TẠP
A-HÀM QUYỂN 49
KINH
1294. SỞ CẦU[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát
chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, từ thân tỏa ánh sáng
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên
tử kia nói kệ hỏi Phật:
Sức
lớn, vui tự tại,
Mọi
sở cầu đều được;
Ai
vượt trên vị kia,
Mọi
mong cầu thỏa mãn?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Sức
lớn, vui tự tại,
Vị
kia không sở cầu.
Nếu
ai có mong cầu,
Thì
khổ chẳng phải lạc.
Tìm
cầu đã qua rồi,
Vị
kia chỉ có lạc.
Lúc
ấy, Thiên tử kia lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn ái ân đời.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1295. XE[2]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng
chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên
tử kia nói kệ hỏi Phật:
Xe
khởi từ chỗ nào?
Ai
có thể chuyển xe?
Xe
chuyển đến nơi nào?
Cớ
sao biến hoại mất?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Xe
khởi từ các nghiệp.
Tâm
thức chuyển dịch xe.
Tùy
nhân mà chuyển đến.
Nhân
hoại thì xe mất.
Bấy
giờ, Thiên tử kia lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn đời ái ân.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1296. SANH CON[3]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Lúc ấy, Thiên
tử kia bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con gái của vua Câu-lâu-đà là Tu-ba-la-đề-sa[4],
hôm nay sanh con.”
Phật
bảo Thiên tử:
“Đây
là điều không tốt lành, chẳng phải là tốt lành!”
Thiên
tử kia liền nói kệ:
Người
sanh con là vui.
Thế
gian có con vui.
Cha
mẹ tuổi già yếu,
Cần
con để phụng dưỡng.
Vì
sao Cù-đàm nói,
Sanh
con là không tốt?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Nên
biết luôn vô thường,
Uẩn
thuần không, chẳng con.
Sanh
con thường bị khổ,
Người
ngu nói là vui.
Cho
nên Ta nói rằng,
Sanh
con là chẳng tốt;
Không
tốt mà như tốt,
Như
yêu, chẳng đáng yêu.
Thật
khổ, dáng tợ vui,
Bị
phóng dật dẫm đạp.
Bấy
giờ, Thiên tử kia lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn đời ái ân.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1297. SỐ [5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên tử kia
nói kệ hỏi Phật:
Thế
nào số được đếm?
Thế
nào số không ẩn?
Thế
nào số trong số?
Thế
nào thuyết ngôn thuyết?[6]
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Phật
pháp khó đo lường,
Hai
dòng không hiển hiện.
Nếu
danh và sắc kia,
Diệt
tận hết không còn;
Đó
là số được đếm.
Số
kia không ẩn tàng.
Đó
là số trong số,
Đó
là thuyết danh số.
Bấy
giờ, Thiên tử kia lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn đời ái ân.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1298. VẬT GÌ[7]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên tử kia
nói kệ hỏi Phật:
Vật
gì nặng hơn đất?
Vật
gì cao hơn không?
Vật
gì nhanh hơn gió?
Vật
gì nhiều hơn cỏ?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Giới
đức nặng hơn dất.
Mạn
cao hơn hư không.
Hồi
tưởng nhanh hơn gió.
Tư
tưởng nhiều hơn cỏ.
Bấy
giờ, Thiên tử kia lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn đời ái ân.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1299. GIỚI GÌ[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên tử kia
nói kệ:
Giới
gì, oai nghi gì?
Đắc
gì, nghiệp là gì?
Người
tuệ làm sao trụ?
Làm
sao sanh về trời?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Xa
lìa việc sát sanh,
Vui
trì giới tự phòng;
Không
sanh tâm gia hại,
Đó
là đường sanh Thiên.
Không
lấy của không cho,
Vui
nhận của được cho;
Đoạn
trừ tâm trộm cướp,
Đó
là đường sanh Thiên.
Không
phạm vợ người khác;
Xa
lìa việc tà dâm;
Bằng
lòng vợ riêng mình,
Đó
là đường sanh Thiên.
Tự
vì mình và người,
Vì
của và cười đùa;
Không
nói dối lừa gạt,
Là
con đường sanh Thiên.
Đoạn
trừ nói hai lưỡi,
Không
ly gián bạn người;
Thường
nghĩ hòa kia đây,
Là
con đường sanh Thiên.
Xa
lìa lời thô lỗ,
Lời
dịu, không hại người;
Thường
nói lời hay tốt,
Là
con đường sanh Thiên.
Không
nói lời phi giáo,
Không
nghĩa, không lợi ích;
Thường
nói lời thuận pháp,
Là
con đường sanh Thiên.
Tụ
lạc hoặc đất trống,
Thấy
lợi, nói của ta;
Không
hành tưởng tham này,
Là
con đường sanh Thiên.
Tâm
từ không tưởng hại,
Không
hại các chúng sanh;
Tâm
thường không oán kết,
Là
con đường sanh Thiên.
Nghiệp
khổ và quả báo,
Cả
hai đều tịnh tín;
Thọ
trì nơi chánh kiến,
Là
con đường sanh Thiên.
Những
thiện pháp như thế,
Mười
con đường tịnh nghiệp;
Đều
giữ gìn kiên cố,
Là
con đường sanh Thiên.
Bấy
giờ, Thiên tử kia lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn đời ái ân.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1300. MẠNG[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thích Đề-hoàn Nhân, vào lúc
cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi
lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu khắp vườn
Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Bấy giờ Thích Đề-hoàn
Nhân nói kệ hỏi Phật:
Pháp
gì mạng không biết?
Pháp
gì mạng không tỏ?[10]
Pháp
gì xiềng xích mạng?
Pháp
gì trói buộc mạng?[11]
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Sắc
pháp mạng không biết,
Các
hành mạng không tỏ;
Thân
xiềng xích mạng kia,
Ái
trói buộc mạng này.
Thích
Đề-hoàn Nhân lại nói kệ:
Sắc
chẳng phải là mạng,
Chư
Phật đã từng nói.
Làm
sao thuần thục được,
Nơi
tạng sâu thẳm kia?
Làm
sao trụ khối thịt,
Làm
sao biết mạng thân?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Ban
đầu ca-la-la,[12]
Từ
ca-la sanh bào;[13]
Từ
bào sanh khối thịt,
Khối
thịt thành dày cứng.
Thịt
dày sanh tứ chi,
Và
những thứ lông tóc;
Các
căn tình gồm sắc,
Dần
dần thành hình thể.
Nhờ
người mẹ ăn uống,
Nuôi
lớn bào thai kia.
Sau
khi Thích Đề-hoàn Nhân nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy
hỷ, đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1301. TRƯỜNG THẮNG[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Trường Thắng[15] dung
sắc tuyệt diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa
ánh sáng chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy giờ, Thiên tử kia nói kệ:
Khéo
học lời vi diệu,
Gần
gũi các Sa-môn;
Một
mình không bạn bè,
Chánh
tư duy tĩnh mặc.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Khéo
học lời vi diệu,
Gần
gũi các Sa-môn;
Một
mình không bạn bè,
Tịch
mặc tĩnh các căn.
Sau
khi Thiên tử Trường Thắng kia nghe những gì Phật nói, hoan
hỷ, tùy hỷ đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1302. THI-TÌ[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Thi-tì[17] dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Bấy giờ, Thiên
tử kia nói kệ hỏi Phật:
Nên
sống chung với ai?[18]
Cộng
sự cùng những ai?
Nên
biết những pháp gì,
Càng
thù thắng, phi ác?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Với
Chánh sĩ cùng ở.[19]
Cùng
Chánh sĩ cộng sự.
Nên
biết pháp Chánh sĩ,
Càng
thù thắng, phi ác.
Sau
khi Thiên tử Thi-tì kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy
hỷ đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1303. NGUYỆT TỰ TẠI[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Nguyệt Tự Tại[21]
dung sắc tuyệt diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật,
đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân
tỏa ánh sáng chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy giờ, Thiên tử Nguyệt Tự Tại kia nói kệ:
Kia
sẽ đến cứu cánh,
Như
muỗi nương theo cỏ.[22]
Nếu
được chánh hệ niệm,
Nhất
tâm khéo chánh thọ.[23]
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Kia
sẽ đến bờ kia,
Như
cá cắn rách lưới.
Trụ
thiền định đầy đủ,
Tâm
thường đạt hỷ lạc.
Sau
khi Thiên tử Nguyệt Tự Tại kia nghe những gì Phật nói, hoan
hỷ, tùy hỷ đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1304. VI-NỰU[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Tỳ-sấu-nữu[25] dung
sắc tuyệt diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa
ánh sáng chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy giờ, Thiên tử kia nói kệ:
Cúng
dường Đức Như Lai,
Thường
tăng trưởng hoan hỷ.
An
vui Chánh pháp luật,
Theo
học không phóng dật.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Nếu
nói pháp như vậy,
Phòng
hộ không phóng dật;
Vì
nhờ không phóng dật,
Không
bị ma chế ngự.
Thiên
tử Tỳ-sấu-nữu kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy
hỷ đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1305. BAN-XÀ-LA-KIỆN[26]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Ban-xà-la-kiện[27] dung
sắc tuyệt diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh
lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa
ánh sáng chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy giờ Thiên tử kia nói kệ:
Ở
ngay chỗ ồn ào,
Bậc
hiệt trí giác ngộ;
Giác
ngộ bằng thiền giác,
Sức
tư duy Mâu-ni.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Biết
rõ pháp náo nhiệt,
Chánh
giác được Niết-bàn.
Nếu
được chánh hệ niệm,
Nhất
tâm khéo chánh thọ.
Sau
khi Thiên tử Ban-xà-la-kiện kia nghe những gì Phật nói, hoan
hỷ, tùy hỷ đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1306. TU-THÂM[28]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Tu-thâm[29] cùng với
năm trăm quyến thuộc, dung sắc tuyệt diệu, vào lúc cuối
đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi lui
qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu khắp vườn Cấp
cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tôn giả
A-nan:
“A-nan,
đối với pháp Tôn giả Xá-lợi-phất đã khéo thuyết, tâm
ông có hỷ lạc không?”
A-nan
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có vậy. Những người nào không ngu, không si, có
trí tuệ, mà ở trong pháp Tôn giả Xá-lợi-phất đã khéo
thuyết, tâm lại không hỷ lạc? Vì sao? Vì Tôn giả Xá-lợi-phất
trì giới, đa văn, ít muốn, biết đủ, tinh cần viễn ly,
trụ vững chánh niệm, trí tuệ, chánh thọ, trí tuệ nhanh
nhạy, trí tuệ bén nhạy, trí tuệ xuất ly, trí tuệ quyết
định, trí tuệ lớn, trí tuệ rộng, trí tuệ sâu, trí tuệ
không ai bằng, thành tựu trí bảo[30], hay khéo giáo hóa, khai
thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ; cũng thường tán
thán khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ, luôn vì
tứ chúng thuyết pháp không mỏi mệt.”
Phật
bảo A-nan:
“Đúng
thế! Đúng thế! Như những gì ông đã nói, A-nan! Vì những
người không ngu, không si, có trí tuệ, nghe Tôn giả Xá-lợi-phất
khéo thuyết các thứ pháp, mà ai lại không hỷ lạc! Vì sao?
Vì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất trì giới, đa văn, ít muốn, biết
đủ, tinh cần chánh niệm, trí tuệ, chánh thọ, trí tuệ siêu
việt, trí tuệ nhanh nhạy, trí tuệ bén nhạy, trí tuệ xuất
ly, trí tuệ quyết định, trí tuệ lớn, trí tuệ rộng, trí
tuệ sâu, trí tuệ không ai bằng, thành tựu trí bảo, hay khéo
giáo hóa, khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ; cũng
thường tán thán việc khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho
hoan hỷ, luôn vì tứ chúng thuyết pháp không mỏi mệt.”
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy! Đúng vậy!”
Thế
Tôn hướng về Tôn giả A-nan khen ngợi Tôn giả Xá-lợi-phất
khéo thuyết pháp như vậy, như vậy. Thiên tử Tu-thâm cùng
quyến thuộc trong tâm hoan hỷ, từ thân hào quang càng thêm
sáng chói, thanh tịnh như vậy, như vậy. Bấy giờ, Thiên tử
Tu-thâm trong tâm hoan hỷ, từ thân phát ra ánh sáng thanh tịnh
chiếu sáng, liền nói kệ:
Xá-lợi-phất
đa văn,
Trí
sáng tuệ bình đẳng;
Trì
giới, khéo điều phục,
Được
Niết-bàn vô sanh.[31]
Thọ
trì thân tối hậu,
Hàng
phục các ma quân.
Sau
khi Thiên tử Tu Thâm cùng quyến thuộc nghe những gì Phật
nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến
mất.
*
KINH
1307. XÍCH MÃ[32]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Xích Mã[33], dung sắc
tuyệt diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh
sáng chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Bấy
giờ Thiên tử Xích Mã kia bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, có thể vượt qua biên tế thế giới, đến chỗ
không sanh, không già, không chết chăng?”
Phật
đáp Xích Mã:
“Không
thể vượt qua biên tế thế giới, đến chỗ không sanh, không
già, không chết được.”
Thiên
tử Xích Mã bạch Phật:
“Lạ
thay! Thế Tôn khéo nói nghĩa này! Như những gì Thế Tôn đã
nói: ‘Không thể vượt qua biên tế thế giới, đến chỗ
không sanh, không già, không chết được.’ Vì sao? Bạch Thế
Tôn, con tự nhớ kiếp trước tên là Xích Mã, làm Tiên nhân
ngoại đạo, đắc thần thông, lìa các ái dục. Lúc đó, con
tự nghĩ: ‘Ta có thần túc nhanh chóng như vậy, giống như
kiện sĩ, dùng mũi tên nhọn trong khoảnh khắc bắn xuyên qua
bóng cây đa-la, có thể lên một núi Tu-di đến một núi Tu-di,
cất bước từ biển Đông đến biển Tây.’ Lúc ấy con tự
nghĩ: ‘Nay ta đạt được thần lực nhanh chóng như vậy,
hôm nay có thể tìm đến biên tế của thế giới được chăng?’
Nghĩ vậy rồi liền khởi hành, chỉ trừ khi ăn, nghỉ, đại
tiểu tiện và giảm bớt ngủ nghỉ, đi mãi đến một trăm
năm, cho tới khi mạng chung, rốt cuộc không thể vượt đến
biên tế của thế giới, đến nơi không sanh, không già, không
chết.”
Phật
bảo Xích Mã:
“Nay
Ta chỉ bằng cái thân một tầm để nói về thế giới, về
sự tập khởi của thế giới, về sự diệt tận của thế
giới, về con đường đưa đến sự diệt tận của thế giới.
Này Thiên tử Xích Mã, thế giới là gì? Là năm thọ ấm.
Những gì là năm? Sắc thọ ấm, thọ thọ ấm, tưởng thọ
ấm, hành thọ ấm, thức thọ ấm. Đó gọi là thế giới.
“Thế
nào là sự tập khởi sắc? Ái đương lai hữu[34], câu hữu
với hỷ tham, ưa thích chỗ này chỗ kia. Đó gọi là sự tập
khởi của thế giới.
“Thế
nào là sự diệt tận thế giới? Sự diệt tận của ái đương
lai hữu, câu hữu với hỷ tham, ưa thích chỗ này chỗ kia;
đoạn tận, xả ly không còn sót, vô dục, tịch diệt, tịch
tĩnh. Đó gọi là sự diệt tận thế giới.
“Thế
nào là con đường đưa đến sự diệt tận thế giới? Tám
Thánh đạo: Chánh kiến, chánh trí, chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định. Đó
gọi là con đường đưa đến sự diệt tận thế giới.
“Này
Xích Mã, biết khổ thế giới, đoạn khổ thế giới; biết
sự tập khởi thế giới, đoạn sự tập khởi thế giới;
biết sự diệt tận thế giới, chứng sự diệt tận thế
giới; biết con đường đưa đến sự diệt tận thế giới,
tu con đường đưa đến sự diệt tận thế giới. Này Xích
Mã, nếu Tỳ-kheo nào đối với khổ thế giới, hoặc biết
hoặc đoạn; sự tập khởi thế giới, hoặc biết hoặc đoạn;
sự diệt tận thế giới, hoặc biết hoặc chứng; con đường
đưa đến sự diệt tận thế giới, hoặc biết hoặc tu, thì
này Xích Mã, đó gọi là đạt đến biên tế thế giới, qua
khỏi ái thế gian.”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ lập lại:
Không
bao giờ dạo xa,
Mà
đến biên thế giới.
Chưa
đến biên thế giới,
Trọn
không hết biên khổ.
Vì
vậy nên Mâu-ni,
Biết
biên tế thế giới.
Khéo
rõ biên thế giới,
Các
phạm hạnh đã lập.
Đối
biên thế giới kia,
Bình
đẳng mà giác tri;
Đó
gọi hạnh Hiền thánh,
Qua
bờ kia thế gian.
Sau
khi Thiên tử Xích Mã nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy
hỷ, đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1308. NGOẠI ĐẠO[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Phật trú bên núi Tỳ-phú-la, thành Vương xá, có sáu
Thiên tử, vốn là xuất gia ngoại đạo. Một tên là A-tỳ-phù,
hai là Tăng thượng A-tỳ-phù, ba là Năng Cầu, bốn là Tỳ-lam-bà,
năm là A-câu-tra, sáu là Ca-lam[36], đến chỗ Phật.
Thiên
tử A-tỳ-phù nói kệ:
Tỳ-kheo
chuyên chú tâm,
Thường
tu hạnh yểm ly;
Ở
đầu đêm, cuối đêm,
Tư
duy khéo tự nhiếp.
Thấy
nghe những lời kia,
Không
rơi vào địa ngục.
Thiên
tử Tăng thượng A-tỳ-phù lại nói kệ:
Yểm
ly chỗ đen tối,
Tâm
thường tự nhiếp hộ;
Vĩnh
viễn lìa thế gian,
Tranh
ngôn ngữ, luận pháp.
Theo
Đại Sư Như Lai,
Xin
thọ pháp Sa-môn;
Khéo
nhiếp hộ thế gian,
Không
tạo các điều ác.
Thiên
tử Năng Cầu lại nói kệ:
Đoạn
hẳn đánh, đập, giết,
Cúng
dường cho Ca-diếp;
Không
thấy đó là tội,
Cũng
không thấy là phước.
Thiên
tử Tỳ-lam-bà lại nói kệ:
Con
nói Ni-càn kia,
Ngoại
đạo Nhã-đề Tử[37];
Xuất
gia, hành học đạo,
Thường
luôn tu hạnh khó.
Đối
đồ chúng Đại Sư,
Xa
lìa lời nói dối.
Con
nói người như vậy,
Không
xa bậc La-hán.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Con
hồ ly gầy chết,
Thường
đi cùng sư tử,
Suốt
ngày, vẫn nhỏ, yếu,
Không
thể thành sư tử.
Chúng
Đại sư Ni-càn,
Hư
vọng tự xưng tán;
Là
nói dối ác tâm,
Cách
rất xa La-hán.
Bấy
giờ, Thiên ma Ba-tuần dựa vào Thiên tử A-câu-tra nói kệ:
Tinh
cần bỏ tối tăm,
Thường
giữ gìn viễn ly;
Đắm
nhiễm sắc vi diệu,
Ham
thích cõi Phạm thế.
Ta
giáo hóa chúng này,
Để
được sanh Phạm thiên.
Khi
ấy Thế Tôn liền tự nghĩ: ‘Bài kệ mà Thiên tử A-câu-tra
đã nói này, là do Thiên ma Ba-tuần thêm sức vào, chứ không
phải do tự tâm Thiên tử A-câu-tra kia nói:
Tinh
cần bỏ tối tăm,
Thường
giữ gìn viễn ly;
Đắm
nhiễm sắc vi diệu,
Ham
thích cõi Phạm thế.
Ta
giáo hóa chúng này,
Để
được sanh Phạm thiên.
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ:
Nếu
những gì là sắc,
Ở
đây hay ở kia;
Hoặc
ở trong hư không,
Sáng
chiếu rực mỗi khác.
Nên
biết tất cả kia,
Không
lìa ma, ma trói;
Giống
như mồi lưỡi câu,
Câu
cá đang lượn chơi.
Khi
ấy những Thiên tử kia đều nghĩ rằng: ‘Hôm nay Thiên tử
A-câu-tra nói kệ, mà Sa-môn Cù-đàm nói là ma nói. Vì sao Sa-môn
Cù-đàm nói là ma nói?’
Bấy
giờ, Thế Tôn biết những ý nghĩ trong tâm các Thiên tử nên
bảo rằng:
“Nay
Thiên tử A-câu-tra nói kệ, nhưng chẳng phải tự tâm Thiên
tử kia nói mà là do sức của Ma Ba-tuần dựa vào nên mới
nói:
Tinh
cần bỏ tối tăm,
Thường
giữ gìn viễn ly;
Đắm
nhiễm sắc vi diệu,
Ham
thích cõi Phạm thế.
Nên
giáo hóa chúng này,
Để
được sanh Phạm thiên.
Cho
nên, Ta nói kệ:
Nếu
những gì là sắc,
Ở
đây hay ở kia;
Hoặc
ở trong hư không,
Sáng
chiếu rực mỗi khác.
Nên
biết tất cả kia,
Không
lìa ma, ma trói;
Giống
như mồi lưỡi câu,
Câu
cá đang lượn chơi.
Khi
ấy các Thiên tử lại tự nghĩ: ‘Lạ thay! Sa-môn Cù-đàm
thần lực, oai đức lớn mới có thể thấy được Thiên ma
Ba-tuần, còn chúng ta thì không thấy. Chúng ta mỗi người
hãy làm kệ tán thán Sa-môn Cù-đàm.’ Liền nói kệ:
Đoạn
trừ đối tất cả,
Tưởng
tham ái hữu thân;
Khiến
người khéo giữ này,
Trừ
tất cả vọng ngữ.
Nếu
muốn đoạn dục ái,
Nên
cúng dường Đại Sư;
Đoạn
trừ ba hữu ái,
Phá
hoại đối nói dối.
Đối
kiến tham đã đoạn,
Nên
cúng dường Đại Sư.
Đệ
nhất thành Vương xá;
Tên
núi Tỳ-phú-la;
Tuyết
sơn hơn các núi,
Kim
sí vua loài chim;
Tám
phương, trên và dưới,
Tất
cả cõi chúng sanh;
Ở
trong các Trời, Người,
Tối
thượng Đẳng Chánh Giác.
Sau
khi các Thiên tử nói kệ tán thán Phật rồi và nghe những
gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ dưới chân Phật,
liền biến mất.
*
KINH
1309. MA-GIÀ[38]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Ma-già[39] dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên, từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Bấy giờ, Thiên
tử Ma-già nói kệ hỏi Phật:
Giết
gì được ngủ yên?
Giết
gì được hỷ lạc?
Giết
những hạng người nào,
Được
Cù-đàm tán thán?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Nếu
giết hại sân nhuế,
Giấc
ngủ được an ổn.
Sự
giết hại sân nhuế,
Khiến
người được hỷ lạc.
Sân
nhuế là gốc độc,
Ta
khen người giết được.
Giết
sân nhuế kia rồi,
Đêm
dài không lo lắng.
Sau
khi Thiên tử Ma-già nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ
đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1310. DI-KÌ-CA[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Di-kỳ-ca[41] dung sắc
tuyệt diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh
sáng chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Bấy
giờ, Thiên tử kia nói kệ hỏi Phật:
Có
mấy loại chiếu sáng,
Luôn
chiếu sáng thế gian?
Cúi
xin Thế Tôn nói,
Ánh
sáng nào tối thượng?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Có
ba loại ánh sáng,
Luôn
soi sáng thế gian;[42]
Mặt
trời chiếu ban ngày,
Ban
đêm ánh trăng rọi.
Ánh
đèn chiếu ngày đêm,
Chiếu
soi mọi cảnh tượng.
Trên
dưới và các phương,
Chúng
sanh nhờ soi sáng.
Trong
ánh sáng Trời, Người,
Ánh
sáng Phật hơn hết.
Phật
nói kinh này xong, Thiên tử Di-kỳ-ca nghe những gì Phật nói,
hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1311. ĐÀ-MA-NI[43]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Thiên tử Đà-ma-ni[44] dung sắc
tuyệt diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh
sáng chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Bấy
giờ, Thiên tử kia nói kệ hỏi Phật:
Phận
sự Bà-la-môn,
Học
hết chớ mỏi mệt.
Đoạn
trừ các ái dục,
Không
cầu thọ thân sau.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Bà-la-môn
vô sự,