TẠP
A-HÀM QUYỂN 42
KINH
1145. ƯNG THÍ[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc[2] đến chỗ Phật,
cúi đầu lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên,
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, nên thí cho những người nào?”
Phật
đáp:
“Đại
vương, tùy vào sở thích của tâm.”
Vua
Ba-tư-nặc lại bạch Phật:
“Nên
thí chỗ nào để được quả báo lớn?”
Phật
đáp:
“Đại
vương, đây là câu hỏi khác. Câu hỏi: ‘Nên thí chỗ nào’,
đây là một câu hỏi khác. Lại hỏi: ‘Thí chỗ nào sẽ
được quả báo lớn’, đây lại là câu hỏi khác.[3]
“Bây
giờ Ta hỏi Đại vương và cứ tùy ý trả lời Ta:
“Này
Đại vương, giả sử nước này, khi lâm trận chiến đấu,
tập hợp các chiến sĩ, trong đó có một người con trai của
Bà-la-môn từ phương Đông đến, tuổi nhỏ, ấu trĩ, yếu
ớt, đoan chánh, da trắng, tóc đen, không tập võ nghệ, không
học sách lược chiến thuật, sợ hãi rút lui, khiếp nhược
không thể tự an được, không dám nhìn kẻ địch, hoặc đâm
hay bắn, không có phương tiện, nên không thể đả thương
địch. Thế nào, Đại vương, người như vậy Đại vương
có thưởng không[4]?”
Vua
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, không thưởng.”
“Cũng
vậy Đại vương, có đồng tử Sát-lợi từ phương Nam đến.
Đồng tử Bề-xá từ phương Tây tới. Đồng tử Thủ-đà-la
từ phương Bắc tới, không có võ thuật, giống như con trai
của Bà-la-môn từ phương Đông. Vua có thưởng không?”
Vua
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, không thưởng.”
Phật
hỏi Đại vương:
“Khi
nước này tập hợp quân vào trận chiến đấu, có đồng
tử Bà-la-môn từ phương Đông đến, trẻ tuổi, đoan chánh,
da trắng tóc đen, giỏi võ nghệ, biết cách chiến đấu, dũng
cảm không sợ hãi, khổ chiến không rút lui, đứng yên xem
xét tình hình, múa đao cự địch có thể làm thương tổn,
phá hoại. Thế nào, Đại vương, người như vậy Đại vương
có trọng thưởng không?”
Vua
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sẽ trọng thưởng.”
“Cũng
vậy, Đại vương, có đồng tử Sát-lợi từ phương Nam đến.
Đồng tử Bề-xá từ phương Tây tới. Đồng tử Thủ-đà-la
từ phương Bắc tới, trẻ tuổi, đoan chánh, da trắng tóc
đen, giỏi võ nghệ, biết cách chiến đấu, dũng cảm không
sợ hãi, khổ chiến cự địch, đều như những đồng tử
Bà-la-môn từ phương Đông đến. Những chiến sĩ như vậy,
nhà vua có thưởng không?”
Vua
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sẽ trọng thưởng.”
Phật
nói:
“Này
Đại vương, cũng vậy, Sa-môn, Bà-la-môn, xa lìa năm chi, thành
tựu năm chi, kiến lập phước điền; nếu ai thí vào ruộng
phước này thì được phước lợi lớn, được quả báo lớn.
Những gì là lìa bỏ năm chi? Tham dục cái, sân nhuế, ngu si,
trạo hối, nghi cái đã đoạn, đã biến tri. Đó gọi là lìa
bỏ năm chi. Những gì là thành tựu năm chi? Thành tựu giới
thân vô học, định thân vô học, tuệ thân, giải thoát thân,
giải thoát tri kiến thân. Đó gọi là thành tựu năm chi.
“Này
Đại vương, người nào lìa bỏ năm chi, thành tựu năm chi,
kiến lập phước điền; thí vào ruộng phước này thì sẽ
được quả báo lớn.”
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ:
Múa
kiếm chiến đấu giỏi,
Là
dũng sĩ kham năng.
Vì
họ người chiến đấu,
Nên
theo công trọng thưởng.
Không
thưởng dòng danh tiếng,
Người
khiếp nhược, yếu hèn.
Nhẫn
nhục tu hiền lương,
Thấy
Đế, lập phước điền.
Đủ
luật nghi Hiền thánh,
Thành
tựu trí thâm diệu;
Dòng
họ tuy thấp hén,
Kham
làm ruộng phước thí.
Y thực,
tiền, của báu,
Giường
nằm cùng các loại;
Đều
nên thí cung kính,
Do
trì giới thanh tịnh.
Mé
rừng vắng, xa người,
Đào
giếng, cấp bộ hành.
Bắc
cầu qua khe suối.
Làm
quán trọ đường xa.
Chúng
đa văn giới đức,
Đi
đường được dừng nghỉ.
Thí
như mây dầy giăng,
Sấm
chớp vọng vang rền;
Mưa
rơi khắp mặt đất,
Trăm
cỏ chen nhau vươn;
Cầm
thú thảy vui vẻ,
Nông
phu cũng vui mừng.
Cũng
vậy, tâm tịnh tín,
Văn,
tuệ, xả keo bẩn;
Tiền
của, ăn uống đủ,
Thường
thí ruộng phước tốt.
Xướng
lớn, càng ưa thí[5],
Như
sấm mưa ruộng tốt;
Công
đức chảy nhuần khắp,
Thấm
ướt tâm thí chủ.
Được
nổi tiếng, giàu có,
Và
quả lớn Niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ, tùy hỷ, làm lễ ra về.
*
KINH
1146. SÁNG TỐI[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc đến chỗ Phật, cúi
đầu lễ dưới chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên, bạch
Phật:
“Thế
nào, bạch Thế Tôn, Bà-la-môn chết rồi có sanh trở lại
dòng Bà-la-môn hay sanh vào nhà Sát-lợi, Tỳ-xá, Thủ-đà-la?”
Phật
nói:
“Này
Đại vương, sao được như vậy! Đại vương nên biết, có
bốn loại người. Những gì là bốn? Có một loại người
từ tối vào tối; có một loại người từ tối vào sáng;
có một loại người từ sáng vào tối; và có một loại người
từ sáng vào sáng.
“Đại
vương, thế nào là loại người từ tối vào tối? Có người
sanh vào nhà thuộc dòng thấp hèn, như sanh vào nhà Chiên-đà-la,
nhà người săn bắn, bắt cá, làm đồ tre, nhà người kéo
xe và những nhà làm nghề nghiệp công xảo hạ tiện khác;
bần cùng, đoản mạng, hình thể tiều tụy mà lại tu hành
theo nghiệp thấp kém, cũng lại bị người hạ tiện sai khiến.
Đó gọi là tối. Ở trong chỗ tối này, thân lại làm việc
ác, miệng nói lời ác, ý nghĩ điều ác. Vì những lý do này,
khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào đường ác, rơi vào
trong địa ngục. Giống như người từ tối vào tối, từ
nhà xí vào nhà xí, lấy máu rửa máu[7], bỏ ác lấy ác. Người
từ tối vào tối cũng lại như vậy, cho nên gọi là từ tối
vào tối.
“Thế
nào là từ tối vào sáng? Người sanh vào nhà thấp hèn cho
đến bị người sai làm những điều hèn hạ. Đó gọi là
tối. Nhưng người ở trong tối này, thân làm việc lành, miệng
nói lời lành, ý nghĩ điều lành; vì những lý do này, khi
thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào đường lành, được
hóa sanh cõi trời. Thí như người lên giường[8], cỡi ngựa,
từ ngựa tiến lên voi; từ tối vào sáng cũng lại như vậy.
Đó gọi là người từ tối vào sáng.
“Thế
nào là người từ sáng vào tối? Có người đời sanh vào
gia đình giàu sang khoái lạc như nhà dòng lớn Sát-đế-lợi,
dòng lớn Bà-la-môn, nhà dòng lớn Trưởng giả, cùng sanh vào
những gia đình giàu có khoái lạc khác, có nhiều tiền bạc,
của cải, nô tỳ, người sai khiến, nhóm họp nhiều người
thân quen, thân thể đoan chánh, thông minh trí tuệ. Đó gọi
là sáng. Ở trong chỗ sáng này, thân làm điều ác, miệng
nói lời ác, ý nghĩ điều ác. Vì lý do này, khi thân hoại
mạng chung, sanh vào đường ác, rơi vào trong địa ngục. Giống
như có người từ lầu cao, xuống cưỡi voi lớn, xuống voi
lớn cưỡi ngựa, xuống ngựa đi xe, xuống xe ngồi giường,
xuống giường đi đất, từ đất rơi xuống hầm hố. Người
từ sáng vào tối lại cũng như vậy.
“Thế
nào là có người từ sáng vào sáng? Có người sanh vào nhà
giàu sang vui vẻ,... cho đến hình tướng đoan nghiêm. Đây
gọi là sáng. Ở trong chỗ sáng này, thân làm việc lành, miệng
nói lời lành, ý nghĩ điều lành. Vì lý do này, khi thân hoại
mạng chung, sanh lên đường lành, được hóa thân cõi trời.
Giống như có người từ lầu quán đến lầu quán;... cho đến
từ giường đến giường; người từ sáng vào sáng cũng lại
như vậy. Đó gọi là từ sáng vào sáng.”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ:
Người
bần cùng khốn khổ,
Không
tín, thêm sân hận;
Tưởng
tà ác, xan tham,
Si
mê không cung kính.
Gặp
Sa-môn, đạo sĩ,
Người
đa văn, trì giới;
Hủy
báng, không khen ngợi,
Ngăn
người cho và nhận.
Những
người như vậy đó,
Từ
nay đến đời khác,
Sẽ
đọa vào địa ngục;
Là
từ tối vào tối.
Nếu
có người bần cùng,
Tín
tâm, ít sân hận;
Thường
sanh tâm tàm quý,
Bố
thí lìa keo bẩn.
Gặp
Sa-môn, Phạm chí,
Người
đa văn, trì giới;
Khiêm
cung mà thưa hỏi,
Tùy
nghi khéo cúng cấp.
Khuyên
người nên bố thí,
Khen
người cho và nhận.
Người
tu thiện như vậy,
Từ
nay đến đời khác.
Sanh
đường lành cõi trời,
Là
từ tối vào sáng.
Người
giàu có khoái lạc,
Không
tín, nhiều sân hận;
Tưởng
ác, xan tham, tật,
Tà
mê không cung kính.
Gặp
Sa-môn, Phạm chí,
Hủy
báng không khen ngợi;
Cản
trở người bố thí,
Và
ngăn người đến nhận.
Những
người ác như vậy,
Từ
nay đến đời sau,
Rơi
vào khổ địa ngục;
Là
từ sáng vào tối.
Nếu
người giàu của cải,
Tín
tâm, không sân hận;
Thường
sanh tâm tàm quý,
Bố
thí, lìa sân nhuế.
Gặp
Sa-môn, Phạm chí,
Người
đa văn, trì giới,
Trước
nghinh tiếp thưa hỏi,
Tùy
nghi cấp vật cần.
Khuyên
người nên cúng dường,
Khen
người cho và nhận.
Những
người như thế đó,
Đời
này đến đời sau,
Sanh
cõi Tam thập tam,
Là
từ sáng vào sáng.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ tùy hỷ, làm lễ ra về.
*
KINH
1147. NÚI ĐÁ[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ sáng sớm[10], vua Ba-tư-nặc thân
dính đầy bụi bặm, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới
chân Phật, rồi ngồi lui qua một bên.
Phật
hỏi:
“Đại
vương từ đâu đến?”
Vua
đáp:
“Bạch
Thế Tôn, con theo pháp của Quán đảnh vương[11], tự tại
trong loài người[12], tinh cần phương tiện, thống lĩnh cõi
đất, thống lý vương sự, sau khi đi xem xét mọi nơi rồi
đến đây.”
Phật
bảo Đại vương:
“Nay
hỏi Đại vương, cứ tùy ý trả lời Ta. Thí như có người
từ phương Đông lại, có tín, có duyên[13], chưa từng giả
dối, đến tâu với vua rằng: ‘Tôi từ phương Đông lại,
thấy một núi đá, rất vuông vức to lớn, không bị đục
thủng, không bị phá hoại, cũng không xói lở, đang nghiền
đất mà đến. Tất cả cây cỏ và sanh vật đều bị nghiền
nát.’ Từ phương Nam, Tây, Bắc cũng có người đến, có
tín, có duyên, chưa từng giả dối, đến tâu với vua rằng:
‘Tôi thấy một núi đá rất vuông vức to lớn, không bị
đục thủng, không bị phá hoại, cũng không xói lở, đang
nghiền đất mà đến. Tất cả cây cỏ và sanh vật đều
bị nghiền nát.’ Ý Đại vương thế nào? Sự việc khủng
bố, hiểm ác, chết chóc lớn lao như vậy xảy đến; vận
của chúng sanh đã hết; sanh làm người thật khó. Đại vương
sẽ phải tính sao?”
Vua
bạch Phật:
“Nếu
như vậy, thì không còn cách tính nào khác, chỉ còn cách tu
thiện, chuyên tâm phương tiện nơi Pháp luật của Phật.”
Phật
bảo Đại vương:
“Cớ
sao lại nói là những chuyện hiểm ác khủng bố chợt xảy
đến cho đời, vận của chúng sanh đã hết, thân người khó
được; chỉ còn phải thực hành theo pháp, hành nghĩa, hành
phước, phải chuyên tinh phương tiện nơi giáo pháp của Phật?
Vì sao không nói, địa vị của Quán đảnh vương, đứng đầu
trên mọi người, uy quyền tự tại, thống lãnh đại địa,
sự vụ, nhân dân để đối phó sự việc ấy?”
Vua
bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đó là nói khi thanh bình, thì vương vị quán đảnh
là đứng đầu mọi người, thống lãnh cõi đất, để doanh
lý mọi việc. Dùng tài sản đấu tài sản. Dùng voi đấu
voi. Dùng xe đấu xe. Dùng bộ đấu bộ. Hoặc thắng hoặc
bại, ngay lúc đó không thể tự chủ. Cho nên, con nói đến
khi sự việc hiểm ác khủng bố xảy đến, chúng sanh vận
cùng, thân người khó được; khi đó không có kế nào khác,
mà chỉ còn có thực hành theo pháp, hành nghĩa, hành phước,
chuyên tâm quay về nương tựa nơi giáo pháp của Phật.”
Phật
bảo Đại vương:
“Đúng
thế! Đúng thế! Thường xuyên bị nghiền nát, nghĩa là kiếp
ác, già, bệnh, chết, khổ, não nghiền nát chúng sanh, sẽ
phải làm sao? Chính là phải tu nghĩa, tu phước, tu thiện,
tu từ, ở trong Phật pháp tinh cần phương tiện.”
Bấy
giờ, Phật nói kệ:
Như
có núi đá lớn,
Cao
rộng không hoại khuyết;
Khắp
từ bốn phương đến,
Nghiền
nát đại địa này.
Không
binh mã, chú thuật,
Sức
mạnh để phòng ngự.
Kiếp
ác, già, bệnh, chết,
Thường
nghiền nát chúng sanh.
Bốn
chủng tộc, dòng lớn,
Thợ
săn, Chiên-đà-la,
Tại
gia và xuất gia,
Người
trì giới, phạm giới.
Tất
cả bị nghiền nát,
Không
ai cứu hộ được.
Cho
nên người trí tuệ,
Quán
sát lợi tự mình.
Kiến
lập lòng tin sạch,
Tin
Phật, Pháp, Tăng bảo;
Thân,
khẩu, ý thanh tịnh,
Tùy
thuận theo Chánh pháp.
Đời
này được tiếng khen,
Mạng
chung sanh lên trời.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ tùy hỷ, làm lễ ra về.
*
KINH
1148. XÀ-KỲ-LA[14]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc đến chỗ Phật, cúi
đầu lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên.
Khi
ấy có bảy người Ni-kiền Tử, bảy người Xà-kỳ-la[15],
bảy người Nhất-xá-la[16], thân thể thô lớn, đang đi lượn
quanh, rồi đứng trước của tinh xá Kỳ-hoàn. Vua Ba-tư-nặc
từ xa trông thấy họ đang lượn quanh ngoài cửa, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, đi ra trước cửa, chắp tay bạch hỏi
và tự xưng tên ba lần: “Tôi là vua Ba-tư-nặc, vua xứ Câu-tát-la.”
Bấy
giờ, Phật hỏi vua:
“Vì
cớ gì, hôm nay bệ hạ lại cung kính những người đó, chắp
tay thưa hỏi, ba lần xưng tên họ?”
Vua
bạch Phật:
“Con
tự nghĩ ở thế gian nếu có những vị A-la-hán, thì chính
họ là những vị đó.”
Phật
dạy bảo vua Ba-tư-nặc:
“Này
bệ hạ, thôi đủ rồi. Chính bệ hạ cũng không phân biệt
được đó có phải là A-la-hán thật, hay không phải là A-la-hán,
vì không có được tha tâm trí. Vả lại cần phải gần gũi,
xem xét giới hạnh của họ[17], một thời gian lâu mới có
thể biết được; chớ tự quyết vội vàng. Hãy xem xét kỹ,
không chỉ hời hợt[18]; hãy dùng trí tuệ, chớ không phải
vô trí. Phải kinh qua các khổ cực khó khăn, mới có khả
năng tự mình biện biệt[19], đối chiếu so sánh, thật giả
sẽ phân biệt được. Thấy lời nói mới biết sự sáng suốt[20],
chứ không thể phân biệt vội vàng, cần phải dùng trí tuệ
tư duy quán sát.”
Vua
bạch Phật:
“Lạ
thay! Bạch Thế Tôn, khéo nói lý này. Phải tiếp xúc chuyện
trò một thời gian lâu, quán sát giới hạnh của họ... cho
đến thấy sự nói năng hiểu biết rõ ràng.
“Con
có người nhà cũng đi xuất gia. Mang hình tướng cũng như
những người này, đi khắp các nước và khi trở về lại,
khi cởi bỏ y phục kia, là trở lại hưởng thọ ngũ dục.
Cho nên, nên biết, Thế Tôn nói đúng, nên cùng họ sống chung
để xem xét giới hạnh của họ,... cho đến nói năng mà biết
có trí tuệ.”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ:
Không
do thấy hình tướng,
Biết
thiện ác của người.
Không
phải vừa gặp nhau,
Mà
cùng đồng tâm chí.
Điều
kín hiện thân, miệng,
Tâm
tục không kiểm thúc;
Giống
như miếng đồng xi[21],
Thếp
lên lớp vàng ròng.
Trong
ôm lòng tạp mọn,
Ngoài
hiện oai nghi Thánh;
Đi
khắp các quốc độ,
Lừa
dối khắp thế gian.
Phật
nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ tùy hỷ, làm lễ ra về.
*
KINH
1149. BẢY VUA[22]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, đứng đầu vua Ba-tư-nặc cùng bảy
vị quốc vương[23] và các vị đại thần cùng họp nhau bàn
luận như vầy:
“Trong
ngũ dục, cái nào nhất?”
Có
người nói:
“Sắc
là nhất.”
Lại
có người nói:
“Thanh,
hương, vị, xúc là nhất.”
Trong
đó có người nói:
“Chúng
ta mỗi người đều cho của mình là nhất, rốt cùng không
thể phán định. Hãy cùng nhau đến Thế Tôn, hỏi về nghĩa
này. Cứ theo lời dạy Thế Tôn, sẽ cùng nhau ghi nhớ thọ
trì.”
Bấy
giờ, vua Ba-tư-nặc dẫn đầu bảy vị quốc vương và các
đại thần, quyến thuộc, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, chúng con bảy vị quốc vương và các đại thần,
bàn luận như vầy: ‘Công năng năm thứ dục lạc, thứ nào
hơn hết?’ Trong số này, có người nói sắc là hơn hết;
có người nói thanh là hơn hết; có người nói hương là hơn
hết; có người nói vị là hơn hết; có người nói xúc là
hơn hết. Cuối cùng không thể quyết định, nên đến hỏi
Thế Tôn, rốt cùng cái nào hơn hết?”
Phật
bảo các vua:
“Mỗi
người đều nói lên theo ý thích của mình, còn Ta thì nói
khác. Vì lý do này, Ta nói về năm công năng của dục. Nhưng
đối với sắc, có người tự vừa ý, chỉ yêu mến một
thứ sắc, là thỏa mãn chí nguyện của mình. Giả sử có
những sắc đẹp hơn, nhưng không phải sở ái của họ, thì
sẽ không đụng đến, không ngó ngàng đến. Nên chỉ nói
thứ sắc sở ái của mình là nhất không còn sắc nào vượt
lên trên nó. Như người yêu mến sắc; thanh, hương, vị, xúc
cũng đều như vậy; những gì mình sở ái, thì liền cho đó
là tối thắng, rồi hoan hỷ, ưa đắm. Cho dù có thứ vượt
trên thứ đó nữa, nhưng vì không phải là sở dục của họ,
nên họ không đụng đến, không ngó ngàng đến. Chỉ có những
gì ta yêu là tối thắng tối diệu, không gì so sánh, không
gì trên được.”
Bấy
giờ giữa chúng có một Ưu-bà-tắc tên là Chiên-đàn[24] từ
chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, bày vai hữu, chắp
tay bạch Phật rằng:
“Thế
Tôn khéo nói! Thiện Thệ khéo nói!”
Phật
bảo Ưu-bà-tắc:
“Chiên-đàn
khéo nói! Chiên-đàn, hãy nói đi!”
Khi
ấy Ưu-bà-tắc Chiên-đàn liền nói kệ rằng:
Vua
Ương-già quý tộc,
Đeo
ngọc, giáp anh lạc.
Dân
Ma-kiệt vui họp,
Như
Lai hiện nước này;
Tiếng
đồn vang khắp nơi,
Như
núi chúa Tuyết sơn;
Như
hoa sen thanh tịnh,
Trong
sạch không vết nhơ,
Nở
theo ánh mặt trời,
Hương
thơm xông khắp nước.
Hiện
sáng nước Ương-kỳ[25],
Như
mặt trời giữa không.
Quán
tuệ lực Như Lai,
Như
đêm đốt đuốc sáng;
Là
mắt, ánh sáng lớn,
Đến
Người vì quyết nghi.
Khi
ấy các quốc vương đều khen rằng:
“Ưu-bà-tắc
Chiên-đàn khéo nói!”
Lúc
này, bảy vị quốc vương cởi bảy cái áo báu tặng cho Chiên-đàn.
Sau
khi bảy vị quốc vương nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ,
tùy hỷ, từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.
Khi
Ưu-bà-tắc Chiên-đàn biết các vị quốc vương đã đi rồi,
từ chỗ ngồi đứng dậy, sửa lại y phục, bày vai phải,
chắp tay bạch Phật:
“Hôm
nay bảy vị quốc vương để lại cho con bảy cái áo thượng
hảo hạng này, xin Thế Tôn vì lòng thương xót mà nhận bảy
cái áo này.”
Bấy
giờ, Thế Tôn vì lòng thương xót, nên nhận bảy cái áo đó,
Ưu-bà-tắc Chiên-đàn hoan hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1150. THỞ SUYỂN[26]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc, với thân thể mập
lớn, mồ hôi ướt đẫm, đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ
dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên, hơi thở hổn hển.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói vua Ba-tư-nặc:
“Đại
vương thân thể mập quá!”
Đại
vương bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đúng vậy! Con đang lo về cái thân quá mập và thường
rất khổ sở, nhờm chán, hổ thẹn, vì cái thân mập béo
này.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Người
nên tự cột niệm,
Khi
ăn biết tiết độ;
Thì
các thọ sẽ giảm,
Yên
ổn mà sống lâu.
Khi
ấy có một thiếu niên tên là Uất-đa-la[27] ngồi giữa hội
chúng. Vua Ba-tư-nặc nói với Uất-đa-la rằng:
“Khanh
có thể ghi nhớ bài kệ vừa được nói này từ Thế Tôn,
rồi đến mỗi bữa ăn đọc lên cho ta được không? Nếu
được; ta sẽ ban cho mười vạn tiền vàng và sẽ thường
xuyên ban cho thức ăn.”
Uất-đa-la
tâu vua:
“Xin
vâng lời dạy. Tôi sẽ đọc!”
Sau
khi vua Ba-tư-nặc nghe Phật nói xong, hoan hỷ, tùy hỷ làm lễ
ra về.
Khi
ấy Uất-đa-la biết vua đã đi rồi, đến trước Thế Tôn
xin nhận bài kệ Phật đã nói. Khi vua ăn, cứ mỗi bữa vua
ăn đều tụng lên, tâu rằng: “Đại vương, Đức Như Lai,
Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, bậc Tri giả, Kiến giả, đã
nói bài kệ này:
Người
nên tự cột niệm,
Khi
ăn biết tiết độ;
Thì
các thọ sẽ giảm,
Yên
ổn mà sống lâu.
Như
vậy, từ đó trở đi, vua Ba-tư-nặc thân thể gầy thon lại,
tướng mạo đoan chánh. Ở trên lầu, hướng về chỗ Phật
ở, vua cung kính chắp tay quỳ sát đất, nói ra ba lần như
vầy:
“Nam-mô
kính lễ Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Nam-mô
kính lễ Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác. Nam-mô
kính lễ Thế Tôn, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, đã
ban cho con những lợi ích trong hiện tại và đời sau. Đời
này, đời sau được lợi ích do biết tiết độ ăn uống.”
*
KINH
1151. A-TU-LA[28]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ.
Khi
ấy có một thiếu niên A-tu-la[29] đến chỗ Phật, ở trước
Phật dùng những lời bất thiện, thô ác, sân si, mạ lỵ,
chỉ trích Phật[30].
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Không
giận, thắng sân nhuế,
Lấy
thiện phục bất thiện;
Bố
thí phục keo kiệt,
Nói
thật diệt nói dối.
Không
mắng cũng không ngược,
Luôn
trụ tâm Thánh hiền.
Người
ác ôm sân hận,
Bất
động như núi đá.
Kiềm
giữ sân nhuế khởi,
Hơn
giữ xe ngựa cuồng;
Ta
nói đánh xe giỏi,
Không
phải người cầm cương.
Bấy
giờ, thiếu niên A-tu-la, bạch Phật rằng:
“Bạch
Cù-đàm, con xin hối lỗi. Con thật ngu, thật si, không biết
phân biệt, không tốt, ở trước mặt Cù-đàm dám trách mắng
hủy nhục.”
Sám
hối như vậy xong, A-tu-la nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ,
tùy hỷ làm lễ ra về.
*
KINH
1152. TÂN-KỲ-CA[31]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ.
Bấy
giờ, có một thiếu niên Bà-la-môn tên Tân-kỳ-ca[32], đến
chỗ Phật, ở trước mặt Thế Tôn dùng những lời bất thiện,
thô ác, sân si, mạ lỵ, chỉ trích Phật.
Bấy
giờ Thế Tôn bảo thiếu niên Tân-kỳ-ca:
“Vào
những ngày tốt, anh có mời bà con thân thuộc hội họp không?”
Tân-kỳ-ca
bạch Phật:
“Có!
Bạch Cù-đàm!”
Phật
bảo Tân- kỳ:
“Nếu
những người bà con thân tộc của anh không nhận vật thực
thì sẽ thế nào?”
Tân-kỳ
bạch Phật:
“Nếu
không nhận vật thực thì vật thực ấy trở về tôi.”
Phật
bảo Tân-kỳ:
“Cũng
vậy, ở trước mặt Như Lai anh nói ra những lời mạ nhục,
quở trách thô ác, bất thiện. Cuối cùng Ta không nhận, thì
những lời trách mắng như vậy chúng sẽ thuộc về ai?”
Tân-kỳ
bạch Phật:
“Như
vậy, bạch Cù-đàm, tuy người kia không nhận, nhưng vì đã
tặng nhau nên coi như đã cho rồi.”
Phật
bảo Tân-kỳ:
“Như
vậy, không gọi là quà tặng nhau, thì đâu được gọi là
cho nhau?”
Tân-kỳ
hỏi:
“Thế
nào mới gọi là quà tặng nhau, gọi là cho nhau? Thế nào gọi
là không nhận quà tặng nhau, không gọi là cho nhau?”
Phật
bảo Tân-kỳ:
“Hoặc
sẽ như vầy: mắng thì trả mắng, sân thì trả sân, đánh
thì trả đánh, đấu thì trả đấu; gọi là quà tặng nhau,
gọi là cho nhau[33]. Lại nữa, Tân-kỳ, hoặc mắng không trả
mắng, sân không trả sân, đánh không trả đánh, đấu không
trả đấu; nếu như vậy thì không phải là quà tặng nhau,
không gọi là cho nhau.”
Tân-kỳ
bạch Phật:
“Bạch
Cù-đàm, tôi nghe chuyện xưa có vị trưởng lão Bà-la-môn,
kỳ cựu, được trọng vọng, là bậc Đại Sư hành đạo,
nói: ‘Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác bị người mạ
nhục, sân nhuế, chỉ trích trước mặt, vẫn không sân, không
giận.’ Mà nay Cù-đàm có sân nhuế chăng?”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Không
sân sao có sân,
Chánh
mạng để chế ngự;
Chánh
trí, tâm giải thoát,
Người
trí tuệ không sân.
Người
lấy sân báo sân,
Thì
chính là người ác;
Không
lấy sân báo sân,
Chế
ngự giặc khó chế.
Không
sân thắng sân nhuế,
Ba
kệ nói như trước.
Bấy
giờ, thiếu niên Tân-kỳ bạch Phật:
“Bạch
Cù-đàm, con xin hối lỗi. Con thật ngu, thật si, không biết
phân biệt, không tốt, ở trước mặt Sa-môn Cù-đàm dám nói
ra lời trách mắng, sân si, thô ác, bất thiện.”
Sau
khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, làm lễ ra về.
*
KINH
1153. MẠ LỴ (1)[34]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong giảng đường Lộc tử mẫu, vườn
phía Đông, nước Xá-vệ. Bấy giờ buổi chiều, sau khi từ
thiền tịnh dậy, Thế Tôn đến dưới bóng mát giảng đường,
đi kinh hành giữa khoảng đất trống. Khi ấy có Bà-la-môn
Kiện Mạ Bà-la-đậu-bà-giá[35], đến chỗ Phật, trước mặt
Phật thốt ra những lời thô ác, bất thiện, mạ lỵ, chỉ
trích. Thế Tôn kinh hành. Ông đi theo sau Thế Tôn. Khi Thế
Tôn đã kinh hành xong, dừng lại một chỗ, Bà-la-môn nói:
“Cù-đàm!
Bị thua chăng?”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Người
hơn liền thêm oán,
Người
thua nằm không yên.
Hơn
thua đều buông xả,
Là
được ngủ an lành.
Bà-la-môn
bạch:
“Bạch
Cù-đàm, nay xin sám hối! Con thật ngu, thật si, không biết
phân biệt, không tốt, ở trước mặt Cù-đàm thốt ra những
lời thô ác, bất thiện, mạ lỵ, chỉ trích!”
Sau
khi Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ làm
lễ ra về.
*
KINH
1154. MẠ LỴ (2)[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong giảng đường Lộc tử mẫu, phía
Đông nước Xá-vệ. Bấy giờ sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm
bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khi ấy có Bà-la-môn Kiện
Mạ Bà-la-đậu-bà-giá[37], vừa thấy Thế Tôn liền thốt
ra những lời mắng nhiếc, sân si, thô ác, bất thiện; hốt
bụi đất ném vào Phật. Khi ấy có gió ngược, thổi bụi
bay trở lại, bụi này tự phản dính vào người ông.
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Nếu
người không sân hận,
Thì
mạ nhục đến đâu,
Vẫn
sạch không dính nhơ,
Ác
kia trở lại mình.
Giống
như người tung bụi,
Ngược
gió hoàn tự nhơ.
Lúc
ấy, Bà-la-môn bạch Phật:
“Bạch
Cù-đàm, xin sám hối! Con thật ngu, thật si, không biết phân
biệt, không tốt, sao ở trước mặt Cù-đàm thốt ra những
lời mạ lỵ, quở trách, thô ác, bất thiện!”
Sau
khi Bà-la-môn nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ quay
đầu lại mà đi.
*
KINH
1155. TRÁI NGHĨA[38]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật trú tại Câu-tát-la, du hành trong nhân gian,
đến vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ.
Khi
ấy có Bà-la-môn tên là Vi Nghĩa[39], nghe Sa-môn Cù-đàm từ
Câu-tát-la du hành trong nhân gian đến vườn Cấp cô độc,
rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ, tự nghĩ: “Ta sẽ đến
chỗ Sa-môn Cù-đàm để nghe thuyết pháp và sẽ bẻ lại nghĩa.”
Nghĩ như vậy rồi, liền đến tinh xá tìm chỗ Thế Tôn. Bấy
giờ, Thế Tôn đang nói pháp cho vô lượng quyến thuộc đang
vây quanh. Thế Tôn vừa thấy Bà-la-môn Vi Nghĩa đến, liền
ngồi im lặng.
Bà-la-môn
Vi Nghĩa bạch Phật:
“Bạch
Cù-đàm, hãy thuyết pháp. Tôi mong muốn nghe.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Bà-la-môn
Vi Nghĩa,
Chưa
thể hiểu nghĩa sâu.
Lòng
giận hờn, ganh tị,
Muốn
cản trở pháp thuyết.
Điều
phục tâm chống đối,
Những
ý dục bất tín;
Dứt
các bẩn chướng ngăn,
Mới
hiểu lời thâm diệu.
Khi
ấy, Bà-la-môn Vi Nghĩa tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết
tâm ta.’
Sau
khi nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ từ chỗ ngồi
đứng dậy ra về.
*
KINH
1156. BẤT HẠI[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm
bát vào thành Xá-vệ khất thực. Khi ấy có Bà-la-môn Bất
Hại[41] đến chỗ Phật, bạch Phật rằng:
“Bạch
Thế Tôn, tên con là Bất Hại, có xứng thật danh không?”
Phật
bảo:
“Như
thế này mới xứng thật danh: nếu thân bất hại, nếu miệng
bất hại, nếu tâm bất hại thì mới xứng thật danh.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Nếu
thân không sát hại,
Cả
khẩu, ý cũng vậy;
Thì
đó lìa sát hại,
Không
khủng bố chúng sanh.
Phật
nói kinh này xong, Bà-la-môn Bất Hại nghe những gì Phật dạy,
hoan hỷ, tùy hỷ quay đầu lại mà đi.
*
KINH
1157. HỎA DỮ[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại nước
Xá-vệ. Bấy giờ buổi sáng, Thế Tôn đắp y, ôm bát, vào
thành Xá-vệ khất thực. Lần lượt đi khất thực, đến
nhà Bà-la-môn Hỏa Dữ[43]. Bà-la-môn vừa thấy Phật đến,
liền bày đầy đủ các thức ăn ngon cúng dường đầy bát
Thế Tôn. Hai ba ngày như vậy, lại đến nhà này khất thực,
Bà-la-môn Hỏa Dữ vừa thấy Phật đến tự nghĩ: “Sa-môn
đầu trọc sao lại đến mãi, vì tham thức ăn ngon chăng?”
Lúc
ấy, Thế Tôn biết được ý nghĩ của Bà-la-môn Hỏa Dữ
liền nói bài kệ:
Trời
ngày nào cũng mưa,
Nông
phu ngày đêm cày;
Thường
xuyên gieo giống lúa,
Ruộng
thâu lúa luôn luôn.
Như
người thường mang thai.
Bò
sữa mãi nhớ nghé.
Thường
luôn có người xin,
Lúc
nào cũng bố thí.
Vì
luôn mãi bố thí,
Nên
luôn nổi tiếng lớn.
Nhiều
lần quăng thây chết,
Nhiều
lần khóc tiếc thương.
Nhiều
lần sanh rồi chết,
Nhiều
lần khổ ưu, bi;
Nhiều
lần lấy lửa đốt,
Nhiều
lần bị trùng ăn.
Nếu
được đạo Hiền thánh,
Không
mãi thọ các hữu;
Cũng
không mãi sanh tử,
Không
mãi khổ ưu, bi.
Không
luôn luôn lửa đốt,
Không
mãi bị trùng ăn.
Sau
khi Bà-la-môn Hỏa Dữ nghe Phật nói kệ xong, khởi tín tâm
trở lại và đem thức ăn cúng dường đầy bát Phật. Nhưng
Thế Tôn không nhận vì nhân nói kệ mới được cúng. Lại
nói kệ:
Nhân
vì nói kệ pháp,
Không
nên nhận thức ăn;
Nên
quán sát tự pháp,
Thuyết
pháp, không nhận ăn.
Bà-la-môn
nên biết,
Đó
là lối sống tịnh.
Nên
cúng dường người khác,
Bậc
Đại Tiên thuần tịnh,
Đã
hết các hữu lậu,
Pháp
nhơ đã đoạn tất;
Cúng
dường các thức ăn,
Cho
ruộng phước tốt này.
Người
muốn cầu phước đức,
Thì
ruộng Ta là tốt.
Bà-la-môn
Hỏa Dữ bạch Phật:
“Thức
ăn này bây giờ nên để chỗ nào?”
Phật
bảo:
“Ta
không thấy chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên thần
hay người đời có thể ăn đồ tín thí này mà thân được
an lạc. Ông nên đem thức ăn này bỏ vào nước không trùng
và đất ít cỏ mọc.”
Khi
ấy Bà-la-môn liền đem thức ăn này bỏ vào trong n