TẠP
A-HÀM QUYỂN 43
KINH
1164. BÀ-LA-DIÊN[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Lộc uyển, trú xứ của các
Tiên nhân, nước Ba-la-nại. Bấy giờ, có số đông các Tỳ-kheo[2]
tụ tập tại giảng đường bàn luận như vầy:
“Chư
Tôn, như lời Đức Thế Tôn đã đáp cho câu hỏi Bà-la-diên-đê-xá-di-đức-lặc[3]:
Nếu
người biết nhị biên,
Không
dính mắc khoảng giữa;
Được
gọi Đại trượng phu,
Không
mê luyến ngũ dục,
Thoát
chỉ khâu ưu phiền[4].
“Chư
Tôn, những câu này có nghĩa gì? Thế nào là biên? Thế nào
là hai biên? Thế nào là giữa? Thế nào là thợ khâu? Thế
nào là tư, do trí mới biết, bằng liễu tri mà liễu tri; khi
được biết bởi trí, được liễu tri bởi liễu tri, thì
tột mé khổ, thoát khỏi khổ?”
Có
người đáp:
“Sáu
nội nhập xứ là một biên; sáu ngoại nhập xứ là biên thứ
hai; thọ là ở giữa; ái là thợ khâu. Thân cận với ái[5],
rồi do bởi nhân này nhân kia mà thân lần lần tăng trưởng
xuất sanh[6]. Những pháp này do trí mà biết, do liễu tri mà
liễu tri. Khi được biết bởi trí, được liễu tri bởi liễu
tri, thì tột mé khổ, mới thoát khỏi khổ.”
Lại
có người nói:
“Đời
quá khứ là một biên; đời vị lai là biên thứ hai; đời
hiện tại là giữa; ái là thợ khâu. Tập cận những ái này,
do bởi nhân này nhân kia mà thân lần lần tăng trưởng xuất
sanh... cho đến thoát khổ.”
Lại
có người nói:
“Thọ
lạc là một biên; thọ khổ là biên thứ hai; không khổ không
lạc là giữa; ái là thợ khâu. Tập cận những ái này, tự
thân sở đắc do chúng lần lần tăng trưởng xuất sanh...
cho đến thoát khổ.”
Lại
có người nói:
“Hữu
là một biên; tập là biên thứ hai; thọ là giữa; ái là thợ
khâu. Như vậy nói đầy đủ,... cho đến thoát khổ.”
Lại
có người nói:
“Thân
là một biên; thân tập là biên thứ hai; ái là thợ khâu.
Như vậy nói đầy đủ,... cho đến thoát khổ.”
Lại
có người nói:
“Tất
cả những gì chúng ta nói ra không giống nhau, chỉ đưa ra
những dị thuyết, không hy vọng gì để hiểu được. Thế
Tôn nói gì khác trong kinh “Những câu hỏi của Đê-xá-di-đức-lặc”?
Chúng ta nên đến Thế Tôn bạch hỏi, như những gì Thế Tôn
dạy, chúng ta phụng trì.”
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ dưới
chân, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Thế
nào, bạch Thế Tôn, có những thuyết khác nhau về kinh Ba-la-diên-đê-xá-di-đức-lặc
sở vấn, vừa rồi các Tỳ-kheo nhóm họp tại giảng đường,
bàn luận như vầy: ‘Những gì mà Thế Tôn đã dạy trong
kinh Ba-la-diên-đê-xá-di-đức-lặc sở vấn, về hai biên...
cho đến thoát khổ.’ Có người bảo: ‘Nội lục nhập xứ
là một biên, ngoại lục nhập xứ là biên thứ hai, thọ ở
giữa, ái là thợ khâu. Nói đầy đủ như trước. Tất cả
đều không quyết định được, nên hôm nay chúng con đến
đây thỉnh vấn Thế Tôn về những nghĩa này. Những gì chúng
con nói, ai là người nào nói đúng nghĩa?”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Những
gì các ông đã nói đều là khéo nói. Nay Ta sẽ vì các ông
mà nói về kinh khác. Ta đã vì Ba-la-diên-đê-xá-di-đức-lặc,
có nói kinh khác. Xúc là một biên; xúc tập là biên thứ hai;
thọ[7] là ở giữa; ái là thợ khâu. Sau khi đã tập cận
ái rồi, thân này thân kia duyên vào đó mà tăng trưởng xuất
sanh. Đối với pháp này, do trí mới biết, do liễu tri mà
liễu tri. Do được biết bởi trí, liễu tri bởi liễu tri,
mà tột cùng mé khổ, thoát khỏi khổ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1165. TÂN-ĐẦU LÔ[8]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Tôn giả Tân-đầu-lô[9] ở trong vườn Cù-sư-la, tại
Câu-diệm-di. Bấy giờ, có Quốc vương Bà-sa tên Ưu-đà-diên-na[10],
đến chỗ Tôn giả Tân-đầu-lô. Thăm hỏi nhau xong, ngồi
lui qua một bên, Quốc vương Bà-sa Ưu-đà-diên-na bạch Tôn
giả Tân-đầu-lô:
“Có
điều muốn hỏi, Tôn giả có rảnh rỗi để đáp cho không?”
Tôn
giả Tân-đầu-lô đáp:
“Này
Đại vương, Đại vương cứ hỏi, điều gì biết tôi sẽ
đáp.”
Quốc
vương Bà-sa Ưu-đà-diên-na hỏi Tôn giả Tân-đầu-lô:
“Nhân
gì, duyên gì, mà các Tỳ-kheo tuổi trẻ mới học, xuất gia
chưa lâu ở trong Pháp luật này, sống rất an lạc, các căn
hòa duyệt, tướng mạo sáng sủa, da dẻ tươi tốt, thích
tĩnh, ít động, mặc tình người khác mà sống[11], tâm như
dã thú, kham năng suốt đời tu trì phạm hạnh, thanh tịnh
thuần nhất?”
Tôn
giả Tân-đầu-lô đáp:
“Như
những gì Phật, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, là bậc
Tri giả, Kiến giả, đã dạy các Tỳ-kheo: ‘Tỳ-kheo các ông,
nếu gặp người nữ lớn tuổi thì nên coi như mẹ. Gặp người
trung niên thì nên coi như chị em. Gặp người non trẻ thì
nên coi như con. Vì nguyên nhân này nên các Tỳ-kheo tuổi trẻ
xuất gia chưa bao lâu ở trong Pháp luật này sống an lạc,
an ổn, các căn hòa duyệt, tướng mạo sáng sủa, da dẻ tươi
mát, thích tĩnh, ít động, mặc tình người khác mà sống,
tâm như dã thú, kham năng suốt đời tu trì phạm hạnh, thanh
tịnh thuần nhất.”
Quốc
vương Bà-sa Ưu-đà-diên-na hỏi Tôn giả Tân-đầu-lô:
“Hiện
tại người thế gian, tâm tham cầu, dù có gặp người lớn
tuổi coi như mẹ, trung niên coi như chị, non trẻ coi như con.
Nhưng lúc đó tâm họ cũng theo sự thiêu đốt của tham dục,
sân nhuế, ngu si mà khởi lên. Còn có nhân duyên nào đặc
biệt hơn không?”
Tôn
giả Tân-đầu-lô nói với quốc vương Bà-sa Ưu-đà-diên-na:
“Còn
có nhân duyên khác nữa. Như Thế Tôn Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác, là bậc Tri giả, Kiến giả, đã dạy các Tỳ-kheo:
‘Thân này từ chân đến đỉnh đầu, bộ xương được trét
bởi thịt, được che đậy bởi một lớp da mỏng, trong đó
chứa dẫy đầy những thứ bất tịnh. Quán sát tất cả:
tóc, lông, móng, răng, bụi dơ, nước dãi, da, thịt, xương
trắng, gân, mạch, tim, gan, phổi, lá lách, thận, ruột, dạ
dày, ruột non, ruột già, bào, nước mắt, mồ hôi, nước
mũi, nước bọt, mỡ, tủy, đàm âm, mủ, máu, dịch não, phẩn,
nước tiểu[12].’ Này Đại vương, vì nhân này, duyên này,
nên các Tỳ-kheo tuổi trẻ xuất gia chưa bao lâu ở trong Pháp
luật này, vẫn sống an lạc, an ổn... cho đến thanh tịnh
tràn đầy thuần nhất.”
Quốc
vương Bà-sa Ưu-đà-diên-na hỏi Tôn giả Tân-đầu-lô:
“Tâm
người hay phiêu nhanh. Nếu quán bất tịnh, có khi sẽ theo
tưởng tịnh mà hiện. Vậy còn có nhân duyên nào khiến cho
Tỳ-kheo tuổi trẻ xuất gia chưa bao lâu trong Pháp luật này,
sống an lạc, an ổn... cho đến thanh tịnh tràn đầy thuần
nhất không?”
Tôn
giả Tân-đầu-lô đáp:
“Còn
có nhân duyên khác nữa. Như Thế Tôn Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng
Chánh Giác, là bậc Tri giả, Kiến giả, đã dạy các Tỳ-kheo:
‘Các ông nên giữ gìn các căn môn, khéo thu nhiếp tâm mình.
Nếu mắt thấy sắc, chớ nắm bắt sắc tướng, chớ nắm
bắt hình tướng tốt đẹp, mà tăng thêm sự chấp giữ[13].
Nếu đối với mắt mà không an trụ với sự thúc liễm, những
pháp ác bất thiện tham ưu thế gian sẽ lọt vào tâm mình.
Cho nên các ông phải giữ gìn luật nghi của mắt. Đối tai
và âm thanh, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và
pháp cũng lại như vậy,... cho đến giữ gìn luật nghi của
ý.”
Bấy
giờ quốc vương Bà-sa, Ưu-đà-diên-na hỏi Tôn giả Tân-đầu-lô:
“Lành
thay! Khéo nói Pháp,... cho đến giữ gìn luật nghi các căn.
Bạch Tôn giả Tân-đầu-lô, tôi cũng như vậy, có khi không
giữ gìn thân, không giữ gìn luật nghi các căn, khi vào cung
không nhất niệm, thì tâm mình sanh ra tham dục hừng hực,
ngu si thiêu đốt. Ngay khi đóng cửa phòng ở một mình, ba
độc cũng lại thiêu đốt tâm mình, huống lại là ở trong
cung. Lại có lúc tôi khéo nhiếp hộ được các căn, nhiếp
hộ được thân mình, chuyên tâm nhất niệm, thì khi vào trong
cung, tham dục, nhuế, si không còn dấy khởi thiêu đốt tâm
mình; khi ở trong cung nội còn không bị thiêu đốt thân tâm,
huống chi là khi ở một mình. Vì vậy cho nên do nhân này,
do duyên này hay khiến cho Tỳ-kheo tuổi trẻ xuất gia chưa
bao lâu trong Pháp luật này sống an lạc, an ổn,... cho đến
thanh tịnh tràn đầy thuần nhất.”
Sau
khi quốc vương Bà-sa, Ưu-đà-diên-na nghe những gì Tôn giả
nói, hoan hỷ, tùy hỷ từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
*
KINH
1166. VÍ DỤ TAY CHÂN[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vì
có tay, nên biết có lấy bỏ. Vì có chân nên biết có tới
lui. Vì có các khớp nên biết có co duỗi. Vì có bụng nên
biết có đói khát. Cũng vậy, Tỳ-kheo, vì có mắt nên có
nhãn xúc làm nhân duyên sanh ra cảm thọ bên trong, hoặc khổ
lạc, hoặc không khổ không lạc. Tai mũi lưỡi thân ý lại
cũng như vậy.
“Này
các Tỳ-kheo, nếu không tay thì không biết lấy bỏ. Nếu không
chân thì không biết tới lui. Nếu không có các khớp thì không
biết co duỗi. Nếu không có bụng thì không biết đói khát.
Cũng vậy, các Tỳ-kheo, nếu không có mắt thì không có nhãn
xúc làm nhân duyên sanh ra cảm thọ bên trong, hoặc khổ, hoặc
lạc, hoặc không khổ không lạc. Tai mũi lưỡi thân ý lại
cũng như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1167. CON RÙA[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Vào
thời quá khứ, có đám cỏ trong sông và có con rùa sống trong
bụi cỏ ấy[16]. Khi đó có một con dã can đói đi tìm thức
ăn. Vừa thấy con rùa, nó vội nhảy tới vồ lấy. Con rùa
thấy vậy, liền thu hết đầu đuôi và bốn chân vào trong
mai[17]. Dã can canh đợi con rùa thò đầu, chân ra là chụp
ăn liền. Nhưng chờ lâu quá, mà nhất định rùa không thò
đầu và chân ra. Dã can đói quá, tức tối bỏ đi.
“Này
các Tỳ-kheo, ngày nay các ông cũng lại biết như vậy. Ma Ba-tuần
luôn luôn dò xét tìm cơ hội bên các ông. Mong đợi mắt các
ông đắm sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị,
thân xúc chạm, ý nhớ pháp mà xúi dục sanh tâm đắm nhiễm
sáu trần. Cho nên Tỳ-kheo, các ông phải luôn luôn giữ gìn
luật nghi của mắt. Khi đã giữ gìn an trụ nơi luật nghi
của mắt rồi, dù mắt có sanh khởi hoặc duyên cảnh đi nữa
thì ác Ma Ba-tuần cũng không thể tìm được cơ hội. Tai mũi,
lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Dù sáu căn kia có sanh khởi
hoặc duyên cảnh đi nữa, thì chúng cũng không thể tìm được
tiện lợi. Giống như con rùa, dã can không thể tìm được
cơ hội nào.”
Bấy
giờ Phật liền nói kệ:
Rùa
vì sợ dã can,
Dấu
thân vào trong mai.
Tỳ-kheo
khéo nhiếp tâm,
Dấu
kín các giác tưởng.
Không
nương, không sợ hãi[18],
Kín
tâm, chớ nói năng.[19]
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1168. LÚA[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí
như lúa[21] đặt ở ngã tư đường, có sáu tráng niên cầm
chày giã, trong chốc lát nát ra như bụi. Rồi người thứ
bảy cầm chày giã lại. Này các Tỳ-kheo, ý các ông thế nào,
đống lúa đã bị sáu người giã, rồi người thứ bảy giã
lại, lúc này bị nát nhừ phải không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Phật
dạy:
“Này
các Tỳ-kheo, cũng vậy, người ngu si bị sáu xúc nhập xứ
nện đả. Những gì là sáu? Đó là nhãn xúc nhập xứ thường
nện đả. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý xúc nhập xứ thường nện
đả. Người ngu si kia, tuy bị sáu xúc nhập xứ nện đả,
nhưng vẫn còn ý niệm mong cầu sanh hữu đời vị lai[22],
như người thứ bảy giã lại cho nát thêm.
“Này
các Tỳ-kheo, nếu nói là ngã[23], đó là dao động; nói là
ngã sở, đó là dao động; vị lai sẽ hiện hữu, đó là dao
động; vị lai sẽ không hiện hữu, đó là dao động; sẽ
lại có sắc, đó là dao động[24]; sẽ lại không sắc, đó
là dao động; sẽ lại có tưởng, đó là dao động; sẽ lại
không có tưởng, đó là dao động; sẽ lại không phải có
tưởng, chẳng phải không tưởng, đó là dao động. Vì dao
động nên là bệnh, vì dao động nên là ung nhọt, vì dao động
nên là gai nhọn, vì dao động nên là dính mắc. Chân chánh
quán sát rằng vì dao động nên là khổ; do đó được tâm
không dao động, tu tập nhiều, an trụ, cột niệm, chánh trí.
Giống như dao động, tư lương, hư cuống[25] cũng như vậy.
“Vì
có hành do ái. Nói ngã, đó là ái[26]; nói ngã sở, đó là
ái; nói vị lai sẽ hiện hữu, đó là ái; nói vị lai sẽ
không hiện hữu, đó là ái; nói sẽ có sắc, đó là ái; nói
sẽ không có sắc, đó là ái; nói sẽ có tưởng, đó là ái;
nói sẽ không tưởng, đó là ái; nói sẽ chẳng phải tưởng,
chẳng phải không tưởng, đó là ái. Vì ái nên là bệnh,
vì ái nên là ung nhọt, vì ái nên là gai nhọn. Chân chánh
quán sát rằng vì dao động nên là khổ; do đó được tâm
không dao động, tu tập nhiều, an tru, cột niệm, chánh trí.
“Này
các Tỳ-kheo, vào thời quá khứ, A-tu-la đem quân chiến đấu
với Đế Thích. Khi ấy Thiên đế Thích bảo chư Thiên Tam
thập tam rằng: ‘Hôm nay chư Thiên cùng chiến đấu với A-tu-la.
Nếu chư Thiên thắng, A-tu-la thua, thì hãy bắt sống vua A-tu-la,
lấy dây cột chặt lại năm chỗ đem về cung trời.’ Vua
A-tu-la cũng nói với binh chúng mình: ‘Hôm nay A-tu-la cùng chiến
đấu với chư Thiên. Nếu A-tu-la thắng, chư Thiên thua, thì
hãy bắt sống Thiên đế Thích, lấy dây cột chặt lại năm
chỗ đem về cung A-tu-la.’
“Trong
lúc đánh nhau, chư Thiên thắng, A-tu-la thua. Bấy giờ chư Thiên
Tam thập tam bắt sống được vua A-tu-la là Tỳ-ma-chất-đa-la,
trói năm chỗ, đem về cung trời. Lúc này, vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la,
thân bị trói năm chỗ, được đặt trên điện Chánh pháp,
cho hưởng thụ năm thứ dục lạc của chư Thiên. Vua A-tu-la
Tỳ-ma-chất-đa-la tự nghĩ: ‘Chư Thiên tuy là giỏi, nhưng
chỉ có A-tu-la là hiền thiện thông tuệ hơn. Nay ta sẽ trở
về cung A-tu-la.’ Trong lúc đang nghĩ như vậy, thì tự thấy
thân mình năm chỗ bị dây ấy cột chặt lại, ngũ dục của
chư Thiên tự nhiên biến mất.
“Vua
A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la lại nghĩ: ‘A-tu-la tuy giỏi, nhưng
chư Thiên hiền thiện trí tuệ và sáng suốt hơn, nay ta sẽ
ở lại cung trời này.’ Trong lúc đang nghĩ như vậy, thì
tự thấy năm chỗ thân mình dây lỏng ra, ngũ dục chư Thiên
tự nhiên xuất hiện trở lại.
“Tuy
vua A-tu-la Tỳ-ma-chất-đa-la bị sự cột trói vi tế như vậy,
nhưng sự cột trói của Ma Ba-tuần càng vi tế hơn. Khi tâm
bị dao động, thì liền theo đó bị ma cột. Tâm không dao
động thì cũng liền theo đó ma cởi ra. Cho nên, các Tỳ-kheo,
phải luôn luôn trụ vào tâm không dao động, chánh niệm, chánh
trí. Cần phải học như vậy.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1169. CÂY ĐÀN[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di,
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu
với Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào, ở nơi sắc được nhận thức
bởi con mắt mà phát sanh hoặc dục[28], hoặc thèm muốn, hoặc
ái niệm, hoặc chỗ bị quyết định đắm trước[29]; đối
với những tâm như vậy, phải khéo tự phòng hộ. Vì sao?
Vì những tâm này đều là con đường đưa đến sợ hãi,
có chướng nạn. Đây là chỗ nương tựa của người ác,
không phải chỗ nương tựa của người thiện. Cho nên, phải
tự phòng hộ. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng
như vậy.
“Thí
như người nông phu có đám mạ tốt, mà người giữ ruộng
thì lười biếng, buông lung, để trâu vào ăn lúa mạ. Phàm
phu ngu si cũng lại như vậy, sáu xúc nhập xứ… cho đến
buông lung cũng lại như vậy.
“Đám
mạ tốt, nếu người giữ ruộng tâm không buông lung, thì
trâu không ăn được. Giả sử có vào ruộng cũng bị đuổi
ra hết. Nghĩa là tâm, ý, hay thức của Thánh đệ tử đa văn,
đối với công năng ngũ dục phải khéo tự nhiếp hộ, tĩnh
chỉ hết, khiến cho diệt tận.
“Đám
mạ tốt, người giữ ruộng không tự buông lung, thì nếu
trâu vào ruộng, sẽ dùng tay trái kéo dây mũi, tay phải cầm
roi nện sả vào thân, đuổi ra khỏi ruộng. Này các Tỳ-kheo,
ý các ông nghĩ sao? Khi con trâu kia đã bị thống khổ vậy
rồi, thì từ làng về nhà, từ nhà ra làng, có còn dám ăn
lúa mạ non như lỗi trước không?”
Đáp
rằng:
“Bạch
Thế Tôn, không. Vì sao? Vì nó nhớ lần trước vào ruộng,
đã bị cái đau khổ bởi roi vọt.
“Như
vậy, này các Tỳ-kheo, nếu tâm, ý, hay thức của Thánh đệ
tử đa văn đối với sáu xúc nhập xứ cực kỳ sanh lòng
yểm ly, sợ hãi, nội tâm an trụ, chế ngự nhất tâm.
“Này
các Tỳ-kheo, thời quá khứ có ông vua nghe tiếng đàn hay chưa
từng có được, nên sanh yêu thích, say mê, chìm đắm. Vua
hỏi các vị đại thần rằng: ‘Đó là những âm thanh gì
mà nghe khả ái quá vậy?’ Đại thần tâu: ‘Tâu bệ hạ,
đó là những tiếng đàn.’ Vua nói với đại thần: ‘Khanh
hãy đem những âm thanh đó đến đây.’ Đại thần vâng lời,
liền đem cây đàn đến tâu: ‘Tâu đại vương, đây chính
là cây đàn đã tạo ra âm thanh hay.’ Vua nói đại thần:
‘Ta không cần cây đàn, mà chỉ cần đem những âm thanh khả
ái đã nghe lần trước đến.’ Đại thần tâu: ‘Cây đàn
này cần phải có nhiều thứ, là phải có cán, có máng, có
thùng, có dây, có da và người đàn giỏi. Cần phải hội
đủ những nhân duyên này mới thành âm thanh. Nếu thiếu đi
những dụng cụ này thì sẽ không có được âm thanh. Âm thanh
mà bệ hạ đã nghe trước đây đã qua lâu rồi, chúng đã
biến chuyển và cũng đã diệt mất rồi, không thể đem đến
được.’ Lúc ấy, nhà vua tự nghĩ: ‘Ôi! Cần gì vật hư
ngụy này! Đàn ở thế gian là vật hư ngụy, mà khiến cho
người đời say đắm vậy sao? Bây giờ các khanh hãy đem chẻ
ra từng mảnh, rồi vất bỏ khắp mười phương.’ Các đại
thần vâng lệnh, chẻ ra thành trăm mảnh, ném khắp mọi nơi.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, nếu đối với sắc, thọ, tưởng, tư, dục;
biết những pháp này là vô thường, hữu vi, do tâm duyên sanh,
rồi liền cho là ngã, ngã sở. Những thứ ấy, ở vào lúc
khác, tất cả đều không. Này các Tỳ-kheo, hãy bằng chánh
trí bình đẳng như vậy mà quán sát như thật.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1170. CÙI HỦI[30]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Như
người bị bệnh hủi, tay chân bị thương lở loét. Nếu vào
cỏ tranh, sẽ bị những lá nhọn như mũi kim đâm chích bị
thương, đau khổ vô cùng. Cũng vậy, phàm phu ngu si, sáu xúc
nhập xứ chịu những sự đau khổ cũng lại như vậy. Giống
như người bị hủi kia bị lá cỏ nhọn đâm bị thương,
máu mủ chảy ra. Cũng vậy, phàm phu ngu si, tánh tình thô bạo,
xấu xa, bị xúc bởi sáu xúc nhập xứ, liền nổi sân nhuế,
lời thô tiếng ác tuôn ra, như người bị phong hủi kia. Vì
sao? Vì phàm phu ngu si vô học, tâm như phong hủi.
“Bây
giờ, Ta sẽ nói về luật nghi và bất luật nghi[31]. Thế nào
là luật nghi và thế nào là bất luật nghi?
“Phàm
phu ngu si vô học, khi mắt thấy sắc rồi, đối sắc đáng
nhớ thì khởi lên tham đắm, với sắc không đáng nhớ thì
khởi lên sân nhuế. Từ nơi đó, lần lượt phát sanh ra nhiều
giác tưởng tương tục, không thấy lỗi lầm, hoặc có thấy
lỗi lầm cũng không thể trừ diệt. Đối với tai, mũi, lưỡi,
thân, ý cũng lại như vậy. Này Tỳ-kheo, đó gọi là bất
luật nghi.
“Thế
nào gọi là luật nghi? Thánh đệ tử đa văn khi mắt thấy
sắc, với sắc đáng nhớ không khởi tưởng dục, với sắc
không đáng nhớ không khởi tưởng sân nhuế, lần lượt cũng
không khởi những giác tưởng tương tục trụ[32] và thấy
sắc là lỗi lầm; vì đã thấy lỗi lầm nên phải lìa bỏ.
Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng lại như vậy. Đó
gọi là luật nghi.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1171. SÁU CHÚNG SANH[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí
như người dạo trong căn nhà trống, bắt được sáu loài
chúng sanh. Đầu tiên được con chó, liền bắt nó cột một
chỗ. Kế đến được con chim, rồi được rắn độc, dã
can, thất-thâu-ma-la[34] và con khỉ. Sau khi bắt được những
chúng sanh này, tất cả đều bị cột một chỗ. Con chó muốn
vào làng; chim luôn muốn bay lên không; rắn luôn muốn bò vào
hang; dã can muốn đến gò mả; thất-thâu-ma-la lúc nào cũng
muốn vào biển; con khỉ muốn vào rừng núi. Sáu con vật này
đều bị cột một chỗ, nhưng sở thích không giống nhau.
Mỗi con đều muốn đến chỗ an ổn, không con nào thích bị
cột vào chỗ mà nó không ưa thích, nên mỗi con tự dùng sức
để trở về chỗ ưa thích của mình, mà không thể thoát
được.
“Cũng
vậy, sáu căn có cảnh giới riêng của chúng, mỗi mỗi tự
tìm đến cảnh giới ưa thích của nó, không ưa cảnh giới
khác. Như mắt thường tìm đến sắc khả ái, nếu là sắc
không vừa ý thì sẽ sanh ra chán. Tai thường tìm âm thanh vừa
ý, nếu là âm thanh không vừa ý, thì sẽ sanh ra chán. Mũi
thường tìm mùi vừa ý, nếu là mùi không vừa ý, thì sẽ
sanh ra chán. Lưỡi thường tìm vị vừa ý, nếu là vị không
vừa ý, thì sẽ sanh ra chán. Thân thường tìm chạm vật vừa
ý, nếu xúc chạm vật không vừa ý, thì sẽ sanh ra chán. Ý
thường tìm đến pháp vừa ý, nếu là pháp không vừa ý,
thì sẽ sanh ra chán. Sáu căn này có bao nhiêu hành xứ, cảnh
giới khác nhau, mỗi cái không tìm đến cảnh giới của căn
khác. Sáu căn này, chúng có cái lực kham năng tự tại mà
lãnh thọ cảnh giới của mình. Như người kia, cột sáu con
vật vào cây cột bền chắc, cho dù chúng có dùng sức muốn
thoát ra theo ý mình mà đi, nhưng lui tới chỉ mệt nhọc, vì
đã bị dây cột, cuối cùng cũng bị dính vào cây trụ.
“Này
các Tỳ-kheo, Ta nói thí dụ này là muốn vì các ông hiển
bày nghĩa ấy. Sáu con vật là dụ cho sáu căn. Cây trụ chắc
là dụ cho thân niệm xứ[35]. Nếu thân niệm xứ được khéo
tu tập, có niệm, không niệm sắc, thấy sắc khả ái thì
không sanh đắm, sắc không khả ái thì không sanh chán. Tai
đối với tiếng; mũi đối với mùi; lưỡi đối với vị;
thân đối với xúc; ý đối với pháp, … đối với pháp
khả ái, thì không tìm cầu ưa muốn; với pháp không khả
ái thì không sanh chán. Cho nên, các Tỳ-kheo, phải siêng năng
tu tập nhiều về thân niệm xứ.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1172. RẮN ĐỘC[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí
như có bốn con rắn hổ hung ác, độc nghiệt, đựng trong
một cái tráp. Bấy giờ có một người thông minh, không ngu
si, có trí tuệ, tìm lạc, nhàm khổ, cầu sống chán chết.
Khi ấy, có một người kia nói với người này rằng: ‘Nay,
anh giữ cái tráp đựng rắn độc này. Hãy lau chùi, tắm rửa
cho chúng; gần gũi, cho chúng ăn. Thỉnh thoảng, cho chúng ra,
vào. Nếu bốn con rắn này thoát ra, thì rất có hại, hoặc
có thể cắn chết, hoặc gần chết. Bạn hãy coi chừng.’
“Bấy
giờ, người này sợ hãi bỏ chạy. Bỗng có năm kẻ oán thù
cầm đao rượt theo muốn bắt giết: ‘Này bạn, hãy đề
phòng.’ Trong lúc anh đang sợ bốn con rắn độc và năm kẻ
oán thù hoa đao nên ruổi chạy, thì người kia lại nói: ‘Này
bạn, bên trong còn có sáu tên giặc đang đuổi theo rình rập
anh. Nếu bắt được, chúng nó sẽ giết. Anh nên đề phòng.’
“Bấy
giờ, người này vì sợ bốn con rắn độc, năm kẻ oán thù
cầm dao, với sáu tên giặc ở bên trong, nên kinh hãi bỏ chạy,
lại trở vào trong xóm vắng. Thấy một căn nhà trống mục
nát nguy hoại kia, với những đồ vật xấu ác, dòn tan, dễ
vỡ, không có gì chắc thật. Người kia lại nói: ‘Này bạn,
thôn xóm vắng vẻ này sẽ có bọn giặc đến. Chúng sẽ hại
anh.’
“Khi
ấy, người này vì sợ bốn con rắn độc, năm tên giặc hoa
đao, sáu tên giặc dữ bên trong và một đám giặc trong xóm
vắng, nên anh tiếp tục chạy. Chợt gặp một con sông lớn
chắn ngang đường, dòng nước sâu đang chảy siết, chỉ thấy
bờ bên này có nhiều sự sợ hãi, còn thấy bờ bên kia an
ổn khoái lạc, mát mẻ, không có sợ hãi. Nhưng không có cầu,
thuyền để đưa qua được đến bờ kia. Anh ta tự nghĩ: ‘Ta
hãy lấy cây cỏ kết thành một chiếc bè, dùng tay chân làm
phương tiện vượt qua bên kia sông.’ Nghĩ như vậy rồi,
liền thâu thập cây cỏ, tại cạnh bờ sông kết lại thành
chiếc bè, dùng tay chân làm phương tiện cắt dòng sang ngang.
Như vậy, người này thoát khỏi bốn con rắn độc, năm kẻ
oán thù hoa đao, sáu tên giặc ác bên trong và lại thoát được
bọn giặc nơi xóm vắng; vượt qua khỏi dòng sâu, bỏ lại
mọi sự sợ hãi ở bờ bên này, đến được bờ bên kia,
an ổn, khoái lạc.
“Này
các Tỳ-kheo, Ta nói thí dụ đó là để giải thích nghĩa này:
“Cái
tráp là dụ cho sắc thân gồm bốn đại thô và sở tạo của
bốn đại phù này, thể tinh huyết, được được nuôi lớn
bằng các thức ăn tạp uế, tắm rửa, y phục. Đó là những
pháp mong manh, biến hoại, vô thường.
“Bốn
rắn độc là dụ cho bốn đại: đất, nước, gió, lửa. Nếu
như địa đại cạnh tranh, có thể làm cho thân này chết,
hoặc là gần chết. Đối với nước, lửa, gió cạnh tranh
nhau cũng lại như vậy. Năm kẻ oán thù cầm đao là dụ cho
năm thủ uẩn. Sáu tên giặc ác bên trong là dụ cho sáu ái
hỷ. Xóm vắng là dụ cho sáu nội nhập. Này thiện nam tử,
hãy quán sát mắt nhập xứ là vô thường, biến hoại. Sự
chấp thủ mắt cũng là pháp vô thường hư ngụy. Tai, mũi,
lưỡi, thân, ý nhập xứ cũng lại như vậy.
“Bọn
giặc nơi xóm vắng là dụ cho sáu nhập xứ bên ngoài. Mắt
bị sắc vừa ý, không vừa ý làm hại; tai đối tiếng, mũi
đối mùi, lưỡi đối vị, thân đối xúc, … ý đối pháp
dù vừa ý hay không vừa ý cũng đều bị hại.
“Dòng
nước xiết dụ cho bốn lưu: dục lưu, hữu lưu, kiến lưu
và vô minh lưu.
“Con
sông dụ cho ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
“Bờ
bên này nhiều sợ hãi dụ cho hữu thân. Bờ bên kia mát mẻ,
an lạc dụ cho Vô dư Niết-bàn. Chiếc bè dụ cho Bát chánh
đạo. Dùng tay chân làm phương tiện cắt dòng sang sông dụ
cho tinh tấn dõng mãnh đến bờ kia. Trụ xứ của Bà-la-môn
dụ cho Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác.
“Như
vậy, các Tỳ-kheo, Đại Sư từ bi, an ủi đệ tử. Những
gì cần làm Ta đã làm xong. Nay các ông cũng phải nên làm
những gì cần làm. Hoặc dưới bóng cây vắng vẻ, hay nơi
phòng xá thanh tịnh, trải cỏ làm tòa, hoặc chỗ đất trống
hay gò mả, xa lìa tất cả, tinh cần thiền tư, cẩn thận
chớ buông lung mà sau này hối hận. Đây là giáo giới của
Ta.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1173. KHỔ PHÁP[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cù-sư-la, tại nước Câu-diệm-di.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thánh
đệ tử đa văn thấy biết như thật, đối với tất cả
pháp khổ, tập, diệt, vị, hoạn, ly. Thấy ngũ dục như hầm
lửa. Sau khi quán sát ngũ dục như vậy rồi, ở nơi ngũ dục
mà dục tham, dục ái, dục niệm, dục trước[38] vĩnh viễn
không còn che đậy tâm; biết hành xứ và trụ xứ của dục
tâm kia mà tự phòng hộ. Sau khi hành xứ, trụ xứ đã được
phòng hộ, đóng chặt cửa rồi, pháp ác bất thiện và tham
ưu thế gian không tùy theo hành xứ và trụ xứ kia mà lọt
vào tâm mình.
“Thế
nào gọi là Thánh đệ tử đa văn thấy biết như thật đối
với tất cả pháp khổ, tập, diệt, vị, hoạn, ly? Thánh đệ
tử đa văn biết như thật về Khổ Thánh đế này; biết như
thật về Khổ tập này, về Khổ diệt này, về Khổ diệt
đạo tích Thánh đế này. Đó gọi là Thánh đệ tử đa văn
biết như thật tất cả pháp khổ, tập, diệt, vị, hoạn,
ly.
“Thế
nào gọi là Thánh đệ tử đa văn thấy năm dục như hầm
lửa,… cho đến các pháp ác bất thiện và tham ưu thế gian
vĩnh viễn không còn che đậy tâm nữa?
“Thí
như bên cạnh thôn xóm có một cái hầm sâu đựng đầy lửa,
không có khói và lửa ngọn. Khi ấy có một người không ngu
si, thông minh trí tuệ, ưa lạc, chán khổ, ham sống, sợ chết.
Ông tự nghĩ: ‘Ở đây có cái hầm đựng đầy lửa, nếu
ta rơi vào trong đó chắc chắn phải chết không còn nghi nữa.’
Người kia phát sanh sự tránh xa, nghĩ tránh xa, muốn tránh
xa. Cũng vậy, Thánh đệ tử đa văn thấy ngũ dục như hầm
lửa… cho đến pháp ác bất thiện, tham ưu thế gian, vĩnh
viễn không còn che đậy tâm. Nếu hành xứ, trụ xứ mà được
phòng hộ trước, biết trước… cho đến các pháp ác bất
thiện tham ưu thế gian không còn lọt vào tâm.
“Thí
như bên cạnh thôn xóm có khu rừng nại[39] nhiều cây gai nhọn.
Khi ấy có người vào rừng có công việc. Sau khi vào rừng,
thấy trước sau, phải trái, trên dưới hoàn toàn là gai nhọn.
Bấy giờ người kia chánh niệm mà đi, chánh niệm tới lui,
chánh niệm mở mắt sáng, chánh niệm nhìn thẳng, chánh niệm
khom người. Vì sao? Vì không để gai nhọn làm tổn thương
thân mình. Thánh đệ tử đa văn cũng lại như vậy. Nếu y
tựa nơi làng xóm, thành ấp; sáng sớm đắp y, ôm bát vào
xóm khất thực, phải khéo nhiếp hộ thân và giữ gìn tâm
mình, chánh niệm an trú, chánh niệm mà đi, chánh niệm mở
mắt sáng, chánh niệm quán sát. Vì sao? Vì không để cho gai
nhọn làm tổn thương đến Chánh pháp luật. Thế nào là gai
nhọn làm tổn thương đến Chánh pháp luật? Là sắc vừa
ý, đáng yêu, đáng nhớ. Đó gọi là gai nhọn làm tổn thương
đến Thánh pháp luật.
“Thế
nào là sắc vừa ý, đáng yêu, đáng nhớ, lại làm tổn thương
đến Thánh pháp luật? Đó là năm công năng của dục. Mắt
nhận thức thấy sắc sanh ra yêu, nhớ, nuôi lớn dục lạc;
tai nhận thức nghe tiếng; mũi nhận thức ngửi mùi; lưỡi
nhận thức nếm vị; thân nhận thức tiếp xúc sanh ra yêu,
nhớ, nuôi lớn dục lạc. Đó gọi là sắc đáng yêu, nhớ,
làm tổn thương đến Chánh pháp luật. Đó cũng gọi là Thánh
đệ tử đa văn phòng hộ trước và biết trước chỗ hành
xứ và trú xứ,… cho đến không để các pháp ác bất thiện,
tham ưu thế gian lọt vào tâm.
“Hoặc
khi Thánh đệ tử đa văn mất chánh niệm, sanh ra giác ác bất
thiện, nuôi lớn tham dục, sân nhuế, ngu si. Đó là Thánh đệ
tử đa văn thuộc độn căn[40]. Tuy khởi tập, diệt nhưng
bị dục che đậy tâm. Giống như hòn sắt nóng đỏ rực,
dùng vài giọt nước nhỏ xuống liền khô mất. Cũng vậy,
Thánh đệ tử đa văn độn căn sanh niệm cũng liền diệt
mất như vậy.
“Thánh
đệ tử đa văn đi như vậy, đứng như vậy. Nếu quốc vương
hay đại thần đến chỗ họ dùng bổng lộc để mời dụ
rằng: ‘Này người nam, cần gì phải cạo bỏ râu tóc, mang
đồ sành, thân mặc áo ca-sa, đi xin ăn từng nhà? Sao bằng
an úy hành ngũ dục lạc, bố thí làm phước’.
“Thế
nào, Tỳ-kheo, Thánh đệ tử đa văn có vì bổng lộc mời
dụ của các thân tộc, đàn việt, đại thần, quốc vương
mà họ sẽ hoàn giới thoái giảm không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không. Vì sao? Vì Thánh đệ tử đa văn đã thấy
biết như thật đối với tất cả pháp khổ, tập, diệt,
vị, hoạn, ly. Thấy ngũ dục như hầm lửa,… cho đến pháp
ác bất thiện, tham ưu thế gian, vĩnh viễn không còn che đậy
tâm nữa, nhờ đã phòng hộ trước và biết trước những
hành xứ và trú xứ của phiền não,… cho đến các pháp ác
bất thiện, tham ưu thế gian, không còn lọt vào tâm mình.
Nếu quốc vương, đại thần hay thân tộc dùng bổng lộc
mời dụ người ấy hoàn giới thoái giảm thì điều này không
thể có được.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Lành
thay! Lành thay! Thánh đệ tử đa văn từ lâu tâm xuôi về,
rót về, đổ dốc về, hướng đến viễn ly, hướng đến
ly dục, hướng đến Niết-bàn tịch tĩnh xả ly, vui nơi Niết-bàn;
ở nơi hữu lậu đã được dập tắt, được làm mát nguội.
Nếu bị quốc vương, gia chủ hay thân tộc dùng bổng lộc
mời dụ để hoàn giới thoái giảm, chịu khổ lớn khác,
thì điều này không thể có được. Giống như sông Hằng
luôn luôn xuôi về, rót về, đổ dốc về phương Đông[41].
Có nhiều người ngăn nó, muốn nó xuôi về, rót về, đổ
dốc về phương Tây thì có được không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, không thể. Vì sao? Vì dòng nước sông Hằng đã
lâu ngày chảy về phương Đông mà muốn nó chảy về phương
Tây thì không thể được. Những người kia, họ sẽ chịu
khổ cực!”
“Cũng
vậy, Thánh đệ tử đa văn đã lâu ngày tâm xuôi về, rót
về, đổ dốc về, hướng đến viễn ly,… cho đến muốn
khiến thoái giảm, thì điều này không thể có được, họ
phải chịu khổ cực mà thôi.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1174. KHÚC GỖ TRÔI[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật, tại A-tỳ-xà, bên Hằng thủy[43]. Bấy giờ,
có Tỳ-kheo đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật,
ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Lành
thay! Bạch Thế Tôn, xin vì con thuyết pháp. Sau khi nghe pháp
rồi, con một mình ở chỗ vắng, chuyên tinh tư duy, sống không
buông lung và hiểu được lý do về những nhà dòng dõi, cạo
bỏ râu tóc, chánh tín xuất gia học đạo, không nhà, tiến
tu phạm hạnh, thấy pháp, tự biết tác chứng: ‘Ta, sự sanh
đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần làm đã làm
xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’”
Bấy
giờ, Thế Tôn ngắm sông Hằng, thấy trong nước có một cây
lớn trôi theo dòng nước chảy xuống. Nói với vị Tỳ-kheo
kia:
“Ông
có thấy cây lớn trong dòng nước sông Hằng này không?”
Đáp:
“Bạch
Thế Tôn, con đã thấy.”
Phật
bảo:
“Cây
lớn này không vướng bờ bên này, không vướng bờ bên kia,
không chìm xuống đáy, không mắc ở bãi cù lao, không vào
dòng nước xoáy, không bị người vớt lên, phi nhân không
giữ lại, cũng không bị mục, sẽ xuôi theo dòng nước, thuận
dòng mà rót về, đổ về biển lớn phải không?”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy.”
Phật
bảo:
“Tỳ-kheo
cũng lại như vậy. Không vướng bờ bên này, không vướng
bờ bên kia, không bị chìm, không mắc bãi cù lao, không vào
dòng nước xoáy, cũng không bị người vớt lấy, phi nhân
không giữ lại, cũng không bị mục, vị ấy sẽ theo dòng
nước mà xuôi về, rót về, đổ về Niết-bàn.”
Tỳ-kheo
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, thế nào là bờ bên này? Thế nào là bờ bên kia?
Thế nào là chìm mất? Thế nào là bị mắc bãi cù lao? Thế
nào là dòng nước xoáy? Thế nào là người vớt lấy? Thế
nào là phi nhân giữ? Thế nào là mục nát? Lành thay, Thế
Tôn, vì con giảng rộng! Sau khi nghe xong, con sẽ một mình ở
chỗ vắng, chuyên tinh tư duy, sống không buông lung,… cho đến
tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Bờ
bên này là sáu nhập xứ. Bờ bên kia là sáu ngoại nhập xứ[44].
Bị người vớt lấy là như người nào gần gũi với người
thế tục, hay với người xuất gia; nếu gặp chuyện sướng,
khổ, buồn, vui và những việc làm của họ, tất cũng cùng
họ cộng đồng. Đó gọi là bị người vớt lấy. Bị phi
nhân giữ lại là như có người nào nguyện tu phạm hạnh,
rằng: ‘Nay ta trì giới, khổ hạnh, tu các phạm hạnh để
được sanh lên các cõi trời.’ Đó gọi là bị phi nhân giữ
lại. Bị dòng nước xoáy là như có người nào hoàn giới
thoái chuyển. Hư mục là phạm giới, hành các pháp bất thiện,
hủ bại, ít học, giống như cỏ dại, như tiếng thổi tù
và. Họ không phải là Sa-môn mà giống Sa-môn, không phải
là Phạm hạnh mà giống Phạm hạnh.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, đó gọi là không vướng bờ bên này, bờ bên
kia,… cho đến Niết-bàn.”
Sau
khi Tỳ-kheo kia nghe những gì Phậy dạy, hoan hỷ làm lễ ra
về. Lúc này, một mình ở chỗ vắng, tư duy về những lời
Đức Phật đã dạy trong kinh Cây lớn trôi theo dòng nước,…
cho đến tự biết không còn tái sanh đời sau nữa và đắc
A-la-hán.
Lúc
ấy có một người chăn bò là Nan-đồ[45] cách Phật không
xa, đang cầm gậy chăn bò. Sau khi vị Tỳ-kheo đã đi rồi,
đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân, ngồi lui qua một
bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, hiện tại con có thể không vướng bờ bên này,
không vướng bờ bên kia, không bị chìm mất, không mắc ở
bãi cù lao, không bị người vớt lấy, không bị phi nhân giữ,
không vào dòng nước xoáy và cũng không bị mục nát. Vậy
con có được xuất gia tu phạm hạnh ở trong Chánh pháp luật
của Thế Tôn không?”
Phật
hỏi người chăn bò:
“Con
đưa bò trở về cho chủ chưa?”
Người
chân bò bạch:
“Trong
đàn bò có con đầu đàn có thể tự dẫn trở về, không
cần con đưa. Xin cho phép con xuất gia học đạo.”
Phật
bảo người chăn bò:
“Tuy
bò tự có thể về nhà được. Nhưng con đã nhận lãnh cơm
ăn áo mặc của người, điều cần là con phải về báo cho
chủ nhà con biết.”
Lúc
này, người chăn bò đã nghe lời Phật, hoan hỷ lễ Phật
ra về.
Sau
khi người chăn bò đi chưa được bao lâu, bấy giờ Tôn giả
Xá-lợi-phất cũng đang ở trong hội này, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, người chăn bò Nan-đồ muốn xin xuất gia, sao Thế
Tôn bảo trở về nhà.”
Phật
bảo Xá-lợi-phất:
“Người
chăn bò Nan-đồ, nếu trở về nhà để hưởng thụ ngũ dục,
thì không có việc đó. Sau khi giao bò lại cho người chủ
rồi, sẽ nhanh chóng trở lại xuất gia học đạo, tịnh tu
phạm hạnh, trong Pháp luật này,… cho đến tự biết không
còn tái sanh đời sau nữa, đắc A-la-hán.”
Bấy
giờ, người chăn bò Nan-đồ sau khi giao bò lại cho chủ rồi
liền trở lại chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân, ngồi
lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con đã giao bò cho chủ rồi. Xin cho phép con xuất
gia học đạo trong Chánh pháp luật.”
Phật
bảo người chăn bò Nan-đồ:
“Con
được xuất gia học đạo, thọ giới cụ túc làm Tỳ-kheo,
ở trong Chánh pháp luật này.”
Sau
khi xuất gia rồi, tự tư duy về lý do những người con nhà
dòng dõi đã cạo bỏ râu tóc, xuất gia học đạo, không nhà,
tiến tu phạm hạnh,… cho đến không còn tái sanh đời sau
nữa, thành A-la-hán.
*
KINH
1175. KHẨN-THÚ DỤ[46]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo một mình ngồi thiền
tại chỗ vắng, tự nghĩ: “Tỳ-kheo biết thế nào, thấy
thế nào, để được cái thấy thanh tịnh?” Nghĩ rồi, đến
các chỗ các Tỳ-kheo, bạch các Tỳ-kheo rằng:
“Thưa
các Tỳ-kheo biết thế nào, thấy thế nào để khiến cái
thấy được thanh tịnh?”
Các
Tỳ-kheo đáp:
“Tôn
giả, biết đúng như thật về tập, diệt, vị, hoạn, ly của
sáu xúc nhập xứ. Tỳ-kheo nào biết, thấy như vậy, sẽ được
cái thấy thanh tịnh.”
Tỳ-kheo
này nghe các Tỳ-kheo kia nói như vậy, tâm không hoan hỷ, lại
đến chỗ Tỳ-kheo khác, hỏi Tỳ-kheo kia rằng:
“Chư
tôn Tỳ-kheo, biết thế nào, thấy thế nào để được cái
thấy thanh tịnh?”
Tỳ-kheo
kia đáp:
“Biết
đúng như thật về tập, diệt, vị, hoạn, ly của sáu giới.
Tỳ-kheo nào biết như vậy, thấy như vậy, sẽ được cái
thấy thanh tịnh.”
Tỳ-kheo
này nghe Tỳ-kheo kia ký thuyết như vậy tâm cũng không lạc,
lại đến Tỳ-kheo khác hỏi:
“Tỳ-kheo,
biết thế nào, thấy thế nào để được cái thấy thanh tịnh?”
Tỳ-kheo
kia đáp:
“Quán
sát năm thủ uẩn như là bệnh tật, như ung nhọt, như gai
nhọn, như giết hại, là vô thường, khổ, không, phi ngã.
Biết như vậy, thấy như vậy, sẽ được cái thấy thanh tịnh.”
Tỳ-kheo
này nghe Tỳ-kheo kia ký thuyết như vậy tâm cũng không lạc,
đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân, ngồi lui qua
một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, con một mình ở chỗ vắng tư duy: ‘Tỳ-kheo, biết
thế nào, thấy thế nào để được cái thấy thanh tịnh?’
Sau khi nghĩ như vậy, rồi con đi đến chỗ các Tỳ-kheo, ba
nơi đã nói những gì, như đã bạch đầy đủ lên Thế Tôn,
con nghe họ nói vậy, tâm không hoan hỷ, nên đến Thế Tôn
đem nghĩa này xin hỏi Thế Tôn: ‘Tỳ-kheo, biết thế nào,
thấy thế nào để được cái thấy thanh tịnh?’”
Phật
đáp:
“Vào
thời quá khứ, có một người chưa từng thấy cây khẩn-thú[47],
đến người đã từng thấy khẩn-thú; hỏi người đã từng
thấy khẩn thú rằng: ‘Ông biết cây khẩn-thú không?’ Đáp:
‘Biết.’ Lại hỏi: ‘Hình dạng của nó thế nào?’ Đáp:
‘Nó màu đen như cái cột bị cháy.’ Vì người kia đang
lúc thấy khẩn-thú màu đen như cột trụ cháy sém. Người
này nghe nói khẩn-thú màu đen như cái cột cháy sém thì không
hoan hỷ lắm. Lại đi đến người khác đã từng thấy khẩn-thú
và hỏi: ‘Ông đã từng biết khẩn-thú phải không?’ Người
kia đáp: ‘Biết.’ Lại hỏi: ‘Hình dạng của nó thế nào?’
Người từng thấy khẩn-thú đáp: ‘Sắc của nó màu đỏ,
hoa nở ra như khúc thịt.’ Vì người kia lúc thấy khẩn-thú
nở hoa thật như một khúc thịt. Người này nghe những gì
người kia nói như vậy không hoan hỷ. Lại đến người đã
từng thấy khẩn-thú khác hỏi: ‘Ông từng biết khẩn-thú
phải không?’ Người kia đáp: ‘Biết.’ Lại hỏi: ‘Hình
dạng của nó thế nào?’ Đáp: ‘Lông thân của nó dài thườn
thượt rủ xuống như quả Thi-lợi-sa[48].’ Người này nghe
rồi, tâm cũng không hoan hỷ. Lại đi hỏi người đã biết
khẩn-thú khác: ‘Ông đã biết khẩn-thú phải không?’ Đáp:
‘Biết.’ Lại hỏi: ‘Hình dáng của nó thế nào?’ Người
kia trả lời: ‘Nó màu xanh lá cây, lá bóng, lá dài rộng
như cây Ni-câu-lâu-đà[49].’ Như những người kia, khi hỏi
về khẩn-thú, nghe xong, tâm không hoan hỷ. Lại đi tìm khắp
nơi, nhưng những người thấy khẩn-thú, tùy thời tùy sở
kiến của mỗi người mà trả lời; cho nên không giống nhau.
“Cũng
vậy, các Tỳ-kheo, nếu ở nơi thanh vắng, chuyên tinh tư duy,
sống không buông lung, nhân theo pháp tư duy mà không khởi lên
các lậu, tâm được giải thoát và tùy theo sở kiến của
họ mà ký thuyết. Nay ông nghe Ta nói thí dụ, người trí nhờ
thí dụ sẽ hiểu được. Thí như có một quốc vương biên
địa, khéo chỉnh trị thành quách, dưới cửa kiên cố, đường
sá bằng phẳng. Bốn cửa thành đặt bốn người canh gác.
Tất cả đều thông minh trí tuệ, biết người đi người
đến. Trong thành này, tại một con đường ngã tư, an trí
giường chõng. Thành chủ ngồi trên đó. Nếu có sứ giả
từ phương Đông đến hỏi người giữ cửa: ‘Thành chủ
ở đâu?’ Liền được trả lời: ‘Đang ngồi trên tòa,
ở ngã tư đường, trong thành.’ Vị sứ giả kia nghe rồi,
đến chỗ thành chủ nhận chỉ thị rồi trở về đường
cũ. Những sứ giả từ Nam, Tây, Bắc, đến cũng hỏi người
giữ cửa: ‘Thành chủ ở đâu?’ Họ cũng đáp: ‘Ở giữa
ngã tư đường, trong thành.’ Các sứ giả kia nghe rồi đều
đến chỗ thành chủ, nhận chỉ thị của ông, rồi mỗi người
trở về chỗ cũ của mình.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Ta
đã nói thí dụ. Nay sẽ nói ý nghĩa. Thành là dụ cho sắc
thô của thân người. Giống như kinh nói thí dụ cái tráp
rắn độc. Khéo sửa sang tường thành là chỉ cho chánh kiến.
Đường sá bằng phẳng là nội sáu nhập xứ. Bốn cửa chỉ
cho bốn trú xứ của thức. Bốn người giữ cửa chỉ cho
tứ niệm xứ. Thành chủ chỉ cho thức thủ uẩn. Sứ giả
là Chánh quán. Nói lời như thật là Bốn chân đế. Trở về
đường cũ là tám Thánh đạo.”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Nếu
Đại Sư có những điều cần làm cho đệ tử; thì nay Ta đã
làm xong. Vì thương xót nên: Như kinh thí dụ về cái tráp
rắn độc.”
Sau
khi Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, chuyên tinh tư duy, không
sống buông lung, tiến tu phạm hạnh,… cho đến không tái
sanh đời sau nữa, thành A-la-hán.
*
KINH
1176. LẬU PHÁP[50]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật du hành nhân gian, giữa những người họ
Thích; rồi đến ở trong vườn Ni-câu-luật-đà, nước Ca-tỳ-la-vệ.
Bấy
giờ, những người họ Thích ở Ca-tỳ-la làm xong giảng đường
mới, chưa có Sa-môn, Bà-la-môn, thiếu niên dòng họ Thích-ca
và nhân dân nào ở trong đó. Họ nghe Thế Tôn du hành trong
nhân gian, đến nước Ca-tỳ-la-vệ dòng họ Thích và đang
trú trong vườn Ni-câu-lâu-đà, giảng về nghĩa khổ lạc.
Họ bàn với nhau: “Nhà này mới hoàn thành, chưa có ai ở,
nên thỉnh Thế Tôn và đại chúng về đây cúng dường, sẽ
được công đức phước báo vô lượng, an ổn lâu dài. Rồi
sau đó chúng ta mới sử dụng.” Bàn luận xong, họ cùng nhau
ra khỏi thành, đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ dưới chân,
rồi ngồi lui qua một bên.
Bấy
giờ, Thế Tôn vì những người họ Thích, diễn nói pháp yếu,
khai thị, soi sáng, làm cho vui mừng xong, rồi ngồi im lặng.
Khi ấy, những người họ Thích từ chỗ ngồi đứng dậy,
sửa lại y phục, đảnh lễ Phật, đầu gối hữu quỳ sát
đất, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, chúng con những người dòng họ Thích, làm xong giảng
đường mới, chưa có ai ở. Hôm nay, thỉnh Thế Tôn và đại
chúng đến giảng đường cho chúng con được cúng dường,
để chúng con được công đức phước lợi và an lạc mãi
mãi. Rồi sau đó chúng con sẽ sử dụng.”
Bấy
giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Khi ấy những người họ
Thích biết Thế Tôn đã nhận lời mời rồi, cúi đầu lễ
dưới chân Phật rồi mỗi người trở về chỗ của mình.
Ngay ngày hôm đó, dùng xe chở hết đồ đạc đến trang hoàng
giảng đường mới, trải sàng tòa và lót thảm cỏ mịn trên
đất, dầu đèn đầy đủ. Khi mọi việc đã sửa soạn xong,
họ đến chỗ Phật, cúi đầu bạch rằng:
“Mọi
việc đã chuẩn bị xong rồi, mong Ngài biết thời.”
Bấy
giờ, Thế Tôn và đại chúng tùy tùng trước sau đi đến
ngoài giảng đường. Sau khi rửa chân, bước lên nhà, ngồi
trước cây cột ở giữa, hướng về Đông. Lúc này, các Tỳ-kheo
cũng rửa chân xong, lần lượt vào giảng đường, ngồi quay
mặt hướng về Tây, phía Đức Phật. Bấy giờ, những người
họ Thích cũng ngồi quay mặt hướng về Tây.
Bấy
giờ, Thế Tôn vì những người dòng họ Thích rộng nói pháp
yếu, khai thị, soi sáng, làm cho vui mừng xong, rồi nói với
những người dòng họ Thích:
“Này
các Cù-đàm, đã quá đầu đêm, bây giờ các người có thể
trở về Ca-tỳ-la-vệ.”
Khi
ấy, những người dòng họ Thích nghe những gì Phật đã dạy,
hoan hỷ, tùy hỷ ra về.
Bấy
giờ, Thế Tôn biết những người họ Thích đã đi rồi, bèn
bảo Đại Mục-kiền-liên:
“Ông
nên vì các Tỳ-kheo thuyết pháp cho họ. Ta đang đau lưng, cần
được nghỉ ngơi.”
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên im lặng nhận lời. Bấy giờ, Thế
Tôn xếp y Uất-đa-la bốn lớp lót dưới sườn và cuốn y
Tăng-già-lê đặt dưới đầu làm gối, nằm nghiêng hông bên
phải, xếp đầu gối chân lên nhau, cột niệm vào tướng
ánh sáng, với ý tưởng sẽ thức dậy.
Bấy
giờ, Đại Mục-kiền-liên nói với các Tỳ-kheo:
“Pháp
của Thế Tôn đã dạy, khoảng đầu, khoảng giữa, khoảng
cuối đều thiện, nghĩa thiện, vị thiện, thuần nhất, mãn
tịnh, thanh bạch, phạm hạnh. Hôm nay, tôi sẽ nói về pháp
hữu lậu và vô lậu. Các ông hãy lắng nghe:
“Thế
nào là pháp hữu lậu? Phàm phu ngu si vô học, khi mắt thấy
sắc rồi, với sắc đáng nhớ khởi lên ưa đắm, với sắc
không đáng nhớ khởi lên chán ghét, không trụ vào thân niệm
xứ, không có một phần trí đối với tâm giải thoát và
tuệ giải thoát; đủ các thứ pháp ác bất thiện khởi lên,
không được hoàn toàn diệt trừ, không vĩnh viễn hoàn toàn
đoạn tận. Đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như
vậy. Này Tỳ-kheo, người như vậy Thiên ma Ba-tuần sẽ đến
chỗ họ để dò xét những chỗ yếu kém tai hại, ở nơi
mắt thấy sắc, mà nắm chỗ được sơ hở. Đối với tai
nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi niếm vị, thân với xúc,
ý với pháp cũng lại như vậy, liền nắm được chỗ sơ
hở. Giống như đống cỏ khô, nổi lửa bốn bên, bị cháy
tiêu tức thì. Cũng vậy, Tỳ-kheo, ở nơi sắc được nhận
thức bởi mắt của Tỳ-kheo, Thiên ma Ba-tuần liền nắm được
chỗ sơ hở. Cũng vậy, Tỳ-kheo, không thắng ở nơi sắc.
Tai đối với tiếng, mũi đối với mùi, lưỡi đối với
vị, thân đối với xúc, ý đối với pháp, … đối với
bị pháp chế phục, không thắng được pháp. Không thắng
sắc, không thắng âm thanh, mùi thơm, vị ngọt, xúc chạm và
pháp. Cũng lại không thắng ý, cùng các pháp ác bất thiện
phiền não, thiêu bức, khổ báo và sẽ bị sanh, già, bệnh,
chết ở đời vị lai. Chư Tôn giả, Ta đã tự thân nhận
lãnh các pháp hữu lậu này từ Đức Thế Tôn. Đó gọi là
‘kinh Pháp Hữu Lậu’.
“Thế
nào là pháp vô lậu? Thánh đệ tử đa văn mắt thấy sắc,
đối với sắc đáng nhớ không khởi ưa đắm, với sắc không
đáng nhớ không khởi chán ghét, cột niệm an trụ, vô lượng
tâm giải thoát, tuệ giải thoát, biết một cách như thật.
Các pháp ác bất thiện đã khởi kia bị diệt tận không dư
tàn. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy. Tỳ-kheo như
vậy, ác Ma Ba-tuần có đến dò xét tìm sở đoản nơi sắc
được thấy bởi mắt, cũng không thể tìm được sở đoản.
Tai đối với tiếng, mũi đối với mùi, lưỡi đối với
vị, thân đối với xúc, ý đối với pháp, để tìm cầu
chỗ yếu kém, cũng không tìm được chỗ yếu kém đó. Giống
như lầu các, nếu tường vách kiên cố, cửa ngõ nhiều lớp
đóng, lấp dày kín, dù đốt lửa bốn bên cũng không thể
cháy được. Các Tỳ-kheo này cũng lại như vậy, dù Ma Ba-tuần
đến chỗ dò xét để tìm tòi chỗ yếu cũng không thể tìm
được. Tỳ-kheo như vậy, có thể thắng được sắc kia, không
bị sắc chiết phục. Và thắng được tiếng, mùi, vị, xúc
và pháp không bị những pháp ấy chiết phục. Nếu thắng
được sắc, tiếng, mùi, vị, xúc, pháp rồi thì cũng thắng
luôn đối với những pháp ác bất thiện, phiền não, khổ
báo dẫy đầy, cùng sanh, già, bệnh, chết đời vị lai. Tự
thân tôi nhận được pháp này từ Đức Thế Tôn. Đó gọi
là ‘kinh Pháp Vô Lậu’.”
Bấy
giờ, Thế Tôn biết Đại Mục-kiền-liên thuyết pháp xong,
ngồi dậy cột niệm trước mặt, bảo Mục-kiền-liên:
“Lành
thay! Lành thay! Mục-kiền-liên, vì người thuyết kinh pháp
này, làm lợi ích nhiều nơi, vượt qua nhiều phiền não và
an lạc trời, người lâu dài.”
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông nên thọ trì kinh Pháp Hữu Lậu, Vô Lậu này. Hãy nói
rộng cho mọi người. Vì sao? Vì nghĩa lý đầy đủ, pháp
đầy đủ, phạm hạnh đầy đủ, khai mở thần túc, hướng
thẳng Niết-bàn,… cho đến người thiện nam có lòng tin,
ở nhà hay xuất gia cũng nên thọ trì đọc tụng và nói rộng
cho mọi người.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1177. SÔNG TRO[51]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Thí
như có một sông tro, bờ Nam rất nóng, nhiều gai nhọn, ở
nơi tối tăm, có nhiều tội nhân ở trong sông trôi dạt theo
dòng. Trong đó có một người thông minh trí tuệ, không ngu
si, ưa lạc chán khổ, ham sống sợ chết, tự nghĩ: ‘Hiện
tại ta vì duyên gì mà ở sông tro này, bờ Nam thì nóng bức
lại nhiều gai nhọn; ở nơi tối tăm, trôi dạt theo dòng như
vậy? Ta sẽ dùng chân tay làm phương tiện, bơi ngược dòng
lên.’ Dần dần thấy được chút ánh sáng, người ấy thầm
nghĩ, ‘Ta đã gắng sức mới thấy được chút ánh sáng này.’
Rồi lại vận dụng tay chân, gắng thêm, nỗ lực thêm và
thấy được đất bằng. Tức thì đứng lại đó quan sát
chung quanh, thấy núi đá lớn nguyên vẹn không bị lở, không
sụt, không bị đục thủng. Liền leo lên trên, lại thấy
ao nước trong mát có đủ tám phần: mát lạnh, ngon ngọt,
nhẹ nhàng, êm dịu, thơm tho, trong xanh, khi uống không bị
nghẹn, không trở ngại trong cổ, đã uống vào rồi thì thân
thể an lạc. Người ấy liền vào trong đó, hoặc uống hoặc
tắm, xa lìa được phiền não. Sau đó, leo lên trên núi lớn,
gặp bảy loài hoa: hoa Ưu-bát-la, hoa Bát-đàm-ma, hoa Câu-mâu-đầu,
hoa Phân-đà-lợi, hoa Tu-kiên-đề, hoa Di-ly-đầu-kiên-đề,
hoa A-đề-mục-đa, nghe thấy mùi hương thơm. Rồi lại lên
núi đá, thấy tòa nhà bốn tầng cấp, liền ngồi trên ấy;
thấy màn che có năm trụ, liền vào trong đó, điều thân ngồi
ngay thẳng. Ở trong này, đầy đủ gối mền, rải hoa khắp
nơi, trang hoàng đẹp đẽ; tự do ngồi nằm, gió mát bốn
bề, làm cho thân thể an ổn. Ngồi trên cao, vị ấy nhìn xuống
cất lớn tiếng xướng rằng:
“Hỡi
chúng sanh, các Hiền chánh sĩ trong sông tro! Sông này bờ Nam
nóng bức, phần nhiều là gai nhọn; nơi này tối tăm, nên
tìm cách ra khỏi sông này!”
Có
người nghe được những lời này, nương theo tiếng, hỏi
rằng:
“Hướng
nào ra được? Theo chỗ nào để ra?”
“Trong
đó có lời nói:
“Ngươi
cần gì hỏi, chỗ nào ra được? Cái người lớn tiếng gọi
kia, chính nó cũng không biết, không thấy theo chỗ nào để
ra. Nó cũng ở lại trong sông tro này, bờ Nam nóng bức, phần
nhiều gai nhọn; ở đây tối tăm, theo dòng trôi xuống. Hỏi
nó làm gì!
“Như
vậy, Tỳ-kheo, Ta nói thí dụ này, nay Ta sẽ giải thích nghĩa
của nó.
“Tro
chỉ cho ba ác giác bất thiện[52]. Những gì là ba? Là dục
giác, nhuế giác và hại giác.
“Sông
chỉ cho ba ái: Dục ái, sắc ái, vô sắc ái. Bờ Nam rất nóng
bức chỉ cho nội ngoại sáu nhập xứ. Phần nhiều là gai
nhọn chỉ cho năm công năng của dục. Chỗ tối tăm chỉ cho
vô minh che lấp tuệ nhãn. Nhiều người chỉ cho phàm phu ngu
si. Dòng là chỉ cho sông sanh tử. Trong đó có một người
không ngu không si là chỉ cho Đại Bồ-tát. Dùng tay chân làm
phương tiện bơi ngược dòng là chỉ cho tinh cần tu học.
Thấy một chút ánh sáng ẩn hiện là được pháp nhẫn. Gặp
được đất bằng là chỉ cho trì giới. Quan sát bốn phương
là chỉ cho thấy được bốn Chân đế. Núi đá lớn là chỉ
cho Chánh kiến. Nước tám phần là chỉ cho tám Thánh đạo.
Bảy loài hoa là chỉ cho bảy Giác chi. Nhà bốn tầng cấp
là chỉ cho bốn Như ý túc. Năm trụ màn che là chỉ cho năm
Căn: Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Thân ngồi ngay thẳng là
chỉ cho Vô dư Niết-bàn. Rải hoa khắp nơi là chỉ cho các
thiền định, giải thoát, tam-muội, chánh thọ. Tự do ngồi
nằm là chỉ cho Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Gió thổi
bốn bề là chỉ cho bốn tâm tăng trưởng hiện pháp lạc
trụ[53]. Cất tiếng kêu gọi là chỉ cho Chuyển pháp luân.
Kia có người hỏi: ‘Chư Hiền chánh sĩ ra chỗ nào?’ là
chỉ cho Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên và các Tỳ-kheo Hiền
thánh. Ở trong đó có lời nói: ‘Ngươi cần gì hỏi, chỗ
nào ra được? Cái người kia cũng không biết, không thấy
theo chỗ nào để ra. Nó cũng ở lại trong sông tro này, bờ
Nam nóng bức, phần nhiều gai nhọn; và chỗ tối tăm theo dòng
trôi xuống’, chỉ cho lục sư và các người tà kiến. Đó
là Phú-lan-na Ca-diếp, Mạt-già-lê Cù-xá-lê Tử, Tán-xà-da
Tỳ-la-chi Tử, A-kỳ-đa-chỉ-xá Khâm-bà-la, Già-câu-la Ca-đàn-diên,
Ni-kiền-liên-đà-xà-đề Phất-đa-la và những người tà kiến
khác.
“Như
vậy, Tỳ-kheo, Đại Sư vì các đệ tử mà làm những việc
cần làm. Nay Ta đã làm xong. Bây giờ, các ông phải làm những
việc cần làm như Ta đã nói trong kinh Tráp Rắn Độc.”
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe nhữn