TẠP
A-HÀM QUYỂN 48
KINH
1267. SỬ LƯU[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử tướng mạo tuyệt
vời, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ chân
Phật, rồi ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên tử này
bạch Phật:
“Thế
Tôn, Tỳ-kheo[2], Tỳ-kheo vượt qua dòng xiết chăng?”
“Thiên
tử! Đúng vậy.”
Thiên
tử lại hỏi:
“Không
chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ, mà vượt qua dòng xiết
chăng?”
Phật
bảo:
“Thiên
tử! Đúng vậy.”
Thiên
tử lại hỏi:
“Không
chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ mà vượt qua dòng xiết,
ý nghĩa ấy thế nào?”
Phật
bảo:
“Này
Thiên tử, Ta ôm chặt như vậy, như vậy, tiến thẳng như
vậy, như vậy; không bị nước cuốn trôi. Không ôm chặt
như vậy, như vậy, không tiến thẳng như vậy, như vậy, thì
bị nước cuốn trôi[3]. Thiên tử, như vậy gọi là không
chỗ vin duyên, cũng không chỗ trụ mà vượt qua dòng xiết.”
Khi
ấy Thiên tử kia nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn
Đã
đạt Bát-niết-bàn;[4]
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn ái ân đời.[5]
Thiên
tử kia nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
chân Phật, rồi biến mất.
*
KINH
1268. GIẢI THOÁT[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử tướng mạo tuyệt
vời, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân
Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên tử kia
bạch Phật:
“Này
Tỳ-kheo, biết sự quyết định giải thoát, giải thoát rộng,
giải thoát cực rộng[7] của tất cả chúng sanh bị đắm
trước, bị tập khởi chăng?”
Phật
bảo Thiên tử:
“Ta
tất biết sự quyết định giải thoát, giải thoát rộng,
giải thoát cực rộng của tất cả chúng sanh bị đắm trước,
bị tập khởi.”
Thiên
tử bạch Phật:
“Tỳ-kheo,
làm thế nào để biết sự quyết định giải thoát, giải
thoát rộng, giải thoát cực rộng của tất cả chúng sanh
bị đắm trước, bị tập khởi?”
Phật
bảo Thiên tử:
“Ái,
hỷ diệt tận, tâm Ta giải thoát. Do tâm đã giải thoát nên
biết sự quyết định giải thoát, giải thoát rộng, giải
thoát cực rộng của tất cả chúng sanh bị đắm trước,
bị tập khởi.”
Khi
ấy Thiên tử kia nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn ái ân đời.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
sát chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1269. CHIÊN-ĐÀN[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử tướng mạo tuyệt
vời, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ chân
Phật, rồi ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên tử ấy
bạch Phật:
Ai
vượt các dòng thác,
Ngày
đêm siêng tinh tấn;
Không
vin cũng không trụ,
Nhiễm
gì mà không dính?[9]
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Tất
cả giới đầy đủ,
Trí
tuệ, khéo chánh thọ;[10]
Trong
tư duy, buộc niệm,
Qua
nạn, vượt các dòng.
Nơi
dục tưởng không ham,
Nơi
sắc kết vượt qua;
Không
bám cũng không trụ,
Nơi
nhiễm cũng không dính.[11]
Khi
ấy Thiên tử lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn ái ân đời.
Sau
khi Thiên tử kia nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ
đảnh lễ sát chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1270. CÂU-CA-NI (1)[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Câu-ca-ni là con gái của Quang
minh thiên[13], dung sắc tuyệt vời, vào lúc cuối đêm, đi
đến chỗ Phật, đảnh lễ chân Phật, ngồi lui qua một bên,
từ thân tỏa ánh sáng chiếu khắp Sơn cốc.
Lúc
ấy, Thiên nữ Câu-ca-ni nói kệ:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng.
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Phật
bảo Thiên nữ:
“Đúng
vậy! Đúng vậy!”
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng.
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Thiên
nữ Câu-ca-ni nghe Phật nói xong, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ
sát chân Phật, liền biến mất.
Bấy
giờ, Thế Tôn, khi đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, vào giữa
Tăng, trải tọa cụ ngồi trước đại chúng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cuối
đêm qua, có Thiên nữ Câu-ca-ni, dung sắc tuyệt diệu đến
chỗ Ta, đảnh lễ sát chân, ngồi lui qua một bên nói kệ:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng.
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
“Ta
liền đáp: ‘Đúng vậy! Đúng vậy!’
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng.
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
“Khi
nói những lời này, Thiên nữ Câu-ca-ni nghe những gì Ta nói,
hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ sát chân Ta, liền biến mất.”
Sau
khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật
dạy, hoan hỷ phụng hành.
*
KINH
1271. CÂU-CA-NI (2)[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tinh xá Sơn cốc, thành Vương xá. Bấy
giờ, Tôn giả A-nan nói với các Tỳ-kheo:
“Nay
tôi sẽ nói kinh Tứ cú pháp, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ,
tôi sẽ vì các thầy mà nói. Thế nào là kinh Tứ cú pháp?”
Bấy
giờ, Tôn giả A-nan liền nói kệ:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng.
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
“Này
các Tỳ-kheo, đó gọi là kinh Tứ cú pháp.”
Khi
ấy, cách Tôn giả A-nan không xa, có một Bà-la-môn đang dạy
các Bà-la-môn thiếu niên đọc tụng kinh. Bấy giờ, Bà-la-môn
kia tự nghĩ: ‘Bài kệ mà Sa-môn A-nan đã nói, đối với
kinh mà ta đã nói, thì đó là phi nhân[15] nói.’ Bà-la-môn
kia liền đến chỗ Phật, sau khi chào hỏi, ủy lạo Thế Tôn
xong, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Thưa
Cù-đàm, Sa-môn A-nan đã nói kệ rằng:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng, trong đời.
Năm
dục đều hư vọng.
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
“Những
điều được nói như vậy, thật sự đó là lời của phi
nhân, không phải của người.”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Đúng
vậy! Đúng vậy! Bà-la-môn, đó là phi nhân nói không phải
người nói.
“Bấy
giờ, có Thiên nữ Câu-ca-ni đến chỗ Ta, đảnh lễ sát chân
Ta, ngồi lui qua một bên, nói kệ rằng:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng.
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
“Ta
liền trả lời:
“Đúng
vậy! Đúng vậy! Như Thiên nữ đã nói:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng.
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
“Cho
nên Bà-la-môn, nên biết, những điều trong bài kệ này nói
là do phi nhân nói, không phải người nói.”
Phật
nói kinh này xong, Bà-la-môn kia nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ đảnh lễ sát chân Phật, ra về.
*
KINH
1272. CÂU-CA-NI (3)
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tinh xá Sơn cốc, thành Vương xá. Bấy
giờ, có Thiên nữ Câu-ca-na-sa là con gái của Quang minh thiên,
phát ra ánh chớp lớn sáng rực, quy Phật, quy Pháp, quy Tỳ-kheo
Tăng, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ chân Phật, rồi ngồi
lui qua một bên; từ thân tỏa ra ánh sáng chiếu khắp Sơn
cốc, ở trước Phật, liền nói kệ:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo Thiên nữ:
“Đúng
vậy! Đúng vậy! Như những gì ngươi đã nói:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.”
Bấy
giờ, Thiên nữ Câu-ca-na-sa nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ
tùy hỷ, đảnh lễ sát chân Phật, liền biến mất.
Khi
đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Thế Tôn vào giữa Tăng, trải
tọa cụ ngồi trước đại chúng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cuối
đêm qua, Thiên nữ Câu-ca-na-sa là con gái của Quang minh thiên,
đến chỗ Ta, cúi đầu đảnh lễ sát chân Ta, ngồi lui qua
một bên, nói kệ:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Lúc
ấy, Ta liền đáp:
“Đúng
vậy Thiên nữ! Đúng vậy Thiên nữ! Như những gì ngươi đã
nói:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Thiên
nữ Câu-ca-na,
Ánh
chớp sáng rực rỡ;
Kính
lễ Phật, Pháp, Tăng,
Nói
kệ nghĩa lợi ích.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1273. CÂU-CA-NI (4)[16]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tinh xá Sơn cốc, tại thành Vương xá.
Bấy giờ, có Câu-ca-na-sa là con gái của Quang minh thiên[17],
phóng ra điện chớp, ánh sáng chói lọi, vào lúc cuối đêm,
đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật, rồi ngồi lui
qua một bên; từ thân kia tỏa ra ánh sáng chiếu khắp Sơn
cốc, ở trước Phật, liền nói kệ:
Con
có thể diễn rộng,
Chánh
pháp luật Như Lai;
Nhưng
nay chỉ nói lược,
Đủ
để tỏ lòng con.
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Thế
Tôn bảo Thiên nữ:
“Đúng
vậy Thiên nữ! Đúng vậy Thiên nữ! Như lời ngươi đã nói:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Thiên
nữ Câu-ca-na-sa nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ,
làm lễ, liền biến mất.
Qua
sáng sớm hôm sau, bấy giờ Thế Tôn vào trước Tăng chúng,
trải tọa cụ ngồi giữa đại chúng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cuối
đêm qua, Thiên nữ Câu-ca-na-sa lại đến chỗ Ta, cung kính
làm lễ, ngồi lui qua một bên, nói kệ:
Con
có thể diễn rộng,
Chánh
pháp luật Như Lai;
Nhưng
nay chỉ nói lược,
Đủ
để tỏ lòng con.
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Lúc
ấy, Ta trả lời:
“Đúng
vậy Thiên nữ! Đúng vậy Thiên nữ! Như lời ngươi đã nói:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
“Thiên
nữ kia nghe những gì Ta nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh lễ sát
chân Ta, liền biến mất.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1274. CÂU-CA-NI (5)[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở bên ao Di-hầu, trong giảng đường Trùng
các, nước Tỳ-xá-ly. Bấy giờ, có Thiên nữ Câu-ca-na-sa,
Thiên nữ Châu-lô-đà[19] dung sắc tuyệt diệu, vào lúc cuối
đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ chân Phật, rồi ngồi lui
qua một bên; từ thân tỏa ra ánh sáng chiếu khắp cạnh bờ
ao Di-hầu. Lúc này, Thiên nữ Châu-lô-đà nói kệ bạch Phật:
Đại
Sư Đẳng Chánh Giác,
Ở
nước Tỳ-xá-ly.
Câu-ca-na,
Châu-lô,
Xin
cung kính đảnh lễ.
Xưa
con chưa từng nghe,
Chánh
pháp luật Mâu-ni;
Nay
đích thân được gặp,
Hiện
tiền nói chánh pháp.
Nếu
đối pháp luật Thánh,
Ác
tuệ sanh chán ghét,
Ắt
sẽ rơi đường ác,
Chịu
các khổ lâu dài.
Nếu
đối pháp luật Thánh,
Chánh
niệm đủ luật nghi,
Người
kia sanh lên Trời,
Được
an vui lâu dài.
Thiên
nữ Câu-ca-na-sa lại nói kệ:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Thế
Tôn bảo Thiên nữ:
“Đúng
vậy! Đúng vậy! Như những gì các ngươi đã nói:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Các
Thiên nữ kia nghe những gì Phật dạy hoan hỷ, tùy hỷ, rồi
biến mất.
Qua
sáng sớm hôm sau, bấy giờ Thế Tôn vào trong Tăng chúng, trải
tọa cụ mà ngồi, bảo các Tỳ-kheo:
“Cuối
đêm qua có hai Thiên nữ nhan sắc tuyệt vời, đến chỗ Ta,
vì Ta làm lễ, ngồi lui qua một bên, Thiên nữ Châu-lô-đà
nói kệ:
Đại
Sư Đẳng Chánh Giác,
Ở
nước Tỳ-xá-ly;
Con
Câu-ca-na-sa,
Và
cùng Châu-lô-đà;
Hai
Thiên nữ chúng con,
Đảnh
lễ sát chân Phật.
Xưa
con chưa từng nghe,
Chánh
pháp luật Mâu-ni;
Nay
mới thấy Chánh giác,
Diễn
nói pháp vi diệu.
Nếu
đối pháp luật Thánh,
Chán
ghét trụ ác tuệ;
Ắt
rơi vào đường ác,
Chịu
khổ lớn lâu dài.
Nếu
đối pháp luật Thánh,
Chánh
niệm đủ luật nghi;
Sanh
lên Trời, đường lành,
Được
an vui lâu dài.
Thiên
nữ Câu-ca-na-sa lại nói kệ:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.
Lúc
ấy, Ta đáp:
“Đúng
vậy! Đúng vậy! Như những gì ngươi đã nói:
Tâm
kia không tạo ác,
Và
thân, miệng; trong đời
Năm
dục đều hư vọng,
Chánh
trí, chánh buộc niệm.
Không
tập cận các khổ,
Cùng
hòa hợp phi nghĩa.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, phụng hành.
*
KINH
1275. XÚC[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát
chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Lúc đó, Thiên
tử kia nói kệ:
Không
xúc, không báo xúc[21],
Có
xúc, có báo xúc.
Do
vì xúc, báo xúc,
Không
sân, không rời sân.[22]
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Đừng
đối người không sân,
Chống
lại bằng sân hận.
Bậc
Chánh sĩ thanh tịnh,
Lìa
các phiền não kết,
Với
họ khởi tâm ác,
Tâm
ác trở lại mình.
Như
nghịch gió tung bụi,
Bụi
kia lại dính mình.[23]
Thiên
tử kia lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn ái ân đời.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật đã nói, hoan hỷ, tùy hỷ cúi đầu
lễ sát chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1276. AN LẠC[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát
chân Phật, ngồi lui qua một bên; từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Lúc đó, Thiên
tử ấy nói kệ:
Việc
làm người ngu si,
Không
hợp với trí tuệ;
Việc
ác do mình làm,
Là
bạn ác của mình.
Tạo
ra nhiều ác hành,
Cuối
cùng chịu báo khổ.
Bấy
giờ Thế Tôn nói kệ đáp:
Đã
tạo nghiệp bất thiện,
Cuối
cùng chịu khổ não;
Tạo
nghiệp tuy hoan hỷ,
Thọ
báo thì kêu khóc.
Người
tạo các nghiệp thiện,
Cuối
cùng không khổ não;
Khi
tạo nghiệp hoan hỷ,
Khi
thọ báo an vui.
Khi
ấy, Thiên tử kia lại nói kệ:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn ái ân đời.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật đã nói, hoan hỷ, tùy hỷ đảnh
lễ sát chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1277. HIỀM TRÁCH[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử dung sắc tuyệt
diệu, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát
chân Phật, ngồi lui qua một bên, từ thân tỏa ánh sáng chiếu
khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Lúc đó, Thiên
tử kia nói kệ:
Không
thể chỉ nói suông,
Cũng
không một mực nghe,
Mà
đạt được đạo tích,
Kiên
cố thẳng vượt qua.
Tư
duy khéo tịch diệt,
Giải
thoát các ma phược.
Làm
được mới đáng nói;
Không
được, không nên nói.
Người
không làm mà nói,
Thì
người trí biết sai.
Không
làm điều nên làm;
Không
làm mà nói làm,
Là
đồng với giặc quấy.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo Thiên tử:
“Nay
ông có điều gì hiềm trách chăng?”[26]
Thiên
tử bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con hối lỗi. Bạch Thiện Thệ, con hối lỗi.”
Bấy
giờ, Thế Tôn mỉm cười vui vẻ. Lúc ấy, Thiên tử kia lại
nói kệ:
Nay
con xin hối lỗi,
Thế
Tôn không nạp thọ;
Trong
lòng ôm tâm ác,
Oán
hờn mà không bỏ.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Chỉ
nói lời hối lỗi,
Trong
tâm kia không dừng;
Làm
sao dứt được oán,
Mà
gọi là tu thiện?
Lúc
ấy, Thiên tử kia lại nói kệ:
Ai
không có lỗi kia?
Người
nào không có tội?
Ai
lại không ngu si?
Ai
thường hay kiên cố?
Thiên
tử kia lại nói kệ tiếp:
Lâu
thấy Bà-la-môn,
Đã
đạt Bát-niết-bàn;
Qua
rồi mọi sợ hãi,
Vượt
hẳn ái ân đời.
Thiên
tử kia nghe những gì Phật đã nói, hoan hỷ, tùy hỷ cúi đầu
lễ sát chân Phật, liền biến mất.
*
KINH
1278. CÙ-CA-LÊ[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành
Vương xá. Bấy giờ, có Tỳ-kheo Cù-ca-lê[28] là bè đảng
Đề-bà-đạt-đa, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân Phật,
ngồi lui qua một bên. Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo Cù-ca-lê:
“Này
Cù-ca-lê, vì sao đối với phạm hạnh thanh tịnh của Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên, ngươi khởi tâm không thanh tịnh, để
sẽ phải chịu khổ não lâu dài, không lợi ích.”
Tỳ-kheo
Cù-ca-lê bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nay con tin lời Thế Tôn, những điều đó là đúng.
Nhưng tâm Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên có ác dục.”
Nói
như vậy lần thứ hai, lần thứ ba. Tỳ-kheo Cù-ca-lê thuộc
bè đảng Đề-bà-đạt-đa ở chỗ Thế Tôn, trong khi nói lại
lần thứ ba, chống đối, không nhận chịu, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy bỏ đi. Sau khi đứng dậy bỏ đi, khắp người
ông nổi đầy mụt nhọt giống như trái lật, dần dần to
lên như trái đào. Khi ấy Tỳ-kheo Cù-ca-lê đau đớn thống
khổ, miệng kêu lên: ‘Nóng quá! Nóng quá!’ Máu mủ chảy
ra, thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục lớn Bát-đàm-ma[29].
Bấy
giờ, có ba vị Thiên tử dung mạo tuyệt vời, vào lúc cuối
đêm, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật, ngồi
lui qua một bên. Lúc ấy, một Thiên tử bạch Phật:
“Tỳ-kheo
Cù-ca-lê thuộc bè đảng Đề-bà-đạt-đa nay mạng chung.”
Thiên
tử thứ hai thưa:
“Chư
tôn nên biết, Tỳ-kheo Cù-ca-lê mạng chung rơi vào địa ngục.”
Thiên
tử thứ ba liền nói kệ:
Con
người sanh ở đời,
Búa
sanh từ trong miệng,
Trở
lại chém thân mình,
Đó
do lời nói ác.
Đáng
chê lại khen ngợi;
Đáng
khen ngợi lại chê.
Tội
này sanh nơi miệng,
Chết
rơi vào đường ác.
Cờ
bạc mất hết của,
Phải
quấy là lỗi lớn;
Hủy
Phật cùng Thanh văn,
Thì
đó là tội lớn.
Ba
vị Thiên tử kia nói kệ này rồi liền biến mất. Qua sáng
sớm hôm sau, bấy giờ Thế Tôn đi vào trong Tăng, trải chỗ
ngồi, ngồi trước đại chúng, bảo các Tỳ-kheo:
“Cuối
đêm qua, có ba vị Thiên tử đến chỗ Ta, đảnh lễ sát chân
Ta, ngồi lui qua một bên. Thiên tử thứ nhất thưa Ta rằng:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo Cù-ca-lê thuộc bè đảng Đề-bà-đạt-đa
nay mạng chung.
“Thiên
tử thứ hai nói với chư Thiên khác rằng:
“Tỳ-kheo
Cù-ca-lê mạng chung, rơi vào địa ngục.”
“Thiên
tử thứ ba liền nói kệ:
“Con
người sanh ở đời,
Búa
sanh từ trong miệng,
Trở
lại chém thân mình,
Đó
do lời nói ác.
Đáng
chê lại khen ngợi,
Đáng
khen ngợi lại chê.
Tội
này sanh nơi miệng,
Chết
rơi vào đường ác.
“Sau
khi nói kệ này rồi liền biến mất.
“Này
các Tỳ-kheo, các ông có muốn nghe kỳ hạn thọ mạng của
chúng sanh sanh vào địa ngục A-phù-đà[30] không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nay chính đúng lúc, cúi xin Thế Tôn vì đại chúng
nói về kỳ hạn thọ mạng của chúng sanh trong địa ngục
A-phù-đà. Các Tỳ-kheo nghe xong sẽ lãnh thọ phụng hành.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Hãy
lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà giảng nói.
Thí như tại nước Câu-tát-la bốn thăng là một a-la, bốn
a-la là một độc-lung-na, mười sáu độc-lung-na là một xà-ma-na,
mười sáu xà-ma-na là một ma-ni, hai mươi ma-ni là một khư-lê[31],
hai mươi khư-lê là một kho hạt cải đầy trong đó[32]. Giả
sử, nếu có người, cứ một trăm năm lấy một hạt cải,
như vậy cho đến khi hết sạch kho hạt cải đầy kia, thọ
mạng của chúng sanh trong địa ngục A-phù-đà vẫn chưa hết.
Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa ngục A-phù-đà
như vậy bằng một thọ mạng của chúng sanh trong địa ngục
Ni-la-phù-đà[33]. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa
ngục Ni-la-phù-đà bằng thọ mạng của chúng sanh trong địa
ngục A-tra-tra[34]. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa
ngục A-tra-tra bằng thọ mạng của chúng sanh trong một địa
ngục A-ba-ba[35]. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa
ngục A-ba-ba bằng thọ mạng của chúng sanh trong một địa
ngục A-hưu-hưu[36]. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi
địa ngục A-hưu-hưu bằng thọ mạng của chúng sanh trong một
địa ngục Ưu-bát-la[37]. Thọ mạng của chúng sanh trong hai
mươi địa ngục Ưu-bát-la bằng thọ mạng của chúng sanh
trong một địa ngục Bát-đàm-ma. Thọ mạng của chúng sanh
trong hai mươi địa ngục Bát-đàm-ma bằng thọ mạng của
chúng sang trong một địa ngục Ma-ha Bát-đàm-ma.
“Này
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Cù-ca-lê mạng chung rơi vào địa ngục Ma-ha
Bát-đàm-ma, vì Tỳ-kheo này đối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
sanh ác tâm phỉ báng. Cho nên, các Tỳ-kheo, nên học như vầy:
Ở nơi chỗ tim đèn, mồi lửa đang cháy kia còn không muốn
hủy hoại, huống là hủy hoại chúng sanh có thức.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo: “Hãy học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1279.[38]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có một Thiên tử tướng mạo tuyệt,
vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân Phật,
ngồi lui qua một bên, từ thân tỏa ánh sáng chiếu khắp vườn
Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà. Thiên tử kia nói kệ hỏi
Phật:
Thoái
lạc, bị đánh bại
Làm
sao mà biết được?
Cúi
xin Thế Tôn nói,
Cửa
bại vong thế nào?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Chỗ
thắng dễ biết được,
Chỗ
bại biết cũng dễ;
Pháp
lạc chỗ thắng xứ,
Hủy
pháp là bại vong.
Ưa
thích tri thức ác,
Không
ưa tri thức thiện;
Sanh
oán kết bạn lành,
Đó
gọi cửa bại vong.
Ưa
thích người bất thiện,
Người
thiện lại ganh ghét;
Muốn
ác, không muốn thiện,
Đó
gọi cửa bại vong.
Đấu,
cân, lừa dối người,
Đó
gọi cửa bại vong.
Đam
mê rượu, cờ bạc,
Chơi
bời mê nữ sắc;
Tiêu
tan hết của cải,
Đó
gọi cửa bại vong.
Người
nữ không tự giữ,
Bỏ
chồng theo người khác;
Người
nam tính phóng đảng,
Bỏ
vợ theo ngoại sắc.
Những
gia đình như vậy,
Đều
đọa cửa bại vong.
Vợ
già lấy chồng trẻ,
Tâm
thường hay ghen ghét;
Ghen
ghét nằm không yên,
Đó
gọi cửa bại vong.
Chồng
già lấy vợ trẻ,
Đoạ
bại vong cũng vậy.
Thường
thích mê ngủ nghỉ,
Bạn
bè cùng đi chơi.
Biếng
lười, ưa sân hận,
Chúng
rơi cửa bại vong.
Nhiều
của kết bạn bè,
Ăn
uống không điều độ;
Tiêu
tan nhiều của cải,
Chúng
rơi cửa bại vong.
Ít
của nhi