TẠP
A-HÀM QUYỂN 44
KINH
1178. BÀ-TỨ-TRA[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Am-la, tại nước Di-hy-la[2].
Khi ấy, có thiếu phụ Bà-la-môn tên là Bà-tứ-tra[3], có sáu
người con qua đời liên tiếp. Vì nhớ con nên phát cuồng,
trần truồng, xõa tóc, cứ theo đường mà chạy[4], đến trong
vườn Am-la, Di-hy-la. Bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho
vô lượng đại chúng đang vây quanh. Từ xa, thiếu phụ Bà-la-môn
Bà-tứ-tra trông thấy Thế Tôn. Vừa thấy, bỗng tỉnh tâm
lại, thẹn thùng xấu hổ nép mình ngồi xổm xuống.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan: “Lấy Uất-đa-la-tăng của
ông đem cho thiếu phụ Bà-la-môn Bà-tứ-tra và bảo khoác vào
để nghe pháp.” Tôn giả A-nan vâng lời Phật dạy, lấy y
đưa cho bà khoác vào. Sau khi bà được y, mặc xong, đến trước
Phật cúi đầu lễ Phật, ngồi lui qua một bên. Bấy giờ,
Thế Tôn vì bà thuyết pháp, khai thị, chỉ giáo, soi sáng,
làm cho hoan hỷ. Như thường lệ, Đức Phật thuyết pháp theo
thứ lớp cho đến khi tín tâm thanh tịnh, thọ tam tự quy.
Sau
khi nghe Phật thuyết pháp, bà hoan hỷ, tùy hỷ, làm lễ ra
về.
Sau
đó người con thứ bảy của Ưu-bà-di Bà-tứ-tra này đột
nhiên lại qua đời. Nhưng bà Ưu-bà-di này không còn ưu bi,
khổ, não, khóc lóc nữa. Lúc này, chồng của bà Ưu-bà-di
Bà-tứ-tra làm kệ nói với bà rằng:
Những
đứa con trước chết,
Nhớ
thương sanh ưu khổ;
Ngày
đêm không ăn uống,
Cho
đến phát cuồng điên.
Nay
chôn đứa thứ bảy,
Sao
không sanh ưu khổ?
Ưu-bà-di
Bà-tứ-tra liền nói kệ đáp lại cho chồng rằng:
Con
cháu có cả ngàn,
Nhân
duyên hòa hợp sanh;
Đã
lâu thành quá khứ;
Tôi
và ông cũng vậy.
Con
cháu và dòng họ,
Số
này không hạn lượng,
Sanh
nơi này, nơi kia;
Tàn
sát, ăn thịt nhau.
Nếu
biết cuộc sống ác[5],
Sanh
ưu khổ làm gì.
Tôi
đã biết xuất ly,
Sự
sống chết, còn mất.
Không
còn sanh ưu khổ,
Do
nhập Chánh pháp Phật.
Lúc
ấy, người chồng của Ưu-bà-di Bà-tứ-tra làm kệ khen rằng:
Pháp
chưa từng được nghe,
Mà
nay nghe bà nói.
Nghe
nói pháp ở đâu,
Không
ưu khổ nhớ con?
Ưu-bà-di
Bà-tứ-tra làm kệ đáp:
Nay
Đấng Đẳng Chánh Giác,
Tại
nước Câu-hy-la;
Trong
vườn cây Am-la,
Lìa
hẳn tất cả khổ.
Diễn
nói tất cả khổ,
Khổ
tập, Khổ tịch diệt.
Bát
chánh đạo Hiền thánh,
An
ổn hướng Niệt-bàn.
Đó
là Thầy của tôi,
Hâm
mộ Chánh giáo Ngài.
Tôi
đã biết Chánh pháp,
Hay
trừ khổ nhớ con.
Người
chồng là Bà-la-môn nói kệ đáp:
Nay
tôi cũng sẽ đến,
Vườn
Am-la, Di-hy;
Đức
Thế Tôn cũng sẽ,
Dạy
bỏ khổ nhớ con.
Ưu-bà-di
lại nói kệ đáp:
Nên
quán Đẳng Chánh Giác,
Mềm
mại thân sắc vàng;
Điều
phục người khó điều,
Đưa
khắp người qua bể.
Bấy
giờ, Bà-la-môn liền sửa soạn xe cộ; rồi lên xe ngựa đến
vườn Am-la, Di-hy. Từ xa trông thấy Thế Tôn, lòng tin vui tăng
lên, đến trước Đại Sư. Khi ấy Đại Sư vì ông mà nói
kệ, khai mở pháp nhãn cho ông, thấy khổ, tập, diệt, đạo,
thẳng đến Niết-bàn. Ông liền thấy pháp, thành tựu hiện
quán. Sau khi biết pháp rồi, xin được phép xuất gia. Ngay
lúc đó Bà-la-môn liền được xuất gia và một mình ở chỗ
yên tĩnh, tư duy… cho đến đắc A-la-hán.
Thế
Tôn đã ký thuyết là chờ vào đêm thứ ba, ông sẽ đắc
tam minh. Sau khi đắc tam minh rồi, Đức Thế Tôn bảo ông,
sai người đánh xe hãy đem xe về nhà, cho Ưu-bà-di Bà-tứ-tra
biết, khởi phát lời tùy hỷ chúc mừng rằng:
“Bà-la-môn
đã đến gặp Thế Tôn; đã có được tín tâm thanh tịnh
và kính thờ làm Thầy. Đại Sư liền vì ông thuyết pháp,
vì ông mà khai mở pháp nhãn, ông đã thấy Khổ Thánh đế,
Khổ tập, Khổ diệt và tám đường Hiền thánh an ổn thẳng
đến Niết-bàn, thành tựu hiện quán. Sau khi biết pháp rồi,
liền xin xuất gia và Thế Tôn đã ký thuyết là vào đêm thứ
ba ông đắc tam minh đầy đủ.”
Khi
đó người đánh xe vâng lời liền quay về nhà, từ xa Ưu-bà-di
Bà-tứ-tra trông thấy người đánh xe đánh xe không trở về,
liền hỏi:
“Bà-la-môn
có gặp được Phật không? Phật có vì ông thuyết pháp, khai
thị pháp nhãn cho ông thấy Thánh đế không?”
Người
đánh xe thưa:
“Bà-la-môn
đã đến gặp Thế Tôn; đã có được tín tâm thanh tịnh
và kính thờ làm Thầy. Đại Sư liền vì ông thuyết pháp,
vì ông mà khai mở pháp nhãn, ông đã thấy Khổ Thánh đế,
Khổ tập, Khổ diệt và tám đường Hiền thánh an ổn thẳng
đến Niết-bàn, thành tựu hiện quán. Sau khi biết pháp rồi,
liền xin xuất gia và Thế Tôn đã ký thuyết là vào đêm thứ
ba ông đắc tam minh đầy đủ.” Lúc ấy, Ưu-bà-di trong lòng
liền vui vẻ, nói với người đánh xe:
“Cho
ông chiếc xe ngựa này cộng thêm một trăm ngàn tiền vàng,
vì ông đã truyền tin, nói là Bà-la-môn Tú-xà-đế[6] đã
chứng tam minh, khiến lòng tôi vui vẻ.”
Người
đánh xe đáp:
“Bây
giờ con đâu cần xe ngựa và vàng bạc làm gì? Xe ngựa vàng
bạc, xin trả lại cho bà Ưu-bà-di, nay con sẽ trở lại chỗ
Bà-la-môn, theo ông xuất gia.”
Ưu-bà-di
nói:
“Ý
ông như vậy, thì hãy mau mau trở lại để theo ông chủ xuất
gia, không bao lâu cũng sẽ được tam minh đầy đủ như ông
chủ.”
Người
đánh xe nói:
“Đúng
vậy, thưa bà Ưu-bà-di, như ông chủ xuất gia, con cũng sẽ
như vậy.”
Bà
Ưu-bà-di nói:
“Cha
của ngươi đã xuất gia, ngươi cũng xuất gia theo. Ta nay không
bao lâu cũng sẽ đi theo. Giống như con rồng lớn trong đồng
trống lướt qua hư không mà du hành. Những con rồng khác,
rồng con trai, rồng con gái, thảy đều bay theo. Ta cũng như
vậy, sẽ mang bát, đắp y, sống đời dễ thỏa mãn.”
Người
đánh xe thưa:
“Thưa
bà Ưu-bà-di, nếu như vậy, sở nguyện của bà ắt sẽ thành
tựu. Không bao lâu sẽ thấy bà Ưu-bà-di ít muốn, biết đủ,
đắp y, mang bát, xin nhận những gì người ta bỏ đi mà ăn,
cạo tóc mặc áo nhuộm. Đối với ấm, giới, nhập, đoạn
trừ ái dục, xa lìa sự trói buộc của tham và dứt hết các
hữu lậu.”
Ông
Bà-la-môn, người đánh xe, bà Ưu-bà-di Bà-tứ-tra và cô con
gái là Tôn-đà-bàn-lê[7] đều xuất gia, cứu cánh thoát khổ.
*
KINH
1179. MẤT BÒ[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong tinh xá Đại lâm[9], nước Tỳ-xá-ly.
Bấy giờ, có Bà-la-môn Tỳ-lê-da Bà-la-đậu-bà-giá[10], sáng
sớm đi mua bò, chưa kịp trả giá, ngay hôm đó mất bò. Sáu
ngày không tìm thấy. Nhân tìm bò, Bà-la-môn đến tinh xá Đại
lâm.
Từ
xa trông thấy Thế Tôn đang ngồi dưới bóng cây, dung nghi
đĩnh đặc, các căn thanh tịnh, tâm Ngài vắng lặng, thành
tựu chỉ quán. Thân Ngài sắc vàng chiếu sáng chói. Thấy
vậy, liền đến trước Ngài nói kệ:
Vì
sao không sở cầu,
Trống
vắng ở nơi này,
Một
mình nơi rừng vắng,
Mà
tâm được an lạc?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Hoặc
mất, hoặc được lại,
Đối
tâm Ta không loạn;
Bà-la-môn
nên biết,
Chớ
nói kia như Ta.
Tâm
chấp việc được mất,
Tâm
ấy không tự tại.
Lúc
ấy Bà-la-môn lại nói kệ:
Chỗ
Phạm chí hơn hết,
Như
Tỳ-kheo đã nói;
Nay
tôi sẽ tự nói,
Lắng
nghe lời chân thật.
Sa-môn
định chẳng phải
Người
mất bò buổi sáng,
Sáu
ngày tìm không được,
Cho
nên sống an lạc.
Sa-môn
định chẳng phải
Người
gieo trồng ruộng mè
Lo
cỏ hoang phủ mất;
Cho
nên sống an lạc.
Sa-môn
định chẳng phải
Người
trồng lúa thiếu nước,
Sợ
hoang khô mà chết;
Cho
nên sống an lạc.
Sa-môn
định chẳng phải
Quả
phụ có bảy người,
Đều
nuôi con mồ côi;
Cho
nên sống an lạc.
Sa-môn
định chẳng phải
Bảy
con không được yêu,
Phóng
túng nhiều nợ nần;
Cho
nên sống an lạc.
Sa-môn
định chẳng phải
Chủ
nợ giữ cửa mình,
Tìm
đòi tiền lãi nhiều;
Cho
nên sống an lạc.
Sa-môn
định chẳng phải
Đồ
nằm sâu bảy lớp
Lo
lắng nhặt côn trùng;
Cho
nên sống an lạc.
Sa-môn
định chẳng phải
Vợ
tóc vàng, mắt đỏ,
Ngày
đêm nghe tiếng ác;
Cho
nên sống an lạc.
Sa-môn
định chẳng phải
Bồ
không, đàn chuột giỡn
Thường
lo lắng thiếu gầy;
Cho
nên sống an lạc.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp lại:
Nay
Ta quyết không phải
Kẻ
mất bò buổi sáng,
Sáu
ngày tìm không ra,
Cho
nên sống an lạc.
Nay
Ta quyết không phải
Người
gieo trồng ruộng mè,
Lo
cỏ hoang phủ mất,
Cho
nên sống an lạc.
Nay
Ta quyết không phải
Người
trồng lúa thiếu nước,
Sợ
hoang khô mà chết,
Cho
nên sống an lạc.
Nay
Ta quyết không phải
Quả
phụ có bảy người,
Đều
nuôi con mồ côi,
Cho
nên sống an lạc.
Nay
Ta quyết không phải
Bảy
con không được yêu,
Phóng
túng nhiều nợ nần,
Cho
nên sống an lạc.
Nay
Ta quyết không phải
Chủ
nợ giữ cửa mình,
Tìm
đòi tiền lãi nhiều,
Cho
nên sống an lạc.
Nay
Ta quyết không phải
Đồ
nằm sâu bảy lớp,
Lo
lắng nhặt côn trùng,
Cho
nên sống an lạc.
Nay
Ta quyết không phải
Vợ
tóc vàng, mắt đỏ,
Ngày
đêm nghe tiếng ác,
Cho
nên sống an lạc.
Nay
Ta quyết không phải
Bồ
không, đàn chuột giỡn,
Thường
lo lắng thiếu gầy,
Cho
nên sống an lạc.
Không
buông niệm, không niệm.
Chúng
sanh sống an lạc;
Đoạn
dục, lìa ân ái,
Mà
được sống an lạc.
Bấy
giờ, Thế Tôn vì tinh tấn Ba-la-môn Bà-la-đậu-bà-giá mà
thuyết pháp khai thị, dạy dỗ, soi sáng, làm cho vui mừng.
Như thường lệ Phật theo thứ tự thuyết pháp về bố thí,
trì giới… cho đến ở trong Chánh pháp tâm không còn sợ
hãi, rồi liền từ chỗ đứng dậy chắp tay bạch Phật:
“Con
nay có được xuất gia học đạo thành Tỳ-kheo, tu phạm hạnh
ở trong Chánh pháp luật không?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Nay
ông có thể được xuất gia, thọ cụ túc giới, tu các phạm
hạnh ở trong Chánh pháp luật …”. Chi tiết, cho đến đắc
A-la-hán, tâm khéo giải thoát.
Bấy
giờ tinh tấn Bà-la-môn Bà-la-đậu-bà-giá đắc A-la-hán, duyên
tự tâm mà giác tri, được an lạc giải thoát, bèn nói kệ:
Nay
ta thật vui sướng,
Ở
trong pháp Đại tiên;
Được
vui lìa tham dục,
Không
phí công thấy Phật.
*
KINH
1180. TRÍ GIẢ[11]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong rừng cây Sa-la, tại tụ lạc Bà-la-môn[12].
Bấy giờ sáng sớm Thế Tôn đắp y, mang bát vào tụ lạc
Bà-la-môn khất thực, bất chợt mây phi thời nổi lên. Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Nay, Ta nên đến trong nhà hội lớn
gia chủ Bà-la, tại tụ lạc Bà-la-môn[13].’ Nghĩ vậy rồi,
Ngài liền đến chỗ nhà hội lớn kia. Khi ấy các gia chủ
Bà-la-môn đang hội họp trong nhà đó. Từ xa trông thấy Thế
Tôn, họ cùng bảo với nhau: “Sa-môn cạo đầu kia cuối cùng
biết pháp gì[14]?”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo gia chủ Bà-la-môn tụ lạc Bà-la kia rằng:
“Trong
dòng Bà-la-môn có người biết pháp, có người không biết
pháp; dòng Sát-đế-lợi hay gia chủ, cũng có người biết
pháp, có người không biết pháp.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Chẳng
bạn muốn hơn bạn,
Vua
không phục khó phục;
Vợ
không cầu hơn chồng,
Con
nào không kính cha?
Không
người trí: không hội.
Không
trí: không lời pháp;
Tham,
sân, si đoạn tận,
Thì
đó là người trí.
Khi
ấy gia chủ Bà-la-môn kia bạch Phật:
“Thiện
sĩ Cù-đàm! Thiện sĩ phu! Mời Ngài có thể vào nhà này mà
ngồi.”
Sau
khi Thế Tôn ngồi rồi, liền bạch rằng:
“Xin
Cù-đàm thuyết pháp. Chúng tôi muốn nghe.”
Bấy
giờ, Thế Tôn vì gia chủ Bà-la-môn nơi đại hội này bằng
mọi cách thuyết pháp khai thị, dạy dỗ, soi sáng và làm cho
vui mừng rồi, lại nói kệ:
Ngu
cùng trí tụ hội,
Không
nói, biết ai sáng?
Hay
nói đạo tịch tĩnh,
Nghe
nói, biết kẻ trí.
Người
nói, nêu Chánh pháp,
Kiến
lập cờ Đại tiên;
Khéo
nói là cờ Tiên,
Pháp
là cờ La-hán.
Bấy
giờ, Thế Tôn vì các gia chủ Bà-la-môn nơi tụ lạc Bà-la
kiến lập chánh pháp, khai thị, dạy dỗ, soi sáng, làm cho
vui vẻ xong, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1181. THIÊN TÁC[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở Câu-tát-la[16], du hành trong nhân gian. Rồi
đến tụ lạc Phù-lê[17], trú trong vườn Am-la của Bà-la-môn
Thiên Tác[18]. Khi ấy Tôn giả Ưu-ba-ma[19] làm thị giả. Bấy
giờ Thế Tôn đang đau lưng[20], bảo Tôn giả Ưu-ba-ma:
“Thầy
cất y bát xong, đến nhà Bà-la-môn Thiên Tác.”
Lúc
đó Bà-la-môn Thiên Tác đang ở trong nhà, sai người chải
đầu và cạo râu, sửa tóc cho ông, thấy Tôn giả Ưu-ba-ma
đang đứng ngoài cửa. Thấy rồi ông nói kệ:
Vì
sao cạo râu tóc,
Mình
khoác Tăng-già-lê[21];
Đang
đứng ngoài cửa đó,
Muốn
cầu xin thứ gì?
Tôn
giả Ưu-ba-ma nói kệ đáp:
Đấng
Thiện Thệ La-hán,
Bị
bệnh phong đau lưng;
Có
thứ nước an lạc[22],
Trị
bệnh Mâu-ni chăng?
Lúc
ấy, Bà-la-môn Thiên Tác lấy ra một bát đầy tô, một bình
dầu, một bình đường phèn, rồi sai người bưng đi, cùng
bình nước nóng, theo Tôn giả Ưu-ba-ma đến chỗ Thế Tôn.
Lấy dầu xoa lên thân, dùng nước nóng rửa đi, xong đem tô
và đường phèn làm nước uống. Sau đó, bệnh đau lưng Thế
Tôn liền được an ổn. Sáng sớm hôm sau Thiên Tác dậy thật
sớm, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân, ngồi
lui qua một bên, nói kệ:
Sao
gọi Bà-la-môn,
Thí
gì được quả lớn?
Thế
nào là thời thí[23],
Sao
gọi ruộng phước tịnh?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Nếu
được trí túc mạng,
Thấy
trời, định hướng sanh[24];
Được
hết các hữu lậu,
Mâu-ni
khởi tam minh.
Khéo
biết tâm giải thoát,
Giải
thoát tất cả tham;
Mới
gọi Bà-la-môn.
Thí
kia được quả lớn.
Thí
kia là thời thí,
Ruộng
phước theo ý muốn.
Sau
khi Bà-la-môn Thiên Tác nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy
hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1182. NGHỀ RUỘNG[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại Câu-tát-la du hành trong nhân gian;
một đêm nọ dừng chân lại trong rừng Sa-la.
Bấy
giờ, cách rừng Sa-la không xa có một Bà-la-môn làm nghề nông[26].
Sáng sớm thức dậy vào trong rừng Sa-la, từ xa nhìn thấy
Thế Tôn đang ngồi dưới một bóng cây, tướng mạo oai nghi
đoan chánh, các căn thanh tịnh, tâm người tịch định, thành
tựu đầy đủ chỉ quán đệ nhất. Thân Ngài sắc vàng ánh
sáng chiếu suốt. Thấy vậy, đến chỗ Ngài, bạch rằng:
“Bạch
Cù-đàm, tôi làm nghề nông ở gần đây, nên thích rừng này.
Bạch Cù-đàm, có nghề nghiệp gì ở đây không, mà thích
ở trong rừng này? Rồi nói kệ:
Tỳ-kheo
ở rừng này,
Vì
có nghề nghiệp gì,
Nên
một mình chỗ vắng,
Thích
ở trong rừng này?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp lại:
Vô
sự ở rừng này,
Rễ
rừng chặt từ lâu;
Nơi
rừng, lìa thoát rừng,
Thiền
tư, trừ bất lạc.
Sau
khi Bà-la-môn nghe những gì Phật nói, hoan hỷ tùy hỷ, làm
lễ ra về.
*
KINH
1183. NHẶT CỦI[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại Câu-tát-la du hành trong nhân gian;
một đêm nọ dừng chân lại trong rừng Sa-la.
Bấy
giờ, có một Bà-la-môn ở bên cạnh rừng, cùng năm trăm thiếu
niên Bà-la-môn ở chung[28]. Bà-la-môn kia thường tán thán,
mong mỏi và muốn gặp Thế Tôn, “Khi nào Ngài du hành đến
rừng này, nhân đó ta đến gặp để hỏi về những chỗ
còn nghi. Ngài có rảnh vì ta mà ký thuyết không?”
Khi
ấy người đệ tử thiếu niên của Bà-la-môn kia nhân kiếm
củi, nên vào trong rừng. Từ xa nhìn thấy Thế Tôn ngồi dưới
bóng cây, dung nghi đoan chánh, các căn vắng lặng, tâm ngài
định tĩnh, thân như núi vàng ánh sáng chiếu suốt, thấy
rồi tự nghĩ: ‘Thầy mình thường tán thán, kính ngưỡng
và mong được gặp Ngài Cù-đàm để hỏi những điều nghi
ngờ. Nay Sa-môn Cù-đàm này đến trong rừng này, ta phải nhanh
chóng về báo cho thầy ta biết.’ Tức thì ôm bó củi nhanh
chóng trở về nhà học, bỏ bó củi xuống, rồi đến chỗ
thầy thưa rằng:
“Thầy
nên biết! Lâu nay thầy thường tán thán, kính ngưỡng muốn
gặp Sa-môn Cù-đàm đến rừng này để hỏi những điều
nghi, nay Sa-môn Cù-đàm đã đến rừng này, xin thầy biết
thời.”
Khi
ấy Bà-la-môn liền đến chỗ Thế Tôn, sau khi thăm hỏi, ủy
lạo xong, ngồi lui qua một bên nói kệ:
Một
mình vào nơi sợ,
Trong
rừng rậm thâm sâu;
Đứng
vững không dao động,
Khéo
tu pháp chánh cần.
Không
ca múa âm nhạc,
Ở
chỗ vắng tĩnh lặng;
Tôi
chưa từng thấy ai,
Một
mình thích rừng sâu.
Muốn
tìm nơi thế gian,
Vị
Chúa tể tự tại;
Là
trời Tam thập tam,
Cõi
trời vui tự tại.
Cớ
sao vào rừng sâu,
Khổ
hạnh tự khô héo?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Mong
cầu nhiều là khổ,
Đắm
mê vào các cõi;
Tất
cả chúng đều là
Cội
rễ của ngu si.
Những
loại cầu như vậy,
Ta
trừ bỏ từ lâu.
Không
cầu, không lừa dối,
Tất
cả không đụng tới.
Đối
tất cả các pháp,
Duy
có quán thanh tịnh;
Được
vô thượng Bồ-đề,
Thiền
tư tu chánh lạc.
Bà-la-môn
lại nói kệ:
Nay
con kính lễ Ngài,
Đấng
Mâu-ni tịch lặng;
Vua
thiền tư vi diệu,
Đại
giác, giác vô biên.
Như
Lai cứu trời, người,
Vòi
vọi như núi vàng;
Giải
thoát khỏi rừng rậm,
Ở
rừng hẳn không đắm.
Đã
nhổ gai nhọn sâu,
Lành
sạch không dấu vết;
Thượng
thủ hàng luận sư,
Biện
luận hơn tất cả.
Sư
tử hùng loài người,
Rống
động khắp rừng sâu;
Hiển
hiện Khổ Thánh đế,
Tập,
Diệt, tám Thánh đạo.
Diệt
tận các tụ khổ,
Xuất
ly, tịnh không nhơ;
Tự
thoát tất cả khổ,
Cứu
khổ khắp chúng sanh.
Vì
an lạc chúng sanh,
Nên
diễn nói Chánh pháp;
Với
ân ái đã dứt,
Đối
lưới dục xa lìa.
Đoạn
trừ hết tất cả,
Kết
buộc của hữu ái;
Như
hoa sen sống nước,
Không
nhiễm dính nước bùn.
Như
mặt trời giữa không,
Trong
sáng không mây che;
Hôm
nay con may mắn,
Đến
rừng Câu-tát-la.
Được
gặp Bậc Đại Sư,
Đấng
Lưỡng Túc Tôn Thắng;
Đại
tinh tấn, rừng sâu,
Rộng
độ sanh bậc nhất.
Hàng
đầu, Điều Ngự Sư,
Kính
lễ Đấng Vô Úy.
Sau
khi Bà-la-môn nói đầy đủ kệ khen ngợi Phật xong, nghe những
gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ ra về.
*
KINH
1184. TÔN-ĐÀ-LỢI (1)[29]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật tại Câu-tát-la du hành trong nhân gian, nghỉ
đêm bên bờ sông Tôn-đà-lợi[30]. Bấy giờ, Thế Tôn cạo
tóc chưa lâu, vào cuối đêm, lấy y phủ lên đầu, ngồi kiết
già, chánh thân tư duy, cột niệm ở trước.
Bấy
giờ, bên sông Tôn-đà-lợi có Bà-la-môn[31] đang ở, cuối
đêm thức dậy, đem những thức ăn cúng còn dư chưa hết,
đem đến bờ sông, muốn tìm Bà-la-môn có đức lớn để
cúng dường.
Khi
ấy Thế Tôn nghe tiếng Bà-la-môn bên bờ sông; nghe rồi bèn
đằng hắng lên tiếng và lấy y ra để bày đầu. Lúc ấy,
Bà-la-môn bên sông Tôn-đa-lợi thấy Phật rồi, tự nghĩ:
“Đây là Sa-môn cạo đầu, chẳng phải Bà-la-môn.” Định
đem thức ăn trở về, nhưng Bà-la-môn này lại nghĩ: “Đâu
phải chỉ có Sa-môn đầu cạo tóc. Trong hàng Bà-la-môn cũng
có người đầu cạo tóc. Nên đến đó, hỏi chỗ sanh của
ông ta.” Lúc này, Bà-la-môn bên sông Tôn-đà-lợi đến chỗ
Thế Tôn hỏi rằng:
“Ngài
sanh thuộc dòng họ nào?”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Ông
chớ hỏi chỗ sanh,
Mà
nên hỏi chỗ hành.
Khắc
cây dùi lấy lửa,
Cũng
có thể sanh lửa.
Trong
dòng họ hạ tiện,
Sanh
Mâu-ni vững chắc;
Trí
tuệ, có tàm quý,
Tinh
tấn, khéo chế ngự.
Rốt
ráo sáng tỏ khắp,
Tu
phạm hạnh thanh tịnh;
Mà
nay đã đúng thời,
Nên
cúng thức ăn dư.
Bà-la-môn
bên sông Tôn-đà-lợi lại nói kệ:
Nay
ngày tốt của con,
Muốn
cúng dường cầu phước;
May
gặp được Đại sĩ,
Tôn
quý nhất ba thời.
Nếu
không gặp được Phật,
Thời
đã cúng người khác.
Bấy
giờ, Bà-la-môn bên sông Tôn-đà-lợi càng tăng thêm lòng tin,
liền đem thức ăn dư ấy phụng cúng Thế Tôn. Thế Tôn không
nhận, vì đã nhờ nói bài kệ mà được.
(Chi
tiết như đã nói, vì nhờ thuyết pháp mà được đồ ăn).
Bà-la-môn
bên sông Tôn-đà-lợi bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, bây giờ thức ăn cúng này nên để chỗ nào?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Ta
không thấy chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên thần
hay người đời nào có thể ăn thức ăn này mà khiến thân
thể an ổn. Ông hãy đem thức ăn này bỏ vào trong nước không
có trùng và chỗ đất ít cỏ mọc.”
Lúc
này, Bà-la-môn này liền đem thức ăn này bỏ vào trong nước
không có trùng. Nước liền bốc khói sủi bọt sôi lên thành
tiếng xèo xèo. Ví như nung hòn sắt, đem bỏ vào trong nước
lạnh, bốc khói sủi bọt sôi lên phát ra tiếng xèo xèo. Thức
ăn này cũng vậy. Bỏ vào nước không có trùng, bốc khói
sủi bọt, sôi lên thành tiếng xèo xèo. Bà-la-môn bên sông
Tôn-đà-lợi lòng kinh hãi, thân lông dựng lên hết, cho là
tai biến, vội chạy lên bờ gom củi khô lại cúng dường
đền thờ lửa để dứt sự tai quái. Thế Tôn thấy ông gom
củi khô cúng dường đền thờ lửa để mong dứt sự tai
quái. Thấy vậy, liền nói kệ:
Bà-la-môn
thờ lửa,
Thiêu
đốt cây cỏ khô,
Chớ
cho là tịnh đạo,
Có
thể dứt tai hoạn.
Đó
là ác cúng dường,
Mà
bảo là trí tuệ.
Tạo
nhân duyên như vậy,
Ngoại
đạo thủ tu tịnh.
Nay
ông bỏ lửa củi,
Thổi
bùng lửa bên trong;
Thường
tu không phóng dật,
Lúc
nào cũng cúng dường.
Tin
tịnh khắp mọi nơi,
Rộng
bày đại hội thí.
Tâm
ý là bó củi,
Sân
nhuế bốc khói đen.
Vọng
ngữ là vị đời,
Miệng
lưỡi là thìa gỗ;
Ngực
giữ nơi lửa đốt,
Lửa
dục thường cháy mạnh.
Phải
khéo tự điều phục,
Người
tiêu diệt ngọn lửa.
Chánh
tín là sông lớn,
Tịnh
giới là vượt sang.
Lắng
trong sạch dòng nước,
Được
người trí khen ngợi;
Sạch
trong người: đức trời,
Nên
tắm rửa trong đó.
Lội
nước không dính mình,
An
ổn qua bờ kia.
Chánh
pháp là vực sâu,
Phước
đức là xuống đò.
Nước
lắng trong tràn đầy,
Được
người trí khen ngợi
Sạch
trong người: đức trời,
Nên
tắm rửa trong đó.
Lội
nước không dính mình,
An
ổn qua bờ kia;
Chân
đế khéo điều ngự,
Nhiếp
hộ tu phạm hạnh.
Từ
bi là khổ hạnh,
Tâm
chân thật thanh tịnh;
Dùng
Chánh pháp tắm rửa,
Được
người trí xưng tán.
Sau
khi Bà-la-môn bên sông Tôn-đà-lợi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ, tùy hỷ, trở lại đường cũ mà đi.
*
KINH
1185. TÔN-ĐÀ-LỢI (2)[32]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật tại Câu-tát-la du hành trong nhân gian, ở
trong rừng rậm bên sông Tôn-đà-lợi. Lúc ấy, có Bà-la-môn
đang ở bên sông Tôn-đà-lợi, đến chỗ Phật, thăm hỏi,
ủy lạo xong, ngồi lui qua một bên, hỏi Phật:
“Bạch
Cù-đàm, Ngài có đến sông Tôn-đà-lợi tắm rửa không?”
Phật
bảo Bà-la-môn:
“Đến
sông Tôn-đà-lợi để tắm rửa để làm gì?”
Bà-la-môn
bạch:
“Bạch
Cù-đàm, sông Tôn-đà-lợi là cứu độ, là an lành, là thanh
tịnh. Nếu ai tắm rửa ở đó, có thể trừ hết mọi điều
ác.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Chẳng
sông Tôn-đà-lợi,
Cũng
chẳng Bà-hưu-đa;
Chẳng
Già-da, Tát-la.
Những
con sông như vậy;
Không
khiến người tạo ác
Có
thể thành thanh tịnh.
Nhưng
sông Tôn-đà-lợi,
Hằng
hà, Bà-hưu-đa;
Người
ngu thường ở đó,
Không
thể trừ hết ác.
Những
người thanh tịnh kia,
Cần
tắm rửa làm gì?
Những
người thanh tịnh kia,
Cần
bố-tát làm gì?
Nghiệp
tịnh do mình tịnh,
Đời
này nên gìn giữ;
Không
sát sanh, trộm cướp,
Không
dâm, không nói dối;
Bố
thí trừ keo bẩn,
Ở
đó mà tắm rửa.
Đối
tất cả chúng sanh,
Thường
khởi lòng từ bi;
Dùng
nước giếng tắm rửa,
Già-da
để làm gì?
Trong
tâm tự thanh tịnh,
Không
đợi tắm bên ngoài;
Kẻ
nghèo cùng hạ tiện,
Thân
thể nhiều nhơ bẩn.
Dùng
nước rửa bụi ngoài,
Không
thể sạch ở trong.
Sau
khi Bà-la-môn bên sông Tôn-đà-lợi nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ, tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1186. BÚI TÓC (1)[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ, có Bà-la-môn búi tóc La-đậu-bà-giá[34], vốn là
người quen biết của Phật lúc còn là người thế tục, đến
chỗ Phật, thăm hỏi, uý lạo xong, ngồi lui qua một bên, nói
kệ:
Người
búi tóc ngoài thân,
Đó
chỉ gọi búi tóc;
Người
búi tóc bên trong,
Là
chúng sanh trói buộc.
Nay
xin hỏi Cù-đàm,
Làm
sao gỡ búi tóc?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Nên
thọ trì tịnh giới,
Trong
tâm tu Chánh giác;
Chuyên
tinh cần phương tiện,
Thì
gỡ được búi tóc.
Sau
khi Bà-la-môn búi tóc nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy
hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1187. BÚI TÓC (2)[35]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Ni-câu-luật, tại nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy giờ, có Bà-la-môn búi tóc Bà-la-đậu-bà-giá, đến chỗ
Phật, thăm hỏi úy lạo nhau xong, ngồi lui qua một bên, nói
kệ:
Người
búi tóc ngoài thân,
Đó
chỉ gọi búi tóc.
Người
búi tóc trong tâm,
Là
chúng sanh trói buộc.