TẠP
A-HÀM QUYỂN 45
KINH
1198. A-LẠP-TỲ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo-ni A-lạp-tỳ[2] ở trong
tinh xá chúng Tỳ-kheo-ni tại vườn vua nước Xá-vệ. Sáng
sớm Tỳ-kheo-ni A-lạp-tỳ đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ
khất thực. Ăn xong, trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân
xong, lấy tọa cụ vắt lên vai phải, vào rừng An-đà[3] tọa
thiền.
Khi
ấy Ma Ba-tuần nghĩ: “Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni A-lạp-tỳ,
ở trong tinh xá chúng Tỳ-kheo-ni, tại vườn vua nước Xá-vệ.
Sáng sớm đắp y ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong,
trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ vắt
lên vai phải, vào rừng An-đà tọa thiền. Nay ta nên đến
đó làm trở ngại.” Liền biến thành thiếu niên tướng
mạo đoan chánh, đến chỗ Tỳ-kheo-ni ấy nói với Tỳ-kheo-ni
rằng:
“A-di
muốn đi đâu?”
Tỳ-kheo-ni
đáp:
“Hiền
giả, tôi muốn đi đến chỗ thật xa.”
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần liền nói kệ:
Đời
không thể ra khỏi,
Viễn
ly để làm gì?
Trở
về hưởng ngũ dục,
Chớ
về sau hối hận.
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni A-lạp-tỳ tự nghĩ: “Người này là ai mà
muốn khủng bố ta? Là người hay phi nhân? Hay là người gian
giảo?” Cô liền nghĩ đây ắt là ác ma muốn não loạn ta.
Biết rõ rồi, liền nói kệ:
Đời
có thể ra khỏi,
Ta
tự biết sở đắc;
Này
ác ma hèn hạ,
Ngươi
không biết đạo kia.
Như
dao bén tác hại,
Ngũ
dục cũng như vậy.
Như
thân bị xẻo thịt,
Khổ
thủ uẩn cũng vậy.
Như
điều ngươi vừa nói,
Người
vui hưởng ngũ dục;
Người
đó không thể vui.
Nơi
đó đáng sợ hãi.
Lìa
tất cả hỷ lạc,
Vất
bỏ mọi tối tăm;
Vì
diệt tận tác chứng,
An
trụ lìa các lậu.
Biết
rõ ngươi ác ma,
Hãy
mau chóng tự diệt.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Tỳ-kheo-ni A-lạp-tỳ này đã biết
rõ tâm ta.” Rồi buồn bã không vui, liền biến mất.
*
KINH
1199. TÔ-MA[4]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Tô-ma[5] ở trong tinh xá
chúng Tỳ-kheo-ni tại vườn vua nước Xá-vệ. Sáng sớm, Tỳ-kheo-ni
Tô-ma đắp y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong,
trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ vắt
lên vai phải, vào rừng An-đà tọa thiền.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Tô-ma,
ở trong tinh xá chúng Tỳ-kheo-ni, tại vườn vua nước Xá-vệ.
Sáng sớm, đắp y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn
xong, trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa
cụ vắt lên vai phải, vào rừng An-đà tọa thiền. Nay ta nên
đến đó làm trở ngại.” Liền biến thành thiếu niên tướng
mạo đoan chánh, đến chỗ Tỳ-kheo-ni Tô-ma hỏi rằng:
“A-di
muốn đi đâu?”
Đáp:
“Hiền
giả, ta muốn đi đến chỗ thật xa.”
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần liền nói kệ:
Chỗ
ở của Tiên nhân,
Nơi
đó khó đến được.
Trí
bằng hai ngón tay[6],
Chẳng
thể đến nơi đó.
Khi
ấy, Tỳ-kheo-ni Tô-ma tự nghĩ: “Người này là ai mà muốn
khủng bố ta? Là người hay phi nhân? Hay là người gian giảo?”
Nghĩ vậy rồi, cô liền biết rõ đây là ác ma muốn nhiễu
loạn, liền nói kệ:
Tâm
nhập vào chánh thọ[7],
Thân
nữ có làm sao?
Khi
trí tuệ phát sanh,
Liền
được pháp Vô thượng.
Đối
với tưởng nam, nữ,
Nếu
tâm không xa lìa,
Người
đó nghe theo ma,
Ngươi
nên đến đó nói.
Lìa
xa tất cả khổ,
Vất
bỏ mọi tối tăm;
Mau
diệt tận chứng đắc,
An
trụ các lậu sạch.
Biết
rõ ngươi ác ma,
Hãy
mau chóng tự diệt.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Tỳ-kheo-ni Tô-ma này đã biết
rõ tâm ta.” Rồi buồn bã không vui, liền biến mất.
*
KINH
1200. CÙ-ĐÀM-DI[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Cát-ly-xá Cù-đàm-di[9]
ở trong tinh xá chúng Tỳ-kheo-ni. Sáng sớm đắp y, ôm bát,
vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong, trở về tinh xá, cất
y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ vắt lên vai, vào rừng
An-đà, kiết già phu tọa, nhập chánh thọ ban ngày, dưới
bóng cây.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Cát-ly-xá
Cù-đàm-di, ở trong tinh xá chúng Tỳ-kheo-ni, tại vườn vua
nước Xá-vệ. Sáng sớm đắp y ôm bát vào thành Xá-vệ khất
thực. Ăn xong, trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong,
lấy tọa cụ vắt lên vai, vào rừng An-đà, kiết già phu tọa,
nhập chánh thọ ban ngày, dưới một bóng cây. Nay ta hãy đến
đó làm trở ngại.” Liền hóa thành thiếu niên, dung mạo
đoan chánh, đến chỗ Tỳ-kheo-ni Cát-ly-xá Cù-đàm-di nói kệ:
Có
phải người chôn con,
Mặt
buồn rầu khóc lóc?
Một
mình dưới bóng cây,
Muốn
tìm nam tử nào?
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni Cát-ly-xá tự nghĩ: “Là ai mà muốn khủng
bố ta? Là người hay phi nhân? Hay là người gian xảo?” Nghĩ
vậy rồi, cô liền biết rõ đây là ác Ma Ba-tuần đến nhiễu
loạn ta. Biết là ma rồi, liền nói kệ:
Con
cái, cùng biên tế[10],
Tất
cả đều mất hết.
Đây
biên tế nam tử[11],
Đã
vượt tướng nam tử.
Không
não, không lo sầu,
Phật
dạy làm, đã làm;
Tất
cả lìa ưu khổ,
Bỏ
tất cả tối tăm.
Đã
diệt tận tác chứng,
Hết
các lậu, an ổn.
Đã
biết ngươi ma xấu,
Hãy
mất đi khỏi đây.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Tỳ-kheo-ni Cát-ly-xá Cù-đàm-di
đã biết rõ tâm ta.” Rồi buồn lo khổ não, liền biến mất.
*
KINH
1201. LIÊN HOA SẮC[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-la-sắc[13] ở
trong tinh xá chúng Tỳ-kheo-ni tại vườn vua nước Xá-vệ.
Sáng sớm đắp y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn
xong, trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa
cụ vắt lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây,
nhập chánh thọ ban ngày.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-la-sắc,
ở trong tinh xá chúng Tỳ-kheo-ni, tại vườn vua nước Xá-vệ.
Sáng sớm đắp y ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong,
trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ vắt
lên vai vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây, nhập chánh
thọ ban ngày. Nay ta hãy đến đó làm trở ngại.” Liền hóa
thành thiếu niên, dung mạo đoan chánh, đến chỗ Tỳ-kheo-ni
Ưu-bát-la-sắc nói kệ:
Cây
kiên cố[14] hoa đẹp,
Nương
nghỉ dưới bóng cây;
Một
mình không bè bạn,
Không
sợ người khác sao?
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-la-sắc tự nghĩ: “Đây là những người
nào mà muốn khủng bố ta? Là người hay phi nhân? Hay là người
gian xảo?” Suy nghĩ như vậy, biết rõ đây ắt là ác ma muốn
nhiễu loạn ta chăng? Liền nói kệ:
Giả
sử có trăm nghìn,
Đều
là người gian xảo;
Như
ác ma các người,
Có
đi đến chỗ tôi.
Cũng
không động lông tóc.
Không
sợ ngươi, ác ma.
Ma
lại nói kệ:
Nay
ta vào bụng ngươi,
Sẽ
ở trong nội tạng;
Hoặc
giữa hai lông mày,
Ngươi
không thể thấy ta.
Lúc
ấy, Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-la-sắc lại nói kệ:
Tâm
tôi có sức lớn,
Khéo
tu tập thần thông;
Đã
giải thoát ràng buộc,
Không
sợ ngươi, ác ma.
Ta
đã nhổ ba cấu,
Cội
gốc của khủng bố;
Trụ
vào đất an ổn,
Đối
quân ma không sợ.
Đối
tất cả ái hỷ,
Xa
lìa mọi tối tăm;
Đối
tịch diệt đã chứng,
Các
lậu hết, an trụ.
Biết
rõ ngươi, ác ma,
Hãy
biến khỏi nơi này.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Tỳ-kheo-ni Ưu-bát-la-sắc đã biết
rõ tâm ta.” Rồi ôm lòng sầu lo, liền biến mất.
*
KINH
1202. THI-LA[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thi-la[16] ở tại tinh xá
với chúng Tỳ-kheo-ni trong vườn vua nước Xá-vệ. Sáng sớm,
Tỳ-kheo đắp y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong,
trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ vắt
lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây, nhập
chánh thọ ban ngày.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Thi-la,
ở tại tinh xá với chúng Tỳ-kheo-ni, trong vườn vua nước
Xá-vệ. Sáng sớm đắp y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực.
Ăn xong, trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa
cụ vắt lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây,
nhập chánh thọ ban ngày. Nay ta nên đến đó gây chướng nạn.”
Liền biến thành thiếu niên, dung mạo đoan chánh, đến trước
Tỳ-kheo-ni Thi-la nói kệ:
Chúng
sanh sanh làm sao?
Ai
là người tạo nó?
Chúng
sanh khởi chỗ nào?
Và
rồi đi về đâu?
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni Thi-la tự nghĩ: “Đó là người nào mà muốn
khủng bố ta? Là người hay không phải người? Là người
gian xảo?” Nghĩ vậy rồi, biết rõ đó là ác ma muốn gây
chướng nạn, liền nói kệ:
Ngươi
bảo có chúng sanh,
Đó
là thấy của ma.
Chỉ
có uẩn trống rỗng,
Không
có ai chúng sanh.
Nhiều
thanh gỗ hợp lại,
Đời
gọi nó là xe;
Các
uẩn do duyên hợp,
Tạm
gọi là chúng sanh.
Sanh
này là khổ sanh,
Trụ
cũng là khổ trụ;
Không
pháp nào sanh khổ,
Khổ
sanh, khổ tự diệt.
Xả
tất cả ưu khổ,
Xa
lìa mọi tối tăm;
Đối
tịch diệt, đã chứng,
Các
lậu hết, an trụ.
Đã
biết ngươi, ác ma,
Hãy
biến khỏi nơi này.
Bấy
giờ, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Tỳ-kheo-ni Thi-la đã biết rõ
tâm ta.’ Nên ôm lòng lo lắng, liền biến mất.
*
KINH
1203. TỲ-LA[17]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Tỳ-la[18] ở tại tinh
xá với chúng Tỳ-kheo-ni trong vườn vua nước Xá-vệ. Sáng
sớm, đắp y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong
trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ vắt
lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây, nhập
chánh thọ ban ngày.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Tỳ-la,
ở tại tinh xá với chúng Tỳ-kheo-ni, trong vườn vua nước
Xá-vệ. Sáng sớm đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực.
Ăn xong trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa
cụ vắt lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây,
nhập chánh thọ ban ngày. Nay ta nên đến đó gây chướng nạn.”
Liền hóa thành thiếu niên, dung mạo đoan chánh, đến chỗ
Tỳ-kheo-ni Tỳ-la, nói kệ:
Làm
sao tạo hình[19] này?
Ai
là người tạo nó?
Hình
này khởi từ đâu?
Hình
này đến chỗ nào?
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni Tỳ-la tự nghĩ: “Đây là người nào mà muốn
khủng bố ta? Là người hay không phải người? Hay là người
gian xảo?” Nghĩ như vậy, liền biết rõ ác Ma Ba-tuần muốn
làm nhiễu loạn, liền nói kệ:
Hình
này không tự tạo,
Cũng
không người khác tạo.
Nhân
duyên hợp mà sanh,
Duyên
tan tức biến diệt.
Như
đời gieo hạt giống,
Nhờ
đất đai mà sanh;
Đủ
đất, nước, lửa, gió.
Ấm
giới nhập cũng thế;
Nhân
duyên hòa hợp sanh.
Duyên
lìa thì biến diệt.
Xả
tất cả ưu khổ,
Xa
lìa mọi tối tăm.
Đối
tịch diệt, đã chứng,
Các
lậu hết, an trụ.
Vì
biết ngươi, ác ma,
Hãy
biến khỏi nơi này.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Tỳ-kheo-ni Tỳ-la đã biết rõ
tâm ta.” Nên sanh lòng lo lắng, liền biến mất.
*
KINH
1204. TỲ-XÀ-DA[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Tỳ-xà-da[21] ở tại tinh
xá với chúng Tỳ-kheo-ni trong vườn vua nước Xá-vẹâ. Sáng
sớm đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong trở
về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ vắt lên
vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây, nhập chánh
thọ ban ngày.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Tỳ-xà-da,
ở tại tinh xá với chúng Tỳ-kheo-ni, trong vườn vua nước
Xá-vệ. Sáng sớm đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực.
Ăn xong trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa
cụ vắt lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây,
nhập chánh thọ ban ngày. Nay ta nên đến đó gây chướng nạn.’
Liền hóa thành thiếu niên, dung mạo đoan chánh, đến trước
cô, nói kệ:
Nay
cô còn tuổi trẻ,
Tôi
cũng còn trẻ tuổi;
Nơi
này, cùng ở chung,
Tạo
năm thứ âm nhạc.
Để
cùng nhau vui hưởng,
Thiền
tư để làm gì?
Khi
ấy, Tỳ-kheo-ni Tỳ-xà-da tự nghĩ: ‘Đây là những người
nào mà muốn khủng bố ta? Là người hay không phải người?
Hay là người gian xảo? Nghĩ vậy rồi, biết rõ đây là ác
Ma Ba-tuần muốn nhiễu loạn, liền nói kệ:
Ca
múa, các nghệ thuật,
Các
thứ cùng vui chơi;
Nay
đều cho ngươi hết,
Ta
chẳng cần đến chúng.
Nếu
chánh thọ vắng lặng,
Thì
ngũ dục trời, người;
Tất
cả đều cùng cho,
Ta
cũng không cần chúng[22].
Bỏ
tất cả vui vẻ,
Xa
lìa mọi tối tăm;
Đã
tác chứng, tịch diệt,
Các
lậu hết, an trụ.
Đã
biết ngươi, ác ma,
Hãy
tự biến khỏi đây.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Tỳ-kheo-ni Tỳ-xà-da đã biết
rõ tâm ta.’ Nên trong lòng ôm lo lắng, liền biến mất.
*
KINH
1205. GIÁ-LA[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Giá-la[24] ở tại tinh
xá với chúng Tỳ-kheo-ni trong vườn vua nước Xá-vệ. Sáng
sớm đắp y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn xong,
trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ vắt
lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một gốc cây, nhập
chánh thọ ban ngày.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Giá-la,
ở tại tinh xá với chúng Tỳ-kheo-ni, trong vườn vua nước
Xá-vệ. Sáng sớm đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực.
Ăn xong trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa
cụ vắt lên vai vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây,
nhập chánh thọ ban ngày. Nay ta nên đến đó gây chướng nạn.’
Liền hóa thành thiếu niên, dung mạo đoan chánh, đến trước
Tỳ-kheo-ni Giá-la nói kệ:
Biết
thọ sanh là vui[25],
Sanh
hưởng thụ ngũ dục[26].
Ai
đã truyền dạy cô,
Khiến
chán lìa thọ sanh?
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni Giá-la tự nghĩ: ‘Đây là người nào mà muốn
khủng bố ta? Là người hay không phải người? Hay là người
gian xảo? mà đến đây muốn nhiễu loạn,’ liền nói kệ:
Có
sanh ắt có chết,
Sanh
thì chịu các khổ:
Roi
vọt, các khổ não,
Duyên
sanh có tất cả.
Hãy
đoạn tất cả khổ,
Siêu
việt hết thảy sanh;
Tuệ
nhãn quán Thánh đế,
Những
gì Mâu-ni nói:
Khổ
khổ và khổ tập,
Diệt
tận lìa các khổ;
Tu
tập tám Thánh đạo,
An
ổn đến Niết-bàn.
Pháp
Đại Sư bình đẳng,
Tôi
hâm mộ pháp này;
Vì
tôi biết pháp này,
Không
thích thọ sanh nữa.
Lìa
tất cả buồn vui,
Xả
bỏ mọi tối tăm;
Đã
tác chứng tịch diệt,
Phiền
não hết, an trụ.
Biết
rõ ngươi, ác ma,
Hãy
biến khỏi nơi này.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Tỳ-kheo-ni Giá-la đã biết rõ
tâm ta.’ Trong lòng ôm lo lắng, liền biến mất.
*
KINH
1206. ƯU-BA-GIÁ-LA[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Ưu-ba-giá-la[28] ở tại
tinh xá với chúng Tỳ-kheo-ni trong vườn vua nước Xá-vệ.
Sáng sớm đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn
xong trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ
vắt lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây, nhập
chánh thọ ban ngày.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Ưu-ba-giá-la,
ở tại tinh xá với chúng Tỳ-kheo-ni, trong vườn vua nước
Xá-vệ. Sáng sớm đắp y ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực,
ăn xong trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa
cụ vắt lên vai vào rừng An-đà ngồi dưới bóng một gốc
cây, nhập chánh thọ ban ngày. Nay ta hãy đến đó gây chướng
nạn.’ Liền hóa thành thiếu niên, dung mạo đoan chánh, đến
chỗ Tỳ-kheo-ni Ưu-ba-giá-la nói kệ:
Trên
cõi Tam thập tam,
Diệm-ma,
Đâu-suất-đà;
Hóa
lạc, Tha tự tại,
Nguyện
được sanh về đó.
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni Ưu-ba-giá-la tự nghĩ: “Đây là những người
nào mà muốn khủng bố ta? Là người hay không phải người?
Hay là người gian xảo?” Tự nghĩ đã biết rõ đây ắt là
ác ma muốn nhiễu loạn, liền nói kệ:
Trên
cõi Tam thập tam,
Diệm-ma,
Đâu-suất-đà;
Hóa
lạc, Tha tự tại,
Trên
các cõi trời ấy.
Không
lìa hành hữu vi[29],
Nên
bị Ma khống chế;
Tất
cả các thế gian,
Đều
là tụ các hành.
Tất
cả các thế gian,
Đều
là pháp dao động;
Tất
cả các thế gian,
Lửa
khổ thường cháy mạnh.
Tất
cả các thế gian,
Đều
khởi dậy khói bụi.
Không
động cũng không lay;
Không
tập cận phàm phu;
Không
rơi vào đường ma;
Ở
nơi đó an vui;
Lìa
tất cả ưu khổ,
Xả
bỏ mọi tối tăm.
Đã
tác chứng tịch diệt,
Các
lậu hết, an trụ.
Đã
biết ngươi, ác ma,
Hãy
biến khỏi nơi này.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Tỳ-kheo-ni Ưu-ba-giá-la đã biết
rõ tâm ta’, trong lòng ôm lo, lặng lẽ biến mất.
*
KINH
1207. THI-LỢI-SA-GIÁ-LA[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Tỳ-kheo-ni Thi-lợi-sa-giá-la[31] ở
tại tinh xá với chúng Tỳ-kheo-ni trong vườn vua nước Xá-vệ.
Sáng sớm đắp y, ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Ăn
xong trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa cụ
vắt lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây, nhập
chánh thọ ban ngày.
Khi
ấy Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hôm nay Sa-môn Cù-đàm đang ở nước
Xá-vệ, vườn Cấp cô độc, có đệ tử là Tỳ-kheo-ni Thi-lợi-sa-giá-la,
ở tại tinh xá với chúng Tỳ-kheo-ni, trong vườn vua nước
Xá-vệ. Sáng sớm đắp y ôm bát, vào thành Xá-vệ khất thực.
Ăn xong trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân xong, lấy tọa
cụ vắt lên vai, vào rừng An-đà, ngồi dưới một bóng cây,
nhập chánh thọ ban ngày. Nay ta nên đến đó gây chướng nạn.’
Liền hóa thành thiếu niên, dung mạo đoan chánh, đến chỗ
Tỳ-kheo-ni Thi-lợi-sa-giá-la nói rằng:
“A-di!
Cô thích đạo giáo[32] nào?”
Tỳ-kheo-ni
đáp:
“Tôi
không thích bất cứ đạo giáo nào.”
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần liền nói kệ:
Cô
chấp nhận chỗ nào,
Cạo
tóc làm Sa-môn;
Mình
đắp y ca-sa,
Mà
làm tướng xuất gia;
Đối
các đạo không thích,
Mà
sống ôm ngu si?
Khi
ấy Tỳ-kheo-ni Thi-lợi-sa-giá-la tự nghĩ: ‘Đây là những
người nào mà muốn khủng bố ta? Là người hay không phải
người? Hay là người gian xảo? Nghĩ vậy rồi, tự biết rõ
là ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn, liền nói kệ:
Các
đạo ngoài Pháp này,
Bị
các kiến trói buộc.
Bị
các kiến trói rồi,
Thường
bị ma khống chế.
Nếu
sanh nhà họ Thích,
Không
ai bằng Đại Sư;
Hay
dẹp các ma oán,
Không
bị chúng chế phục.
Thanh
tịnh thoát tất cả,
Đạo
nhãn quan sát khắp;
Trí
nhất thiết ắt biết,
Tối
thắng lìa các lậu.
Ngài
Đại Sư của ta.
Ta
chỉ thích pháp Ngài.
Ta
vào pháp Ngài rồi,
Được
xa lìa, vắng lặng.
Lìa
tất cả ái hỷ,
Xả
bỏ mọi tối tăm;
Đã
tác chứng, tịch diệt,
Các
lậu hết, an trụ.
Đã
biết ngươi, ác ma,
Hãy
biến khỏi nơi này.
Bấy
giờ Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Tỳ-kheo-ni Thi-lợi-sa-giá-la đã
biết rõ tâm ta.’ Trong lòng ôm lo lắng, liền biến mất.
*
KINH
1208. AO YẾT-GIÀ[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở bên bờ hồ Yết-già[34], tại nước
Chiêm-bà.
Bấy
giờ, ngày thứ mười lăm của tháng, vào lúc bố-tát, Thế
Tôn ngồi trước đại chúng. Khi trăng vừa mới mọc, lúc
ấy ở trong chúng có Tôn giả Bà-kỳ-xá[35], nghĩ như vầy:
“Bây giờ, ta muốn ở trước Thế Tôn, đọc kệ khen về
thí dụ mặt trăng”. Nghĩ vậy xong, liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, sửa lại y phục, làm lễ Phật rồi chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con có điều muốn nói. Bạch Thiện Thệ, con có
điều muốn nói.”
Phật
bảo Bà-kỳ-xá:
“Muốn
nói thì cứ nói.”
Lúc
ấy Tôn giả Bà-kỳ-xá liền ở trước Phật nói kệ:
Như
trăng treo hư không,
Trong
sáng không mây che;
Ánh
sáng trong vằng vặc,
Chiếu
khắp cả mười phương.
Như
Lai cũng như vậy,
Trí
tuệ soi thế gian;
Công
đức nổi tiếng thơm,
Lan
tỏa khắp nơi nơi.
Khi
Tôn giả Bà-kỳ-xá nói kệ xong, các Tỳ-kheo nghe lời Tôn
giả nói đều rất hoan hỷ.
*
KINH
1209. KIỀU-TRẦN-NHƯ[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở bên bờ hồ Yết-già, tại nước Chiêm-bà.
Bấy giờ, Tôn giả A-nhã Kiều-trần-như ở lâu nơi a-luyện-nhã
thanh vắng, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật,
áp mặt lên chân Phật mà nói rằng:
“Lâu
quá con không gặp Thế Tôn! Lâu quá con không gặp Thiện Thệ!”
Khi
ấy, Tôn giả Bà-kỳ-xá đang ở trong chúng hội, nghĩ như
vầy: “Bây giờ, ta sẽ đến trước mặt Tôn giả A-nhã Kiều-trần-như
khen ngợi bằng thí dụ Thượng tọa.” Nghĩ vậy xong, từ
chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, làm lễ Phật, rồi
chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con có điều muốn nói. Bạch Thiện Thệ, con có
điều muốn nói.”
Phật
bảo Bà-kỳ-xá:
“Muốn
nói gì thì cứ nói.”
Lúc
ấy, Tôn giả Bà-kỳ-xá liền nói kệ:
Thượng
tọa của Thượng tọa[37],
Tôn
giả Kiều-trần-như;
Đã
độ, đã vượt qua,
Được
an lạc, chánh thọ.
Ở
nơi a-luyện-nhã,
Luôn
vui nơi viễn ly.
Điều
đệ tử cần làm,
Chánh
pháp Đại Sư dạy[38].
Tất
cả đều mở bày,
Chánh
thọ, không phóng dật;
Sức
đức lớn ba minh,
Trí
tha tâm sáng tỏ;
Thượng
tọa Kiều-trần-như,
Hộ
tài sản Phật pháp;
Bằng
cung kính tăng thượng,
Cúi
đầu lễ chân Phật.
Khi
Tôn giả Bà-kỳ-xá nói kệ xong, các Tỳ-kheo nghe lời Tôn
giả nói đều rất hoan hỷ.
*
KINH
1210. XÁ-LỢI-PHẤT[39]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở bên bờ hồ Yết-già, tại nước Chiêm-bà.
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất cùng với các Tỳ-kheo hội
họp tại nhà cúng dường. Tôn giả vì họ mà thuyết pháp,
cú vị đầy đủ, biện tài đơn giản, dễ hiểu, ưa nghe;
thông suốt không gián đoạn, hiển bày nghĩa sâu. Các Tỳ-kheo
này chuyên thích đến nghe; một lòng lắng nghe, tôn kính ghi
nhớ. Lúc ấy, Tôn giả Bà-kỳ-xá đang ngồi giữa pháp hội,
tự nghĩ: ‘Ta sẽ ở trước mặt Tôn giả Xá-lợi-phất nói
kệ tán thán.’ Nghĩ vậy xong, liền đứng dậy chắp tay bạch:
“Tôn
giả Xá-lợi-phất, tôi có điều muốn xin nói.”
Xá-lợi-phất
bảo:
“Tùy
sở thích mà nói.’
Tôn
giả Bà-kỳ-xá liền nói kệ:
Khéo
nói pháp tóm lược,
Khiến
ai cũng hiểu rộng;
Ưu-bà-đề-xá
hiền[40],
Giữa
đại chúng tuyên dương.
Đang
lúc ngài nói pháp,
Từ
cổ phát tiếng hay[41];
Âm
thanh ái niệm vui,
Tiếng
thư thả điều hòa.
Ai
nghe cũng ưa thích,
Chuyên
nhớ không dời đổi.
Khi
Tôn giả Bà-kỳ-xá nói những lời này, các Tỳ-kheo nghe những
gì Tôn giả nói đều rất hoan hỷ.
*
KINH
1211. NA-GIÀ SƠN[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở tại thành Vương xá, gần núi Na-già[43]
cùng với năm trăm Tỳ-kheo câu hội, đều là bậc A-la-hán
các lậu đã hết, việc cần làm đã làm, đã lìa bỏ các
gánh nặng, chóng được lợi mình, dứt hết các hữu kết,
chánh trí, tâm khéo giải thoát.
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên quan sát tâm của đại chúng, thấy
tất cả đều đã giải thoát tham dục. Khi ấy Tôn giả Bà-kỳ-xá
ở giữa đại chúng, nghĩ như vầy: ‘Bây giờ, ta nên ở
trước Thế Tôn và Tỳ-kheo Tăng nói kệ tán thán.’ Nghĩ
vậy xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy sửa lại y phục,
chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con có điều muốn nói. Bạch Thiện Thệ, con có
điều muốn nói.”
Phật
bảo Bà-kỳ-xá:
“Tùy
sở thích mà nói.”
Lúc
ấy, Tôn giả Bà-kỳ-xá liền nói kệ:
Vô
Thượng Sĩ, Đạo Sư,
Trụ
sườn núi Na-già;
Cùng
năm trăm Tỳ-kheo,
Thân
kính phụng Đạo Sư.
Tôn
giả Đại Mục-liên,
Thần
thông thấu rõ hết;
Quán
sát tâm đại chúng,
Thảy
đều lìa tham dục.
Độ
đầy đủ như vậy[44],
Mâu-ni
qua bờ kia;
Mang
thân này sau chót,
Nay
con cúi đầu lễ.
Khi
Tôn giả Bà-kỳ-xá những lời này, các Tỳ-kheo nghe những
gì Tôn giả nói, đều rất hoan hỷ.
*
KINH
1212. TỰ TỨ[45]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành
Vương xá[46]. Bấy giờ, Phật kiết hạ an cư cùng với năm
trăm Tỳ-kheo đều là bậc A-la-hán các lậu đã hết, việc
cần làm đã làm, đã lìa các bỏ gánh nặng, dứt trừ hữu
kết, chánh trí, tâm khéo giải thoát; chỉ trừ một Tỳ-kheo
là Tôn giả A-nan, được Thế Tôn ký thuyết, ngay trong đời
hiện tại Tôn giả sẽ đắc vô tri chứng[47].
Bấy
giờ, ngày mười lăm[48], vào giờ thực thọ[49], Thế Tôn
trải tòa ngồi trước đại chúng, rồi bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
là Bà-la-môn đắc Bát-niết-bàn, mang thân sau cùng, là Đại
Y Sư, nhổ những gai nhọn. Ta là Bà-la-môn đắc Bát-niết-bàn,
mang thân sau cùng, là Vô Thượng Y Sư, nhổ những gai nhọn.
Các ông là con, từ miệng Ta sanh ra, từ pháp hóa sanh, được
gia tài pháp. Hãy để Ta tự tứ[50]. Chớ để cho thân, khẩu,
ý Ta có điều đáng hiềm trách.”
Lúc
ấy Tôn giả Xá-lợi-phất ở giữa đại chúng đứng dậy,
sửa lại y phục, đảnh lễ chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn vừa nói rằng: ‘‘Ta là Bà-la-môn đắc
Bát-niết-bàn, mang thân cuối cùng, là Đại Y Sư, nhổ những
mũi nhọn. Các ông là con, sanh ra từ miệng Ta, được hóa
sanh từ pháp, được gia tài pháp. Hãy để Ta tự tứ. Chớ
để cho thân, khẩu, tâm ý[51] Ta có điều đáng hiềm trách.’
“Bạch
Thế Tôn, chúng con không thấy thân, khẩu và tâm ý của Thế
Tôn có điều gì đáng hiềm trách. Vì sao? Vì Thế Tôn, với
người không thể điều phục có thể khiến điều phục,
người không tịch tĩnh có thể khiến tịch tĩnh, người không
an nghỉ[52] có thể khiến an nghỉ, người không Bát-niết-bàn
có thể khiến Bát-niết-bàn. Như Lai biết đạo, Như Lai nói
đạo, Như Lai hướng đạo. Các đệ tử sau đó thành tựu,
tùy thuận đạo tôn sùng đạo, vâng theo lời dạy của Đạo
sư sống đúng như những lời chỉ dạy, chánh hướng, hân
lạc chân như thiện pháp. Đối với Thế Tôn con không thấy
thân hành, khẩu hành, ý hành có điều gì đáng hiềm trách.
Nay đối trước Thế Tôn, xin chỉ cho con các tội được thấy,
được nghe, được nghi, hoặc thân, khẩu, ý có điều gì
đáng hiềm trách?”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Ta
không thấy ông có các tội được thấy, được nghe, được
nghi và thân, khẩu, ý có điều gì đáng hiềm trách. Vì sao?
Vì Xá-lợi-phất, ông trì giới, đa văn, thiểu dục, tri túc,
tu hạnh viễn ly, tinh cần phương tiện, chánh niệm, chánh
thọ, trí tuệ nhanh nhạy[53], trí tuệ sáng suốt sắc bén,
trí tuệ giải thoát, trí tuệ yểm ly, trí tuệ lớn, trí tuệ
rộng, trí tuệ sâu, trí tuệ không ai bằng, thành tựu trí
tuệ bảo[54]; khai thị, chỉ giáo, soi sáng, hoan hỷ; và thường
cũng tán thán việc khai thị, chỉ giáo, soi sáng, làm cho hoan
hỷ, mà vì chúng sanh thuyết pháp chưa từng mỏi mệt. Thí
như thái tử thứ nhất của Chuyển luân Thánh vương đáng
thọ lễ quán đảnh; nhưng chưa quán đảnh mà đang ở vào
nghi pháp quán đảnh như pháp của vua cha, những gì người
đã chuyển cũng sẽ theo đó mà chuyển. Nay ông cũng như vậy,
là trưởng tử của Ta, gần được thọ quán đảnh, nhưng
chưa quán đảnh mà đang ở vào nghi pháp. Những gì Ta đã
chuyển, ông cũng theo đó chuyển và đạt được vô sở khởi;
hết các hữu lậu, tâm khéo giải thoát. Cũng vậy, đối với
ông, Ta không thấy có các tội được thấy, được nghe, được
nghi và thân, khẩu, ý có điều gì đáng hiềm trách.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nếu con không có các tội được thấy, được nghe,
được nghi và thân, khẩu, ý có điều gì đáng hiềm trách;
vậy thì năm trăm Tỳ-kheo này có không các tội được thấy,
được nghe, được nghi và thân, khẩu, ý có điều gì đáng
hiềm trách?”
Phật
đáp:
“Đối
với năm trăm Tỳ-kheo này, Ta cũng không thấy các tội được
thấy, được nghe, được nghi và thân, khẩu, ý có điều
gì đáng hiềm trách. Vì sao? Vì năm trăm Tỳ-kheo này đều
là A-la-hán, các lậu đã hết, những việc cần làm đã làm
xong, đã bỏ gánh nặng, đoạn các kết sử, chánh trí, tâm
khéo giải thoát. Trừ một Tỳ-kheo, đó là Tôn giả A-nan,
Ta ký thuyết cho A-nan đối trong hiện pháp sẽ đắc vô trí
chứng. Cho nên, năm trăm Tỳ-kheo, Ta không thấy họ có các
tội được thấy, được nghe, được nghi và thân, khẩu,
ý có điều gì đáng hiềm trách.”
Xá-lợi-phất
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, năm trăm Tỳ-kheo này đã không có các tội được
thấy, được nghe, được nghi và thân, khẩu, ý có điều
gì đáng hiềm trách hết. Vậy trong đây có bao nhiêu Tỳ-kheo
được Tam minh? Có bao nhiêu Tỳ-kheo được Câu giải thoát?
Có bao nhiêu Tỳ-kheo được Tuệ giải thoát?”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Trong
năm trăm Tỳ-kheo này, chín mươi Tỳ-kheo được Tam minh; chín
mươi Tỳ-kheo được Câu giải thoát; những vị còn lại được
Tuệ giải thoát. Này Xá-lợi-phất, những Tỳ-kheo này đã
lìa khỏi mọi dao động, không có ai là vỏ ngoài, mà đều
là lõi thật cứng chắc.”
Khi
ấy Tôn giả Bà-kỳ-xá ở giữa hội chúng tự nghĩ: “Nay
ta sẽ ở trước Thế Tôn và hội chúng nói kệ tán thán sự
hoài thọ.” Nghĩ vậy xong, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
sửa lại y phục, lễ Phật, gối phải quỳ sát đất chắp
tay bạch:
“Bạch
Thế Tôn, con có điều muốn nói. Bạch Thiện Thệ, con có
điều muốn nói.”
Phật
bảo Bà-kỳ-xá:
“Cứ
nói theo những gì muốn.”
Lúc
ấy, Bà-kỳ-xá liền nói kệ:
Ngày
mười lăm thanh tịnh,
Chúng
kia năm trăm người;
Đoạn
trừ tất cả kết,
Đại
Tiên diệt tận hữu.
Thanh
tịnh tập thân cận,
Thanh
tịnh rộng giải thoát;
Không
còn thọ các hữu,
Sanh
tử đã đoạn hẳn.
Việc
cần làm đã làm,
Đã
hết tất cả lậu;
Mây
ngũ cái đã trừ,
Nhổ
rễ gai ái dục.
Sư
tử không sợ hãi,