thứ phiền não căn bản này, nó đeo đẳng chúng sanh khắp
ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Kiến nhứt
xứ trụ địa thuộc về kiến hoặc, nó đeo đẳng khắp ba
cõi. Còn Dục ái trụ địa thuộc cõi Dục giới. Sắc ái
trụ địa thuộc cõi Sắc giới và Vô minh trụ địa thuộc
cõi Vô sắc. Ba thứ trụ địa này thuộc về tư hoặc. Cả
kiến hoặc và tư hoặc đều thuộc về chi mạt phiền não.
Còn vô minh trụ địa mới là căn bản phiền não cho cả tam
giới.
[2]
Hai thứ khổ: 1/ Chết đúng tuổi thọ mạng gọi là mạng
chung. 2/ Tự sát hay bị người sát hại gọi là ngoại duyên
tử. Đức Phật không bị ràng buộc hai thứ chết đau khổ
này.
[3]
Phần đoạn sanh tử: Một trong hai thứ sanh tử, tức là phần
đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử. Phần đoạn sanh tử
là các nghiệp hữu lậu thiện và ác do phiền não chướng
trợ duyên cảm thọ quả báo, luân lưu trong tam giới lục
đạo luân hồi, mang thân quả báo sai khác, sống chết theo
kỳ hạn. Người tu đoạn trừ phiền não nghiệp chướng từng
phần, nên gọi là phần đoạn sanh tử.
[4]
Đệ nhất nghĩa trí: Nghĩa là đọan sạch tất cả phiền
não, đạt đến cứu cánh Phật trí. gọi là đệ nhất nghĩa
trí.
[5]
Sơ thánh đế trí: Trí huệ của tứ quả Thanh văn do quán
Tứ đế, tu trải bốn cõi thiền, tám cõi định mà chứng
đuợc đế trí này.
[6]
Bốn trí Bồ đề là trí huệ giác ngộ. Những gì bốn?
1)
Đại viên cảnh trí: Do công năng tu tập chuyển đệ bát thức,
tức tàng thức phàm phu, chứa chủng tử hữu lậu thành Nhất
thiết chủng trí, tức tổng thể tất cả Như Lai công đức.
trí này như gương lớn sáng sạch chiếu soi tất cả sắc
tướng trang nghiêm, duyên cảnh thanh tịnh, gồm thâu chiếu
soi sự lý pháp giới viên dung, nên gọi là Đại viên cảnh
trí.
2)
Bình đẳng tánh trí: Chuyển thức thứ bảy Mạt na chấp ngã
đạt thành lý vô ngã. Đối tất cả chúng sanh khởi tâm vô
duyên trí đại từ bi, không còn nhiễm chấp, nên gọi là
Bình đẳng tánh trí.
3)
Diệu quan sát trí: Chuyển ý thức thứ sáu la thức bén nhạy
quán sát lanh lợi tướng của các pháp, đạt thành trí quán
sát diệu dụng thuyết pháp đoạn nghi, gọi là Diệu quan sát
trí.
4)
Thành sở tác trí: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân. Do tu hành chuyển
năm thức này thành thanh tịnh trí, thành trí biến hóa phương
tiện quyền xảo làm lợi ích cho tất cả hàng phàm phu Nhị
thừa. Như Đức Như Lai hiện thân độ, quốc độ và các
thần thông độ đều do sở tác diệu dụng của Thành sở
tác trí. Tóm lại, tám thức của phàm phu do chuyên cần công
phu tu tập mà chuyển tám phàm thức thành bốn thánh trí Bồ
đề.
[7]
Ngũ pháp:
1.
Tướng pháp: Tất cả các pháp hữu vi sum la vạn tượng đều
do nhơn duyên mà sanh khởi hình thành các tướng trạng.
2.
Danh pháp: Danh xưng, là tên gọi của các pháp. Tướng của
các pháp được đặt tên. Danh xưng là minh định chỉ rõ
đặc tánh tướng trạng của các pháp, nên gọi là danh pháp.
3.
Phân biệt: Do vọng tưởng phân biệt mà hình thành hai tướng
là, các pháp sở biến và tâm năng biến. Ba pháp vừa
kể trên đều do tâm hữu lậu mà hình thành các pháp hữu
lậu.
4.
Chánh trí: Tất cả vọng tưởng xen tạp vào vô lậu tâm,
nên bốn pháp trên hợp chung đều gọi là hữu vi pháp, do
đó mà có phân biệt các pháp hữu lậu và vô lậu.
5.
Như như: Do chánh trí mà chứng đắc được chơn như. Nghĩa
là do như trí mà chứng đắc chơn như, nên gọi là như như,
là vô vi pháp. Năm pháp trên đây gồm thâu tất cả pháp hữu
vi vô vi, không một pháp nào ngoài năm pháp này.
[8]
Tứ vô sở úy: Gọi tắt là tứ vô úy:
1.
Nhứt thiết trí vô sở úy: Nghĩa là Đức Thế Tôn ở trong
đại chúng thuyết pháp uy phong tự tại pháp âm vang dội như
tiếng sư tử rống. Bởi do đầy đủ chánh trí uy đức nên
không có tâm sợ sệt.
2.
Lậu tận vô sở úy: Nghĩa là Đức Thế Tôn ở trong đại
chúng thuyết pháp như tiếng sư tử rống, tự tại vô ngại
không có tâm e dè sợ sệt. Bởi do đoạn hết tất cả phiền
não.
3.
Thuyết chướng đạo vô sở úy: Nghĩa là Đức Thế Tôn ở
trong đại chúng nói pháp như tiếng sư tử rống khiến cho
những pháp chướng ngại đạo tiêu tan mà không có tâm sợ
sệt.
4.
Thuyết tận khổ đạo vô sở úy: Nghĩa là Đức Thế Tôn
ở trong đại chúng nói pháp như tiếng sư tử rống, không
có tâm sợ sệt. Bởi do dứt sạch tất cả các đường khổ.
Do công đức tu hành Đại thừa pháp viên mãn, nên Thế Tôn
thành tựu được bốn đức vô sở úy này.
2
[1]
Hoàng môn: Những kẻ mang tính vừa nam vừa nữ. Hạng người
này thấy người nam thì họ liền sanh tâm ái nhiễm của nữ,
thấy người nữ thì họ liền sanh tâm ái nhiễm của nam.
Tâm tánh của kẻ hoàng môn bán nam bán nữ bất thường,
không có ý chí trượng phu. Luật Phật cấm thu nhận kẻ hoàng
môn xuất gia thọ giới Sa di hoặc Tỳ kheo. Vì lòng từ bi
độ sanh, Phật phương tiện chỉ cho kẻ hoàng môn thọ Bồ
tát giới tại gia hay Bồ tát giới xuất gia mà thôi. Kinh Pháp
Hoa phẩm thứ 14 Phật dạy người tu hành trì Kinh Pháp Hoa
không nên thân gần kẻ hoàng môn, không nên một mình vào
nhà kẻ hoàng môn. Vì kẻ hoàng môn tâm địa bất chánh. Nhưng
ngoại trừ quan nội giám của triều đình bộ phận sinh dục
bị cắt để nhà vua an tâm về đường tà dâm với hoàng
hậu và cung nhơn thì không kể.
[2]
Đa la thọ: Là loại cây Đa la giống như cây Thốt nốt. Loại
cây này rất nhiều ở miền Đông Ấn Độ.Thân cây Đa la
rất cứng thường dùng khắc bản in, lá dài dày đặc như
mái nhà, trái đỏ như trái lựu. Một khi thân cây Đa la bị
chặt ngang thì không nẩy chồi, cây phải chết. Kinh Niết
Bàn Đức Phật nói, kẻ tu hành phá giới,nếu phạm tội Ba
la di như cây Đa la bị chặt ngang.