TẠP
A-HÀM QUYỂN 50
KINH
1325. QUỶ ÁM[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành
Vương xá. Bấy giờ, có con trai của Ưu-bà-di[2] thọ trai tám
chi[3], sau đó phạm giới, liền bị quỷ thần ám. Lúc ấy,
Ưu-bà-di liền nói kệ:
Ngày
mười bốn, mười lăm,
Mồng
tám mỗi phần tháng[4];
Tháng
điềm hiện thần thông[5],
Tám
chi khéo chánh thọ.
Đối
trai giới thọ trì,
Không
bị quỷ thần ám.
Xưa
tôi hỏi mấy lần,
Thế
Tôn nói điều này.
Lúc
ấy, Quỷ kia liền nói kệ:
Ngày
mười bốn, mười lăm,
Và
mồng tám mỗi tháng;
Ứng
tháng thần túc tốt,
Tu
tám chi chánh thọ.
Sống
trai giới thanh tịnh,
Khéo
giữ gìn giới đức;
Không
bị quỷ trêu đùa,
Lành
thay, nghe từ Phật.
Theo
những lời bà nói,
Ta
sẽ thả con bà.
Ai
có nghiệp hoãn mạn,[6]
Nhiễm
ô hành khổ hạnh,
Phạm
hạnh không thanh tịnh,
Trọn
không được quả lớn.
Thí
như nhổ cỏ may[7],
Nắm
lỏng thì hại tay;
Sa-môn
hành ác xúc,
Tất
sẽ đọa địa ngục.
Thí
như nhổ cỏ may,
Nắm
chặt không hại tay;
Sa-môn
khéo nhiếp trì,
Tất
đến Bát-niết-bàn.
Khi
ấy, Quỷ thần kia liền thả con Ưu-bà-di này ra. Bấy giờ,
Ưu-bà-di nói kệ dạy con:
Nay
con hãy nghe mẹ,
Nhắc
lời quỷ thần nói.
Nếu
có nghiệp hoãn mạn,
Nhiễm
ô tu khổ hạnh,
Phạm
hạnh không thanh tịnh,
Thì
không được quả lớn.
Thí
như nhổ cỏ may,
Nắm
lỏng thì hại tay.
Sa-môn
khởi ác xúc,
Tất
sẽ đọa địa ngục;
Như
nắm chặt cỏ gai,
Tất
tay mình không hại.
Sa-môn
khéo giữ gìn,
Tất
đắc Bát-niết-bàn.
Khi
ấy, con Ưu-bà-di tỉnh ngộ như vậy rồi, cạo bỏ râu tóc,
mặc áo ca-sa, chánh tín xuất gia học đạo, sống không nhà,
nhưng tâm không được vui, trở về nhà mình. Người mẹ từ
xa thấy con liền nói kệ:
Lánh
tục mà xuất gia,
Tại
sao trở về làng?
Nhà
cháy, của kéo ra,
Sao
ném vào lửa lại?
Tỳ-kheo
con Ưu-bà-di kia nói kệ đáp:
Chỉ
nghĩ mẹ mạng chung,
Còn
mất không gặp nhau;
Nên
trở về thăm viếng,
Sao
thấy con không vui?
Lúc
ấy, người mẹ Ưu-bà-di nói kệ đáp:
Bỏ
dục mà xuất gia,
Trở
về muốn thụ hưởng;
Cho
nên mẹ lo buồn,
Sợ
bị Ma lung lạc.
Sau
khi Ưu-bà-di đã giác ngộ con mình như vậy, như vậy rồi,
người con trở lại chỗ thanh vắng, tinh cần tư duy, đoạn
trừ tất cả phiền não kết buộc, chứng đắc quả A-la-hán.
*
KINH
1326. A-LẠP QUỶ[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tại nước Ma-kiệt-đề, du hành trong
nhân gian, đến nghỉ đêm tại trú xứ của quỷ A-lạp[9].
Bấy giờ, quỷ A-lạp tập hội các quỷ thần. Lúc đó có
quỷ Kiệt-đàm[10] thấy Thế Tôn nghỉ đêm tại trú xứ của
quỷ A-lạp. Thấy vậy, đến chỗ quỷ A-lạp nói với quỷ
A-lạp:
“Này
thôn chủ, ông được lợi lớn. Như Lai đã nghỉ đêm tại
trú xứ ông.”
Quỷ
A-lạp nói:
“Hôm
nay có người sống ở tại nhà tôi sao? Bây giờ phải làm
cho rõ, là Như Lai hay chẳng phải là Như Lai.”
Sau
khi, quỷ A-lạp cùng các quỷ thần tụ tập xong, trở lại
nhà mình, nói với Đức Thế Tôn:
“Sa-môn,
đi ra!”
Bấy
giờ, Thế Tôn, vì là nhà người, liền ra khỏi nhà kia.
Quỷ
A-lạp lại nói:
“Sa-môn,
đi vào!”
Đức
Phật liền vào lại, vì muốn diệt kiêu mạn kia. Diễn ra
ba lần như vậy. Đến lần thứ tư, quỷ A-lạp lại nói với
Thế Tôn:
“Sa-môn,
đi ra.”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói với quỷ A-lạp:
“Thôn
chủ, đã ba lần mời rồi, bây giờ Ta không ra nữa.”
Quỷ
A-lạp nói:
“Bây
giờ, tôi hỏi Sa-môn. Sa-môn hãy trả lời tôi, làm cho tôi
hoan hỷ thì tốt. Nếu không thể làm cho tôi hoan hỷ, tôi
sẽ hủy hoại tâm của ông, làm vỡ ngực ông, làm cho máu
nóng của ông từ đó vọt ra, nắm hai tay ông ném qua bờ bên
kia sông Hằng.”
Thế
Tôn bảo:
“Thôn
chủ, Ta chưa từng thấy chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn,
Thiên thần, Người đời nào mà có thể hủy hoại tâm Ta,
làm vỡ ngực Ta, làm cho máu nóng của Ta từ đó vọt ra, nắm
hai tay ném qua bên kia bờ sông Hằng. Song, thôn chủ, nay ông
cứ hỏi, Ta sẽ vì ông mà nói, khiến cho tâm ông được hoan
hỷ.”
Khi
ấy, quỷ A-lạp nói kệ hỏi Phật:
Nói
những gì gọi là,
Vật
tối thắng của người[11]?
Thực
hành những pháp gì,
Được
quả báo an lạc?
Những
gì là vị ngon?
Thọ
mạng nào hơn cả[12]?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Trong
các vật của người,
Tịnh
tín là tối thắng.
Hành
pháp được quả vui.
Vị
giải thoát tối thượng.
Trí
tuệ trừ già, chết,
Là
thọ mạng bậc nhất.
Khi
ấy, quỷ A-lạp lại nói kệ:
Làm
sao được nổi danh,
…
Như kệ đã nói ở trên.[13]
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Trì
giới lừng danh tiếng,
…
Như kệ đã nói ở trên.
Khi
ấy, quỷ A-lạp nói kệ:
Mấy
pháp khởi thế gian?
Mấy
pháp tùy thuận nhau?
Đời
mấy pháp chấp thủ?
Đời
mấy pháp tổn giảm?[14]
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Đời
sáu pháp nguyên khởi.
Sáu
pháp tùy thuận nhau.
Đời
sáu pháp chấp thủ.
Đời
sáu pháp tổn giảm.
Khi
ấy, quỷ A-lạp nói kệ hỏi Phật:
Ai
hay qua các dòng,
Ngày
đêm siêng phương tiện?
Không
vin, không chỗ trụ,
Ai
hay không đắm chìm?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Tất
cả giới đầy đủ,
Trí
tuệ khéo chánh thọ.
Trong
chánh niệm tư duy,
Hay
qua dòng khó qua.
Không
ưa nơi ngũ dục,
Cũng
vượt qua sắc ái;
Không
vin, không chỗ trụ,
Ấy
không bị đắm chìm.
Khi
ấy, quỷ A-lạp nói kệ hỏi Phật:
Dùng
pháp gì qua dòng?
Làm
sao qua biển lớn?
Làm
sao xa lìa khổ?
Làm
sao được thanh tịnh?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Dùng
tín vượt qua dòng.
Không
phóng dật qua biển.
Tinh
tấn hay trừ khổ.
Nhờ
tuệ được thanh tịnh.
Người
nên hỏi điều khác,
Pháp
Phạm chí, Sa-môn;
Pháp
nào không sai lầm,
Chân
đế, thí, điều phục[15].
Khi
ấy, quỷ A-lạp lại nói kệ hỏi Phật:
Phiền
gì hỏi chuyện khác,
Pháp
Phạm chí, Sa-môn;
Tức
nói người tối thắng,
Vì
hiển đuốc pháp lớn.
Nơi
Kiệt-đàm-ma[16] kia,
Thường
phải báo ân này;
Bảo
tôi: Đẳng Chánh Giác,
Bậc
Vô Thượng Ngự Sư.
Tôi
đi liền hôm nay,
Thôn
nọ đến thôn kia;
Hầu
hạ Đẳng Chánh Giác,
Để
nghe Ngài nói pháp.
Sau
khi, quỷ A-lạp nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ làm
lễ, rồi ra về.
*
KINH
1327. THÚC-CA-LA[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành
Vương xá. Bấy giờ, có Tỳ-kheo-ni Thúc-ca-la[18] ở trong chúng
Tỳ-kheo-ni tại vườn vua, được mọi người thành Vương
xá cung kính cúng dường như A-la-hán.
Một
hôm, nhân ngày cát tinh[19], dân chúng thành Vương xá tụ tập
đại hội vui vẻ, nên ngày đó bỏ sót, không cúng dường.
Lúc đó có một quỷ thần vì kính trọng Tỳ-kheo-ni ấy nên
vào trong đường làng thành Vương xá, đến từng nhà nói
kệ:
Nhân
dân thành Vương xá,
Say
sưa, ngủ mê mệt,
Không
siêng cúng dường kia,
Tỳ-kheo-ni
Thúc-ca.
Nhờ
khéo tu các căn,
Tên
gọi Thúc-ca-la;
Khéo
nói pháp ly cấu,
Nơi
Niết-bàn thanh lương.
Thuận
nghe những lời ấy,
Suốt
ngày vui không chán.
Nương
trí tuệ nghe pháp,
Được
qua dòng sanh tử.
Như
thương nhân đi biển,
Nương
vào sức Mã vương[20].
Khi
ấy có một vị Ưu-bà-tắc đem y cúng Tỳ-kheo-ni Thúc-ca-la;
lại có một vị Ưu-bà-tắc đem thức ăn cúng dường. Lúc
ấy, vị quỷ thần kia liền nói kệ:
Ưu-bà-tắc
trí tuệ,
Được
phước lợi rất nhiều;
Cúng
y Thúc-ca-la,
Nên
lìa các phiền não.
Ưu-bà-tắc
trí tuệ,
Được
phước lợi rất nhiều;
Vì
cúng ăn Ca-la,
Nên
lìa sự tích tụ.
Sau
khi vị quỷ thần kia nói kệ xong, liền biến mất.
*
KINH
1328. TỲ-LA[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành
Vương xá. Bấy giờ, có Tỳ-kheo-ni Tỳ-la[22] ở trong chúng
Tỳ-kheo-ni tại vườn vua, thành Vương xá. Nhân ngày cát tinh[23]
dân chúng thành Vương xá tụ tập đại hội, nên ngày đó
Tỳ-kheo-ni Tỳ-la không có người cúng dường. Lúc đó, có
quỷ thần kính trọng Tỳ-kheo-ni Tỳ-la nên đi vào trong các
đường làng hay đầu ngã tư đường, thành Vương xá, nói
kệ:
Nhân
dân thành Vương xá,
Say
sưa ngủ mê mệt;
Tỳ-kheo-ni
Tỳ-la,
Không
người nào cúng dường.
Tỳ-kheo-ni
Tỳ-la,
Dõng
mãnh tu các căn;
Khéo
nói pháp lìa cấu,
Pháp
Niết-bàn thanh lương.
Tùy
thuận điều được nói,
Suốt
ngày vui không chán.
Nương
trí tuệ nghe pháp,
Được
qua dòng sanh tử.
Khi
ấy, có một Ưu-bà-tắc đem y đến cúng Tỳ-kheo-ni Tỳ-la;
lại có một Ưu-bà-tắc đem đồ ăn đến cúng dường. Khi
ấy, vị quỷ thần kia liền nói kệ:
Ưu-bà-tắc
trí tuệ,
Nay
được phước lợi nhiều;
Vì
cúng y Tỳ-la,
Nên
đoạn được phiền não.
Ưu-bà-tắc
trí tuệ,
Nay
được phước lợi nhiều;
Vì
cúng ăn Tỳ-la,
Nên
lìa các hòa hiệp.
Sau
khi vị quỷ thần kia nói kệ xong, liền biến mất.
*
KINH
1329. HÊ-MA-BA-ĐÊ[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành
Vương xá. Bấy giờ, có Thiên thần Sa-đa-kỳ-lợi[25] và Thiên
thần Hê-ma-ba-đê[26] cùng phát lời thề: ‘Nếu trong cung
mình có vật báu xuất hiện, thì phải nói với nhau. Nếu
không nói, mang tội vi ước.’
Lúc
ấy, trong cung Thiên thần Hê-ma-ba-đê có xuất hiện vật báu
chưa từng có là hoa ba-đàm-ma[27]. Hoa có nghìn cánh, lớn như
bánh xe, cọng báu màu vàng. Lúc ấy Thiên thần Hê-ma-ba-đê
sai người đến báo Sa-đa-kỳ-lợi:
“Thưa
thôn chủ, hôm nay trong cung chúng tôi bỗng xuất hiện một
vật báu chưa từng có là hoa ba-đàm-ma. Hoa có nghìn cánh,
lớn như bánh xe, cọng báu màu vàng, mời đến xem qua.”
Thiên
thần Sa-đa-kỳ-lợi liền sai người đến nhà Thiên thần
Hê-ma-ba-đê nói rằng:
“Thưa
thôn chủ, ba-đàm-ma trăm nghìn cánh ấy mà làm gì! Hôm nay
trong cung chúng tôi có xuất hiện hoa ba-đàm-ma vĩ đại, của
báu chưa từng có, tức là Đức Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
Thôn chủ có thể đến phụng sự cúng dường.”
Bấy
giờ, Thiên thần Hê-ma-ba-đê liền cùng với năm trăm quyến
thuộc đến chỗ Thiên thần Sa-đa-kỳ-lợi nói kệ hỏi:
Ngày
rằm là thời tốt,
Ban
đêm gặp hội vui;
Nên
nói thọ trai gì,
Thọ
từ A-la-hán?[28]
Lúc
ấy, Sa-đa-kỳ-lợi nói kệ đáp:
Hôm
nay Phật Thế Tôn,
Tại
thắng quốc Ma-kiệt,
Trụ
tại thành Vương xá,
Vườn
Trúc, Ca-lan-đà.
Diễn
nói pháp vi diệu,
Diệt
trừ khổ chúng sanh.
Khổ
khổ và khổ tập,
Khổ
diệt tận tác chứng;
Đường
bát Thánh khỏi khổ,
An
ổn đến Niết-bàn.
Nên
đến để cúng dường,
Thế
Tôn, La-hán tôi.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Ngài
có tâm nguyện vui,
Cứu
giúp chúng sanh không?
Ngài
với thọ, không thọ,
Tâm
tưởng bình đẳng không?[29]
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Ngài
tâm từ, nguyện diệu,
Độ
tất cả chúng sanh.
Đối
các thọ, không thọ,
Tâm
tưởng thường bình đẳng.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Bậc
cụ túc minh đạt,
Thành
tựu chánh hành chưa?[30]
Các
lậu diệt sạch hẳn,
Không
tái sanh nữa ư?
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Minh
đạt khéo đầy đủ,
Đã
thành tựu chánh hành;
Các
lậu đã dứt hẳn,
Không
tái sanh đời sau.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Mâu-ni
ý hành mãn,
Cùng
nghiệp thân, miệng chăng?
Minh
hạnh đều đầy đủ,
Đúng
pháp tán thán chăng?
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Tâm
Mâu-ni đầy đủ,
Cùng
nghiệp thân, miệng đầy;
Minh
hạnh đều đầy đủ,
Đúng
pháp mà tán thán.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Xa
lìa hại sanh mạng,
Không
cho không lấy chăng?
Có
xa lìa phóng đãng,
Không
rời thiền tư chăng?
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Thường
không hại chúng sanh,
Không
cho, không lấy càn;
Xa
lìa nơi phóng đãng,
Ngày
đêm thường thiền tư.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Không
ưa ngũ dục chăng?
Tâm
không trược loạn chăng?
Có
pháp nhãn thanh tịnh,
Diệt
hẳn ngu si chăng?
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Tâm
thường không ưa dục,
Tâm
cũng không trược động;
Pháp
nhãn Phật thanh tịnh,
Ngu
si hết không còn.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Chí
thành không vọng ngữ,
Không
nói lời thô chăng?
Không
nói lời ly gián,
Chỉ
nói chân thành chăng?
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Chí
thành không vọng ngữ,
Cũng
không nói lời thô;
Không
ly gián người khác,
Thường
nói lời như pháp.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Gìn
giữ giới thanh tịnh,
Chánh
niệm vắng lặng chăng?
Đầy
đủ pháp giải thoát,
Như
Lai đại trí chăng?
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Tịnh
giới đều đầy đủ,
Chánh
niệm thường tịch tĩnh;
Thành
tựu pháp giải thoát,
Đắc
đại trí Như Lai.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Minh
đạt đều đầy đủ,
Chánh
hạnh đã thanh tịnh;
Sở
hữu các lậu hết,
Không
còn tái sanh nữa?
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Minh
đạt đều đầy đủ,
Chánh
hạnh đã thanh tịnh;
Tất
cả các lậu hết,
Không
còn tái sanh nữa.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Mâu-ni
đủ thiện tâm,
Cùng
nghiệp đạo thân, miệng;
Minh
hạnh đều đầy đủ,
Nên
tán thán pháp này?
Sa-đa-kỳ-lợi
nói kệ đáp:
Mâu-ni
đủ thiện tâm,
Cùng
nghiệp đạo thân, miệng;
Minh
hạnh đều đầy đủ,
Nơi
pháp này tán thán.
Hê-ma-ba-đê
nói kệ hỏi:
Đùi
nai Y-ni-diên[31],
Thắng
tướng của Tiên nhân;
Ít
ăn, xả thân tham,
Chỗ
Mâu-ni rừng thiền.
Nay
ông hãy cùng đi,
Kính
lễ Cù-đàm kia.[32]
Lúc
ấy, Sa-đa-kỳ-lợi và Hê-ma-ba-đê, có trăm nghìn quyến thuộc
quỷ thần vây quanh, vội vàng đi đến chỗ Phật, đảnh lễ
cúng dường; sửa lại y phục, trịch vai bên hữu, chắp tay
kính lễ và nói kệ:
Đùi
nai Y-ni-diên,
Thắng
tướng của Tiên nhân;
Ít
ăn, không tham đắm,
Mâu-ni
ưa rừng thiền.
Hôm
nay chúng con đến,
Thỉnh
vấn Đức Cù-đàm.
Sư
tử đi một mình,
Đại
long không sợ hãi.
Nên
nay đến thỉnh vấn.
Xin
Mâu-ni quyết nghi:
Thế
nào ra được khổ?
Làm
sao giải thoát khổ?
Xin
Ngài nói giải thoát,
Khổ
diệt ở chỗ nào?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Năm
diệu dục ở đời,
Và
thứ sáu là ý[33];
Nơi
dục kia không tham,
Giải
thoát tất cả khổ.
Ra
khỏi khổ như vậy.
Giải
thoát khổ như vậy.
Nay
đáp điều ông hỏi,
Khổ
từ đây mà diệt.
Sa-đa-kỳ-lợi
và Hê-ma-ba-đê lại nói kệ hỏi:
Suối
từ đâu quay về,
Đó
đường ác không chuyển?
Mọi
khổ lạc thế gian,
Ở
đâu mà diệt hết?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân,
Cùng
với ý nhập xứ;
Nơi
kia danh và sắc,
Vĩnh
viễn không còn gì.
Suối
từ đó quay về,
Đó
đường ác không chuyển.
Đối
với khổ lạc kia,
Diệt
hết không còn gì.
Sa-đa-kỳ-lợi
và Hê-ma-ba-đê lại nói kệ:
Thế
gian mấy pháp khởi,
Mấy
pháp đời hòa hợp;
Đời
mấy pháp chấp thủ,
Mấy
pháp khiến đời diệt?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Sáu
pháp khởi thế gian,
Sáu
pháp hòa hợp đời;
Sáu
pháp chấp thủ đời,
Sáu
pháp tổn giảm đời.
Sa-đa-kỳ-lợi
và Hê-ma-ba-đê lại nói kệ hỏi:
Làm
sao qua các dòng,
Ngày
đêm siêng phương tiện,
Không
vin, không chỗ trụ,
Mà
không chìm vực sâu?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Tất
cả giới đầy đủ,
Trí
tuệ khéo chánh thọ;
Như
tư duy buộc niệm,
Thì
qua được vực sâu.
Không
ưa các dục tưởng,
Cũng
vượt sắc trói buộc;
Không
vin, không chỗ trụ,
Không
chìm nơi vực sâu.
Sa-đa-kỳ-lợi
và Hê-ma-ba-đê lại nói kệ hỏi:
Pháp
gì qua các dòng?
Làm
sao vượt biển lớn?
Làm
sao rời khỏi khổ?
Làm
sao được thanh tịnh?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Chánh
tín, qua các dòng.
Không
phóng dật, vượt biển.
Tinh
tấn hay dứt khổ,
Trí
tuệ được thanh tịnh.
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ tiếp:
Ông
có thể hỏi khác,
Pháp
Phạm chí Sa-môn;
Chân
thật, thí, điều phục,
Ngoài
đây không pháp nào?[34]
Hê-ma-ba-đê
lại nói kệ:
Cần
gì hỏi chỗ khác,
Pháp
Phạm chí, Sa-môn?
Hôm
nay Đại Tinh Tấn,
Đã
khéo léo dẫn khai.
Nay
con nên báo đáp,
Ơn
Sa-đa-kỳ-lợi,
Hướng
dẫn đến Ngự Sư,
Bảo
với chúng con rằng:
Con
nên đến thôn xóm,
Theo
Phật đến mọi nhà;
Thừa
sự, lễ, cúng dường,
Theo
Phật nghe chánh pháp.
Trăm
nghìn quỷ thần này,
Đều
chắp tay cung kính;
Tất
cả quy y Phật,
Bậc
Đại Sư Mâu-ni.
Đáng
danh xưng Vô Thượng,
Ắt
thấy nghĩa chân thật;
Thành
tựu trí tuệ lớn,
Với
dục không nhiễm trước.
Người
trí nên quan sát,
Cứu
giúp kẻ thế gian;
Được
dấu đạo Hiền thánh,
Đó
là Đại Tiên Nhân.
Phật
nói kinh này xong, Sa-đa-kỳ-lợi và Hê-ma-ba-đê cùng các quyến
thuộc năm trăm quỷ thần nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ,
tùy hỷ lễ Phật, rồi ra về.
*
KINH
1330. ƯU-BA-GIÀ-TRA[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành
Vương xá. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Mục-kiền-liên
đang trú trong núi Kỳ-xà-quật. Khi ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất
mới cạo râu tóc, có con quỷ Già-tra và Ưu-ba-già-tra[36] đi
ngang qua. Quỷ Ưu-ba-già-tra thấy Tôn giả Xá-lợi-phất mới
cạo râu tóc, bèn nói với quỷ Già-tra:
“Bây
giờ tôi sẽ đến đánh đầu của Sa-môn kia.”
Quỷ
Già-tra nói:
“Ưu-ba-già-tra,
anh chớ nói vậy! Sa-môn này có thần lực, đức độ lớn,
anh chớ làm vậy, sẽ chịu khổ lâu dài, không được lợi
ích.” Ba lần nói như vậy, mà quỷ Ưu-ba-già-tra sau ba lần
can gián vẫn không nghe lời quỷ Già-tra, liền dùng tay đánh
đầu Tôn giả Xá-lợi-phất, đánh xong, rồi tự kêu lên rằng:
“Già-tra,
tôi bị thiêu! Già-tra, tôi bị luộc!” Kêu lên ba lần rồi,
liền bị vùi vào trong đất, đọa xuống địa ngục A-tỳ.
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên nghe tiếng động do con quỷ đánh
Tôn giả Xá-lợi-phất, liền đi đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất,
hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Thế
nào, Tôn giả, có thể chịu được sự đau đớn đó không?”
Tôn
giả Xá-lợi-phất trả lời:
“Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên, tuy có đau đớn, nhưng ý có thể
chịu đựng, không đến nỗi đau quá.”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:
“Kỳ
diệu thay, Tôn giả Xá-lợi-phất! Thật là thần lực, đức
độ lớn. Con quỷ này nếu dùng tay đánh núi Kỳ-xà-quật,
sẽ khiến nát ra như cám, huống là đánh vào người mà không
đau đớn?”
Bấy
giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với Tôn giả Đại Mục-kiền-liên:
“Thật
ra là tôi không đau đớn lắm!”
Khi
Tôn giả Xá-lợi-phất và Đại Mục-kiền-liên cùng uý lạo
nhau như vậy, Đức Thế Tôn dùng thiên nhĩ nghe những lời
này. Nghe xong, liền nói kệ:
Tâm
kia như đá cứng,
Trụ
vững không lay động;
Đã
lìa tâm nhiễm trước,
Người
sân không trả lại.
Nếu
tu tâm như vậy,
Sao
có nỗi đớn đau!
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1331. CHÚNG ĐA[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có nhiều Tỳ-kheo ở nước Câu-tát-la
du hành trong nhân gian, kiết hạ an cư trong một khu rừng. Trong
rừng này có Thiên thần ở, biết đến ngày mười lăm các
Tỳ-kheo nhận tuổi[38], nên rất lấy làm buồn bã. Có vị
Thiên thần khác nói với vị Thiên thần kia:
“Cớ
sao anh sanh ra buồn rầu khổ não? Anh nên hoan hỷ, vì các Tỳ-kheo
trì giới thanh tịnh, hôm nay nhận tuổi.”
Thiên
thần trong rừng đáp:
“Tôi
biết các Tỳ-kheo hôm nay mãn hạ, nhưng không giống ngoại
đạo vô tu[39] nhận tuổi. Những Tỳ-kheo tinh tấn nhận tuổi,
là sáng hôm sau ôm bát đi đến nơi khác, rừng này sẽ vắng
vẻ.”
Sau
khi các Tỳ-kheo đi rồi, Thiên thần trong rừng nói kệ:
Nay
tâm tôi không vui,
Chỉ
thấy rừng trống vắng.
Tâm
thanh tịnh thuyết pháp,
Các
Tỳ-kheo đa văn,
Đệ
tử Đấng Cù-đàm,
Nay
đang đến xứ nào?
Khi
ấy, có Thiên tử khác nói kệ:
Người
đến Ma-già-đà,
Người
đến Câu-tát-la;
Hoặc
đến Kim cương địa[40],
Mọi
nơi, tu viễn ly.
Giống
như cầm thú hoang,
Tùy
sở thích dạo chơi.
*
KINH
1332. HAM NGỦ[41]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có các Tỳ-kheo ở nước Câu-tát-la,
du hành trong nhân gian, kiết hạ an cư trong một khu rừng. Ban
ngày thì nhập chánh thọ,[42] thân thể mệt mỏi, còn đêm
đến thì ngủ. Lúc đó, trong rừng kia có Thiên thần trú ngụ,
tự nghĩ: ‘Đây không phải là pháp Tỳ-kheo. Ở trong rừng
vắng, ban ngày nhập chánh thọ, ban đêm lại ham ngủ nghỉ.
Bây giờ ta sẽ đến thức tỉnh vị ấy.’ Lúc đó, Thiên
thần đến trước Tỳ-kheo nói kệ:
Tỳ-kheo!
Thầy tỉnh dậy!
Vì
sao ham ngủ nghỉ?
Ngủ
nghỉ có lợi gì?
Khi
bệnh sao không ngủ?
Khi
gai nhọn đâm thân,
Làm
sao ngủ nghỉ được?
Ngài
vốn xả, không nhà,
Ý
muốn đi xuất gia.
Nên
như ý muốn xưa,
Cầu
tăng tiến ngày đêm;
Chớ
rơi vào mê ngủ,
Khiến
tâm không tự tại.
Dục
vô thường, biến đổi,
Say
mê nơi người ngu.
Người
khác đều bị trói,
Nay
ngài đã cởi trói,
Chánh
tín mà xuất gia,