Đức
Phật có đề cập gì đến sinh hoạt kinh tế hay không. Khi
theo dõi những hậu quả của kinh tế thị trường, tôi còn
phải đi tìm hiểu lập trường của Phật giáo về các vấn
đề môi sinh, nhất là đối với việc khai thác tài nguyên
không tái tạo, thái độ đối với sự nghèo khổ (và những
chế độ chính trị đưa đến nghèo khổ), đối với chủ
trương tiêu thụ hàng hóa thả cửa, đối với công ăn việc
làm, vai trò của từ bi trong các hoạt động thương mãi và
cuối cùng đến một câu hỏi tối hậu mà mọi tôn giáo đều
muốn có câu trả lời: ý nghĩa của đời sống là gì?
Sau
sụp đổ của Liên bang Xô-viết và khối Đông Âu khiến chủ
nghĩa tư bản trở thành một khuôn mẫu kinh tế và chính trị
duy nhất “tượng trưng” cho dân chủ và thịnh vượng của
cả thế giới. Trong tác phẩm The End of History, Fukuyama lạc
quan tuyên bố một cách chắc nịch “lịch sử đã đến giai
đoạn cuối với chủ nghĩa tư bản”. Để dân chúng tại
các nước đang phát triển khỏi lỡ “chuyến tàu lịch sử”,
quá trình toàn cầu hóa được phát động nhằm “khuyến
khích” chính quyền của các quốc gia này đón nhận mô thức
dân chủ kiểu phương Tây về mặt chính trị và mô thức
tự do mậu dịch về mặt kinh tế.
Nga
và khối Đông Âu, sau một thời gian ngắn hồ hởi “dân
chủ hóa”, nhà cầm quyền và dân chúng bắt đầu tự hỏi
việc đeo đuổi mô thức chính trị – kinh tế kiểu Mỹ liệu
có phải là một thái độ sáng suốt? Các nước nghèo ở
châu Mỹ La-tinh cũng sau một thời gian theo chủ trương “Châu
Mỹ của người châu Mỹ”, mở rộng cửa cho chính sách tự
do mậu dịch, trong khi nhìn lại chỉ thấy cái hố sâu ngăn
cách giữa người nghèo và người giàu càng ngày càng thăm
thẳm. Ngay cả các nước Nam Mỹ giàu có nhất, qua một đêm
bừng con mắt dậy, chợt thấy mình đang nằm trên bờ vực
phá sản, điển hình là Mexico, Brazil và Argentina.
Khi
được thổ lộ là đang nghiên cứu về kinh tế Phật giáo,
một người bạn thân nhìn tôi một lúc lâu, rồi nói: “Như
vậy đề tài chắc giới hạn lắm!”. Giới hạn? Ngoài chuyện
trở lại lục lạo giáo lý căn bản của Phật giáo xem có
nguyên lý nào hỗ trợ cho ý niệm kinh tế, tôi còn phải theo
dõi xem Đức Phật có đề cập gì đến sinh hoạt kinh tế
hay không.
Khi
theo dõi những hậu quả của kinh tế thị trường, tôi còn
phải đi tìm hiểu lập trường của Phật giáo về các vấn
đề môi sinh, nhất là đối với việc khai thác tài nguyên
không tái tạo, thái độ đối với sự nghèo khổ (và những
chế độ chính trị đưa đến nghèo khổ), đối với chủ
trương tiêu thụ hàng hóa thả cửa, đối với công ăn việc
làm, vai trò của từ bi trong các hoạt động thương mãi và
cuối cùng đến một câu hỏi tối hậu mà mọi tôn giáo đều
muốn có câu trả lời: ý nghĩa của đời sống là gì? Tại
sao con người tiếp tục trầm luân trong biển khổ và làm
cách nào để qua bên kia bờ hạnh phúc?
Không
những đề tài không bị giới hạn mà càng ngày tôi càng
bị lôi cuốn vào nhiều lĩnh vực khác nhau, từ kinh tế, chính
trị, tâm lý, đạo đức và siêu hình! Tôi có một người
bạn đang nghiên cứu về đề tài kinh tế Phật giáo để
trình luận án tiến sĩ ở đại học miền Tây Sydney (UWS).
Có lần anh nói: “Tôi sẽ đưa ra một mô thức để thay đổi
tận nền tảng đạo đức phương Tây”. Lúc đó tôi bán
tín bán nghi, chỉ chúc tụng xã giao: “Good luck!”.
Có
một đường lối “thứ ba” nào có thể làm kinh tế phát
triển mà không làm tổn hại đến địa cầu và giúp mọi
người cùng hưởng những thành quả kinh tế không? Và ngay
cả khi con người hưởng thụ tràn trề mọi tiện nghi vật
chất, con người có đạt đến “hạnh phúc” không? Con đường
“trung đạo” của đạo Phật có thể đóng góp được gì?
Không
phải đợi tới khi Schumacher nhắc nhở kinh tế phải phục
vụ con người, “as if People mattered”. “As if” là một ước
mơ, là một lời kêu cứu! Kinh tế càng ngày càng trở nên
chuyên biệt hóa và có tham vọng trở thành một “khoa học”
của những “con số”. Con người đột nhiên biến mất và
“People don't matter any more”! kể từ khi giải Nobel kinh tế
được Hội Hàn lâm Thụy Điển đề nghị từ năm 1968, các
kinh tế gia Mỹ (hay có quốc tịch Mỹ) khống chế số người
được giải.
Cho
đến năm 1996 có 24 kinh tế gia Mỹ trong số 40 người nhận
giải Nobel và phần lớn chuyên về kinh toán học (Econometrics).
Các nhà kinh tế này thường đề nghị những mô thức toán
học để tiên đoán các mô thức phát triển. Ngược lại
các nhà kinh tế châu Âu có cái nhìn dịu dàng hơn với con
người. Sir John Hicks (được giải Nobel năm 1972) cho thấy trong
hàng ngũ của các kinh tế gia châu Âu đã có những dấu hiệu
“bất tín nhiệm” các mô thức dựa trên kinh toán học và
xem kinh tế không thể nào hoàn toàn là một môn khoa học “phổ
quát” “hợp lý” thường được gọi là “economic rationalism”.
Joseph
E. Stiglitz, người được giải Nobel 2001, Phó Giám đốc Ngân
hàng Thế giới (World Bank) đã chỉ trích những biện pháp
cứng nhắc sai lầm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Amartya
Sen, người được giải Nobel năm 1998, đã đưa ra một con
đường “thứ ba”, vừa giúp các nước thuộc thế giới
thứ ba phát triển, vừa bảo vệ kinh tế và văn hóa địa
phương, cũng như thực hiện một chính sách phân phối tài
sản quốc gia một cách công bằng hơn. Quan điểm của hai
kinh tế gia trên rất quan trọng bởi họ là những người
chủ trương “chủ nghĩa xét lại”.
Nỗ
lực dùng đạo đức để hướng dẫn đường lối phát triển
kinh tế không phải chỉ mới xuất hiện gần đây; ngay chính
“cha đẻ” của nền kinh tế tự do, Adam Smith (1723-1790) cũng
đã đặt vấn đề này. Trong khi tác phẩm The Wealth of Nations
được khai thác một cách tận tình và được xem như là thánh
kinh, tác phẩm The Theory of Moral Sentiments của Smith, đặt vấn
đề liên hệ giữa tư lợi và đạo đức, bị các nhà kinh
tế cố tình bỏ quên.
Trong
The Wealth of Nations, ông đã cổ vũ cho một nền kinh tế bất
can thiệp (laissez-faire) và cho rằng tham lam và tư lợi là “bản
chất” của con người và là động cơ chính yếu thúc đẩy
các hoạt động kinh tế. Kinh tế bất can thiệp sẽ tạo sự
giàu có cá nhân và do đó đưa đến sự giàu có quốc gia.
Giả thuyết như “bàn tay vô hình” hướng dẫn thị trường
của Smith đã bị thách đố và hiện nguyên hình là những
“giả thuyết”, những “tiền đề, cũng giống như tiền
đề "ai cũng có Phật tính” hay “nhân chi sơ tánh bản thiện”
của Mạnh Tử.
Vào
cuối đời, khi cuộc cách mạng kỹ nghệ lên tới mức cao
điểm, chính Smith đã chứng kiến bộ mặt trái của nền
kinh tế tự do: các nông dân Anh bỏ nông thôn ra thành thị
tìm việc làm nhưng thay vì hưởng được thành quả của cuộc
cách mạng kỹ nghệ, họ trở thành công nhân vô sản ở các
thành phố lớn. Từ “bần cố nông” qua “bần công nhân”,
họ sống một cuộc đời lầm than, vất vưởng không gốc
không rễ. Chính sự bần cùng do cuộc cách mạng kỹ nghệ
gây ra đã biến thành một mảnh đất màu mỡ cho sự phát
triển của chủ nghĩa Mác và sự thành lập các chế độ
cộng sản.
Các
kinh tế gia Anh sau đó ít người còn tin vào “bàn tay vô hình”
của Smith, như J.S. Mills (1806-1873), Alfred Marshall (1842-1924) và
nổi tiếng nhất là J.M. Keynes (1883-1946), đều nghiêng về
sự can thiệp của chính phủ trong trường hợp cần thiết
để ngăn chặn những hậu quả thái quá của kinh tế thị
trường.
Nhà
kinh tế Anh Joan Robinson (1903-1983) nửa thật nửa đùa nói là
mọi người nên học kinh tế, không phải để tìm một giải
pháp nào, nhưng để khỏi bị các huyền thoại kinh tế đánh
lừa. Cũng như nhiều môn tự nhận “khoa học” khác, môn
kinh tế có nhiều “huyền thoại” cần được “giải hoặc”.
Thí dụ như huyền thoại lòng tham lam là “bản tính con người”,
tư lợi cá nhân là động lực chính thúc đẩy các hoạt động
kinh tế và “bàn tay vô hình” sẽ tự động điều hợp
các hoạt động kinh tế.
Từ
lúc Thatcher-Reagan nắm chính quyền, các quốc gia đang phát
triển đã được “khuyến khích”, “thúc đẩy” và nếu
cần “ép buộc” các quốc gia này “hồ hởi” chấp nhận
mô thức phát triển của phương Tây. Ở đâu người ta cũng
nghe “kinh tế thị trường, please, please!”.
Shinichi
Inuoe, một người lãnh đạo ngành tài chính và ngân hàng của
Nhật, đã dùng tư tưởng của đạo Phật để nghiên cứu
là cổ động cho một nền kinh tế không (hay ít ra cũng bớt)
tàn hại môi sinh. Sau khi tốt nghiệp ngành kinh tế tại Đại
học Tokyo, Inoue gia nhập Bank of Japan và dần dần đảm nhiệm
những chức vụ quản lý cao cấp. Sau đó ông được đề
cử vào chức vụ Chủ tịch Ban Quản trị Ngân hàng Miyakazi
vào năm 1975. Hiện nay ông là Chủ tịch Phong trào Tổ chức
Phát triển Phật giáo (Bukkyo Shinko Zaidan) và là một thành
viên của Viện Nghiên cứu Kinh tế Phật giáo thuộc Đai học
Komazawa.
Cũng
như phần lớn các thanh niên tân học, ông chỉ đến với
Phật giáo khi có những xáo động tâm linh lớn lao. Cha mẹ
ông qua đời khi ông còn là một học sinh tiểu học. Nhận
thấy lời Phật dạy về vô thường, ông bắt đầu nghiên
cứu tư tưởng của Đạo Nguyên, Tổ phái thiền Tào Động
và Thân Loan (Tổ phái Tân Tịnh Độ Nhật), dù thoạt nhìn
tư tưởng hai phái này có vẻ tương phản nhau. Trong thời
gian theo học ngành kinh tế, ông lấy làm ngạc nhiên vì chương
trình học không để ý gì đến mối liên hệ giữa đạo
đức và kinh tế, không để ý đến việc phân phối tài sản
quốc gia để mọi người có thể hưởng được thành quả
kinh tế. Dù Phật giáo đã thấm sâu vào văn hóa Nhật, chương
trình kinh tế tại các đại học không để ý gì đến vai
trò của Phật giáo trong các mô thức phát triển.
Chỉ
khi ông về hưu, ông mới đọc được một tác phẩm “kinh
tế Phật giáo” do Giáo sư Tomoji Hirayama thuộc Đại học
Tsukuba. Sau đó ông hoàn toàn để thì giờ nghiên cứu về
kinh tế Phật giáo tại Đại học Phật giáo Komazawa. Ông thú
nhận đã bị ảnh hưởng sâu đậm từ tác phẩm của E.F.
Schumacher, Small is Beautiful, An Economic As If People Mattered.
Sự
tương phản giữa một khoa học công khai ca ngợi
“Greed
is Good”, cổ động cho lòng ham muốn tiêu thụ và vinh danh
luật “chọn lựa tự nhiên về phương diện xã hội”, ai
mạnh thì người ấy sống sót, và một tôn giáo chủ trương
giảm thiểu ham muốn và lấy từ bi làm căn bản đạo đức
đã quá rõ ràng!
Sau
nhiều năm thảo luận với các lãnh tụ doanh nghiệp và công
nhân, Inoue đã hoàn thành hai tác phẩm Buddhist Business Management
được phát hành vào năm 1987 và Economics To Save the Earth, phát
hành vào năm 1994. Hai tác phẩm trên được tổng hợp và dịch
ra Anh ngữ với nhan đề Putting Buddhism To Work do Nhà Xuất bản
Kodansha xuất bản vào năm 1997.
Như
nhan đề cho thấy, Inoue không chú tâm bàn luận đến những
vấn đề lý thuyết như Schumacher, nhưng đề cập đến yếu
tính của một nền kinh tế Phật giáo cũng như những gì đã
được ứng dụng và thực hiện tại Nhật, một nước Á
châu có thành quả về kinh tế không thua bất cứ một nước
phương Tây nào.
Theo
Inoue, Nhật là một quốc gia thích hợp nhất để tìm một
mô thức phát triển kinh tế thị trường “mới”, dựa trên
những giá trị đạo đức truyền thống, nhất là Phật giáo.
Cuộc đời của Đức Phật là một thí dụ điển hình để
suy nghĩ về mô thức kinh tế. Đức Phật đã từ bỏ những
tiện nghi vật chất trong cung vàng để đi tìm một giải đáp
cho nhu cầu tâm linh.
Sau
nhiều năm học hỏi nhiều cách tu tập khác nhau, Đức Phật
nhận thấy rằng con đường khổ tu cũng cực đoan như con
đường hưởng thụ vật chất. Phật giáo không bao giờ nên
được hiểu như một tôn giáo phủ nhận kiếp nhân sinh hay
chỉ dành cho những người tu tập trong hang thâm cùng cốc
hay quay lưng lại với cuộc đời.
Trong
khi thế hệ đệ tử sống gần Đức Phật khi Ngài còn tại
thế có thái độ bảo thủ và xa cách với quần chúng, các
tân tăng trong các phái Đại thừa hiểu rõ về bài học của
cuộc đời của Đức Phật. Nếu muốn từ bỏ cuộc đời,
Đức Phật đâu có bỏ ra 49 năm truyền bá giáo pháp. Đối
với các Phật tử Đại thừa, Phật giáo là con đường Phật
giáo nhập thế của các vị Bồ tát. Nói nhập thế là nói
gượng ép, vì nói cho rốt cùng, Phật giáo nào mà chẳng nhập
thế.
Một
trong những người thấm nhuần Phật giáo trong hoàng gia Nhật
là Thái tử Shotoku (574-622). Ông là một trong những người
thảo Hiến pháp Thập thất điều của Nhật, trong đó đã
phản ánh đậm đà tư tưởng Phật giáo. Hiến pháp Nhật
cổ động cho sự hòa hợp và độ lượng giữa các tôn giáo
(giữa Thần đạo và Phật giáo). Một dấu ấn quan trọng
khác trong Hiến pháp Thập thất điều là việc đặt trọng
tâm vào sự an sinh của dân chúng, nhất là những người nghèo.
Trong
thời kỳ này, các tự viện Phật giáo Nhật thường dựa
vào sự cúng dường của giai cấp thương gia. Có thể vì muốn
đề cao vai trò của giới thương mại, quan niệm về quyền
sở hữu, tài sản và tiền bạc của giới Sa môn cũng rộng
rãi hơn so với Phật giáo Nguyên thủy. Trong thời đại Tokugawa
(1600-1868), Nhật bắt đầu bước vào một thời đại phồn
thịnh về kinh tế và hệ thống tiền tệ đã bắt đầu có
cơ sở vững chãi.
Một
nhà nghiên cứu về nước Nhật, Edwin O. Reischauer (1910-1990)
nhận xét đây là giai đoạn nước Nhật phát triển một chủ
nghĩa “tư bản” cho riêng mình. Một nhà nghiên cứu khác,
Robert Bellah, cho rằng thời kỳ phát triển kinh tế này ở
Nhật tương đương với thời kỳ phát triển kinh tế tư bản
ở phương Tây, dưới ảnh hưởng của đạo đức Tin Lành.
Một
trong những nhà sư có ảnh hưởng đến chủ nghĩa “tư bản”
quốc gia Nhật là Suzuki Shasan (1579-1655). Nhà sư này cho rằng
dù làm một công việc gì, cá nhân đó đều đáng tôn trọng
vì họ đang hành trì một pháp môn trên con đường giác ngộ.
Shasan thường nhắc nhở đến pháp thoại sau: “Những người
nào đang làm việc trong các hoạt động kinh tế sẽ được
tưởng thưởng xứng đáng cho những cố gắng của họ, bởi
vì những công việc làm này cũng là một cách thực tập tâm
linh”.
Sư
khuyến khích các thương gia suy nghĩ về những giá trị tâm
linh, nên thành thật trong các hoạt động thương mãi, và phát
tâm Bồ tát, hành xử như các vị Bồ tát, lúc nào cũng lo
lắng đến an sinh của người khác. Quan niệm này cũng tương
tự như quan niệm của Schumacher về công việc làm. Công ăn
việc làm không những đem lại lợi tức cần thiết để sinh
sống, mà còn là thực phẩm nuôi dưỡng tâm linh. Do đó một
thương gia chân chính không những xứng đáng có một đời
sống vật chất dồi dào, họ còn có cơ hội tu tập tâm linh.
Tư
tưởng này cũng rất gần gũi với quan niệm của Weber về
sự liên hệ giữa giá trị đạo đức Tin Lành và quá trình
phát triển kinh tế tư bản ở phương Tây. Trái với
hiểu lầm thông thường, Phật giáo không bao giờ cổ động
cho sự nghèo khổ, nhất là sự nghèo khổ đó do một cơ cấu
chính trị và xã hội bất công gây ra. Thành quả vật chất
và một đời sống sung túc không có gì sai trái nếu như tài
sản kiếm được bằng những phương tiện chính đáng, như
cần kiệm, khả năng cao và nhiều sáng kiến.
Tuy
nhiên, một trong những hạnh nguyện của Bồ tát là bố thí,
nghĩa là sử dụng tài sản một cách hợp lý và rộng rãi.
Bủn xỉn mới là điều đáng trách vì chứng tỏ người này
còn chấp ngã và lúc nào cũng khư khư giữ chặt tài sản.
Đạo đức Tin Lành biện chính cho sự giàu sang trong xã hội
tư bản bằng cách cho rằng sự thành công về mặt vật chất
phản ánh ân sủng trực tiếp của Thiên Chúa. Điểm khác
nhau giữa hai bên là, trong khi Phật giáo khuyến khích các tín
đồ tiết dục, Tin Lành khuyến khích tín đồ tích lũy tài
sản. Càng giàu chừng nào chứng tỏ càng được nhiều ân
sủng của Thiên Chúa chừng đó.
Một
khuôn mặt khác đóng góp nhiều cho chủ nghĩa “tư bản”
quốc gia Nhật là Rennyo (1415-1499). Sư là Tổ thứ hai của
phái Jodo Shinshu thuộc tông Tịnh Độ. Nhà sư này đã khuyên
các thương gia: “Khi hoạt động thương mãi, nên xem công
việc của mình như là công việc hoằng hóa của Phật”.
Các thương gia khắp nước Nhật trân trọng lời khuyên này,
nhất là ở hai khu vực Ohmi (Shiga) và Osaka, nơi ảnh hưởng
của vị sư này mạnh nhất. Ngay cả đến ngày nay, một doanh
nghiệp được sáng lập ở khu này, Itochu, đã phát triển
thịnh vượng nhờ chấp nhận lời khuyên này.
Những
kinh nghiệm về kinh tế tư bản ở Nhật
Kinh
tế Nhật phát triển từ thời đại Tokugawa và mặc dù cần
nhiều nhiên liệu để sản xuất, nhưng đó là một mô
thức kinh tế “tái chế biến” và tránh làm ô nhiễm môi
sinh, khác với nền kinh tế hiện đại của Nhật.
Đây
là triều đại võ sĩ đạo sứ quân, kinh đô được đặt
ở Edo. Lúc đó triều đình và các sứ quân nơm nớp lo sợ
thế lực thực dân phương Tây vì Nhật chứng kiến các nước
thực dân đến xâm chiếm các quốc gia Đông Á, đàn áp chính
trị, bóc lột kinh tế và dùng các nhà truyền giáo dùng mọi
phương thức cải đạo tập thể dân địa phương. Tin Lành
lẫn Thiên Chúa, trở thành khí cụ xâm lăng văn hóa và nhắm
bứng gốc rễ tinh thần của các dân tộc bản địa.
Chính
quyền sứ quân do đó đã thi hành một chính sách đóng cửa,
chỉ buôn bán với Hòa Lan và chỉ mở một cửa cảng, Nagasaki,
để giao thương. Edo trở thành trung tâm kinh tế quốc nội
và chính quyền trung ương áp lực các sứ quân địa phương
để có những giao hoán thường xuyên giữa kinh đô và các
thành phố địa phương. Người ta chứng kiến các giao lưu
nhân sự và thương mãi nhộn nhịp, hàng hóa, tiền bạc và
khiến kinh tế quốc nội phồn thịnh. Bấy giờ Edo là một
thành phố đông dân nhất thế giới và hoạt động kinh tế
làm các thành phố càng ngày càng nhộn nhịp.
Thế
nhưng vì chính quyền áp dụng chính sách tái chế biến để
giảm ô nhiễm môi sinh nên đây là một mô hình kinh tế tái
chế biến có hệ thống quy mô so với thời bấy giờ. Phân
người được thu nhặt và tái chế biến thành phân bón và
chuyên chở đến các nông dân tại các vùng xa xôi. Phân bón
được hoán đổi với rau cải hay các hoa màu khác. Một hệ
thống các ống bằng gỗ được dùng để dẫn và phân phối
nước một cách có hiệu quả và tránh được phung phí. Các
rác thải từ các thành phố cũng được đốt và tái chế
biến thành phân bón. Các dụng cụ được chế tạo bền bỉ
lâu hư để khỏi phải sửa chữa. Các nước dơ thay vì thải
ra có thể làm dơ bẩn sông lạch, được dẫn về các nơi
nhất định để nước tự thấm vào lòng đất.
Các
kỹ thuật tái chế biến này từ thời kinh tế Edo được
Viện Nghiên cứu Nishihara Eisei, thành lập từ năm 1916, tiếp
tục cải thiện để chế biến các rác rến thải ra từ các
hệ thống rãnh hiện nay ở Nhật. Những nguyên tắc tái chế
biến để giảm mức ô nhiễm một cách tối đa này được
gọi là Mottainai. Từ ngữ Nhật này có nghĩa là người cảm
thấy nhỏ bé trước thiên nhiên vĩ đại và đồng thời cũng
cám ơn thiên nhiên đã cung cấp tài nguyên cho mọi chủng loại
sống còn. Ý niệm này phát nguồn từ sự kính trọng thiên
nhiên của đạo Phật: tất cả chúng sinh, từ đất đá cỏ
cây đều có đời sống riêng và có Phật tánh.
Một
nhân vật nữa, Ishida Baigan (1685-1744) đã phối hợp đạo lý
của tam giáo tại Nhật (Thần đạo, Phật và Khổng) để
làm nền tảng đạo đức cho giới thương gia ở thời Edo
tại Nhật.
Đến
thời Minh Trị (1868-1912), Thần đạo bắt đầu thắng thế
và vai trò của Phật giáo bắt đầu lu mờ. Các tư tưởng
phương Tây cũng bắt đầu du nhập vào Nhật. Trong giai đoạn
này, một người được xem như là nhân vật đóng góp rất
nhiều vào kinh tế tư bản Nhật hiện đại, Eiichi Shibusawa
(1840-1931).
Gốc
nông dân, nhưng sau ông cố gắng vươn lên một địa vị chính
yếu trong chính quyền, Shibusawa tin tưởng rằng thương mại
và đạo đức phải song hành với nhau. Một nhân vật khác,
Zenjiro Yasuda (1838-1921) đã thành lập một ngân hàng tư nhân
lớn nhất ở Nhật, the Fuji Bank. Ông là một tín đồ thuần
thành của phái Tịnh Độ và bắt đầu sự nghiệp từ vai
trò của một người đổi tiền. Không như những ngân hàng
lớn khác thường đối xử với khách hàng tùy theo địa vị
xã hội, Yasuda đối xử với mọi người hoàn toàn như nhau.
Đối với các tín đồ trong phái Tịnh Độ, mọi người đều
tuyệt đối bình đẳng dưới mắt của Phật A Di Đà. Châm
ngôn của ngân hàng của ông là “khi hoạt động thương mại,
phải biết quên mình và đặt mình vào địa vị của khách
hàng”.
Ông
tặng nhiều số tiền lớn cho các hội từ thiện nhưng không
cho ai biết tông tích. Đến khi ông mất, mọi người mới
biết ông đã giúp đỡ cho nhiều hội từ thiện. Đối với
Phật tử, làm việc thiện là một cách thực tập hạnh bố
thí, không phải là một cách khoe khoang. Người kế thừa Yasuda
là Kichizaemon Takemura (1900-1984), tiếp tục xây dựng Công ty
Bảo hiểm Yasuda Mutual Life Insurance và tiếp tục cổ động
những ý tưởng Phật giáo trong các hoạt động kinh tế. Ông
xuất bản tập san Kokoro no Kate (Thực phẩm tâm linh) và
thành lập tổ chức Hoằng hóa Phật giáo (Bukkyo Shinko Zaidan).
Những
nguyên tắc nền tảng của kinh tế Phật giáo
Không
như Tỳ kheo Payutto dùng kinh điển để giải thích các ý niệm
kinh tế, Inoue dùng một số nguyên tắc căn bản của Phật
giáo Đại thừa để thành hình một mô thức kinh tế mà trọng
tâm là phục vụ con người, nói như E.F. Schumacher, People Matter.
Kinh tế hiện đại sa lầy vào con đường định lượng và
cố gắng chứng tỏ tự thân là một loại khoa học không
bị ràng buộc vào một giá trị nào.
Nguyên
tắc đầu tiên Đại thừa dựa trên lời nguyện của Bồ
tát. Bồ tát từ chối theo con đường Độc giác Phật, quyết
ở lại cõi Ta bà để cứu độ tất cả chúng sinh. Nguyên
tắc kinh tế đầu tiên do đó là “lợi mình và lợi người”,
như một ngạn ngữ Tây phương – Live and Let Live. Kinh tế
thị trường chỉ thúc đẩy con người nhắm mắt chạy theo
tư lợi và làm tất cả mọi cách để đạt đến mục đích
này. Đó là một thứ luật rừng xanh về mặt xã hội, như
luật sống còn của những chủng loại mạnh nhất trong thuyết
tiến hóa của Darwin.
Thân
Loan (Shinran, 1173-1263), người sáng lập ra tông Tịnh Độ ở
Nhật, nhấn mạnh đến nguyên tắc lợi mình – lợi người
trên bình diện tôn giáo, nhưng nguyên tắc này có thể áp
dụng vào mục tiêu kinh tế Phật giáo. Một vị sư khác, Đạo
Nguyên, cũng nói: “Khi đạt đạo thì không còn phân biệt
đâu là ta – đâu là người”. Nhà kinh tế Schumacher cũng
nhấn mạnh đến nguyên tắc này trong Small is Beautiful sau nhiều
năm sống và quan sát xã hội Myanmar (Miến Điện).
Nhiều
người nghĩ lòng vị tha – bố thí (hiểu như hạnh Bồ tát)
có thể giúp cá nhân trong việc tu nhân tích đức để kiếp
sau được tái sinh vào một giai tầng “khá” hơn, nhưng không
đóng một vai trò tích cực nào trong hoạt động kinh tế.
Inoue dẫn chứng trường hợp của Henry Ford (1853-1947), một
nhà sản xuất xe hơi lớn nhất ở Mỹ. Các quản lý doanh
nghiệp thông thường tìm cách giảm sở phí nhân công càng
nhiều càng tốt và trong trường hợp của kinh tế toàn cầu,
dùng nhân công ở các nước đang phát triển với tiền lương
rẻ mạt.
Tuy
nhiên Ford nhận thấy rằng hàng sản xuất phải có người
tiêu thụ, nên trả lương nhân công ở mức khá cao để họ
có đủ lợi tức để mua xe và đồng thời tìm cách kiện
toàn kỹ thuật sản xuất hàng loạt để hạ giá thành của
xe hơi ở mức độ tối thiểu. Inoue cũng đưa ra một thí
dụ khác liên hệ đến một nhà kỹ nghệ Nhật, Tadao Yoshida,
chủ nhân kỹ nghệ sản xuất zipper. Ông ta vừa cố gắng
giữ giá thành ở một mức hợp lý để cho có nhiều người
tiêu thụ và đồng thời dùng tiền lời đầu tư vào việc
nghiên cứu để hoàn thiện kỹ thuật sản xuất zipper và
công ty của ông hiện nay trở thành một công ty đứng hàng
đầu thế giới về ngành này.
Cũng
như Schumacher, Inoue nhận ra đặc tính thứ hai của kinh tế
Phật giáo là độ lượng và hòa bình. Các nước theo Phật
giáo có thể liên hệ đến các cuộc chiến tranh vì những
lý do khác nhau nhưng chưa bao giờ nhân danh Phật giáo để
liên hệ vào một cuộc “thánh chiến”. Giới sát là giới
quan trọng đứng hàng đầu trong các giới cấm và nếu giải
thích trong hoàn cảnh hiện đại, người Phật tử không những
không trực tiếp sát nhân, mà cũng không được cổ vũ hay
ủng hộ một cơ cấu chính trị gây chiến tranh. Giới sát
này đã gây hứng khởi cho Gandhi khởi xướng nguyên tắc bất
bạo động.
Một
trong những Phật tử thi hành chính sách độ lượng và hòa
bình là Asoka, một hình ảnh đúng nhất của ẩn dụ đồ
tể buông dao thành Phật. Sau khi gây ra cảnh máu sông xương
núi, Asoka cố gắng xây dựng một nền kinh tế và chính trị
trong đó mọi người có đủ ăn đủ mặc. Vị hoàng đế
này thừa biết rằng bần cùng sinh đạo tặc, chính sự nghèo
đói đã gây ra những bất ổn xã hội. Ông cũng tạo ra những
chế độ an sinh xã hội cần thiết, đi trước chế độ an
sinh phương Tây gần 20 thế kỷ.
Trong
quá khứ có nhiều Phật tử Nhật kêu gọi chính phủ không
nên giao dịch với những quốc gia sản xuất và buôn bán vũ
khí. Tuy nhiên những lời kêu gọi này chỉ là những tiếng
kêu lẻ loi không thực tế, nhất là trong hai cuộc thế chiến
vừa qua, các chính phủ quân phiệt Nhật xếp hàng với các
chế độ trong trục Quốc xã và cũng trong hai cuộc thế chiến,
có nhiều nhà sư Nhật đã dùng kỹ thuật thiền định để
huấn luyện cho các võ sĩ đạo và quân nhân, tuy nhiên điều
này không có nghĩa là những nguyên tắc bất bạo động không
còn áp dụng được nữa.
Trong
lịch sử Nhật có nhiều vị hoàng đế có tinh thần “phản
chiến” như Kammu (781-806). Mặc dù bị Đại Hàn đe dọa trên
mạn Bắc, vị hoàng đế này đã cố gắng hành động theo
những nguyên lý đạo đức Phật giáo. Ông giải tán quân
đội Nhật và chỉ giữ lại một quân đoàn phòng vệ biên
giới Nhật – Đại Hàn. Các lãnh chúa địa phương chỉ được
quyền tổ chức một đạo quân kiểu “nhân dân tự vệ”,
đóng vai trò cảnh sát ngày nay.
Trên
thực tế Nhật không có một quân đội chính thức nào cho
đến thời đại Kamakura (1192-1333). Sau Thế chiến thứ hai,
Hiến pháp Nhật có ghi một điều luật cấm chính quyền không
được tổ chức một quân đội có khả năng tấn công. Rất
tiếc gần đây chính quốc gia chiến thắng (Mỹ) lại là nước
“khuyến khích” Nhật trở lại hàng ngũ của chủ nghĩa
quân phiệt. Cái viễn ảnh vừa là một cường quốc kinh tế,
vừa là một cường quốc quân sự có thể quyến rũ các chính
phủ Nhật trong thời gian sắp tới tái vũ trang và không ai
biết hậu quả sẽ đến mức nào.
Một
kinh tế cứu vãn địa cầu
Như
Weber chứng minh, giữa kinh tế tư bản và đạo đức Tin Lành
có một mối liên hệ mật thiết. Thần học Ky-tô giáo nói
chung tạo ra một lối suy nghĩ và lối sống của người Tây
phương. Nói một cách khác, văn hóa Tây phương tất nhiên
đưa đến kinh tế tư bản. Và theo Schumacher, những quốc
gia thấm nhuần văn hóa Phật giáo lẽ ra có thể thực hành
mô thức kinh tế Phật giáo. Mơ ước viển vông?
Schumacher
tin là điều này có thể thực hiện được. Nếu đạo đức
Tin Lành sản sinh ra kinh tế tiêu thụ, văn hóa Phật giáo (lẽ
ra) phải phát sinh ra một nền kinh tế Phật giáo. Nhưng Bụt
nhà không thiêng! Các chính quyền các quốc gia Đông Nam Á
đang phát triển “trân trọng” mời các “cố vấn” phương
Tây để lập ra những kế hoạch vĩ đại 5 năm hay 10 năm,
và hăm hở chấp nhận kinh tế thị trường. Không ai chịu
chậm chân vì không ai muốn trễ chuyến tàu lịch sử!
Thần
học Ki-tô đặt con người là trọng tâm duy nhất (anthropocentrism).
Con người là “sản phẩm” của Thượng đế nên chiếm
một địa vị tối thượng và địa cầu là trung tâm vũ trụ.
Ai nói ngược lại là lên giàn hỏa! Vào năm 1989, tạp chí
Time, thay vì chọn một nhân vật xuất sắc nhất trong năm,
đã chọn địa cầu là Planet of the Year. Đó là những năm
mà nhiều nước trong khối xã hội chủ nghĩa đang trên đà
sụp đổ, và chủ trương tự do mậu dịch và toàn cầu hóa
của Thatcher và Reagan trở thành chủ nghĩa “vô địch”.
Khủng
hoảng môi sinh lên đến mức trầm trọng và viễn ảnh của
mối đe dọa Greenhouse Effects có thể đưa địa cầu đến
chỗ hủy diệt. Một trong những bài viết do một thượng
nghị sĩ Mỹ, cho là việc diễn dịch một đoạn trong Thánh
kinh một cách cứng nhắc có thể là một trong những lý do
đưa đến chính sách kinh tế hủy diệt các chủng loại trên
mặt địa cầu một cách không thương tiếc. Đó là đoạn
Thánh kinh Genesis 1:27-28:
“Thượng
đế tạo người nam và người nữ theo hình ảnh riêng của
Ngài. Thượng đế ban phép lành và nói với họ: “Các ngươi
phải sinh con đẻ cái cho thật nhiều, tràn đầy mặt đất
và chế ngự địa cầu. Khuất phục cá dưới biển, chim trên
trời và tất cả các sinh vật sống ở địa cầu”.
Dĩ
nhiên đoạn này có thể chú giải nhiều cách, nhưng có nhiều
người hiểu một cách chắc nịch là Thượng đế đã bật
đèn xanh cho con người thống trị và tàn sát những sinh vật
khác.
Phật
giáo trái lại không xem con người là quan trọng nhất mà chỉ
là một cõi trong lục đạo, dù Đức Phật nhiều lần nhắc
các đệ tử việc được sinh vào kiếp người là một điều
may mắn, vì chỉ có con người mới có nhiều cơ hội nghe
Chính pháp và do đó có nhiều cơ duyên để giải thoát. Khi
nhìn nhận tất cả chúng sinh, đất đá, cỏ cây, vi sinh vật
và muôn thú, đều có Phật tính, tức là một hình thức chấp
nhận sự bình đẳng tuyệt đối giữa mọi chủng loại.
Nguyên
tắc thứ hai, nguyên tắc quan trọng nhất trong kho tàng kinh
điển, thường hay gọi là lý duyên khởi. Không có một chủng
loại nào có thể tồn tại biệt lập, cái này sống nhờ
cái kia, trong chuỗi nhân duyên trùng trùng không đầu không
cuối. Ẩn dụ xâu chuỗi Đế Thích, hạt chuỗi này phản
ánh hột chuỗi khác. Có một là có tất cả, từ một hạt
bụi, cho đến tam thiên đại thiên thế giới.
Lý
thuyết này trong một chừng mực nào đó đã được hai khoa
sinh học và vũ trụ học hỗ trợ. Nhỏ nhất là genomes, lớn
nhất là vũ trụ – có thể có những vũ trụ song song –
ngoài vũ trụ – mà các nhà thiên văn vẫn chưa khám phá ra.
Như Nguyễn Công Trứ nói: “Nhỏ không trong mà lớn cũng không
ngoài” hay như Thiền sư Từ Đạo Hạnh: “Có thì có tự
mảy may. Không thì cả thế gian này cũng không”.
Trong
bình diện kinh tế, việc khai thác tài nguyên không tái tạo
như than đá, quặng mỏ và dầu lửa sẽ gây ra những tổn
hại không thể cứu chữa được đối với địa cầu. Rừng
cây bị phá hủy (chỉ để làm gỗ vụn hay đũa gỗ!) một
cách thô bạo khiến bao nhiêu chủng loại sinh vật không còn
đất sống và bị diệt chủng dần dần. Điều đó khác nào
chúng ta gây ra trận chiến tranh diệt chủng!
Thần
học Ky-tô chỉ để ý đến con người nên không thấy việc
tận diệt các chủng loại sinh vật khác là “tàn ác”, nhưng
dưới con mắt của Phật tử thì có khác. Hạt bụi nào hóa
kiếp thân tôi! Làm sao em biết bia đá không đau? (Trịnh Công
Sơn). Phật giáo Đại thừa, nhất là Thiền, nhấn mạnh tới
thế giới ở đây và bây giờ.
Khai
thác các tài nguyên không tái tạo và nhất là sử dụng tài
nguyên một cách phung phí là một cách tự hủy diệt quê hương
duy nhất của tất cả “chúng sinh”. Thay vì chờ đến “kiếp
sau”, chúng ta nên xem địa cầu như là quê hương duy nhất
ở đây bây giờ và xem hành động hủy hoại sinh vật và
tài nguyên như chuyện một đứa con hư, châm lửa đốt nhà
của cha mẹ mình. Chặt cây cũng phải được xem như là hành
động sát giới. Các nhà sư ở Thái Lan chống đối việc
chính phủ hủy hoại rừng một cách vô trách nhiệm, bằng
cách đã làm lễ quy y cho các cội cây lớn. Dân Thái Lan phần
lớn theo đạo Phật nên các phu đẵn gỗ ngần ngại khi ra
tay sát thủ, dù là 'sát thủ' một cội cây.
Bất
cứ môn phái nào trong Phật giáo cũng đều đồng ý với nguyên
lý trùng trùng duyên khởi. Một tượng Phật vĩ đại được
xây tại đền Todaiji ở Nara. Phật ngồi tĩnh tọa trên một
đài sen lớn và nếu đến gần và nhìn kỹ, chúng ta thấy
trên mỗi cánh sen, đều có một vị Phật nhỏ khác đang tĩnh
tọa. Dù có “linh ư vạn vật” và là chủng loại khôn ngoan
nhất trong quá trình tiến hóa, con người cũng phải cộng
sinh với hằng hà sa số chúng sinh khác.
Địa
cầu bắt đầu tỏ những dấu hiệu giận dữ vì sự tàn
ác của con người trong việc khai thác tài nguyên: khí hậu
bất thường, hạn hán, ngập lụt, bão bụi... tóm lại là
những dấu hiệu của hiện tượng Global Warming. Và không ai
nghi ngờ gì nữa chính Global Economy gây ra nạn Global Warming!
Mỗi khi phải làm tổn hại bất cứ một chúng sinh nào (kể
cả cây cỏ đất đá), người Phật tử nên hỏi: “Làm sao
em biết bia đá không đau”. Bia đá còn đau nữa là cây cỏ.
Không chỉ giới hạn ở con người như đạo đức Ky-tô, Á
Đông, với nền văn hóa tam giáo, chủ trương “chúng sinh
chủ nghĩa”. Các học giả Phật giáo Mỹ có lúc đề nghị
một từ ngữ êm tai hơn để gọi Tăng già: Eco-Sangha.
Một
nền kinh tế giản dị
Động
lực của kinh tế thị trường là tư lợi và tích lũy tài
sản. Thay vì là một phương tiện, tài sản biến thành mục
đích chính của đời người. Đạo đức Tin Lành cho rằng
sự thành công về vật chất là một biểu hiện cho ân sủng
trực tiếp từ Thượng đế, không qua trung gian của bất cứ
Giáo hội nào. Dần dần tích lũy tài sản trở thành mục
tiêu tối hậu của các hoạt động kinh tế. Tây phương nghĩ
là “tiến bộ” khoa học, kỹ thuật, kinh tế làm đời sống
con người càng thoải mái và hạnh phúc.
Với
những sự tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật và mức sống
kinh tế được nâng cao chưa hề có như hiện nay, con
người lẽ ra có rất nhiều hạnh phúc! Dùng chỉ số chính
trị, xã hội, mức sống, văn hóa và tâm lý để thăm dò,
nước Mỹ là nước giàu có nhất nhưng dân Mỹ không cảm
thấy hạnh phúc nhất. Các nước châu Phi là những nước
ít hạnh phúc nhất vì chỉ số kinh tế quá thấp và thể
chế chính trị vừa bất ổn vừa độc tài (nghèo đói nhất
nhưng chiến tranh vẫn xảy ra thường xuyên nhất).
Mười
trong những nước mà dân chúng cảm thấy hạnh phúc nhất
là các nước Bắc Âu. Các quốc gia này có chế độ chính
trị dân chủ, ổn định và cởi mở, chỉ số kinh tế dù
không đứng hàng đầu (không nước nào trong G7 hay G8) nhưng
dân chúng cảm thấy hạnh phúc hơn vì nhờ vào chỉ số xã
hội tuyệt hảo: lợi tức được phân phối hợp lý hơn ở
Bắc Mỹ và Tây Âu chế độ an sinh rộng rãi và thuế khóa
công bình. Đây mới là những quốc gia theo xã hội chủ nghĩa
thứ thiệt!
Phật
giáo thường bị hiểu lầm cổ động cho sự nghèo khổ qua
lý thuyết nghiệp báo. Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã từng
thú nhận “cái quay búa sẵn trên trời”, “vẻ chi ăn uống
sự thường” cũng đã được “Trời" định sẵn, huống
chi là chuyện giàu hay nghèo, sang hay hèn, thành công hay thất
bại! Cách giải thích nghiệp báo kiểu đó gây ra những ngộ
nhận cho Phật giáo là ù lì.
Nghiệp
không bao giờ nên được hiểu như “tiền định tất yếu”
hay chấp nhận một lối sống an phận, thụ động. Nghiệp
phải được hiểu như là sự tự do lựa chọn để chuyển
đổi hướng đi của đời mình. Nếu chấp nhận một lối
sống thụ động “trời cho bao nhiêu ăn bấy nhiêu” thì
làm sao chuyển nghiệp? Nếu chỉ ngồi chờ sung rụng làm sao
có chuyện “ai giàu ba họ, ai khó ba đời”.
Ambedkar,
người đã đứng ra cải đạo cho hàng triệu dân Intouchables
ở Ấn, quyết liệt chống đối thái độ dùng nghiệp báo
để biện chính cho các cơ chế xã hội và chính trị bất
công. Chỉ đổ lỗi cho cái “nghiệp báo” của hàng triệu
người Intouchables, theo Ambedkar, là một thái độ bất công,
chẳng khác nào đổ lỗi cho nạn nhân, thay vì đi tìm đích
danh thủ phạm.
Nền
thần học của Bà La Môn giáo đã dùng làm nền tảng đạo
đức biện chính cho chế độ đẳng cấp ở Ấn, và biện
hộ cho những cơ chế chính trị đã kềm giữ bao nhiêu người
sống đời đời trong kiếp lầm than. Tuy nhiên Phật giáo không
đồng hóa sự giàu có và hạnh phúc. Đối với Phật giáo,
mục đích tối hậu của mỗi người là có một cuộc sống
an lạc (nguyện ngày an lành đêm an lành). Nghèo thường đi
đôi với khổ, nhưng không phải người giàu nào cũng sung
sướng.
Một
người có đủ yếu tố để có “hạnh phúc” như tiền
tài, danh vọng, gia đình yên vui như tài tử Mel Gibson, gần
đây thú nhận có lúc ông muốn tự tử! Gần đây một tạp
chí Úc tiết lộ là tất cả 6 tài tử trên kênh truyền hình
ăn khách của Mỹ, Friends, không có người nào cảm thấy hạnh
phúc.
Yếu
tố để có một cuộc đời hạnh phúc, theo lời Phật dạy,
là biết thiểu dục, tri túc (tri túc tiện túc), biết lúc
dừng lại khi cần phải dừng lại (tri chỉ nhi hậu hữu định
– biết dừng đúng lúc mới yên ổn) như Nho gia thường nói,
biết nguyên lý vô thường – (giàu sang phú quý như mây nổi),
đừng bo bo ôm chặt tài sản – thân người còn như mộng
huyễn bào ảnh huống chi là tài sản. Sau 1975, chắc chắn
có nhiều người đã có những kinh nghiệm đau thương này!
Con
đường Trung đạo của Phật giáo là con đường giản dị:
không hoang phí mà cũng không keo kiệt. Đức Phật có lúc đã
dạy cách sử dụng tài sản cho hàng cư sĩ để có một cuộc
đời an lạc, hạnh phúc. Chi tiêu một phần lợi tức cho bản
thân và gia đình, để dành một ít phòng khi trái gió trở
trời, bố thí giúp đỡ những người khác để nuôi dưỡng
tâm từ bi và nhất là đừng thiếu nợ!
Đức
Phật không bao giờ nói tham lam là một điều tốt, không bao
giờ đề cao tư lợi, cũng không thơ mộng hóa sự nghèo khổ.
Hạnh phúc chỉ nửa vời nếu chúng ta quên lãng con đường
tu tập tâm linh. Đó là một lối sống với những nhu cầu
đơn giản trong một nền kinh tế giản dị. Nền kinh tế giản
dị là nền tảng của xã hội an lạc. Không còn ai lo giành
giật hay tìm cách cướp đoạt tài sản của người khác.
Không quốc gia nào tìm cách khống chế và giành giật tài
nguyên của các quốc gia khác. Nghĩa là không có chiến tranh.
Một
kinh tế giản dị là kinh tế hòa bình. Một đời sống giản
dị là một cuộc đời an lạc. Hiện nay ai cũng thấy, dù
có che đậy bằng những danh từ hoa mỹ như thế nào, mục
tiêu chính của cuộc chiến tranh ở Trung Đông và Iraq vừa
qua là cuộc chiến tranh giành tài nguyên, nhất là dầu hỏa.
Sự
tương phản giữa kinh tế Phật giáo và kinh tế tiêu thụ
quá rõ ràng. Kinh tế tiêu thụ kích thích lòng tham lam. Chúng
ta hiện nay bị choáng ngợp bởi những hình thức quảng cáo,
xem tiêu thụ đồng nghĩa với hạnh phúc, trong khi kinh tế
Phật giáo nhằm tạo hoàn cảnh giúp con người an lạc và
hạnh phúc.
Định
nghĩa hạnh phúc thường bị ảnh hưởng bởi những yếu tố
chủ quan, nhất là tùy thuộc vào một triết lý sống riêng
của mỗi người. Không có một hệ thống kinh tế nào không
bao hàm một hệ thống giá trị. Chúng ta cần giải hoặc huyền
thoại xem kinh tế là một thứ khoa học khách quan – value
free. Kinh tế Phật giáo có thể bị chỉ trích là dựa trên
một nền tảng đạo đức, một nền tảng mà không phải
ai cũng đồng ý và có thể “chứng minh” được.
Lời
phê bình này cũng có thể áp dụng vào kinh tế thị trường
– tiêu thụ, tuy nhiên tham lam, tư lợi không phải lúc nào
cũng tốt và không phải lúc nào cũng làm tăng sự giàu có
của quốc gia như Smith “mơ ước”. Smith có ý tưởng như
Đức Phật “mơ ước” con người có một cuộc đời hạnh
phúc. Nhưng Smith thiếu một triết lý về hạnh phúc, đạo
Phật hiện diện trên đời chỉ vì một “đại sự nhân
duyên”. Nhân duyên đó không có gì khác hơn là diệt khổ.
Diệt được khổ tức là hạnh phúc. Cả ba tôn giáo lớn
ở phương Đông đều đồng ý muốn diệt khổ phải tri túc
(Khổng), thiểu dục (Lão) và diệt dục (Phật).
Quán
Như
Dù
nói thế nào thì vấn đề Kinh tế Phật giáo vẫn là
điều còn mới mẻ đối với đại thể quần chúng và Tăng
Ni Phật tử. Bởi từ lâu phần đông mọi người trong
xã hội đều nghĩ rằng - Phật giáo là tổ chức tôn giáo
tiêu biểu cho tinh thần tín ngưỡng mang tính thiêng liêng và
tâm linh; tức để mọi người hướng đến sùng bái, kính
ngưỡng, cầu nguyện và tu hành.
Trong
thực tế, ngay khi còn tại thế đức Phật cũng đã chủ trương
Tăng Ni là phải có đời sống phạm hạnh thanh cao. Một khi
đã xuất gia rồi thì mọi việc liên hệ trong thế gian như
tình, tiền, danh lợi đều buông xuống, giải thoát. Và đời
sống Tăng Ni là phải thọ học, hành trì giới định tuệ
để tự thanh lọc các dư nghiệp nhiều đời còn ẩn náu
nơi thân tâm của chính mình, từng bước thân chứng, an trú
đạo quả. Cho nên mọi sinh hoạt liên hệ đời sống Tăng
Ni đều do Phật tử tại gia cúng dường ủng hộ.
Nhưng
sau khi đức Phật nhập diệt một trăm năm,rồi năm trăm năm,
một ngàn năm… Giáo Pháp đức Phật ngày càng được truyền
bá đến nhiều nước trên thế giới. Phong tục tập quán
mỗi nơi, mỗi quốc độ địa phương đều có phần khác
nhau. Có nơi, Chư Tăng có thể mỗi sáng ôm bát đi trì bình
khất thực, ngày ăn một ngọ trai.
Nhưng
cũng có nơi Chư Tăng tu học chung trong một ngôi chùa, tu viện,
thiền viện hàng ngàn vị, lại không thể ôm bát đi trì bình
khất thực để độ nhật. Cho nên, từ đây ý tưởng chư
Tăng nên làm một cái gì đó để chia sẻ một phần gánh
nặng trong đời sống của hàng cư sĩ tại gia mà khởi xướng
mạnh mẽ nhất là từ thời tổ sư Bách Trượng, tổ sư
đời thứ 3 sau lục tổ Huệ Năng, vị tổ sư nổi tiếng
của Phật giáo thiền tông Trung Hoa với phương châm bất hủ
“Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Một ngày
không làm, một ngày không ăn)
Đây
là câu thiền ngữ độc đáo, đặc sắc, là tư tưởng chủ
đạo cho việc làm kinh tế tự túc trong giới Tăng Ni, Phật
tử. Nối tiếp ngay sau đó thời tổ Quy Sơn, hình ảnh Thượng
toạ Ngưỡng Sơn và nhiều vị thiền sinh khác mỗi ngày cày
ruộng dưới chân núi Quy Sơn, dần dần quen thuộc trong giới
Tăng già ở Trung Hoa và ở cả Việt Nam, cùng nhiều nước
khác trên thế giới.
Các
ngôi đại già lam ở Việt Nam cũng như ở Trung Hoa trải qua
các triều đại vua chúa đã chu cấp hoặc do các đại thí
chủ Phật tử tạo sắm cúng dường cho các chùa tự viện
hàng chục hàng trăm mẫu đất ruộng để Chư Tăng Ni, có
thể làm lao động tạo ra sản phẩm lúa gạo chia sẻ một
phần gánh nặng với Phật tử. Đây gọi là kinh tế tự túc
của nhà chùa.Chư Tăng Ni làm kinh tế, làm lao động nhưng
không tách rời thanh quy nhà chùa, không lao theo thế sự không
để tiền tình danh lợi chi phối.
Đến
hậu bán thể kỷ 20, rồi đầu thế kỷ 21 ngày nay, thời
đại văn minh tiên tiến, xã hội tiến lên một tầm cao mới
– công nghiệp, công nghệ khoa học điện tử. Phật giáo
tại các nước giàu có như Nhật Bản, Đài Loan(Trung Hoa) Anh,
Pháp, Đức, Mỹ cũng đã có những bước chuyển mình thích
nghi với xu hướng tiến bộ của xã hội. Các tổ chức Phật
giáo cũng hình thành những công ty kinh doanh để tạo nguồn
kinh phí hỗ trợ các hoạt động của Giáo hội, nhất là
những hoạt động từ thiện và hỗ trợ phát triển hoằng
pháp đưa đạo vào đời.
GHPGVN
từ ngày thành lập đến nay tròn 26 năm (1981- 2007). Đến nhiệm
kỳ II (1987 - 1992) chúng ta mới đưa vào hoạt động - Ban kinh
tế tự túc nhà chùa và Ban từ thiện xã hội. Đến nhiệm
kỳ III (1992 - 1997) chúng ta mới xác lập, phân định ra làm
hai: - Ban Kinh tế Tài chính và Ban từ thiện xã hội. Giáo
hội đã cung cử Hoà thượng Thính Thanh Kiểm làm trưởng
ban. Trong hai nhiệm kỳ III và IV (1992 - 2002) Hoà thượng trưởng
ban đã cho trồng thử nghiệm 20 hecta bạch đàn để tạo nguồn
lợi ủng hộ Giáo hội. Nhưng đến năm 2000 Hoà thượng viên
tịch, Giáo hội đã thỉnh cử Hoà thượng Thích Hiển Pháp,
PCT kiêm Tổng thư ký HĐTS kiêm nhiệm đến hết nhiệm
kỳ. Sau đó khu rừng bạch đàn được thu hoạch đạt hiệu
quả tương đối, trừ hết mọi chi phí, phần lãi ròng khoảng
hơn 30 triệu cúng dường vào quỹ hoạt động Giáo hội.
Đến
Đại hội Phật giáo nhiệm kỳ V(2002 - 2007) Giáo hội chỉ
định chúng tôi nhận trách nhiệm trưởng ban. Tròn năm năm
qua, Ban kinh tế tài chính dù cố gắng hết sức mình cũng
chỉ tổ chức thành lập được Công ty Cổ phần Thiện Tài.
Công ty Thiện Tài hoạt động trên tinh thần vừa học vừa
làm, trải qua một đời giám đốc (không hiệu quả). Sau đó,
Ban đã mời TT Thích Tấn Đạt (phó văn phòng 2) kiêm nhiệm
gánh vác làm Giám đốc Công ty, đã từng bước dò dẫm đạt
kết quả, tạo nên những bước đi mới rất khả quan.
Hiện
nay công ty mới chỉ làm được một vài công việc. Một là
mở cửa hàng phát hành kinh sách và văn hoá phẩm Phật giáo,
hai là tổ chức các chương trình hành hương tâm linh chiêm
bái các Phật tích, thắng tích Phật giáo trong nước và quốc
tế (kèm theo mở phòng phục vụ vé máy bay). Ban Kinh tế Tài
chính có dự kiến ngay sau đại hội VI công ty Cổ phần Thiện
Tài sẽ mở rộng thêm cổ đông và một vài loại hình kinh
doanh gắn liền sinh hoạt Phật giáo như: tổ chức một hệ
thống nhà hàng Việt Chay nhằm phục vụ Tăng Ni Phật tử
và khách du lịch hành hương quốc tế; mở phòng khám đa khoa
đến khi đủ điều kiện xin thành lập bệnh viện, trường
học…; đồng thời lập thủ tục tiến hành xây dựng một
công viên nghĩa trang và đài hoả táng có tầm vóc quy
mô để phục vụ tín đồ Phật tử (sau khi qua đời).
Kính
bạch chư Tôn Đức
Kính
thưa quý đại biểu
Cách
nay hơn nửa thế kỷ, một cao Tăng của Phật giáo Việt
Nam trên đất Bắc - Đại lão Hoà Thượng Thích Trí Hải đã
từng có những phác họa về những phương thức làm kinh tế
thương mại; du lịch… tạo ra của cải và tài chính ủng
hộ các hoạt động Phật giáo vô cùng đặc sắc. Nhưng lúc
bấy giờ dường như rất ít người để ý. Nay, nhân đại
hội lần thứ VI chúng tôi xin được mạo muội kính trình
và rất mong được Chư Tôn Đức cùng toàn thể quý đại
biểu liễu tri, có nhận xét góp ý giúp Ban kinh tế tài chính
Trung ương Giáo hội đúc kết làm định hướng xây dựng
nền kinh tế Phật giáo ngày thêm phát huy vững mạnh.
Có
lần có người hỏi: - Về ngành thương mại sẽ tổ chức
thế nào ?
- Hoà
thượng đáp: Mở cửa hàng bách hoá khắp nơi trong nước.
Nếu được sẽ mở cả ra nước ngoài, nhất là các nước
có người theo Phật giáo để buôn bán, giao dịch trao đổi
hàng hoá với nhau. Thứ gì mình đủ cung cấp cho toàn dân
dùng rồi còn dư sẽ bán ra để mua vào những thứ mình chưa
có, chưa đủ như máy móc chẳng hạn.
Một
lần khác lại có người hỏi: - Thế trong Phật giáo cũng
có các nghành nghề này sao ?
- Hoà
thượng đáp: Không những có đủ mà còn có cả các kỹ sư,
hoạ sĩ, nghiên cứu, tìm ra các kiểu, các màu sắc đẹp và
thích hợp với tinh thần dân tộc, có ý nghĩa về Phật giáo
để người trong nước dùng luôn luôn nhớ đến dân tộc
và Phật giáo. Không chỉ bán trong nước mà còn xuất khẩu
ra nước ngoài, nhất là đối với những nước có người
theo đạo Phật để các gia đình ấy mỗi khi trong thấy những
vật dụng này lại nhớ đến người đồng đạo ở Việt
nam là anh em một nhà, thương nhớ nhau, mong được gần gũi
để làm việc đạo, lợi ích cho nhân loại trên hoàn cầu,
cùng dắt tay nhau đi trên con đường từ bi, bình đẳng, chân
chính, trí tuệ mà đức Phật đã vạch ra, để cùng tiến
tới nơi hoàn toàn sung sướng, an vui vĩnh viễn.
Về
vấn đề mở rộng nghành nghề, sản xuất các mặt hàng thủ
công mỹ nghệ phục vụ khách du lịch hành hương. Có lần
có người hỏi, được Hoà thượng giải đáp: - Thí
dụ như chùa Một cột, các chùa, tháp hoặc những nét điêu
khắc chạm trổ trong các chùa, phong cảnh các nơi danh lam cổ
tích, hoặc khắc những bài kệ, câu văn để cảnh tỉnh trong
mọi trường hợp. Thí dụ, khi cầm bát ăn cơm thì nhớ câu:
“
Xét trong một miếng ăn này
Bao
công khó nhọc đắng cay của người
Ăn
không chẳng ích cho đời
Nợ
này khôn để ai người trả thay.”
Mấy
câu này trích đại ý trong bài quán tưởng mà chư Tăng thường
niệm khi thụ trai. Cầm cái chén, cái tách, cái cốc uống
nước có thể nhớ câu:
“Nước
là nước của toàn dân
Ai
ai đều cũng có phần ở trong
Phải
nên tạc dạ ghi lòng
Giữ
sao trọn vẹn non sông mới là.”
Kính
bạch Chư Tôn Đức.
Kính
thưa quý đại biểu.
Ngày
nay đi đâu trên thế giới hay trong nước, chúng ta thích vào
các siêu thị để mua sắm; hay như việc nhà nước ta khuyến
khích tôn vinh các doanh nhân, doanh nghiệp…phát huy kinh doanh,
sản xuất, xuất nhập khẩu…để làm giàu cho đất nước.
Thiết
nghĩ, những điều này không nằm ngoài ý tưởng mà hơn năm
mươi năm trước là niềm mong ước của cố Đại lão Hoà
thượng Thích Trí Hải về nhiều vấn đề liên quan: - Văn
hoá, xã hội, kinh tế, thương mại, tiền vốn, du lịch.…vv.
Mong
rằng, thế hệ chúng ta sẽ không phụ lòng, hoài bão thiêng
liêng của các bậc tiền nhân. Chúng ta sẽ thể hiện xứng
đáng nhất ý chí và tâm nguyện của thế hệ chúng ta
bằng hành động dấn thân thực tiễn.
Cuối
cùng, chúng tôi xin thưa, Giáo hội chủ trương làm kinh tế
là thể hiện trách nhiệm lòng từ bi của người con Phật,
tạo ra phương tiện để chia sẻ gánh nặng với đời, với
thời duyên cuộc sống, góp phần ủng hộ Giáo hội thực
hiện các công tác từ thiện xã hội và hoằng pháp độ sinh.
Nhất định không vì mưu cầu, lợi dưỡng hay lợi ích cá
nhân riêng tư.
Một
điều chúng ta cần nên tâm niệm, không có một công việc
nào đưa đến thành công to lớn, bền vững mà không trải
qua những gian nan thử thách, nhất là làm kinh tế Phật giáo.
Do đó, lời di huấn của đại lão Hoà thượng Thích Trí Hải
vẫn như một lời khuyến nhủ vô cùng quý báu trong sự nghiệp
gầy dựng nền tảng kinh tế Phật giáo trong hiện tại và
mai sau: “Phàm là người, làm việc cần phải có chí khí,
nhẫn nại, phấn đấu, dũng cảm, can đảm mới mong vượt
qua trở ngại đi tới thành công”.
Xin
chân thành cảm ơn Chư Tôn Đức, Chư vị khách quý và toàn
thể đại biểu Tăng Ni Phật tử trong niềm hỷ lạc,
hoà kính thân thương.
(*)
Tham luận của Hòa thượng Thích Giác Toàn - Phó chủ tịch
Hội đồng trị sự kiêm Trưởng ban Kinh tế tài chính trung
ương GHPGVN tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc
lần VI
HT.
Thích Giác Toàn
01-12-2008
08:23:56