TẠP
A-HÀM QUYỂN 46
KINH
1222. TỔ CHIM[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
thời quá khứ, chư Thiên và A-tu-la dàn trận đánh nhau. A-tu-la
thắng, chư Thiên thua. Lúc ấy, quân của Thiên đế Thích thua,
thoái lui tan rã, nên rất sợ hãi, quay xe chạy theo hướng
Bắc, trở về cung trời, qua đường tắt trong rừng rậm dưới
chân núi Tu-di. Nơi đây có một tổ Kim sí điểu[2], có nhiều
chim con cánh vàng. Lúc ấy Đế Thích sợ xe ngựa đi qua sẽ
cán chết những chim con, liền bảo người đánh xe rằng:
“Hãy
quay xe lại, chớ giết những chim con!”
Người
đánh xe tâu vua:
“Quân
A-tu-la đang đuổi theo người phía sau, nếu quay xe lại sẽ
bị khốn.”
Đế
Thích bảo:
“Thà
nên quay lại bị A-tu-la giết, chứ không để quân lính dẫm
chết chúng sanh.”
Người
đánh xe, quay xe trở lại hướng Nam. Quân A-tu-la từ xa trông
thấy xe Đế Thích quay lại, cho rằng đó là chiến sách nên
vội rút lui lại. Quân lính rất sợ hãi, thua trận chạy tán
loạn trở về cung A-tu-la.
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Thiên
đế Thích kia là vua Tự tại của trời Tam thập tam, nhờ
từ tâm nên có oai lực dẹp được quân A-tu-la và cũng thường
tán thán công đức từ tâm. Tỳ-kheo các ông chánh tín xuất
gia học đạo, không nhà, phải tu tập từ tâm và cũng nên
tán thán công đức từ tâm.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1223. NGƯỜI NGHÈO[3]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành
Vương xá. Bấy giờ, trong thành Vương xá có một người bần
cùng, khổ cực, nhưng tin[4] Phật, Pháp và Tăng, giữ gìn cấm
giới, học rộng nghe nhiều, ra sức bố thí, thành tựu chánh
kiến. Người này sau khi mạng chung được sanh lên trời. Sau
khi sanh về cõi trời Tam thập tam, có ba điểm thù thắng hơn
những vị trời Tam thập tam khác. Những gì là ba? Đó là
được tuổi thọ trời, sắc đẹp trời, tiếng khen trời.
Các trời Tam thập tam thấy Thiên tử này có ba đặc biệt
hơn về tuổi thọ trời, sắc đẹp trời, tiếng khen trời;
họ thấy rồi, bèn đến chỗ Thiên đế Thích, nói như vầy:
“Kiều-thi-ca
nên biết, có một Thiên tử vừa sanh cõi trời này; đối
với những vị Thiên tử cũ, có ba đặc thù hơn là tuổi
thọ trời, sắc đẹp trời, tiếng khen trời.”
Khi
ấy Thiên đế Thích nói với Thiên tử này rằng:
“Chư
Nhân giả, tôi biết người này trước đây làm một người
bần cùng nghèo khổ ở thành Vương xá, nhưng đối với pháp
luật của Như Lai, rất có lòng tin,... cho đến thành tựu
chánh kiến. Cho nên, khi thân hoại mạng chung được sanh lên
cõi trời này và có điểm thù thắng hơn những vị trời
Tam thập tam khác, là tuổi thọ trời, sắc đẹp trời, tiếng
khen trời.”
Rồi
Thiên đế Thích liền nói kệ:
Chánh
tín đối Như Lai,
Nhất
định không dao động;
Thọ
trì giới chân thật,
Không
nhàm chán Thánh giới.
Đối
Phật tâm thanh tịnh,
Đối
chánh kiến thành tựu;
Nên
biết không nghèo khổ,
Tự
sống không vô ích.
Nên
đối Phật, Pháp, Tăng,
Khởi
lòng tin thanh tịnh;
Trí
tuệ càng sáng hơn,
Nhớ
nghĩ lời Phật dạy.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1224. ĐẠI TẾ TỰ (1)[5]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành
Vương xá. Bấy giờ, dân chúng thành Vương xá mở đại hội
rộng rãi, mời hết các đạo khác nhau.
Có
một người ngoại đạo Giá-la-ca[6] tự nghĩ: ‘Nay ta thỉnh
vị Trời ngoại đạo là Giá-la-ca[7] làm phước điền trước.’
Hoặc những người theo ngoại đạo xuất gia; hoặc người
theo đạo Ni-kiền Tử; hoặc người theo đạo Lão đệ tử;
hoặc theo đệ tử đạo thờ lửa. Trong đó có những người
theo Tăng đệ tử Phật, tự nghĩ: ‘Nay hãy trước hãy thỉnh
Tăng mà đứng đầu là Phật[8] để làm ruộng phước.’
Bấy
giờ, Thiên đế Thích tự nghĩ: ‘Chớ để cho dân chúng thành
Vương xá bỏ Tăng đứng đầu là Phật mà đi thờ những
đạo khác để cầu phước điền. Ta nên nhanh chóng vì người
thành Vương xá mà kiến lập phước điền.’ Liền hóa ra
một Đại Bà-la-môn, tướng mạo nghiêm chỉnh, đi xe ngựa
trắng, có các thiếu niên Bà-la-môn hộ tống trước sau, cầm
dù lọng cán vàng đến thành Vương xá, đi khắp mọi nơi
trong hội chúng. Bấy giờ, tất cả nam nữ thành Vương xá
đều tự nghĩ: ‘Phải nhìn xem nơi phụng sự của vị Bà-la-môn
này, rồi ta sẽ theo họ để cúng dường cầu ruộng phước
tốt trước nhất.’
Lúc
này Thiên đế Thích biết rõ tất cả ý nghĩ của nam nữ
thành Vương xá, bèn đánh xe dẫn đầu, theo đường hẹp đến
núi Kỳ-xà-quật, đến ngoài cửa, bỏ hết năm thứ trang
sức, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, ngồi
lui qua một bên, nói kệ:
Khéo
phân biệt hiển bày,
Hết
thảy pháp bờ kia;
Qua
khỏi mọi sợ hãi,
Nên
kính lễ Cù-đàm.
Mọi
người mở hội khắp,
Muốn
cầu công đức lớn;
Người
người mở đại thí,
Thường
cầu quả hữu dư.
Xin
Ngài nói ruộng phước,
Khiến
người thí được quả.
Ở
núi Kỳ-xà-quật,
Đức
Đại Sư trả lời,
Điều
hỏi của vua trời,
Đế
Thích đại tự tại.
Mọi
người mở hội khắp,
Muốn
cầu công đức lớn;
Người
người mở đại thí,
Thường
cầu quả hữu dư.
Nay
nói về ruộng phước,
Bố
thí được quả lớn.
Chánh
hướng gồm có bốn[9],
Trụ
Thánh quả cũng bốn[10].
Gọi
là Tăng ruộng phước.
Minh
hạnh, định đầy đủ;
Ruộng
phước Tăng thêm rộng,
Vô
lượng vượt biển cả.
Đệ
tử Điều Ngự Sư,
Sáng
soi bày chánh pháp;
Khéo
cúng dường nơi này,
Cúng
Tăng, phước điền tốt.
Tăng
là ruộng phước tốt,
Phật
nói được quả lớn.
Vì
Tăng lìa năm cái,
Thanh
tịnh, đáng tán thán.
Cúng
Tăng, ruộng tối thượng,
Cúng
ít, thâu lợi nhiều.
Vậy
hết thảy mọi người,
Nên
cúng ruộng phước Tăng.
Pháp
thắng diệu càng được,
Minh
hạnh, định tương ưng.
Cúng
Tăng trân bảo này,
Tâm
thí chủ hoan hỷ.
Phát
sanh ba thứ tâm,
Thí
y phục, ẩm thực.
Lìa
kiếm nhọn trần cấu,
Vượt
qua các đường ác;
Tự
thân đi mời thỉnh,
Tự
tay cúng bình đẳng.
Tự
lợi cũng lợi người,
Thí
này được lợi lớn.
Người
trí thí như vậy,
Tịnh
tín tâm giải thoát.
Thí
an lạc không tội,
Nương
trí vãng sanh kia.
Sau
khi Đế Thích nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ lễ
Phật rồi biến mất.
Bấy
giờ, dân chúng thành Vương xá liền từ chỗ ngồi đứng
dậy sửa lại y phục, lễ Phật, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, cúi xin Thế Tôn và đại chúng nhận sự cúng dường
của chúng con.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời.
Dân
chúng thành Vương xá biết Thế Tôn đã im lặng nhận lời
mời của họ rồi, làm lễ ra về. Họ về nơi đại hội,
chuẩn bị thức ăn và sắp xếp bàn ghế. Sáng sớm, sai người
đến bạch Phật: ‘Đã đến thời! Xin Ngài biết cho.’
Bấy
giờ, Thế Tôn và đại chúng đắp y, ôm bát, đến chỗ đại
hội, trải tòa ngồi trước đại chúng. Nhân dân thành Vương
xá biết Phật đã ngồi yên, tự làm đồ ăn thức uống tươi
tốt. Thọ trai rồi, rửa bát, xỉa răng xong, họ trở về
chỗ cũ nghe Phật nói pháp. Bấy giờ, Thế Tôn vì dân chúng
thành Vương xá thuyết pháp, khai thị, chỉ giáo, soi sáng và
làm cho hoan hỷ xong, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1225. ĐẠI TẾ TỰ (2)[11]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương
xá. Nói đầy đủ như kinh trên, chỉ có một vài sai biệt
là:
Lúc
ấy, Thiên đế Thích nói bài kệ khác hỏi Phật:
Nay
xin hỏi Cù-đàm,
Tuệ
vi diệu sâu kín;
Thế
Tôn đã thể nhập,
Thấy
biết không chướng ngại.
Dân
chúng thiết lập đại hội khắp, nói đầy đủ như trên…
cho đến vì dân chúng thành Vương xá mà thuyết pháp, khai
thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan hỷ xong, từ chỗ ngồi
đứng dậy ra về.
*
KINH
1226. TAM-BỒ-ĐỀ[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tại nước Câu-tát-la, du hành trong nhân
gian đến vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-dà, nước Xá-vệ.
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc nghe Thế Tôn ở Câu-tát-la du hành
trong nhân gian, đến vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ; nghe rồi, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con nghe Thế Tôn tự ký thuyết đã chứng Vô thượng
Bồ-đề[13] mà mọi người đã loan truyền, là không phải
hư vọng và nói quá chăng? Là đã nói như thuyết, nói như
pháp, nói tùy thuận pháp chăng? Chẳng phải là bị người
khác làm tổn thương đồng pháp chăng? Trong khi hỏi đáp,
không bị rơi vào chỗ yếu kém chăng[14]?”
Phật
bảo Đại vương:
“Những
điều họ nói như vậy là lời nói chân thật, chẳng phải
là hư vọng, nói như thuyết, nói như pháp, nói tùy thuận
pháp. Chẳng phải là bị người khác làm tổn thương đồng
pháp. Trong khi hỏi đáp, không bị rơi vào chỗ yếu kém. Vì
sao? Này Đại vương, hiện tại thực sự Ta đã đắc Vô thượng
Bồ-đề.”
Vua
Ba-tư-nặc bạch Phật:
“Tuy
Thế Tôn đã nói như vậy, nhưng con vẫn còn chưa tin. Vì sao?
Vì trong đây còn có nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn tôn túc, trọng
vọng, như Phú-lan-na Ca-diếp, Mặc-già-lợi Cù-xá-lê Tử,
San-xà-da Tỳ-la-chi Tử, A-kỳ-đa Chỉ-xá-khâm-bà-la, Ca-la-câu-đà
Ca-chiên-diên, Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử. Những vị đó không
tự nói được Vô thượng Bồ-đề. Sao Thế Tôn còn trẻ,
tuổi còn nhỏ, xuất gia chưa bao lâu, mà lại tự nói chứng
Vô thượng Bồ-đề?”
Phật
bảo Đại vương:
“Có
bốn thứ tuy trẻ, nhưng không thể xem thường. Những gì là
bốn? Vương tử Sát-lợi, tuổi tuy trẻ nhỏ, nhưng chớ xem
thường. Rồng con[15], tuổi tuy trẻ nhỏ, nhưng chớ xem thường.
Đóm lửa tuy nhỏ, nhưng chớ xem thường. Tỳ-kheo tuổi tuy
trẻ nhỏ, nhưng chớ xem thường.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Đủ
hình tướng Sát-lợi,
Danh
tiếng, dòng quý tộc;
Tuy
tuổi còn trẻ nhỏ,
Người
trí không thể khinh.
Tất
sẽ ở ngôi vua,
Nhớ
lại, sanh oán hại.
Cho
nên khó thể khinh;
Phải
sanh lòng đại kính.
Người
khéo biết tự hộ,
Hãy
giữ kỹ mạng mình;
Bình
đẳng mà tự hộ,
Tránh
xa để hộ mạng[16].
Nơi
làng xóm, chỗ vắng,
Nếu
gặp rồng con kia;
Chớ
cho là rắn nhỏ,
Mà
sanh lòng coi thường.
Mình
rồng nhỏ nhiều màu,
Cũng
nên để yên ổn;
Nam
hay nữ khinh rắn,
Đều
bị độc làm hại.
Cho
nên, để tự hộ,
Hãy
giữ kỹ mạng mình;
Vì
khéo tự hộ này,
Tránh
xa để hộ mạng.
Mãnh
hỏa khi xâm thực,
Dù
ít nhưng không hạn;
Đuốc
nhỏ có thể thiêu
Khắp
nơi, nếu củi đủ.
Thiêu
từ nhỏ dần lên,
Tận
xóm làng thành ấp;
Cho
nên, để tự hộ,
Nên
như hộ mạng mình.
Vì
khéo tự hộ này,
Tránh
xa để tự hộ.
Bị
lửa dữ thiêu đốt,
Trăm
thứ cỏ cháy rụi.
Tắt
rồi, không co rút;
Lửa
tắt cỏ lại sanh.
Nếu
khinh hủy Tỳ-kheo,
Người
giữ lửa tịnh giới.
Thì
đốt mình, con cháu,
Tai
nạn lưu trăm đời.
Như
đốt cây đa-la,
Không
bao giờ sanh lại.
Cho
nên phải tự hộ,
Như
tự hộ mạng mình;
Vì
khéo tự hộ này,
Tránh
xa để hộ mạng.
Đủ
hình tướng Sát-lợi,
Rắn
con và đóm lửa;
Đủ
tịnh giới, Tỳ-kheo,
Không
nên sanh coi thường.
Cho
nên phải tự hộ,
Như
tự hộ mạng mình;
Vì
khéo tự hộ này,
Tránh
xa để hộ mạng.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc kia, nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1227. MẸ[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc có bà nội, người
mà vua rất kính trọng, bỗng nhiên mạng chung[18]. Vua đưa
ra ngoài thành hỏa táng, cúng dường xá-lợi xong, mặc áo
tang, tóc bù xù, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân
Phật, ngồi lui qua một bên.
Thế
Tôn hỏi vua Ba-tư-nặc:
“Đại
vương từ đâu lại, mặc đồ tang, tóc bù xù vậy?”
Vua
Ba-tư-nặc thưa:
“Bạch
Thế Tôn, con đã mất bà nội mà con rất kính trọng. Bà đã
bỏ con ra đi. Con đã đưa ra ngoài thành để hỏa táng, cúng
dường xong, rồi đến Thế Tôn.”
Phật
bảo:
“Đại
vương thương kính bà nội lắm phải không?”
Vua
Ba-tư-nặc bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, rất kính trọng thương mến. Bạch Thế Tôn, nếu
đem những gì có được ở trong nước như voi, ngựa, bảy
báu, cho đến ngai vàng đem bố thí hết cho người mà có thể
cứu sống bà nội thì con sẽ bố thí hết. Nhưng vĩnh viễn
đã không thể cứu được; kẻ sống người chết mãi mãi
xa lìa; nhớ thương, buồn khổ, không tự mình vượt nổi.
Con đã từng nghe Thế Tôn nói: ‘Tất cả chúng sanh, tất
cả côn trùng, cho đến tất cả quỷ thần, có sanh đều phải
chết, rốt cùng cũng phải chấm dứt, không có ai sanh ra mà
không chết.’ Hôm nay con mới nhận thấy lời Thế Tôn nói
đúng.”
Phật
bảo Đại vương:
“Đúng
vậy! Đúng vậy! Tất cả chúng sanh, tất cả côn trùng, cho
đến tất cả quỷ thần, có sanh đều phải chết, rốt cùng
cũng phải chấm dứt, không có ai sanh ra mà không chết.”
Phật
bảo Đại vương tiếp:
“Cho
dù dòng họ Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, hay gia chủ, nếu có
sanh đều phải chết, không ai không chết. Cho dù là Đại
vương Sát-đế-lợi, ở ngôi quán đảnh, làm vua bốn thiên
hạ, được sức tự tại; đối với các địch quốc đều
hàng phục, cuối cùng không ai là không chết. Lại nữa, Đại
vương, dù sanh trời Trường thọ, làm vua Thiên cung, tự tại
khoái lạc, cuối cùng cũng phải chấm dứt. Lại nữa, Đại
vương, Tỳ-kheo A-la-hán các lậu đã hết, đã lìa các gánh
nặng, việc cần làm đã làm xong, đã được lợi mình, hết
các hữu kết, chánh trí, tâm khéo giải thoát, vị ấy cũng
phải chấm dứt, xả thân vào Niết-bàn. Lại nữa, hàng Duyên
giác, khéo điều phục, khéo tịch tĩnh, khi hết thân mạng
này, cuối cùng cũng vào Niết-bàn. Chư Phật Thế Tôn đầy
đủ mười lực, bốn vô sở úy, hơn tiếng rống sư tử,
cuối cùng cũng xả thân vào Bát-niết-bàn. Vì vậy, Đại
vương nên biết, tất cả chúng sanh, tất cả côn trùng, cho
đến tất cả quỷ thần, có sanh đều phải chết, rốt cùng
cũng phải chấm dứt, không có ai sanh ra mà không chết.”
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ:
Tất
cả loài chúng sanh,
Có
mạng đều phải chết;
Chúng
đi theo nghiệp mình,
Tự
nhận quả thiện ác.
Nghiệp
ác vào địa ngục,
Làm
lành lên trên trời;
Tu
tập đạo thắng diệu,
Lậu
hết, Bát-niết-bàn.
Như
Lai và Duyên giác,
Thanh
văn đệ tử Phật;
Đều
phải bỏ thân mạng,
Huống
là người phàm phu.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1228. THÂN YÊU[19]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc một mình ở nơi chỗ
yên tĩnh thiền tứ tư duy, tự nghĩ: ‘Thế nào là tự thương
yêu mình, thế nào là không tự thương yêu mình[20]?’ Lại
nghĩ: ‘Nếu người nào thân hành ác hạnh, khẩu hành ác
hạnh, ý hành ác hạnh, thì nên biết những người này không
tự thương yêu mình. Nếu người nào thân hành thiện hạnh,
khẩu hành thiện hạnh, ý hành thiện hạnh, thì nên biết
những người này tự thương yêu mình.’ Sau khi từ thiền
tịnh dậy, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật,
ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con một mình ở chỗ yên tĩnh tư duy, tự nghĩ: ‘Thế
nào là tự thương yêu, thế nào là không tự thương yêu mình?’
Rồi lại nghĩ: ‘Nếu người nào thân hành ác hạnh, khẩu
hành ác hạnh, ý hành ác hạnh, thì nên biết những người
này không tự thương yêu mình. Nếu người nào thân hành thiện
hạnh, khẩu hành thiện hạnh, ý hành thiện hạnh, thì nên
biết những người này tự thương yêu mình’.”
Phật
bảo Đại vương:
“Đúng
vậy, Đại vương! Đúng vậy, Đại vương, nếu người nào
thân hành ác hạnh, khẩu hành ác hạnh, ý hành ác hạnh, thì
nên biết những người này không tự thương yêu. Dầu cho
họ tự nói, tự thương yêu, nhưng thật ra không phải tự
thương yêu. Vì sao? Vì không có điều xấu ác nào mà người
bạn xấu ác làm cho không phải là điều không là thân thương
đối với người mà nó không thân thương, không phải là
điều được yêu mến đối với người mà nó không yêu mến[21].
Cho nên những người này là không phải tự yêu thương mình.
Lại nữa, Đại vương, người nào thân hành thiện hạnh,
khẩu hành thiện hạnh, ý hành thiện hạnh, thì nên biết
những người này tự thương yêu mình. Dầu cho những người
này tự nói không tự thương tiếc thân mình, nhưng thực ra
những người này là tự thương yêu mình. Vì sao? Vì không
có điều tốt nào mà người bạn tốt làm không phải là
đáng thân đối với người mà nó thân, không phải là đáng
yêu đối với người mà nó yêu. Cho nên những người này
là người tự thương yêu mình.”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ:
Bảo
rằng tự thương mình,
Không
nên tạo ác hạnh.
Vì
nhân không ác hạnh,
Nên
đã được an lạc.
Bảo
rằng tự thương mình,
Quyết
không tạo ác hạnh.
Người
tạo mọi nghiệp thiện,
Nên
đã được an lạc.
Nếu
ai tự yêu mình,
Khéo
hộ mà tự hộ;
Như
vua khéo giữ nước,
Ngoài,
canh phòng biên giới.
Nếu
ai tự yêu mình,
Khéo
tự giữ báu vật;
Như
vua khéo giữ nước,
Trong,
canh giữ thành quách.
Như
tự giữ bảo vật,
Sát-na
không gián đoạn;
Sát-na
nếu thiếu lo,
Đường
ác chịu khổ mãi.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1229. TỰ HỘ[22]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc một mình ở nơi chỗ
yên tĩnh tư duy, tự nghĩ: ‘Thế nào là tự hộ, thế nào
là không tự hộ[23]?’ Lại nghĩ: ‘Nếu người nào thân
hành ác hạnh, khẩu hành ác hạnh, ý hành ác hạnh, nên biết
những người này là không tự hộ. Nếu người nào thân hành
thiện hạnh, khẩu hành thiện hạnh, ý hành thiện hạnh, nên
biết những người này là tự hộ.’ Sau khi từ thiền tịnh
dậy, đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật,
ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con một mình ở chỗ yên tĩnh tư duy, tự nghĩ: ‘Thế
nào là tự hộ, thế nào là không tự hộ?’ Rồi lại nghĩ:
‘Nếu người nào thân hành ác hạnh, khẩu hành ác hạnh,
ý hành ác hạnh, nên biết những người này là không tự
hộ. Nếu người nào thân hành thiện hạnh, khẩu hành thiện
hạnh, ý hành thiện hạnh, nên biết những người này là
tự hộ.’
Phật
bảo Đại vương:
“Đúng
vậy, Đại vương! Đúng vậy, Đại vương! Nếu người nào
thân hành ác hạnh, khẩu hành ác hạnh, ý hành ác hạnh, nên
biết những người này là không tự hộ, mà nói là hay tự
phòng hộ. Tuy nói là tự phòng hộ bằng quân voi, ngựa, xe,
bộ, dùng chúng để tự phòng hộ, nhưng thực ra không phải
là tự phòng hộ. Vì sao? Vì tuy phòng hộ bên ngoài, nhưng
không phòng hộ bên trong. Cho nên, Đại vương! Đó gọi là
không tự phòng hộ.
“Đại
vương, nếu người nào thân hành thiện hạnh, khẩu hành thiện
hạnh, ý hành thiện hạnh, nên biết những người này là
tự phòng hộ. Tuy họ không dùng quân voi, ngựa, xe, bộ để
tự phòng hộ, nhưng thực ra là tự phòng hộ. Vì sao? Vì phòng
hộ bên trong. Đó gọi là khéo tự phòng hộ, chẳng cần phòng
hộ bên ngoài.”
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ:
Khéo
phòng hộ thân, khẩu,
Và
tất cả ý nghiệp;
Tự
hộ bằng tàm quý,
Đó
là khéo phòng hộ.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1230. TÀI LỢI[24]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc một mình ở nơi chỗ
yên tĩnh tư duy, tự nghĩ: ‘Thế gian ít có người được
tài lợi thắng diệu mà không phóng dật, không tham đắm,
không tạo những ác hạnh đối với chúng sanh. Nhưng thế
gian có nhiều người được tài lợi thắng diệu là hay sanh
ra phóng dật, tăng trưởng tham đắm chúng, khởi lên các tà
hạnh.’ Nghĩ vậy rồi, đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh
lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con một mình ở chỗ yên tĩnh tư duy, tự nghĩ: ‘Thế
gian ít có người được tài lợi thắng diệu và đối với
tài lợi đó không sanh ra phóng dật, không sanh ra tham đắm,
không tạo ra tà hạnh. Nhưng thế gian có nhiều người được
tài lợi thắng diệu là hay sanh ra phóng dật, sanh ra tham đắm,
khởi lên các tà hạnh.’
Phật
bảo vua Ba-tư-nặc:
“Đúng
vậy, Đại vương! Đúng vậy, Đại vương! Thế gian ít có
người được tài lợi thắng diệu mà không tham đắm, không
sanh ra phóng dật, không khởi lên những tà hạnh. Nhưng thế
gian có nhiều người được tài lợi thắng diệu và đối
với tài lợi phóng dật, mà khởi lên tham đắm, khởi lên
các tà hạnh.’ Đại vương nên biết, những người thế
gian kia được tài lợi thắng diệu, đối với tài lợi mà
phóng dật, mà khởi tham đắm, làm các tà hạnh, đó là những
người ngu si, sẽ chịu khổ lâu dài, không lợi ích. Đại
vương, giống như người thợ săn, học trò thợ săn, giăng
lưới bắt giết nhiều thú vật, trong rừng hoang vắng; hại
chúng sanh khốn khổ, nghiệp ác tăng trưởng. Cũng vậy, người
thế gian được tài lợi thắng diệu, đối tài lợi sanh phóng
dật, khởi lên tham đắm, tạo các tà hạnh; người ngu si
này sẽ chịu khổ não lâu dài, không được lợi ích.”
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ:
Đối
tài vật tham dục,
Bị
tham làm mê say,
Cuồng
loạn không tự biết;
Giống
như người thợ săn.
Vì
sự phóng dật này,
Nên
chịu báo khổ lớn.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1231. THAM LỢI[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc đang ngự trên chánh
điện[26], tự mình xem xét những việc của quốc vương, thấy
giai cấp Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Gia chủ, vì tham dục nên
hay dối trá, vọng ngữ, liền tự nghĩ: ‘Hãy ngưng việc
xét đoán này, dừng việc xét đoán này. Ta không còn đích
thân xét đoán việc nữa. Ta có người con hiền, sẽ bảo
nó xét đoán. Làm sao ta có thể nhìn những dòng họ sang cả
này, giai cấp Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Gia chủ, vì tham dục
nên hay dối trá, vọng ngữ?’ Khi vua Ba-tư-nặc nghĩ vậy
xong, liền đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân
Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con đang ngự trên chánh điện, để tự xét đoán
những việc của quốc vương, thấy các giai cấp Sát-đế-lợi,
Bà-la-môn, Gia chủ, vì tham dục nên hay dối trá, vọng ngữ.
Bạch Thế Tôn, con nhận thấy được điều này rồi, tự
nghĩ: ‘Từ nay ta hãy ngưng việc xét đoán này, dừng việc
xét đoán này. Ta có người con hiền sẽ bảo nó xét đoán.
Con không có thể chính mình nhìn những dòng họ sang cả này,
giai cấp Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Gia chủ, vì tham dục nên
hay dối trá, vọng ngữ.’”
Phật
bảo vua Ba-tư-nặc:
“Đúng
vậy, Đại vương! Đúng vậy, Đại vương! Các dòng họ sang
cả kia, giai cấp Sát-đế-lợi, Bà-la-môn, Gia chủ kia, vì
tham dục nên hay dối trá, vọng ngữ. Họ là những người
ngu si, sẽ chịu khổ lâu dài, không được lợi ích. Giống
như người chài lưới và đệ tử của chài lưới thả câu,
giăng lưới nơi sông, suối, khe, rạch giết hại chúng sanh
tạo ra khổ lớn. Cũng vậy, Đại vương, các giai cấp Sát-đế-lợi,
Bà-la-môn, Gia chủ vì tham dục nên hay dối trá, vọng ngữ.
Họ sẽ chịu khổ mãi mãi, không được lợi ích lâu dài.”
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ:
Khởi
tham muốn tài sản,
Tham
dục làm say mê;
Cuồng
loạn không tự giác,
Giống
như người bắt cá.
Do
vì nghiệp ác này,
Nên
chịu báo khổ lớn.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1232. BỎN SẺN[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc đến chỗ Phật, cúi
đầu lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nước Xá-vệ này có gia chủ Ma-ha-nam[28], giàu có
nhiều của cải, kho chứa vàng ròng có đến trăm nghìn ức,
huống là những của khác. Bạch Thế Tôn, gia chủ Ma-ha-nam
giàu có như vậy, nhưng đồ ăn chỉ dùng những thứ như:
Ăn gạo tấm thô sơ, canh đậu, gừng cũ nát; còn mặc thì
áo vải thô, mang giày da đơn; đi thì xe cũ kỹ, đội nón
lá cây. Chưa từng nghe ông ta cúng dường, bố thí cho Sa-môn,
Bà-la-môn, hay thấy ông cung cấp giúp đỡ cho những người
nghèo khổ, những người lỡ đường thiếu thốn, những người
ăn xin. Khi ăn thì đóng cửa, không để cho các Sa-môn, Bà-la-môn
nào hay những người bần cùng, những người lỡ đường,
những người ăn xin, trông thấy.”
Phật
bảo vua Ba-tư-nặc:
“Đại
vương, gia chủ này không phải là Chánh sĩ[29], được tài
lợi thắng diệu mà không tự thọ dụng, không biết phụng
dưỡng cha mẹ, cung cấp cho vợ con, bà con quyến thuộc, đoái
nghĩ đến tôi tớ, giúp đỡ cho người quen biết, không biết
tùy thời cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn, để gieo trồng vào
ruộng phước thù thắng, để hướng đến chỗ cao quý, hưởng
thụ an lạc lâu dài, đời sau sanh về cõi trời. Được những
tài vật thù thắng mà không biết cách dùng rộng rãi để
thâu lợi lớn.
“Đại
vương, thí như nước được tích chứa trong ao hồ ở giữa
đồng hoang, mà không có người dùng đến để uống ăn, tắm
rửa, nước trong đầm bị nung khô tiêu hết. Cũng vậy, kẻ
sĩ bất thiện[30] được tài vật thắng diệu,… cho đến
không chịu dùng rộng rãi để thâu lợi lớn, cũng giống
như hồ nước kia vậy.
“Đại
vương, có thiện nam tử[31] được tài lợi thắng diệu, sung
sướng mà thọ dùng, phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp vợ con
bà con quyến thuộc, nghĩ đến tôi tớ, giúp đỡ người quen
biết, thường xuyên cũng cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn,
gieo trồng vào ruộng phước thù thắng, để hướng đến
chỗ cao quý, đời sau sanh về cõi trời; được tiền của
thù thắng, biết cách thọ dụng rộng rãi để thu lợi lớn
gấp bội. Đại vương, giống như bên cạnh thành ấp, làng
xóm có ao nước trong sạch mát mẻ, cây cối che mát, khiến
mọi người yêu thích, nhiều người chịu dùng, cho đến loài
cầm thú. Cũng vậy, thiện nam tử kia được tài lợi thắng
diệu, tự cúng dường tùy thích, phụng dưỡng cha mẹ,…
cho đến gieo trồng ruộng phước thù thắng, thu lợi rộng
lớn.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Hồ
nước nơi hoang mạc,
Dù
trong mát sạch sẽ,
Mà
không người thọ dụng,
Thì
nơi đó khô hết.
Cũng
vậy của thắng diệu,
Mà
ở nơi người ác,
Không
thể tự thọ dụng,
Cũng
không thương giúp ai.
Luống
tự gom góp khổ,
Chứa
rồi tự tiêu tán.
Người
trí được của nhiều,
Tự
mình vui thọ dụng;
Thí
khắp làm công đức,
Giúp
đỡ cho thân thuộc;
Tùy
chỗ cần cung cấp,
Như
trâu chúa lãnh đàn.
Bố
thí cùng thọ dụng,
Không
mất cơ hội cần.
Nương
lý mà mạng chung[32],
Sanh
Thiên hưởng phước lạc.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1233. MỆNH CHUNG[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, nước Xá-vệ có gia chủ Ma-ha-nam
mạng chung[34], nhưng không có con cháu. Vua Ba-tư-nặc mới đem
tài sản không có con, không có thân thuộc nhập hết về nhà
vua. Vua Ba-tư-nặc hằng ngày phải đi xem xét tài sản, thân
thể dính bụi bặm, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên.
Bấy
giờ Thế Tôn hỏi vua Ba-tư-nặc:
“Đại
vương từ đâu đến, thân thể dính bụi bặm và có vẻ mệt
nhọc?”
Vua
Ba-tư-nặc bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, gia chủ Ma-ha-nam nước này mạng chung, để lại
tài sản, nhưng không con, nên tất cả phải nhập về nhà
vua. Con phải trông coi, liệu lý, nên bụi bặm dính vào người,
mệt nhọc. Từ nhà đó con đến đây.”
Phật
hỏi vua Ba-tư-nặc:
“Gia
chủ Ma-ha-nam kia giàu có nhiều của lắm sao?”
Vua
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, rất giàu, tiền của rất nhiều, tiền vàng của
báu có đến trăm nghìn ức, huống lại là những của khác.
Bạch Thế Tôn, ông Ma-ha-nam kia lúc còn sống mặc thô sơ,
ăn uống cực khổ. Nói đầy đủ như trên.”
Phật
bảo vua Ba-tư-nặc:
“Ông
Ma-ha-nam kia vào thời quá khứ, gặp Bích-chi-phật Đa-ca-la-thi-khí[35]
có cúng dường một bữa ăn, nhưng không có lòng tin thanh tịnh,
không cung kính cúng dường, không tự tay cúng dường; sau khi
cúng rồi lại hối tiếc nói rằng: ‘Cơm này ta có thể cho
những tôi tớ của mình, không tội gì lại đem cho Sa-môn!’
Nhờ phước bố thí này, bảy lần được sanh lên trời Tam
thập tam và bảy lần sanh vào nước Xá-vệ này thuộc dòng
họ tối thắng, tiền của giàu có bậc nhất. Nhưng vì khi
cúng dường vị Bích-chi-phật kia với lòng tin không thanh tịnh,
không cung kính cúng dường, không tự tay cúng dường; sau khi
cúng dường rồi lại hối tiếc, nên dù nơi khi sanh ra tuy
được giàu có, nhưng phải thọ dụng quần áo thô sơ, ăn
uống khổ cực, ngọa cụ, nhà cửa, xe cộ thô sơ cũ kỹ.
Ngay từ đầu chưa nếm qua được sắc, thanh, hương, vị,
xúc tốt đẹp để tự an thân.
“Lại
nữa, Đại vương, trước kia gia chủ Ma-ha-nam đã giết người
anh khác mẹ của mình để chiếm lấy tài sản. Vì tội này
nên trải qua trăm nghìn năm phải đọa vào địa ngục, tội
báo ấy còn sót nên sanh vào nước Xá-vệ, bảy lần thọ
thân mà thường không có con; tài sản tịch thâu về nhà vua.
Đại vương, gia chủ Ma-ha-nam nay mạng chung, phước báo bố
thí quá khứ đã hết mà đời này ông lại keo kiệt, tham
lam, buông lung đối với tài sản, nhân tạo tội ác, sau khi
mạng chung ở đây sẽ đọa địa ngục, chịu nhiều khổ
não.”
Vua
Ba-tư-nặc bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, gia chủ Ma-ha-nam sau khi mạng chung sẽ đọa vào địa
ngục chịu khổ đau phải không?”
Phật
đáp:
“Đúng
vậy, Đại vương! Đã đọa vào địa ngục.”
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc nghĩ đến ông mà rơi lệ, lấy áo lau
nước mắt, nói kệ:
Của
cải, kim bảo thật,
Voi
ngựa đồ dùng tốt;
Nô
bộc, trẻ hầu hạ,
Cùng
nhà cửa ruộng nương.
Tất
cả đều bỏ lại,
Thần
thức đi một mình.
Vận
phước số đã hết,
Vĩnh
viễn bỏ thân người.
Nay
họ sở hữu gì?
Đem
theo được những gì?
Với
cái gì không bỏ,
Như
bóng đi theo hình?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Chỉ
có nghiệp tội, phước,
Người
nào đã tạo ra;
Thì
đó là sở hữu,
Họ
sẽ thường mang theo.
Sống
chết chưa từng lìa,
Giống
bóng đi theo hình.
Như
người ít tư lương,
Đi
xa gặp nạn khổ.
Người
không tu công đức,
Phải
qua khổ đường ác.
Như
người nhiều tư lương,
Đi
xa được an lạc.
Người
tu đức thuần hậu,
Luôn
hưởng vui cõi lành.
Như
người đi chơi xa,
Lâu
năm về an ổn.
Người
thân và bằng hữu,
Tụ
tập đón mừng vui;
Người
khéo tu công đức,
Chết
đây sanh nơi khác.
Những
thân quyến của họ,
Gặp
nhau tâm hoan hỷ.
Cho
nên phải tu phước,
Tích
tụ thành vĩnh cửu.
Phước
đức hay vì người,
Kiến
lập vui đời khác;
Phước
đức được trời khen,
Cùng
hạnh tu chánh khác.
Hiện
tại người không chê,
Chết
sanh lên cõi trời.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1234. TẾ TỰ[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc tổ chức đại hội[37]
rộng rãi. Vì đại hội nên đem cả nghìn con bò đực[38]
cột vào trụ và những đồ vật cúng tế. Cho mời hết các
ngoại đạo khác nhau, từ xa đến tụ tập đông đủ nơi
đại hội của vua Ba-tư-nặc.
Lúc
ấy, có nhiều Tỳ-kheo, sáng sớm đắp y, ôm bát, vào thành
Xá-vệ khất thực, nghe vua Ba-tư-nặc mở đại hội rộng
rãi. Nói đầy đủ như trên,… cho đến các ngoại đạo,
tất cả đều đến tập hợp. Nghe rồi, sau khi khất thực
xong, trở về tinh xá cất y bát, rửa chân rồi, đến chỗ
Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sáng sớm hôm nay, các Tỳ-kheo chúng con đắp y, ôm
bát, vào thành Xá-vệ khất thực, nghe vua Ba-tư-nặc mở đại
hội rộng rãi. Nói đầy đủ như trên,… cho đến các ngoại
đạo khác đều tập hợp đến chỗ đại hội.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Tháng
tháng[39] mở đại hội,
Cho
đến số trăm nghìn[40];
Không
bằng chánh tín Phật,
Bằng
một phần mười sáu.
Cũng
vậy, tín Pháp, Tăng,
Từ
tâm với chúng sanh;
Phước
của đại hội kia,
Không
bằng phần mười sáu.
Nếu
người ở thế gian,
Ức
năm[41] tạo nghiệp phước;
Không
bằng một phần bốn.
Kính
lễ vị trực tâm[42].
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1235. HỆ PHƯỢC[43]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc nổi giận, bắt nhiều
người trong nước bỏ tù, gồm các Sát-đế-lợi, nào Bà-la-môn,
Tỳ-xá, Thủ-đà-la, Chiên-đà-la, trì giới hay phạm giới,
tại gia hay xuất gia đều bị trói, bị xiềng xích, bị cùm,
hoặc bị cột dây. Bấy giờ, sáng sớm, có các Tỳ-kheo đắp
y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực, nghe vua Ba-tư-nặc
bắt giữ nhiều người,… cho đến xiềng xích, cột trói.
Sau khi khất thực xong, các Tỳ-kheo trở về tinh xá cất y
bát, rửa chân xong, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân
Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, hôm nay các Tỳ-kheo chúng con vào thành khất thực,
nghe vua Ba-tư-nặc bắt giữ nhiều người,… cho đến xiềng
xích, cột trói.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Chẳng
phải dây, cùm, xích,
Là
trói buộc kiên cố.
Tâm
ô nhiễm, luyến tiếc