Nhiều
người cho rằng Phật giáo là một tôn giáo nên không có sự
quan hệ với vấn đề kinh tế đó là nhận định sai lầm,
bởi vì con người là một hợp thể do ngũ uẩn tạo thành
chia làm hai phần là Vật chất (sắc) và tinh thần (danh). Con
người không thể chỉ dựa vào tinh thần không thôi mà có
thể tồn tại được, nhưng con người cũng không thể chỉ
là động vật thuần nhất về kinh tế vật chất.
Điều
không thể nghi vấn là con người muốn sinh tồn cần phải
có đầy đủ những nhu cầu vật chất căn bản nhất như
ăn, mặc, ở, thuốc thang… Phật giáo không bài trừ vấn
đề kinh tế nhưng nói sự phát triển tinh thần mà không chấp
nhận điều kiện vật chất thì không phải là chủ trương
và cái nhìn của Phật giáo. Phật giáo nhấn mạnh sự phát
triển toàn diện của con người cần hội đủ những vấn
đề về phát triển tinh thần, sự tráng kiện của thân tâm
cùng sự bảo đảm về điều kiện kinh tế. Trong kinh Phật
dạy con người có bốn mong cầu là :
1.
Mong cầu đầy đủ tiền tài. Nói cách khác đối với một
người bình thường sự giàu có là mong cầu trước nhất
của họ.
2.
Sau khi đầy đủ tiền tài thì mong muốn tiếng tăm của mình
được vang vọng khắp nơi, chỉ ít là trong bạn bè và người
thân.
3.
Đầy đủ tiền tài cùng danh vọng lại mong cầu được mạnh
khỏe và sống lâu.
4.
Được tiền tài danh vọng cùng tuổi thọ rồi người ta lại
mong sao sau khi chết đi được sanh về cõi tốt hơn.
Trong
kinh “Andha Sutta” đã chứng minh bốn điều mong cầu trên
của con người và chỉ ra trên thế gian có ba hạng người
là :
1.
“Người mù” đã không có con mắt về tiền tài, không biết
giữ gìn nguồn tài chánh vốn có của mình cùng tạo dựng
cho mình nguồn tài chánh mới, lại cũng không có con mắt về
đạo đức nên không hề nghĩ và không hề biết tu tập trên
phương diện đạo đức.
2.
“Người chột mắt” là người chỉ có con mắt về tiền
tài mà không có con mắt về đạo đức, người ấy chỉ biết
bảo vệ nguồn tài chính vốn có và xây dựng nguồn tài chánh
mới nhưng không hề biết tu dưỡng và xây dựng nền tảng
đạo đức cho chính mình.
3.
“Người hai mắt” là người vốn là có con mắt về tài
chánh lại đầy đủ con mắt về đạo đức, biết phát triển
đồng nhất và đầy đủ về cả hai phương diện vật chất
và tinh thần trong cuộc sống của mình.
Phật
giáo ca ngợi người có hai mắt và xác định rằng nếu người
mù hoặc người chột thì không thể là người hạnh phúc
được. Trong bộ kinh này lại phân tích có hai hạng người
nữa là người đen tối và người quang minh.
1.
Nếu một người nghèo lại không có tín ngưỡng thì người
ấy từ trong bóng tối bước vào đen tối.
2.
Nếu một người tuy nghèo nhưng có tín ngưỡng thì người
ấy từ trong đen tối bước ra ánh sáng quang minh..
3.
Nếu một người giàu có nhưng lại không có tín ngưỡng thì
người ấy đã từ nơi ánh sáng bước vào đen tối.
4.
Nếu một người đã giàu có lại đầy đủ về tín ngưỡng
thì người ấy từ ánh sáng bước vào nơi ánh sáng quang
minh hơn nữa.
Người
đen tối thì nghèo khó, người nghèo khó lại bị đen tối;
người quang minh thì giàu có, người giàu có lại quang minh.
Đây là sự khác biệt giữa nghèo hèn và giàu có, giữa bóng
tối và ánh sáng. Tuy thế, người nghèo cũng có thể
bằng nỗ lực của tự thân để trong bóng tối đi ra ánh
sáng nhưng sự nỗ lực này so với người giàu có thì khó
khăn gấp nhiều lần vì người nghèo không dễ dàng có được
ánh sáng quang minh.
Phật
giáo phản đối cái nghèo, Đức Phật đã từng khẳng định:
nghèo hèn là một tai nạn. Có lần Đức Phật hỏi các đệ
tử “Đối với người đời, nghèo hèn có phải là tai ương
không?” Đệ tử đáp:”thưa phải”. Phật lại hỏi “Đã
nghèo còn mang thêm nợ thì có phải là tai ương không?”.
Đệ tử đáp “Thưa phải”.Phật lại hỏi:” người đang
mắc nợ lại vay thêm nợ nữa thì có phải là tai ương không?”
Đệ tử đáp:” Thưa phải”.Phật nói”Đến lúc đó chủ
nợ đến đòi nợ, người ấy không trả nổi bị chủ nợ
làm nhục thế có phải là tai ương không?”. Đệ tử đáp”thưa
phải”.
Với
cái nhìn của Đức Phật, trong một hoàn cảnh nhất định,
có đầy đủ những nhu cầu tối thiểu về vật chất lại
quan trọng hơn là niềm tin tín ngưỡng. Có một người nông
dân bị mất bò đi tìm suốt ngày vẫn không thấy, khi đi
ngang nơi Phật đang thuyết pháp và muốn được nghe pháp,
Phật biết anh ấy suốt ngày chưa được ăn uống gì nên
Ngài gọi đệ tử chuẩn bị cơm canh cho anh ấy ăn trước
rồi sau mới nghe pháp. Điều này chứng minh rằng Đức Phật
biết rất rõ, khi con người đang bị đói khát thì không thể
nói đến vấn đề tín ngưỡng được. Không những thế sự
nghèo khó luôn gắn chặt với bạo lực và tội phạm. Trong
kinh “Dìgha Nikaya” dạy:”
“Sự
thiếu thốn về văn minh vật chất làm cho nghèo khổ phát
sinh, từ trong nghèo khổ mà trộm cắp hoành hành. Hơn nữa
giết người, bạo lực, phỉ báng, chửi rủa, vọng tưởng,
tà kiến, phi đạo đức và những dục vọng biến thái cũng
từ đó phát sinh, thậm chí còn dẫn đến sự leo thang của
tội ác, niềm tin tôn giáo bị phá vỡ và sự ổn định của
trật tự xã hội sẽ không giữ được.”
Trong
xã hội cổ đại của Ấn Độ với chế độ phân biệt giai
cấp những giai cấp thượng đẳng như Bàlamôn có được
cuộc sống vinh hoa phú quí, ăn trên ngồi trước; còn giai
cấp hạ đẳng như Thủ-đà-la chỉ biết suốt đời làm nô
lệ. Vì sao lại như vậy? Bởi vì kinh điển quyền uy Phệ
Đà của Ấn Độ giáo cho rằng: giai cấp Bàlamôn được sanh
ra từ miệng Phạm Thiên, giai cấp Thủ-đà-la được sanh ra
từ gót chân của Phạm Thiên. Do vậy mà giai cấp Bàlamôn
vốn sinh ra đã là giai cấp cao quí, còn giai cấp Thủ-đà-la
thuộc về giai cấp hạ tiện nhưng Đức Phật phản đối
điều này Ngài khẳng định, không có sự khác biệt vốn
có của giai cấp mà chỉ có sự khác biệt về điều kiện
kinh tế mà thôi.
Trong
kinh” Sighalovada Sutta”. Đức Phật dạy:”Hạnh phúc và vận
may vốn đến từ sức mạnh của kinh tế, không nợ nần và
cuộc sống trọn vẹn về đạo đức”. Từ những điều
trên chúng ta biết rằng Phật giáo không chấp nhận sự nghèo
khó không phải là càng nghèo càng quang vinh. Phật giáo nhấn
mạnh đến tinh thần đồng thời cũng đề cao sự quan trọng
của vật chất. Phật giáo không bài trừ kinh tế vì trong
kinh điển Phật giáo đã đề cập rất nhiều đến vấn đề
kinh tế. Nhưng trong kinh điển Phật giáo đề cập đến vấn
đề kinh tế không có nghĩa là có một lý thuyết về kinh
tế học tồn tại trong kinh điển Phật giáo. Trong Phật giáo
có hay không có kinh tế học cần phải được học giả nghiên
cứu vì người viết sức học có hạn, khong dám quả quyết
điều này nhưng khi đọc qua một số kinh điển Nam truyền
sẽ có thể phát hiện được một số khái niệm và
lý luận quan trọng về kinh tế học hiện đại mà Đức Phật
đã đề cập và đưa ra cái nhìn chính xác của Ngài như một
hệ thống. Tuy nhiên, hệ thống này không thể tìm được
trong một quyển kinh duy nhất mà chúng ta cần phải dụng tâm
thu thập phân tích từ các lời dạy của Ngài trong hệ thống
kinh điển và tổng hợp để hình thành nên một khái
niệm về kinh tế học của Phật giáo.
A.
TRUNG ĐẠO LÀ KINH TẾ HỌC PHẬT GIÁO
Kinh
tế học Phật giáo được xây dựng trên nền tảng giáo nghĩa
trung đạo Phật giáo.
Có
một loại dục vọng chính là nhu cầu căn bản nhất của
con người, nơi nào có con người nơi ấy nhất định sẽ
tồn tạo dục vọng này. Đó là dục vọng tự nhiên, là nhu
cầu tự nhiên căn bản nhất như ăn, uống, thuốc thang, sự
quan tâm…Đây vốn là nhu cầu thiết yếu nhất, là dục vọng
hữu hạn nhằm duy trì sự tồn tại của sắc thân nên Phật
giáo chấp nhận nhu cầu ham muốn này. Phật giáo cho rằng
chỉ khi nào nhu cầu căn bản này được đáp ứng thì mới
có thể tiến cao hơn trong thế giới tinh thần được.
Ngoài
nhu cầu căn bản ra, con người còn có một ham muốn khác đó
là tham dục. Tham dục là hình thái của tội ác vì nó vượt
qua khỏi nhu cầu căn bản của con người, là ham muốn quá
đáng, ham muốn quá mức nên không thể đạt được trọn
vẹn. Vì để thoả mãn tham dục nên con người đã bất chấp
mọi thủ đoạn nhằm đạt được tham cầu của mình, tham
dục không có giới hạn. Bạo lực và tội phạm phi đạo
đức một mặt đến từ đói khổ, mặt khác cũng xuất phát
từ tham dục. Do vậy Phật giáo không chấp nhận đói nghèo
đồng thời cũng cự tuyệt tham dục.
Tham
cầu là tai ương, nghèo đói cũng là tai ương. Phật Giáo đề
xướng không tham cầu và không đói nghèo. Phật giáo cho rằng
hết thảy mọi hoạt động kinh tế đều phải tuân thủ
nguyên tắc này tức là phải xuất phát từ nhu cầu căn bản
nhất của con người. Đây chính là kinh tế học Trung đạo
của Phật Giáo.
B.
SỬ DỤNG NGUỒN TÀI CHÍNH.
Kinh
tế học là bộ môn nghiên cứu về hoạt động kinh tế. Hoạt
động kinh tế là nghĩa rộng, nhìn gọn từ một góc độ
thì kinh tế học có thể chia thành ba bộ phận là: tạo lập
nguồn tài chánh, phân phối nguồn tài chánh và sử dụng nguồn
tài chánh có được. Bởi vì bất kể là sản xuất, kinh doanh
hay phân phối điều có quan hệ mật thiết với việc sử
dụng tiền của có được. Tài sản bao gồm hai mảng là tinh
thần và vật chất.
Với
quan điểm của Phật Giáo nguồn thu nhập của quốc gia hay
cá nhân đều nên phân thành bốn phần để sử dụng.
1.
Một phần dùng cho nhu cầu thường nhật như ăn, mặc, ở,
đi lại, y tế…
2.
Một phần để dành dùng khi cấp bách
3.
Một phần dùng kiến tạo công đức phước báo như bố thí,
cúng dường, phúc lợi xã hội, viện trợ nước nghèo…
4.
Một phần dùng để đầu tư, tái đầu tư để mở rộng
sự nghiệp, phát triển đất nước
Tiền
tài dùng cho nhu cầu căn bản của cuộc sống con người, con
người không phải là động vật kinh tế nên vật chất nhằm
phục vụ cho cuộc sống của con người, chớ con người không
phải sống vì vật chất. Con người cần vật chất vì sanh
tồn và hạnh phúc chứ không vì mục đích nào khác. Có được
tiền tài chúng ta nên dùng nó để làm năm việc sau:
1.
Làm cho bản thân sung túc.
2.
Phụng dưỡng cha mẹ.
3.
Lo cho gia đình.
4.
Giúp đỡ đồng nghiệp, người thân.
5.
Cúng dường các bậc đạo đức tu hành.
Trong
kinh “Vasala Sutta” Phật dạy nên biết đem tiền của phụng
dưỡng cha mẹ, người không biết phụng dưỡng cha mẹ thời
khó giàu có được. Lại trong kinh”Pattakama Sutta” Phật dạy
tiền bạc nên dùng vào việc lo cho người thân, khách khứa
công nhân viên chức của mình và đóng thuế cho nhà nước.
Phật
Giáo cho rằng người dân đóng thuế cho nhà nước là điều
phải làm vì nhà nước cần nguồn thuế thu được đó để
giúp đỡ người nghèo, người tàn tật, người già neo đơn,
để xây dựng công trình phúc lợi xã hội và công trình tiện
ích công cộng phục vụ cho cuộc sống của người dân
trong nước. Nhưng Phật Giáo cũng khẳng định nhà nước không
được đem tiền thuế của dân để xây dựng những công
trình không thiết thực và tiêu tao lãng phí tiền thuế
mồ hôi nước mắt của người dân. Đức Phật đã từng
chủ trương tiền thuế của dân không được chi dụng vào
những hoạt động lễ lược rầm rộ, qui mô to lớn, liên
hoan tiệc tùng lãng phí. Phật Giáo còn nhấn mạnh thuế không
được lạm thu và quá cao làm đau khổ cho nhân dân, cũng giống
như ong hút mật không thương tổn đến hương sắc của hoa.
Phật Giáo phản đối một chính sách và chế độ thuế khóa
khắc nghiệt.
Trong
bộ kinh khác”Dhammajani Sutta” Phật dạy tiền bạc dùng trong
việc xây dựng hạnh phúc cho bản thân, làm cho người khác
được hạnh phúc, dùng dự trử cho mình, đóng thuế và tích
tụ công đức.
Thế
nào là công đức? Nhiều người nghĩ rằng công đức là cúng
dường cho chùa miếu hay các bậc tu hành, thật ra thì không
hoàn toàn như vậy mà đó chỉ là một loại công đức. Theo
Phật Giáo phàm việc gì có lợi cho người, có lợi cho mình
một cách hợp lý thì đều được coi là công đức như một
thùng nước tưới cây, một vá đất đắp cây, hết thảy
đều là công đức.
Trong
kinh chia người sử dụng tiền tài thành ba hạng.
1.
Người chỉ biết cất góp tiền tài không dùng cho mình, không
giúp người khác và cũng không làm công đức.
2.
Người chỉ sử dụng tiền tài cho hạnh phúc cá nhân, không
giúp người và không làm công đức.
3.
Người biết dùng tiền tài xây dựng hạnh phúc cho mình, giúp
đở người khác, cùng tích tập công đức.
Phật
dạy người thứ hai tốt hơn hạng người thứ nhất là hạng
người có tiền cũng như không vì không biết sử dụng tiền
tài có được để kiến tạo hạnh phúc cho bản thân, giúp
người, cùng tích tạo công đức nên đã lãng phí tiền tài
mà mình có. Phật khen ngợi cách sử dụng tiền tài của hạng
người thứ ba vì biết lo cho mình và cho người. Phật dạy
làm người phải có tâm biết san sẻ cái mình có được với
người khác vì thế giới là tập hợp những nhân duyên không
ai có thể tồn tại độc lập mà phải nhờ vào sự giúp
đỡ của người khác. Do vậy, khi nghĩ đến nhu cầu của
bản thân đồng thời cũng phải biết nghĩ đến nhu cầu của
người khác cùng san sẽ với họ những nhu cầu ấy.
Đức
Phật khuyến khích mọi người sử dụng nguồn tài chánh có
được. Không nên chỉ biết tích góp để thành người bủn
xỉn nhưng không đồng nghĩa với việc Đức Phật khuyên bảo
mọi người lảng phí tiền bạc một cách không có ý nghĩa.
Phật Giáo vốn dạy phải”Kiệm phước”, phản đối việc
lãng phí, phản đối hai điều cực đoan nên Đức Phật dạy
mọi người “Phải biết sử dụng nguồn tài chánh có
được không bủn xỉn, không lãng phí, không dùng trong tội
ác và những việc tìm ẩn điều nguy hiểm”.
Đức
Phật dạy mọi người có sáu con đường làm cho tiền của
của chúng ta bị tiêu tán.
1.
Ăn nhậu.
2.
Suốt ngày đi chơi rong ở phố phường.
3.
Đánh bạc.
4.
Chơi với bạn xấu.
5.
Lười biếng.
6.
Đắm đuối trong sắc dục.
Phật
dạy một khi người dân trong nước chỉ biết sống với những
điều trên thì đất nước sẽ suy tàn.
Phật
Giáo phản đối việc chi tiêu lớn bởi vì.
1.
Việc chi tiêu phí lớn làm cho xã hội mất ổn định vì sẽ
đào sâu hố phân cách giữa giàu và nghèo trong xã hội. Người
giàu tận hưởng lắm vinh hoa còn kẻ nghèo thời ba buổi cũng
chẳng no. từ đó người nghèo sẽ sanh đố kỵ và bất mãn,
còn người giàu thì sanh tâm lo sợ thường nghĩ cách để
bảo vệ tài sản và quyền hạn của mình làm cho xung đột
xã hội phát sinh.
2.
Việc chi tiêu lớn làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên có
hạn sẽ nhanh chóng cạn kiệt như dầu mỏ…một khi đã cạn
thì không sao có thể có nữa được.
3.
Một khi con người đã bị dục vọng chi phối thì sẽ bất
chấp thủ đoạn để nhằm thoả mãn tham dục của mình. Bất
kể là chủng tộc, quốc gia hay cá nhân đều như vậy cả.
Một số nước vì để duy trì việc chi tiêu lớn của mình
nên đã không ngừng phát động chiến tranh. Sự chi tiêu ở
mức cao thường phát nguồn từ tham muốn quá mức nó không
phải được kiến lập trên nền tảng của những nhu cầu
thiết yếu nên nó không phù hợp với nguyên lý kinh tế học
của Phật Giáo, Đức Phật dạy chúng ta không được chi tiêu
vượt quá nguồn thu nhập vì như vậy sẽ làm mất cân đối
thu chi trong cuộc sống của mình. Phật Giáo còn dạy
mọi người phải cẩn trọng giữ gìn nguồn tài sản của
mình chống mất trộm, hoả hoạn, lũ lụt, kẻ thù,
bạn xấu và xúc phạm đến công quyền. Đức Phật khuyên
chúng ta phải biết để dành một phần nguồn tài chánh của
mình cho tương lai nhằm đảm bảo nhu cầu căn bản và cũng
để dự phòng khi gặp thiên tai lũ lụt, hạn hán và dịch
bệnh… vì cuộc sống của tương lai cần phải biết tích
trữ nhưng nguồn tích trữ này không được là kết quả của
sự chi tiêu lớn mà phải là nguồn tiết kiệm từ trong những
nhu cầu thường nhật. Nói cách khác đầu vào của nguồn
tài chánh để dành có liên hệ vấn đề sản xuất ra loại
sản phẩm gì. Vì như thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng sản phẩm
cần thiết thì sẽ giảm đi việc chi tiêu lớn như vũ khí,
ma tuý chất gây nghiện không cần thì không nên chi tiêu mà
phải loại trừ thì thị trường sẽ không nãy sinh vấn đề
giá cả leo thang và thiếu thốn nguồn sản phẩm cần thiết
trong cuộc sống, nên đất nước và nhân dân sẽ có được
nguồn tiền tích lũy.
Phật
Giáo cho rằng nguồn tài chánh để dành phải được chi dụng
cho nhu cầu căn bản nhất không được dùng nó để sản xuất
vũ khí, chất gây nghiện, độc dược và những sản phẩm
thoả mãn sắc dục độc hại. Nguồn vốn tích luỹ phải
dùng để phát triển kinh tế và nhân văn. Nói đến việc
tích luỹ không thể không nói đến sự nợ nần. Phật
Giáo cho rằng không nợ là một trong bốn loại hạnh phúc
của con người. Nếu ngập tràn trong nợ thì chính là tai hoạ,
đất nước cũng vậy, cá nhân cũng vậy đều cần tránh những
món nợ lớn dù trong nước hay ngoài nước, nên cần giảm
thiểu đến tối đa việc vay nợ, nếu việc vay nợ là cần
thiết thì phải được chi dùng cho những nhu cầu căn bản
mà thôi.
Nợ
và nghèo vốn đi liền với nhau. Trên thế giới này bất kể
là nước giàu hay nước nghèo luôn tồn tại nghèo khốn. Ơ
những nước giàu mặc dù vất phẩm gia tăng rất nhanh nhưng
vẫn không xoá bỏ được nghèo khó. Như nước Mỹ ngày nay
vẫn còn mấy trăm nghìn người sống dưới mức nghèo khó.
Đức Phật khẳng định nghèo khó là tai nạn cần phải được
xoá bỏ.
Phật
Giáo cho rằng có 3 nguyên nhân làm cho nghèo khó là:
1.
Sự phân bố tài nguồn tài nguyên thiên nhiên không đồng
đều, nơi nào nguồn tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn thì nơi
ấy sẽ rất dễ rơi vào tình trạng nghèo khốn. Đây là căn
nguyên tự nhiên.
2.
Một số người nghèo khó vì say đắm tửu sắc, hành
vi bất chánh, lười biếng…Đây là nguyên nhân cá nhân.
3.
Những chính sách sai lầm của nhà nước đặc biệt là những
chính sách kinh tế sai lầm là nguyên nhân căn bản nhất dẫn
đến sự nghèo nàn.
Trong
kinh “Digha Nikaya” đã dẫn chứng những bậc vua chúa đã
đưa ra những chính sách sai lầm hay những chính sách không
có ích lợi là làm cho đất nước và nhân dân nghèo khó.
Xoá bỏ nghèo nàn là điều có thể làm được vì nguồn lợi
thiên nhiên nghèo nàn có thể dựa vào sự hợp tác của khu
vực hoặc quốc gia để phân bổ và khắc phục, hành vi sai
lạc của cá nhân có thể được sửa đổi bằng sự phát
triển của tinh thần, còn chính sách sai lầm cũng có thể
giảm thiểu đến mức thấp nhất.
C.
TĂNG TRƯỞNG TẠO NGUỒN TÀI CHÍNH.
Căn
cứ vào nguyên lý kinh tế học Phật Giáo thì tăng trưởng
nguồn tài chính phải xây dựng trên nền tảng sáng tạo nguồn
nhu cầu căn bản của con người.
Phật
Giáo chia phương pháp tăng trưởng nguồn tài chính có ba loại:
1.
Bạo lực và phi pháp.
2.
Bạo lực hợp pháp và phi bạo lực nhưng phi pháp.
3.
Phi bạo lực hợp pháp.
Tiền
của phải được tích góp một cách chính đáng. Phật Giáo
phản đối vịêc dùng bạo lực và thủ đoạn phi pháp để
làm giàu và thủ đắc nguồn tài chính.
Đức
Phật từng dạy rằng “Tiền của phi nghĩa dù có được
dùng trong việc chính đáng như hiếu thảo với cha mẹ thì
sau khi chết vẫn bị đoạ vào địa ngục”. Đức Phật nhấn
mạnh có năm hoạt động kinh tế cần bị ngăn chặn là:
1.
Liên hệ đến vũ khí.
2.
Liên hệ đến ma tuý.
3.
Liên hệ đến các độc tố
4.
Nuôi thú lấy thịt.
5.
Mua bán thịt động vật.
Có
một số hoạt động kinh tế không có chỗ đứng trong Phật
Giáo dù cho hoạt động kinh tế ấy có được nguồn lợi
tự nhiên phong phú, sản xuất dễ dàng vẫn không được khuyến
khích. Bởi vì những hoạt động kinh tế này sẽ tác hại
đến sức khoẻ và việc nâng cao đời sống tinh thần của
con người. Phật Giáo ngăn cấm việc sản xuất những sản
phẩm có hại và không thuộc nhu cầu cần thiết của con người.
Trong
kinh điển Phật Giáo đã đề cập đến rất nhiều những
phương pháp chính đáng để tăng nguồn tài sản như nông
nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, chính trị, bảo an, kinh
tế cá thể và kế toán…
Nói
về sách lược phát triển kinh tế trong kinh “Kutadanta Sutta”
chỉ ra bốn bước quan trọng để phát triển kinh tế là:
1.
Những nhà sản xuất kinh doanh về nông nghiệp và công nghiệp
phải được nhà nước khuyến khích và dành cho họ những
điều kiện ưu đãi, cung cấp vốn và nhu cầu sản xuất căn
bản như giống, sức kéo, đất đai, phân bón, nguồn nước
cùng hệ thống thuỷ lợi để họ phát triển. Nói tóm lại
phải nâng cao địa vị và coi trọng những ai sản xuất kinh
doanh về nông nghiệp và công nghiệp căn bản những ngành
tạo nên và phục vụ nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của
nhân dân.
2.
Nhà nước cần khuyến khích hộ trợ các nhà đầu tư vào
lĩnh vực thương mại phải giúp họ có được nguồn vốn
kinh doanh. Nhà nước cần ngăn cản hiện tượng bóc lột trong
hoạt động kinh tế nhưng phải tạo điều kiện dễ dàng
thuận lợi để các nhà mậu dịch thương mại được vay
vốn mà không nên thiết lập những rào cản trên phương diện
này.
3.
Những người là công nhân viên hành chính, người làm việc
chính sự nhà nước cần bảo đảm tiền lương đầy
đủ cho họ, chính phủ có chính sách khuyến khích những nhân
viên cần mẫn trong công vịêc, có tâm và có trách nhiệm
mà không phải là dung túng và bao che tạo điều kiện cho những
kẻ tham ô, móc ngoặc không có tinh thần và cái tâm lo cho
dân cho nước. Đồng thời nhà nước cũng cần bảo đảm
được quyền tự chủ và quyền lợi mà người công chức
phải có.
4.
Nhà nước phải tận lực khuyến khích đầu tư cho sự truyền
bá và tăng trưởng món ăn tinh thần, văn hoá và tín ngưỡng
cho người dân.
Con
người là nhân tố quan trọng trong hoạt động kinh tế do
vậy vịêc sử dụng thích ứng nguồn nhân lực cũng cần
được chú trọng. Công ăn vịêc làm cho người dân cũng rất
quan trọng và cần được bảo đảm vì mọi mặt phát triển
đều dựa vào yếu tố căn bản này. Đức Phật dạy “Nếu
mọi người đều có vịêc làm ổn định thì nghèo khó sẽ
được cải thiện và đất nước sẽ được phồn vinh.”
Chính
phủ phải giúp đở những người thất nghiệp cho đến khi
nào họ tìm được việc làm, những người tàn tật phải
được chăm sóc đó là trách nhiệm của chính phủ. Nếu người
thất nghiệp nhiều sẽ tạo thành gánh nặng cho đất nước
nhưng đây cũng là kết quả của xã hội tạo nên. Trong kinh
Phật dạy:”Tiêu chuẩn đơn giản nhất để nhìn thấy được
sự phồn vinh của đất nước đó là người dân trong nước
có được nguồn thu nhập ổn định hay không?”.
Trong
kinh điển Phật Giáo có câu chuyện kể rằng có người hỏi
những người trộm cướp vì sao lại làm vịêc ấy. Họ nói
rằng vì họ nghèo đói. Vua nghe được chuyện này phát lòng
thương xót nên ra lệnh chu cấp cho họ tiền bạc và vật
phẩm nên vịêc trộm cướp đựơc tạm thời chấm dứt nhưng
một thời gian sau khi dùng hết số tài vật được chu cấp
họ lại tiếp tục trộm cướp bởi vì họ không có
cách nào duy trì cuộc sống ổn định của họ. Điều này
cho thấy tạo ra công ăn việc làm cho người dân quan trong
hơn nhiều và có giá trị hơn nhiều so với việc chu cấp
viện trợ.
Nhu
cầu công ăn việc làm cho người dân là rất quan trọng nhưng
cần phải nâng cao phẩm chất và tay nghề cho họ. Phật dạy
nông dân , công nhân viên chức, thương nhân cần phải tinh
chuyên và nỗ lực trong công việc của mình, mặc khác
mở trường đào tạo, đào tạo lại và dạy nghề cho nhân
dân là điều mà nhà nước cần làm tốt để người dân
có đủ điều kiện làm tốt công việc của mình. Phải căn
cứ vào năng lực , sở trường và nghề nghiệp để phân
công công việc thích ứng cho họ. Người giỏi về nông nghiệp
không thể cho họ đi buôn, người biết kinh thương không
thể để họ là nông. Phật dạy một thương nhân giỏi cần
có ba đức.
1.
Có trí tuệ phân biệt chất lượng tốt xấu của hàng hóa.
2.
Có khả năng kinh thương.
3.
Có chữ tín và được người khác tin tưởng.
Trong
một bộ kinh khác Đức Phật lại khẳng định người thương
nhân tạo ra nguồn lợi nhuận bằng phương thức chính đáng,
nguồn vốn kinh doanh phải rỏ ràng, hợp pháp, không được
“Treo đầu dê bán thịt chó”, kinh doanh phải biết nghĩ
đến nhu cầu của khách hàng, phải có đạo đức kinh thương,
cùng tính chuyên cần.
Cần
biết rằng lao động có hai dạng là lao động chân tay và
lao động trí óc. Khi Phật còn tại thế từng có người ngoại
đạo từng chỉ trích Phật không làm gì cả Phật đã trả
lời:”Ta cũng giống ông, cũng làm ruộng bằng hạt giống
tín ngưỡng, nguồn nước khổ hạnh, lưỡi cày lý giải,
mương nước khiêm tốn, nguồn phân thâm tư để tạo nên
hạt quả trí tuệ. Công vịêc ấy với mục đích là làm
lợi lạc quần sinh, tạo phúc muôn loài.”. Con người ngoài
cuộc sống vật chất cần có cuộc sống tinh thần cho nên
lao động chân tay và lao động trí óc đều quan trọng như
nhau trong cuộc sống không thể thiếu một được.
Đức
Phật khẳng định mục đích của lao động không chỉ nhằm
sáng tạo ra vật chất mà còn nhằm phát triển cuộc sống
tinh thần cho con người. Đức Phật hy vọng rằng thông qua
lao động thân tâm và đạo đức của con người ngày thêm
tiến bộ. Hay như Lục tổ Huệ Năng dạy:”đi, đứng, nằm,
ngồi đều là thiền, lao động cũng là một phương thức
thiền”.
D.
PHÂN PHỐI NGUỒN TÀI CHÍNH.
Phân
phối nguồn tài chính không phải là khái niệm mới nhưng
vốn là vấn đề mấu chốt của kinh tế học.
Theo
quan điểm của Phật Giáo thì một sự phân phối tuyệt đối
bình quân là điều không thể làm được. Bởi vì con người
khi mới sinh ra vốn đã khác nhau nên điều kiện tổng hợp
của từng con người vốn là không đồng nhất. Nhưng một
sự phân phối hợp lý là điều có thể làm được. Trong
Phật Giáo không chấp nhận sự bóc lột, Phật Giáo cho rằng
nguyên nhân trực tiếp dẫn đến nghèo khó là sự phân phối
không hợp lý, thiếu công bằng. Theo Phật Giáo giải quyết
những mâu thuẩn nãy sinh từ sự phân hoá giàu nghèo trong
xã hội có thể làm được bằng chế độ thuế khoá hợp
lý, giảm thiểu sự bóc lột trong lao động, đẩy mạnh hoạt
động từ thiện, phúc lợi xã hội. Trong kinh ghi lại nhiều
bậc quân vương, hào phú ngày xưa thường làm vịêc bố thí
cho người lỡ đường, khách phương xa, người bệnh, người
gặp nạn, bậc tu hành y phục cùng vật thực.
E.
SỰ PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN CỦA CON NGƯỜI.
Từ
những nhận định trên chúng ta thấy rằng nghèo khó là tai
nạn, để đáp ứng nhu cầu căn bản của cuộc sống tiền
tài là cái cần phải có, Phật Giáo không phản đối tư hữu
tài sản, Phật Giáo khuyến khích mọi người phát triển sự
nghiệp tư và sự nghiệp công bằng phương thức chính đáng,
khuyến khích vịêc tích luỹ tài sản bằng con đường phi
bạo lực và những thủ đoạn hợp pháp nhưng Phật Giáo cho
rằng một khi tiền của vượt quá nhu cầu căn bản của cuộc
sống thì không có ý nghĩa. Bởi vì bất kể nam, nữ, giàu,
nghèo, da trắng, da đen…mọi người đều phải chết, chết
và huỷ diệt là kết cục của tất cả mọi sinh vật. Có
người nhầm lẫn khi cho rằng có tiền là có tất cả, dù
là tiền non bạc bể cũng không thể đổi được cái chết
cùng sự trường thọ. Phật dạy tiền bạc không đi theo con
người khi chết nhưng người chết không mang theo được tài
sản của mình. Mọi người đều biết tiền có thể mua được”giường
đẹp nệm êm” nhưng không mua được giấc ngủ cho chúng
ta, dùng tiền để mua sách nhưng không mua được trí tuệ
cho ta, tiền có thể mua được “sơn hào hải vị” nhưng
mua không được sự ngon miệng, tiền có thể mua ngọc ngà
trang sức nhưng mua không được sắc đẹp tự nhiên, tiền
có thể mua được nhà cao cửa rộng nhưng đó chưa chắc đã
là gia đình, tiền có thể mua được sự hào hoa nhưng không
phải là niềm an lạc, tiền có thể mua được sự sung túc
nhưng không phải là hạnh phúc đích thực, tiền có thể mua
được thánh kinh nhưng không phải là sự giải thoát. Do vậy,
Đức Phật cảnh giác chúng ta không nên trở thành nô lệ
của đồng tiền. Cần biết rằng con người không phải sống
vì tiền, con người không phải là động vật kinh tế đơn
thuần, tiền của vượt quá nhu cầu căn bản thì mất hết
ý nghĩa. Mục tiêu cao cả của cuộc sống là phát triển thế
giới tinh thần của con người. Sự cao quí của con người
không do dòng dõi quyết định, cũng không phải do giàu có.
Trong kinh”Esutari Sutta” Phật dạy : ”này chư sa môn ta không
tuyên bố con người cao quí được quyết định bởi lượng
tiền của người ấy có được, sự cao quí của họ đựơc
quyết định bởi cuộc sống thanh cao đạo đức của họ.”.
Lại trong kinh “Vaddhi Sutta” Phật dạy chúng ta cần tuân
theo năm phẩm chất đạo đức là bác ái, tu trì, trí tuệ,
thuần khiết, tín ngưỡng vì năm phẩm chất đạo đức này
quí giá hơn tiền của và là tài sản chân chính của con người.
Nói
tóm lại Phật Giáo xem trọng cuộc sống vật chất nhưng không
xem đó là mục đích của cuộc sống. Phật Giáo khẳng định
tài vật nhằm duy trì sự sống và sự phát triển của con
người. Mục đích chung nhất là phát triển thế giới tinh
thần của con người, vì sự phát triển toàn diện của con
người. Con người dựa vào chính mình để phát triển toàn
diện chứ không phải chỉ dựa vào Phật. Đức Phật dạy
Ngài chỉ là bậc đạo sư chỉ dạy đường đi và phương
hướng cho chúng ta còn chúng ta phải tự mình bước đi. Quyết
định vận mạng của chúng ta là do bởi chính mỗi người
chúng ta, nếu chúng ta không mở mắt nhìn và cất bước đi
thì không bao giờ có thể đi đến đích được. Chúng ta là
chủ nhân của chính mình Đức Phật chỉ cứu những ai biết
tự cứu mình.
Đây
là khái lược về kinh tế học Phật Giáo nếu biết đem nguyên
lý kinh tế học Phật Giáo áp dụng vào nền kinh tế thì mọi
người có đựơc cuộc sống đạo đức, mọi người làm
tròn bổn phận của mình, đất nước phát triển, an ninh,
hoà bình, người dân hạnh phúc, gia đình an lạc, cuộc sống
thanh bình.
(Hết)
Thích
Giải Hiền
www.phattuvietnam.net
Bài
Đọc Thêm:
Phát
triển kinh tế và văn hóa, Nguyễn Thế đăng
Nền
tảng Kinh tế học từ cái nhìn Phật giáo, Thích Tuệ Sỹ
Kinh
tế từ cái nhìn Phật giáo, Thích Nhật Từ
Kinh
tế Phật giáo: Một giải pháp toàn diện, Thích Tâm Đức
Cần
một giải pháp toàn diện đối với Phật giáo Việt Nam, Ts.
Nguyễn Quốc Tuấn
Phật
giáo và Kinh doanh: Một doanh gia tốt có thể là một Phật
tử tốt không?, Hà Xuân Trừng
14.05.2007
12:14