TẠP
A-HÀM QUYỂN 39
KINH
1081. KHỔ CHÚNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở vườn Lộc dã, tại nước Ba-la-nại.
Bấy giờ sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm bát, vào thành Ba-la-nại
khất thực. Lúc ấy, cũng có Tỳ-kheo đắp y, ôm bát, vào
thành khất thực, đứng dưới gốc cây bên đường, vì nương
vào ác tham[2] nên sanh giác tưởng bất thiện[3]. Thế Tôn
thấy Tỳ-kheo đứng dưới bóng cây, sống bằng vị ác tham
nên sanh giác tưởng bất thiện, bảo rằng:
“Này
Tỳ-kheo! Tỳ-kheo! Chớ gieo trồng hạt giống đắng[4], để
rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra. Nếu Tỳ-kheo nào
gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối,
nước rỉ chảy ra, mà muốn cho ruồi nhặng không tranh nhau
bu lại, thì điều đó không thể có được.”
Lúc
ấy Tỳ-kheo kia tự nghĩ: “Thế Tôn đã biết được niệm
ác trong tâm ta.” Chợt lòng cảm thấy sợ hãi, toàn thân
lông dựng đứng.
Bấy
giờ, sau khi Thế Tôn vào thành khất thực, trở về tinh xá,
cất y bát, rửa chân, rồi vào phòng tọa thiền. Chiều hôm
ấy, từ thiền tịnh dậy, Ngài vào trong Tăng, trải tòa ngồi
trước đại chúng và bảo các Tỳ-kheo:
“Sáng
nay, Ta đắp y, ôm bát vào thành khất thực, thấy một Tỳ-kheo
đứng dưới bóng cây, nương vào ác tham dục, phát sanh giác
tưởng bất thiện. Khi Ta thấy vậy liền bảo rằng: ‘Tỳ-kheo!
Tỳ-kheo! Chớ gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông
lên mùi thối, nước rỉ chảy ra. Nếu Tỳ-kheo nào gieo trồng
hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ
chảy ra, mà muốn cho ruồi nhặng không tranh nhau bu lại, thì
điều đó không thể có được.’ Lúc đó, Tỳ-kheo kia liền
tự nghĩ: ‘Phật đã biết được niệm của ta.’ Lòng cảm
thấy hổ thẹn, sợ hãi đến nỗi lông dựng cả lên, rồi
theo đường mà đi.”
Khi
ấy, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dạy, sửa lại
y phục, bày áo vai bên hữu, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, thế nào là hạt giống đắng? Thế nào là sanh hôi
thối? Thế nào là nước rỉ chảy? Thế nào là ruồi nhặng?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Phẫn
nộ, phiền oán gọi là hạt giống đắng. Công đức ngũ dục
gọi là sanh hôi thối. Đối với lục xúc nhập xứ không
nhiếp luật nghi gọi là chất nước rỉ chảy. Và khi đã
không nhiếp xúc nhập xứ, thì các tâm ác bất thiện, tham
ưu tranh nhau sanh ra, đó gọi là ruồi nhặng[5].”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Tai
mắt không phòng hộ,
Tham
dục theo đó sanh;
Đó
gọi là giống đắng,
Hôi
thối, nước rỉ chảy.
Khí
vị các giác quán,
Do
nếm ác tham dục.
Nơi
xóm làng, chỗ vắng,
Đối
với ngày hoặc đêm,
Viễn
ly, tu phạm hạnh,
Cứu
cánh biên tế khổ.
Nếu
nội tâm tịch tĩnh,
Quyết
định biết chân thật.
Thức
ngu thường an lạc,
Ruồi
nhặng bị tận diệt.
Thân
cận bậc Chánh sĩ,
Khéo
nói đường Hiền thánh;
Biết
rõ bát Chánh đạo,
Không
tái sanh thân sau.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1082. UNG NHỌT[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm
bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong Thế Tôn
trở về tinh xá, rửa chân rồi vào rừng An-đà tọa thiền.
Khi
ấy có một Tỳ-kheo cũng sáng sớm đắp y, ôm bát vào thành
Xá-vệ khất thực. Khất thực xong trở về tinh xá, rửa chân
rồi vào rừng An-đà nhập chánh thọ ban ngày[7], dưới một
bóng cây. Khi Tỳ-kheo này nhập chánh thọ ban ngày, vì nương
vào tâm nếm vị tham dục nên khởi lên giác tưởng bất thiện.
Khi ấy có Thiên thần đang ở tại rừng An-đà tự nghĩ: “Tỳ-kheo
này, thật không tốt đẹp, không thích hợp, ngồi thiền ở
trong rừng An-đà mà tâm nếm vị ác tham, khởi lên giác tưởng
bất thiện. Ta nên đến quở trách.” Nghĩ xong liền nói với
Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo!
Tỳ-kheo, đang nổi nhọt, bướu phải không?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Sẽ
trị cho khỏi.”
Thiên
thần bảo Tỳ-kheo:
“Bệnh
ung nhọt như cái vạc sắt, làm sao có thể bình phục được?”
Tỳ-kheo
bảo:
“Chánh
niệm, chánh trí đủ có thể bình phục.”
Thiên
thần bạch rằng:
“Tốt
thay! Hay thay! Đó là cách trị bệnh nhọt chân thật của Hiền
thánh. Trị bệnh nhọt như vậy, cuối cùng có thể bớt, mà
không bao giờ phát tác nữa.”
Chiều
hôm ấy, Thế Tôn từ thiền tịnh dậy, trở về vườn Cấp
cô độc, rừng cây Kỳ-đà, vào trong Tăng, trải tòa ngồi
trước đại chúng và bảo các Tỳ-kheo:
“Sáng
sớm nay Ta đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực, khất
thực xong trở về rừng An-đà tọa thiền, nhập chánh thọ
ban ngày. Có một Tỳ-kheo cũng sáng sớm đắp y, ôm bát vào
thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong trở về tinh xá,
rửa chân rồi vào rừng An-đà nhập chánh thọ ban ngày, dưới
một bóng cây. Khi Tỳ-kheo này nhập chánh thọ ban ngày, vì
nương vào tâm nếm vị tham dục nên khởi lên giác tưởng
ác bất thiện. Khi ấy có thiên thần đang ở tại rừng An-đà
tự nghĩ: ‘Tỳ-kheo này, thật không tốt đẹp, không thích
hợp, ngồi thiền ở trong rừng An-đà mà tâm nếm vị ác
tham, khởi lên giác tưởng bất thiện. Ta nên đến quở trách.”
Nghĩ xong liền nói với Tỳ-kheo: ‘Tỳ-kheo! Tỳ-kheo, đang
nổi nhọt, bướu phải không?’ Nói đầy đủ như trên…
cho đến như vậy Tỳ-kheo: ‘Tốt thay! Hay thay! Đó là cách
trị bệnh nhọt chân thật của Hiền thánh.’”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ:
Con
người[8] nổi nhọt, bướu,
Tự
sanh ra bệnh khổ;
Mong
cầu dục thế gian,
Tâm
nương vào ác tham.
Vì
sanh ra nhọt bướu,
Ruồi
nhặng tranh nhau đến.
Nhọt,
bướu là tham cầu,
Ruồi
nhặng là ác giác,
Cùng
các tâm tham nếm,
Thảy
đều từ ý sanh;
Đục
khoét tâm con người,
Để
cầu hoa danh lợi.
Lửa
dục càng hừng hực,
Vọng
tưởng giác bất thiện;
Thân
tâm ngày đêm suy.
Xa
lìa đạo tịch tĩnh,
Nếu
nội tâm vắng lặng,
Trí
quyết định sáng suốt;
Không
còn nhọt bướu kia,
Thấy
Phật, đường an ổn,
Vết
tích Chánh sĩ theo,
Hiền
thánh khéo tuyên nói,
Con
đường trí sáng biết,
Không
còn thọ các hữu.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1083. ĂN CỦ RỄ[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở nơi giảng đường Trùng các, bên ao Di-hầu,
tại nước Tỳ-xá-ly. Bấy giờ sáng sớm, có nhiều Tỳ-kheo
đắp y, ôm bát, vào thành Tỳ-xá-ly khất thực. Khi đó, có
một Tỳ-kheo tuổi trẻ, xuất gia chưa bao lâu, không rành Pháp
luật, nên lúc khất thực không biết thứ tự trước sau;
các Tỳ-kheo khác thấy vậy nói với vị ấy:
“Thầy
tuổi còn trẻ, mới xuất gia, chưa biết Pháp luật: không
được đi vượt qua, không được đi ngang hàng. Đi khất thực
mà trước sau không theo thứ tự, trường kỳ sẽ chịu khổ,
không bao giờ được lợi ích.”
Tỳ-kheo
tuổi trẻ thưa:
“Các
Thượng tọa cũng vượt thứ lớp, không theo trước sau, đâu
phải chỉ một mình tôi.”
Đã
ba lần như vậy, vẫn không thể làm cho vị ấy dừng lại.
Các Tỳ-kheo đi khất thực xong, trở về tinh xá cất y bát,
rửa chân xong, đến chỗ Phật đảnh lễ dưới chân Phật,
ngồi lui ra một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sáng sớm chúng con đắp y, ôm bát vào thành Tỳ-xá-ly
khất thực, có một Tỳ-kheo tuổi trẻ xuất gia nơi Pháp luật
này chưa bao lâu, khi đi khất thực không theo thứ tự trước
sau, lại đi ngang hàng. Các Tỳ-kheo đã ba lần can gián nhưng
vẫn không chịu, mà nói rằng: ‘Các Thượng tọa cũng không
có thứ tự sao lại rầy tôi?’ Các Tỳ-kheo chúng con đã
ba lần răn nhắc, vẫn không chịu nghe nên đến bạch Thế
Tôn, xin Thế Tôn vì thương xót mà dẹp trừ điều phi pháp.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Như
trong đầm không, có hồ nước lớn, có một long tượng[10]
to ở trong đó, nhổ những củ rễ, rửa sạch bùn đất sau
đó ăn chúng. Ăn rồi thì thân thể mập mạp, sung sức và
đầy hạnh phúc. Vì lý do này nên luôn sống lạc sướng.
Có một con voi thuộc chủng tộc khác[11], hình thể gầy yếu,
bắt chước long tượng kia, nhổ củ rễ, nhưng rửa không
sạch, còn để lẫn bùn đất mà ăn. Ăn vào không tiêu, thân
thể không mập mạp mà trở thành gầy yếu, vì vậy dẫn
đến chỗ chết, hoặc khổ gần chết.
“Cũng
vậy, Tỳ-kheo tôn túc, đức độ, học đạo lâu ngày, không
ưa thích đùa giỡn, tu phạm hạnh đã lâu, được Đại Sư
khen ngợi; cũng được các vị tu phạm hạnh trí khác lại
càng khen ngợi hơn. Các Tỳ-kheo này nương nơi thành ấp, làng
xóm; sáng sớm đắp y, ôm bát đi khất thực, khéo giữ gìn
thân miệng, khéo nhiếp các căn, chuyên tâm cột niệm, có
thể khiến người nào không tin phát lòng tin, người đã có
lòng tin sẽ không biến đổi. Khi được tài lợi, y phục,
đồ ăn, thức uống, giường nằm, thuốc men; vị ấy không
nhiễm, không đắm, không tham, không ham, không mê, không theo
đuổi; mà thấy được lỗi lầm, tai hại, thấy sự xuất
ly chúng, sau đó mới dùng. Ăn xong, thân tâm đều đượm vẻ
an lạc, sắc được tươi, sức được khỏe. Vì nhân duyên
này Tỳ-kheo luôn luôn được an lạc.
“Tỳ-kheo
tuổi trẻ kia xuất gia chưa được bao lâu, chưa quen rành Pháp
luật, y theo các bậc Trưởng lão, nương vào nơi làng xóm.
Khi đắp y, ôm bát vào thôn khất thực, mà không khéo hộ
thân, không giữ gìn các căn, không chuyên cột niệm, không
thể khiến cho người chưa tin phát lòng tin và người đã
tin không thay đổi. Nếu được tài lợi, y phục, đồ ăn,
thức uống, ngọa cụ, thuốc men; mà sanh nhiễm, đắm, tham
lam, đeo đuổi, không thấy lỗi lầm, tai hại, không thấy
sự thoát ly, vì tâm tham nếm thức ăn này, nên không thể
làm cho thân lạc tươi, an ổn, sung sướng được. Vì ăn như
vậy nên chuyển đến cái chết, hoặc khổ giống như chết.
Nói là chết có nghĩa là xả giới, hoàn tục, mất Chánh pháp,
Chánh luật. Khổ giống như chết nghĩa là phạm Chánh pháp
luật, không biết tội tướng, không biết trừ tội.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Long
tượng nhổ rễ sen,
Nước
rửa sạch rồi ăn,
Voi
giống khác bắt chước,
Ăn
rễ dính lẫn bùn.
Vì
ăn nhằm bùn đất,
Gầy
yếu bệnh đến chết.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1084. TRƯỜNG THỌ[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở giữa bãi tha ma trong rừng Lạnh[13], thành
Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Mệnh
sống rất ngắn, chỉ thoáng đã trở thành đời sau. Hãy nên
siêng tu tập pháp thiện, tu các phạm hạnh. Không có gì sanh
mà không chết. Nhưng người thế gian không siêng năng, nỗ
lực chuyên tu pháp thiện, tu hiền, tu nghĩa.”
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đang trú giữa nghĩa
địa trong rừng Lạnh, thành Vương xá, vì các Thanh văn nói
pháp như vậy. Mệnh sống con người rất ngắn,… cho đến
không tu hiền, tu nghĩa. Nay ta nên đến làm nhiễu loạn.’
Ma
Ba-tuần liền hóa thành một thiếu niên đến trước Phật,
mà nói kệ:
Thường
bức bách chúng sanh,
Được
sống lâu cõi người.[14]
Mê
say tâm phóng dật,
Cũng
không đến chỗ chết.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Đây là ác ma đến làm não loạn.’
Liền nói kệ:
Thường
bức bách chúng sanh,
Mạng
sống thật ngắn ngủi;
Nên
tinh tấn cần tu,
Như
cứu lửa cháy dầu.
Chớ
lười dù chốc lát,
Khiến
ma chết chợt đến.
Biết
ngươi là ác ma,
Mau
đi khỏi nơi đây.
Thiên
ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1085. THỌ MẠNG[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở giữa nghĩa địa trong rừng Lạnh, tại
thành Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tất
cả hành là vô thường, tất cả hành không thường hằng,
bất an, là pháp biến dịch, không nghỉ ngơi[16],… cho đến
hãy đình chỉ tất cả hành hữu vi, yểm ly, không ưa thích,
giải thoát.”
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Nay Sa-môn Cù-đàm đang trú trong
rừng Lạnh, tại thành Vương xá, vì các Thanh văn nói pháp
như vầy: ‘Tất cả hành là vô thường, không thường hằng,
bất an, là pháp biến dịch, không nghỉ ngơi… cho đến nên
đình chỉ tất cả hữu vi, yểm ly, không ưa thích, giải thoát.’
Ta sẽ đến đó làm nhiễu loạn.” Liền hóa ra một thiếu
niên đi đến chỗ Phật, đứng trước Phật mà nói kệ:
Mạng
sống trôi ngày đêm,
Không
lúc nào cùng tận.[17]
Mạng
sống đến rồi đi,
Giống
như bánh xe lăn.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Đó là ác ma muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Ngày
đêm luôn đổi dời,
Mạng
cũng theo đó giảm.
Mạng
người tạm tiêu mất,
Giống
như dòng nước nhỏ.
Ta
biết ngươi ác ma,
Hãy
tự tiêu mất đi.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1086. MA TRÓI[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành
Vương xá. Bấy giờ, ban đêm, Thế Tôn dậy đi kinh hành. Đến
cuối đêm, rửa chân, vào phòng ngồi ngay thẳng, chuyên tâm
cột niệm.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương xá. Ban
đêm Thế Tôn dậy đi kinh hành. Đến cuối đêm, rửa chân,
vào phòng ngồi ngay thẳng, chuyên tâm cột niệm thiền tư.
Bây giờ, ta sẽ đến làm nhiễu loạn.’ Liền hóa ra một
thiếu niên đứng trước Phật nói kệ:
Tâm
ta ở giữa không,
Cầm
dây dài buông xuống.[19]
Nhằm
muốn trói Sa-môn,
Khiến
ngươi không thoát được.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Ta
nói, ở thế gian,
Năm
dục, ý thứ sáu;
Đối
chúng đã lìa hẳn,
Tất
cả khổ đã dứt.
Ta
đã lìa dục kia,
Tâm
ý thức cũng diệt.
Ba-tuần,
Ta biết ngươi,
Mau
đi khỏi nơi đây.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1087. NGỦ NGHỈ[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại nước
Xá-vệ. Bấy giờ, vào ban đêm, Thế Tôn dậy đi kinh hành.
Đến cuối đêm, rửa chân, vào phòng, nằm nghiêng bên phải,
cột niệm vào tướng ánh sáng, chánh niệm, chánh trí, nghĩ
tưởng đến thức.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương xá… cho
đến nghĩ tưởng đến thức. Bây giờ, ta sẽ đến để gây
trở ngại.’ Liền hóa thành một thiếu niên đứng trước
mặt Phật mà nói kệ:
Ngủ
sao, vì sao ngủ?
Đã
diệt, sao còn ngủ?
Nhà
trống, làm sao ngủ?
Ra
được, sao lại ngủ?
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ đáp:
Vì
lưới ái nên nhiễm,
Không
ái, ai kéo đi?
Diệt
tất cả hữu dư,
Chỉ
Phật được ngủ yên.
Ngươi
ác Ma Ba-tuần,
Nói
những gì ở đây?
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1088. KINH HÀNH[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương
xá. Bấy giờ vào ban đêm, trời mưa bụi, có tia chớp lóe
lên. Thế Tôn ra khỏi phòng đi kinh hành.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương xá. Đêm tối,
trời mưa bụi, tia chớp lóe lên, Sa-môn Cù-đàm ra khỏi phòng,
đi kinh hành. Bấy giờ, ta sẽ đến gây trở ngại.’ Nó cầm
một khối đá to, đùa giỡn trên hai tay, đến trước Phật
bóp nát thành bụi nhỏ.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Dù
núi Kỳ-xà-quật,
Trước
Ta, bị bóp nát;
Thì
chư Phật giải thoát,
Cũng
không động mảy lông.
Giả
sử trong bốn biển,
Khiến
tất cả núi non;
Và
thân tộc phóng dật[22],
Khiến
nát thành vi trần,
Cũng
không làm lay động,
Một
sợi tóc Như Lai.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1089. ĐẠI LONG[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương
xá. Bấy giờ, ban đêm, Thế Tôn dậy đi kinh hành, cho đến
cuối đêm, rửa chân, vào phòng, thân ngồi ngay thẳng, cột
niệm ở trước.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương xá, ban đêm Thế
Tôn dậy đi kinh hành cho đến cuối đêm, rửa chân, vào phòng,
thân ngồi ngay thẳng, cột niệm ở trước. Bây giờ, ta sẽ
đến để gây trở ngại.’ Liền hóa thành một con rồng
to[24] quấn Phật bảy vòng, cất đầu đến trên đảnh Phật,
thân như chiếc thuyền to, đầu như cái buồm lớn, mắt đỏ
như lò đồng, lưỡi như điện chớp, hơi thở dữ dội như
tiếng sấm. Bấy giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần
muốn làm nhiễu loạn.’ Liền nói kệ:
Giống
như ngôi nhà trống,
Tâm
Mâu-ni rỗng lặng;
Chuyển
xoay ở trong đó,
Thân
Phật cũng như vậy.
Vô
lượng rồng hung ác,
Ruồi,
muỗi, rệp, côn trùng;
Tụ
lại ăn thân kia,
Cũng
không động lông tóc.
Dù
phá nát hư không,
Nghiêng
úp cả đại địa;
Tất
cả loài chúng sanh,
Đều
đến gây kinh sợ.
Gươm,
mâu, đao, tên bén,
Cũng
đến hại thân Phật;
Mọi
bạo hại như vậy,
Cũng
không tổn mảy lông.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Trong
lòng cảm thấy lo buồn liền biến mất.
*
KINH
1090. NGỦ YÊN[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong thất đá, núi Tỳ-bà-la trong rừng
Thất diệp thọ[26], thành Vương xá. Bấy giờ, ban đêm, Thế
Tôn dậy, nơi đất trống hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành đến
cuối đêm, rửa chân, vào thất, nằm yên nghỉ, nghiêng hông
bên phải sát đất, hai chân chồng lên nhau, cột niệm vào
tướng ánh sáng, chánh niệm, chánh trí, nghĩ tưởng đến
thức.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong thất đá, núi Tỳ-bà-la trong rừng Thất diệp thọ,
thành Vương xá. Bấy giờ, ban đêm, Thế Tôn dậy, nơi đất
trống, hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành đến cuối đêm, rửa
chân, vào thất, nằm yên nghỉ, nghiêng hông bên phải sát
đất, hai chân chồng lên nhau, cột niệm vào tướng ánh sáng,
chánh niệm, chánh trí, nghĩ tưởng đến thức. Bây giờ, ta
sẽ đến gây trở ngại.’ Ma Ba-tuần hóa ra một thiếu niên
đến đứng trước Phật, mà nói kệ:
Nhân
vì ta nên ngu?
Hay
là vì đời sau?
Có
nhiều tiền, của báu?
Cớ
sao chọn ở rừng?
Một
mình không bè bạn,
Mà
mê đắm ngủ nghỉ?
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Không
nhân ngươi nên ngủ,
Không
phải vì đời sau,
Cũng
không nhiều tiền của,
Chỉ
gom báu vô ưu.
Vì
thương xót thế gian,
Nên
nằm nghiêng hông phải,
Thức
cũng không nghi hoặc
Ngủ
cũng không sợ hãi.
Hoặc
ngày, hoặc lại đêm,
Không
tăng cũng không giảm.
Vì
thương chúng sanh ngủ,
Nên
không có tổn giảm.
Dù
dùng trăm mũi nhọn,
Xuyên
thân, luôn khuấy động,
Vẫn
được ngủ an ổn,
Vì
lìa gươm bên trong.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1091. CÙ-ĐỀ-CA[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở nơi thất đá, núi Tỳ-bà-la trong rừng
Thất diệp thọ[28], thành Vương xá. Bấy giờ, có Tôn giả
Cù-đề-ca[29] cũng ở thành Vương xá, trong hang Đá đen bên
sườn núi Tiên nhân[30], một mình tư duy, tu hạnh không phóng
dật, tự được nhiều lợi ích, tự chứng ngộ tâm giải
thoát nhất thời[31], nhiều lần bị thoái chuyển. Lần thứ
nhất, thứ hai, ba, bốn, năm, sáu, trở đi, trở lại; sau khi
tự thân tác chứng tâm giải thoát nhất thời, chẳng bao lâu
lại thoái chuyển.
Tôn
giả Cù-đề-ca tự nghĩ: ‘Một mình ta ở chỗ vắng tư duy,
hành không phóng dật, tinh tấn tu tập để tự được lợi
ích, khi tự thân chứng ngộ tâm giải thoát nhất thời, mà
nhiều lần lại còn thoái chuyển, cho đến sáu lần vẫn còn
thoái chuyển lại. Bây giờ, ta nên dùng đao tự sát chớ để
cho thoái chuyển lần thứ bảy.’
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở nơi thất đá, núi Tỳ-bà-la trong rừng Thất diệp thọ,
tại thành Vương xá, có đêï tử là Cù-đề-ca cũng ở thành
Vương xá, trong hang Đá đen bên sườn núi Tiên nhân, một
mình ở chỗ vắng, chuyên tinh tư duy, khi tự thân tác chứng
tâm giải thoát nhất thời, qua sáu lần thoái chuyển. Ông
tự nghĩ: ‘Ta đã qua sáu lần phản thoái mới trở lại được,
chớ để cho thoái chuyển lần thứ bảy. Ta hãy dùng đao tự
sát chớ để cho thoái chuyển lần thứ bảy.’ Nếu Tỳ-kheo
kia dùng đao tự sát, ta chớ để tự sát, mà ra khỏi cảnh
giới của ta. Bây giờ ta nên đến bảo Đại Sư ông ấy.”
Bấy
giờ, Ma Ba-tuần cầm đàn tỳ bà bằng lưu ly, đến chỗ Thế
Tôn, vừa khảy đàn vừa nói kệ:
Đại
trí đại phương tiện,
Tự
tại thần lực lớn,
Được
đệ tử sáng chói,
Mà
nay muốn chết đi.
Đại
Mâu-ni nên ngăn,
Chớ
để ông tự sát.
Sao
để đệ tử Phật,
Theo
học Chánh pháp luật,
Học
nhưng không chứng đắc,
Chỉ
muốn chết cho xong?
Ma
Ba-tuần nói kệ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Ba-tuần,
giống phóng dật,
Vì
việc mình nên đến,
Bậc
đã được kiên cố,
Thường
trụ diệu thiền định.
Ngày
đêm chuyên tinh tấn,
Không
nghĩ đến tánh mạng,
Thầy
ba cõi đáng sợ,
Đoạn
trừ ái dục kia.
Đã
chiết phục quân ma,
Cù-đề
Bát-niết-bàn.
Tâm
Ba-tuần buồn lo,
Tỳ
bà rơi xuống đất.
Lòng
ôm ấp ưu sầu,
Liền
biến mất không hiện.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông hãy cùng Ta đến hang Đá đen bên sườn núi Tiên nhân,
xem Tỳ-kheo Cù-đề-ca dùng đao tự sát.”
Thế
Tôn cùng các Tỳ-kheo đến hang Đá đen bên sườn núi Tiên
nhân, thấy Tỳ-kheo Cù-đề-ca đã tự sát nằm trên đất,
bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông có thấy Tỳ-kheo Cù-đề-ca tự sát, thân thể nằm trên
đất không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thưa
vâng Thế Tôn, đã thấy.”
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông có thấy chung quanh thân thể Tỳ-kheo Cù-đề-ca bốc khói
đen đầy khắp bốn phía không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đã thấy.”
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Đó
là ác Ma Ba-tuần ở bên thân thiện nam Cù-đề-ca, đang quanh
quẩn tìm thần thức; nhưng Tỳ-kheo Cù-đề-ca với tâm vô
trụ[32] mà cầm đao tự sát!”
Bấy
giờ, Thế Tôn vì Tỳ-kheo Cù-đề-ca thọ ký lần đầu tiên.
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần nói kệ:
Trên
dưới cùng các phương,
Tìm
khắp thần thức kia,
Đều
không thấy nơi này,
Cù-đề-ca
để đâu?
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ:
Bậc
kiên cố như vậy,
Không
thể tìm ở đâu.
Nhổ
sạch gốc ân ái,
Cù-đề
Bát-niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1092. MA NỮ[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở dưới gốc cây Bồ-đề, tại làng Uất-bề-la
bên bờ sông Ni-liên-thiền, thành đạo chưa bao lâu. Bấy giờ,
Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang ở dưới
gốc cây Bồ-đề, tại làng Uất-bề-la bên bờ sông Ni-liên-thiền,
thành đạo chưa bao lâu. Ta sẽ đến đó làm chướng ngại.’
Ma
Ba-tuần hóa ra một thiếu niên đến trước Phật mà nói kệ:
Một
mình vào chỗ vắng,
Thiền
tư, tĩnh tư duy,
Đã
bỏ nước, tài bảo,
Ở
đây cầu lợi gì?
Nếu
cầu lợi xóm làng,
Sao
không gần gũi người?
Đã
không gần gũi người,
Rốt
cuộc được gì nào?
Thế
Tôn tự nghĩ: ‘Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’ Liền
nói kệ:
Đã
được tài lợi nhiều,
Tri
túc, an tịch diệt,
Điều
phục bọn quân ma,
Không
đắm vào sắc dục.
Một
mình riêng thiền tư,
Nếm
vị thiền diệu lạc,
Cho
nên không cùng người,
Quanh
quẩn gần gũi nhau.
Ma
lại nói kệ:
Cù-đàm
nếu tự biết,
Đường
Niết-bàn an ổn,
Riêng
mình lạc vô vi,
Tại
sao gượng dạy người?
Phật
lại nói kệ đáp:
Chẳng
phải chỗ ma cấm,
Lại
hỏi qua bờ kia,
Thì
Ta đáp chân chánh,
Khiến
người đắc Niết-bàn.
Kịp
thời không phóng dật,
Tự
tại không theo ma.
Ma
lại nói kệ:
Có
đá như mỡ đặc,
Chim
chóc muốn lại ăn,
Cuối
cùng không được vị,
Trượt
mỏ trở về không.
Nay
ta cũng như chúng
Luống
nhọc về Thiên cung.
Ma
nói vậy xong, trong lòng cảm thấy lo buồn, tâm bỗng biến
đổi, hối hận, cúi đầu sát đất, dùng ngón tay vẽ lên
đất[34].
Ma
có ba người con gái: Người thứ nhất tên là Ái Dục, người
thứ hai tên là Ái Niệm, người thứ ba tên là Ái Lạc[35]
đi đến chỗ Ma Ba-tuần nói kệ:
Cha
đang lo buồn gì?
Con
người đáng gì lo,
Con
dùng dây ái trói
Trói
chúng như điều voi
Lôi
đem đến trước cha,
Tùy
ý cha sai khiến.
Ma
đáp lại con gái:
Khi
đã lìa ân ái,
Không
dục nào lôi được
Đã
ra khỏi cảnh ma
Cho
nên ta lo buồn.
Bấy
giờ, ba con gái ma từ thân phóng ra ánh sáng lóe lên như những
tia chớp trong mây, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân
Phật, rồi đứng qua một bên bạch Phật:
“Nay
con trở về dưới chân Thế Tôn, để giúp đỡ hầu hạ,
xin Ngài sai khiến.”
Bấy
giờ, Thế Tôn không ngó ngàng đến. Biết Như Lai đã lìa
ái dục, tâm thiện giải thoát. Hai ba phen nói như vậy, sau
đó ba gái ma tự bảo với nhau rằng:
“Đàn
ông có những loại ái dục tùy theo hình tướng. Bây giờ
chúng ta mỗi người sẽ biến hóa ra những loại này, thành
trăm thứ sắc của đồng nữ, trăm thứ sắc của thiếu nữ
mới lấy chồng, trăm thứ sắc của phụ nữ chưa sanh, trăm
thứ sắc của phụ nữ đã sanh, trăm thứ sắc của phụ nữ
trung niên, trăm thứ sắc của phụ nữ đứng tuổi. Hóa ra
những loại hình như vậy rồi, chúng ta đi đến Sa-môn Cù-đàm
nói rằng: ‘Hôm nay tất cả đều về dưới chân Thế Tôn,
hiến dâng cho Ngài sai sử.’”
Bàn
bạc với nhau xong, chúng liền biến hóa thành những loại
như đã nói trên, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
đứng lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, bọn chúng con hôm nay về dưới chân Thế Tôn, hiến
dâng cho Ngài sai sử.”
Bấy
giờ, Thế Tôn cũng không hề để ý đến.
“Pháp
của Như Lai là lìa các ái dục.” Phật lặp lại như vậy
ba lần.
Bấy
giờ, ba ma nữ lại bảo với nhau:
“Nếu
đàn ông chưa lìa dục trông thấy các hình thể tuyệt diệu
của chúng ta, tâm sẽ bị mê loạn, dục khí dồn nén bốc
lên, lồng ngực muốn vỡ, máu nóng đỏ bừng trên mặt. Nhưng
hiện Sa-môn Cù-đàm không hề để ý đến chúng ta, nên biết
Như Lai đã lìa dục, giải thoát, được thiện giải thoát
tưởng. Bây giờ chúng ta mỗi người nên nói kệ để cật
vấn.”
Ba
ma nữ trở lại trước Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
đứng lui qua một bên. Thiên nữ Ái Dục liền nói kệ:
Một
mình vào chỗ vắng,
Thiền
tư, tĩnh tư duy,
Đã
bỏ nước, tài bảo,
Ở
đây lại cầu gì?
Nếu
cầu lợi xóm làng,
Sao
không gần gũi người?
Đã
không gần gũi người,
Rốt
cuộc được gì nào?
Thế
Tôn nói kệ đáp:
Đã
được tài lợi nhiều,
Tri
túc, an tịch diệt,
Điều
phục bọn quân ma,
Không
đắm vào sắc dục.
Một
mình riêng thiền tư,
Nếm
vị thiền diệu lạc.
Cho
nên không cùng người,
Quanh
quẩn gần gũi nhau.
Thiên
nữ Ái Niệm nói kệ:
Tu
nhiều thiền diệu gì,
Để
thoát dòng ngũ dục?
Lại
nhờ phương tiện nào,
Vượt
qua biển thứ sáu?
Đối
các dục sâu rộng,
Làm
sao tu diệu thiền,
Để
qua được bờ kia,
Mà
không bị ái giữ?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Thân
được lạc dừng nghỉ,
Tâm
được khéo giải thoát,
Vô
vi, không tạo tác,
Chánh
niệm không dao động.
Biết
rõ tất cả pháp,
Không
khởi các loạn giác,
Ái,
nhuế, thùy miên, phú,
Tất
cả đều đã lìa.
Tu
tập nhiều như vậy,
Thoát
khỏi được năm dục,
Như
đổi biển thứ sáu,
Tất
qua được bờ kia.
Tu
tập thiền như vậy,
Đối
các dục sâu rộng,
Đều
qua được bờ kia,
Không
bị chúng giữ lại.
Khi
ấy, Thiên nữ Ái Lạc lại nói kệ:
Đã
đoạn trừ sân ái,
Chất
chứa dục sâu dày,
Người
nhiều đời tịnh tín,
Vượt
qua được biển dục.
Mở
ra trí tuệ sáng,
Vượt
qua cảnh tử ma.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Đại
phương tiện, rộng độ,
Vào
Pháp luật Như Lai,
Những
người này đã độ,
Người
trí còn lo gì?
Bấy
giờ, chí nguyện của ba Thiên nữ chưa được thỏa mãn, trở
lại chỗ Ma Ba-tuần, cha của chúng. Khi ấy, Ma Ba-tuần vừa
trông thấy các con gái đến, liền nói kệ trêu họ:
Các
con, này ba đứa,
Tự
khoe mình kham năng,
Toàn
thân phóng lửa sáng,
Như
lằn chớp trong mây.
Đến
chỗ Đại Tinh Tấn,
Mỗi
người phô sắc đẹp.
Ngược
lại đều bị phá,
Như
gió lùa bông gòn.
Dùng
ngón tay phá núi,
Dùng
răng cắn hòn sắt,
Hay
muốn dùng tóc, tơ,
Di
chuyển hòn núi lớn?
Những
người thoát hòa hợp,
Mà
mong loạn tâm kia.
Muốn
buộc dính chân gió,
Khiến
trăng rơi giữa không,
Dùng
tay khuấy biển lớn,
Hà
hơi động núi tuyết.
Đã
giải thoát hòa hợp,
Dễ
làm gì dao động.
Ở
giữa biển sâu rộng,
Mà
tìm đất đặt chân,
Như
Lai đối tất cả,
Hòa
hợp tất giải thoát,
Trong
biển lớn Chánh giác,
Tìm
dao động cũng vậy.
Ma
Ba-tuần trêu ba cô con gái rồi biến mất.
*
KINH
1093. TỊNH BẤT TỊNH[36]
Tôi
nghe như vầy: