TẠP
A-HÀM QUYỂN 39
KINH
1081. KHỔ CHÚNG[1]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở vườn Lộc dã, tại nước Ba-la-nại.
Bấy giờ sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm bát, vào thành Ba-la-nại
khất thực. Lúc ấy, cũng có Tỳ-kheo đắp y, ôm bát, vào
thành khất thực, đứng dưới gốc cây bên đường, vì nương
vào ác tham[2] nên sanh giác tưởng bất thiện[3]. Thế Tôn
thấy Tỳ-kheo đứng dưới bóng cây, sống bằng vị ác tham
nên sanh giác tưởng bất thiện, bảo rằng:
“Này
Tỳ-kheo! Tỳ-kheo! Chớ gieo trồng hạt giống đắng[4], để
rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra. Nếu Tỳ-kheo nào
gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối,
nước rỉ chảy ra, mà muốn cho ruồi nhặng không tranh nhau
bu lại, thì điều đó không thể có được.”
Lúc
ấy Tỳ-kheo kia tự nghĩ: “Thế Tôn đã biết được niệm
ác trong tâm ta.” Chợt lòng cảm thấy sợ hãi, toàn thân
lông dựng đứng.
Bấy
giờ, sau khi Thế Tôn vào thành khất thực, trở về tinh xá,
cất y bát, rửa chân, rồi vào phòng tọa thiền. Chiều hôm
ấy, từ thiền tịnh dậy, Ngài vào trong Tăng, trải tòa ngồi
trước đại chúng và bảo các Tỳ-kheo:
“Sáng
nay, Ta đắp y, ôm bát vào thành khất thực, thấy một Tỳ-kheo
đứng dưới bóng cây, nương vào ác tham dục, phát sanh giác
tưởng bất thiện. Khi Ta thấy vậy liền bảo rằng: ‘Tỳ-kheo!
Tỳ-kheo! Chớ gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông
lên mùi thối, nước rỉ chảy ra. Nếu Tỳ-kheo nào gieo trồng
hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ
chảy ra, mà muốn cho ruồi nhặng không tranh nhau bu lại, thì
điều đó không thể có được.’ Lúc đó, Tỳ-kheo kia liền
tự nghĩ: ‘Phật đã biết được niệm của ta.’ Lòng cảm
thấy hổ thẹn, sợ hãi đến nỗi lông dựng cả lên, rồi
theo đường mà đi.”
Khi
ấy, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dạy, sửa lại
y phục, bày áo vai bên hữu, chắp tay bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, thế nào là hạt giống đắng? Thế nào là sanh hôi
thối? Thế nào là nước rỉ chảy? Thế nào là ruồi nhặng?”
Phật
bảo Tỳ-kheo:
“Phẫn
nộ, phiền oán gọi là hạt giống đắng. Công đức ngũ dục
gọi là sanh hôi thối. Đối với lục xúc nhập xứ không
nhiếp luật nghi gọi là chất nước rỉ chảy. Và khi đã
không nhiếp xúc nhập xứ, thì các tâm ác bất thiện, tham
ưu tranh nhau sanh ra, đó gọi là ruồi nhặng[5].”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Tai
mắt không phòng hộ,
Tham
dục theo đó sanh;
Đó
gọi là giống đắng,
Hôi
thối, nước rỉ chảy.
Khí
vị các giác quán,
Do
nếm ác tham dục.
Nơi
xóm làng, chỗ vắng,
Đối
với ngày hoặc đêm,
Viễn
ly, tu phạm hạnh,
Cứu
cánh biên tế khổ.
Nếu
nội tâm tịch tĩnh,
Quyết
định biết chân thật.
Thức
ngu thường an lạc,
Ruồi
nhặng bị tận diệt.
Thân
cận bậc Chánh sĩ,
Khéo
nói đường Hiền thánh;
Biết
rõ bát Chánh đạo,
Không
tái sanh thân sau.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1082. UNG NHỌT[6]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà,
tại nước Xá-vệ. Bấy giờ, sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm
bát, vào thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong Thế Tôn
trở về tinh xá, rửa chân rồi vào rừng An-đà tọa thiền.
Khi
ấy có một Tỳ-kheo cũng sáng sớm đắp y, ôm bát vào thành
Xá-vệ khất thực. Khất thực xong trở về tinh xá, rửa chân
rồi vào rừng An-đà nhập chánh thọ ban ngày[7], dưới một
bóng cây. Khi Tỳ-kheo này nhập chánh thọ ban ngày, vì nương
vào tâm nếm vị tham dục nên khởi lên giác tưởng bất thiện.
Khi ấy có Thiên thần đang ở tại rừng An-đà tự nghĩ: “Tỳ-kheo
này, thật không tốt đẹp, không thích hợp, ngồi thiền ở
trong rừng An-đà mà tâm nếm vị ác tham, khởi lên giác tưởng
bất thiện. Ta nên đến quở trách.” Nghĩ xong liền nói với
Tỳ-kheo:
“Tỳ-kheo!
Tỳ-kheo, đang nổi nhọt, bướu phải không?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Sẽ
trị cho khỏi.”
Thiên
thần bảo Tỳ-kheo:
“Bệnh
ung nhọt như cái vạc sắt, làm sao có thể bình phục được?”
Tỳ-kheo
bảo:
“Chánh
niệm, chánh trí đủ có thể bình phục.”
Thiên
thần bạch rằng:
“Tốt
thay! Hay thay! Đó là cách trị bệnh nhọt chân thật của Hiền
thánh. Trị bệnh nhọt như vậy, cuối cùng có thể bớt, mà
không bao giờ phát tác nữa.”
Chiều
hôm ấy, Thế Tôn từ thiền tịnh dậy, trở về vườn Cấp
cô độc, rừng cây Kỳ-đà, vào trong Tăng, trải tòa ngồi
trước đại chúng và bảo các Tỳ-kheo:
“Sáng
sớm nay Ta đắp y, ôm bát vào thành Xá-vệ khất thực, khất
thực xong trở về rừng An-đà tọa thiền, nhập chánh thọ
ban ngày. Có một Tỳ-kheo cũng sáng sớm đắp y, ôm bát vào
thành Xá-vệ khất thực. Khất thực xong trở về tinh xá,
rửa chân rồi vào rừng An-đà nhập chánh thọ ban ngày, dưới
một bóng cây. Khi Tỳ-kheo này nhập chánh thọ ban ngày, vì
nương vào tâm nếm vị tham dục nên khởi lên giác tưởng
ác bất thiện. Khi ấy có thiên thần đang ở tại rừng An-đà
tự nghĩ: ‘Tỳ-kheo này, thật không tốt đẹp, không thích
hợp, ngồi thiền ở trong rừng An-đà mà tâm nếm vị ác
tham, khởi lên giác tưởng bất thiện. Ta nên đến quở trách.”
Nghĩ xong liền nói với Tỳ-kheo: ‘Tỳ-kheo! Tỳ-kheo, đang
nổi nhọt, bướu phải không?’ Nói đầy đủ như trên…
cho đến như vậy Tỳ-kheo: ‘Tốt thay! Hay thay! Đó là cách
trị bệnh nhọt chân thật của Hiền thánh.’”
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ:
Con
người[8] nổi nhọt, bướu,
Tự
sanh ra bệnh khổ;
Mong
cầu dục thế gian,
Tâm
nương vào ác tham.
Vì
sanh ra nhọt bướu,
Ruồi
nhặng tranh nhau đến.
Nhọt,
bướu là tham cầu,
Ruồi
nhặng là ác giác,
Cùng
các tâm tham nếm,
Thảy
đều từ ý sanh;
Đục
khoét tâm con người,
Để
cầu hoa danh lợi.
Lửa
dục càng hừng hực,
Vọng
tưởng giác bất thiện;
Thân
tâm ngày đêm suy.
Xa
lìa đạo tịch tĩnh,
Nếu
nội tâm vắng lặng,
Trí
quyết định sáng suốt;
Không
còn nhọt bướu kia,
Thấy
Phật, đường an ổn,
Vết
tích Chánh sĩ theo,
Hiền
thánh khéo tuyên nói,
Con
đường trí sáng biết,
Không
còn thọ các hữu.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1083. ĂN CỦ RỄ[9]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở nơi giảng đường Trùng các, bên ao Di-hầu,
tại nước Tỳ-xá-ly. Bấy giờ sáng sớm, có nhiều Tỳ-kheo
đắp y, ôm bát, vào thành Tỳ-xá-ly khất thực. Khi đó, có
một Tỳ-kheo tuổi trẻ, xuất gia chưa bao lâu, không rành Pháp
luật, nên lúc khất thực không biết thứ tự trước sau;
các Tỳ-kheo khác thấy vậy nói với vị ấy:
“Thầy
tuổi còn trẻ, mới xuất gia, chưa biết Pháp luật: không
được đi vượt qua, không được đi ngang hàng. Đi khất thực
mà trước sau không theo thứ tự, trường kỳ sẽ chịu khổ,
không bao giờ được lợi ích.”
Tỳ-kheo
tuổi trẻ thưa:
“Các
Thượng tọa cũng vượt thứ lớp, không theo trước sau, đâu
phải chỉ một mình tôi.”
Đã
ba lần như vậy, vẫn không thể làm cho vị ấy dừng lại.
Các Tỳ-kheo đi khất thực xong, trở về tinh xá cất y bát,
rửa chân xong, đến chỗ Phật đảnh lễ dưới chân Phật,
ngồi lui ra một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sáng sớm chúng con đắp y, ôm bát vào thành Tỳ-xá-ly
khất thực, có một Tỳ-kheo tuổi trẻ xuất gia nơi Pháp luật
này chưa bao lâu, khi đi khất thực không theo thứ tự trước
sau, lại đi ngang hàng. Các Tỳ-kheo đã ba lần can gián nhưng
vẫn không chịu, mà nói rằng: ‘Các Thượng tọa cũng không
có thứ tự sao lại rầy tôi?’ Các Tỳ-kheo chúng con đã
ba lần răn nhắc, vẫn không chịu nghe nên đến bạch Thế
Tôn, xin Thế Tôn vì thương xót mà dẹp trừ điều phi pháp.”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Như
trong đầm không, có hồ nước lớn, có một long tượng[10]
to ở trong đó, nhổ những củ rễ, rửa sạch bùn đất sau
đó ăn chúng. Ăn rồi thì thân thể mập mạp, sung sức và
đầy hạnh phúc. Vì lý do này nên luôn sống lạc sướng.
Có một con voi thuộc chủng tộc khác[11], hình thể gầy yếu,
bắt chước long tượng kia, nhổ củ rễ, nhưng rửa không
sạch, còn để lẫn bùn đất mà ăn. Ăn vào không tiêu, thân
thể không mập mạp mà trở thành gầy yếu, vì vậy dẫn
đến chỗ chết, hoặc khổ gần chết.
“Cũng
vậy, Tỳ-kheo tôn túc, đức độ, học đạo lâu ngày, không
ưa thích đùa giỡn, tu phạm hạnh đã lâu, được Đại Sư
khen ngợi; cũng được các vị tu phạm hạnh trí khác lại
càng khen ngợi hơn. Các Tỳ-kheo này nương nơi thành ấp, làng
xóm; sáng sớm đắp y, ôm bát đi khất thực, khéo giữ gìn
thân miệng, khéo nhiếp các căn, chuyên tâm cột niệm, có
thể khiến người nào không tin phát lòng tin, người đã có
lòng tin sẽ không biến đổi. Khi được tài lợi, y phục,
đồ ăn, thức uống, giường nằm, thuốc men; vị ấy không
nhiễm, không đắm, không tham, không ham, không mê, không theo
đuổi; mà thấy được lỗi lầm, tai hại, thấy sự xuất
ly chúng, sau đó mới dùng. Ăn xong, thân tâm đều đượm vẻ
an lạc, sắc được tươi, sức được khỏe. Vì nhân duyên
này Tỳ-kheo luôn luôn được an lạc.
“Tỳ-kheo
tuổi trẻ kia xuất gia chưa được bao lâu, chưa quen rành Pháp
luật, y theo các bậc Trưởng lão, nương vào nơi làng xóm.
Khi đắp y, ôm bát vào thôn khất thực, mà không khéo hộ
thân, không giữ gìn các căn, không chuyên cột niệm, không
thể khiến cho người chưa tin phát lòng tin và người đã
tin không thay đổi. Nếu được tài lợi, y phục, đồ ăn,
thức uống, ngọa cụ, thuốc men; mà sanh nhiễm, đắm, tham
lam, đeo đuổi, không thấy lỗi lầm, tai hại, không thấy
sự thoát ly, vì tâm tham nếm thức ăn này, nên không thể
làm cho thân lạc tươi, an ổn, sung sướng được. Vì ăn như
vậy nên chuyển đến cái chết, hoặc khổ giống như chết.
Nói là chết có nghĩa là xả giới, hoàn tục, mất Chánh pháp,
Chánh luật. Khổ giống như chết nghĩa là phạm Chánh pháp
luật, không biết tội tướng, không biết trừ tội.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ:
Long
tượng nhổ rễ sen,
Nước
rửa sạch rồi ăn,
Voi
giống khác bắt chước,
Ăn
rễ dính lẫn bùn.
Vì
ăn nhằm bùn đất,
Gầy
yếu bệnh đến chết.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1084. TRƯỜNG THỌ[12]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở giữa bãi tha ma trong rừng Lạnh[13], thành
Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Mệnh
sống rất ngắn, chỉ thoáng đã trở thành đời sau. Hãy nên
siêng tu tập pháp thiện, tu các phạm hạnh. Không có gì sanh
mà không chết. Nhưng người thế gian không siêng năng, nỗ
lực chuyên tu pháp thiện, tu hiền, tu nghĩa.”
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đang trú giữa nghĩa
địa trong rừng Lạnh, thành Vương xá, vì các Thanh văn nói
pháp như vậy. Mệnh sống con người rất ngắn,… cho đến
không tu hiền, tu nghĩa. Nay ta nên đến làm nhiễu loạn.’
Ma
Ba-tuần liền hóa thành một thiếu niên đến trước Phật,
mà nói kệ:
Thường
bức bách chúng sanh,
Được
sống lâu cõi người.[14]
Mê
say tâm phóng dật,
Cũng
không đến chỗ chết.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Đây là ác ma đến làm não loạn.’
Liền nói kệ:
Thường
bức bách chúng sanh,
Mạng
sống thật ngắn ngủi;
Nên
tinh tấn cần tu,
Như
cứu lửa cháy dầu.
Chớ
lười dù chốc lát,
Khiến
ma chết chợt đến.
Biết
ngươi là ác ma,
Mau
đi khỏi nơi đây.
Thiên
ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1085. THỌ MẠNG[15]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở giữa nghĩa địa trong rừng Lạnh, tại
thành Vương xá. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Tất
cả hành là vô thường, tất cả hành không thường hằng,
bất an, là pháp biến dịch, không nghỉ ngơi[16],… cho đến
hãy đình chỉ tất cả hành hữu vi, yểm ly, không ưa thích,
giải thoát.”
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Nay Sa-môn Cù-đàm đang trú trong
rừng Lạnh, tại thành Vương xá, vì các Thanh văn nói pháp
như vầy: ‘Tất cả hành là vô thường, không thường hằng,
bất an, là pháp biến dịch, không nghỉ ngơi… cho đến nên
đình chỉ tất cả hữu vi, yểm ly, không ưa thích, giải thoát.’
Ta sẽ đến đó làm nhiễu loạn.” Liền hóa ra một thiếu
niên đi đến chỗ Phật, đứng trước Phật mà nói kệ:
Mạng
sống trôi ngày đêm,
Không
lúc nào cùng tận.[17]
Mạng
sống đến rồi đi,
Giống
như bánh xe lăn.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Đó là ác ma muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Ngày
đêm luôn đổi dời,
Mạng
cũng theo đó giảm.
Mạng
người tạm tiêu mất,
Giống
như dòng nước nhỏ.
Ta
biết ngươi ác ma,
Hãy
tự tiêu mất đi.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1086. MA TRÓI[18]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành
Vương xá. Bấy giờ, ban đêm, Thế Tôn dậy đi kinh hành. Đến
cuối đêm, rửa chân, vào phòng ngồi ngay thẳng, chuyên tâm
cột niệm.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương xá. Ban
đêm Thế Tôn dậy đi kinh hành. Đến cuối đêm, rửa chân,
vào phòng ngồi ngay thẳng, chuyên tâm cột niệm thiền tư.
Bây giờ, ta sẽ đến làm nhiễu loạn.’ Liền hóa ra một
thiếu niên đứng trước Phật nói kệ:
Tâm
ta ở giữa không,
Cầm
dây dài buông xuống.[19]
Nhằm
muốn trói Sa-môn,
Khiến
ngươi không thoát được.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Ta
nói, ở thế gian,
Năm
dục, ý thứ sáu;
Đối
chúng đã lìa hẳn,
Tất
cả khổ đã dứt.
Ta
đã lìa dục kia,
Tâm
ý thức cũng diệt.
Ba-tuần,
Ta biết ngươi,
Mau
đi khỏi nơi đây.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1087. NGỦ NGHỈ[20]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại nước
Xá-vệ. Bấy giờ, vào ban đêm, Thế Tôn dậy đi kinh hành.
Đến cuối đêm, rửa chân, vào phòng, nằm nghiêng bên phải,
cột niệm vào tướng ánh sáng, chánh niệm, chánh trí, nghĩ
tưởng đến thức.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, tại thành Vương xá… cho
đến nghĩ tưởng đến thức. Bây giờ, ta sẽ đến để gây
trở ngại.’ Liền hóa thành một thiếu niên đứng trước
mặt Phật mà nói kệ:
Ngủ
sao, vì sao ngủ?
Đã
diệt, sao còn ngủ?
Nhà
trống, làm sao ngủ?
Ra
được, sao lại ngủ?
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ đáp:
Vì
lưới ái nên nhiễm,
Không
ái, ai kéo đi?
Diệt
tất cả hữu dư,
Chỉ
Phật được ngủ yên.
Ngươi
ác Ma Ba-tuần,
Nói
những gì ở đây?
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1088. KINH HÀNH[21]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương
xá. Bấy giờ vào ban đêm, trời mưa bụi, có tia chớp lóe
lên. Thế Tôn ra khỏi phòng đi kinh hành.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương xá. Đêm tối,
trời mưa bụi, tia chớp lóe lên, Sa-môn Cù-đàm ra khỏi phòng,
đi kinh hành. Bấy giờ, ta sẽ đến gây trở ngại.’ Nó cầm
một khối đá to, đùa giỡn trên hai tay, đến trước Phật
bóp nát thành bụi nhỏ.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Dù
núi Kỳ-xà-quật,
Trước
Ta, bị bóp nát;
Thì
chư Phật giải thoát,
Cũng
không động mảy lông.
Giả
sử trong bốn biển,
Khiến
tất cả núi non;
Và
thân tộc phóng dật[22],
Khiến
nát thành vi trần,
Cũng
không làm lay động,
Một
sợi tóc Như Lai.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1089. ĐẠI LONG[23]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương
xá. Bấy giờ, ban đêm, Thế Tôn dậy đi kinh hành, cho đến
cuối đêm, rửa chân, vào phòng, thân ngồi ngay thẳng, cột
niệm ở trước.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong núi Kỳ-xà-quật, tại thành Vương xá, ban đêm Thế
Tôn dậy đi kinh hành cho đến cuối đêm, rửa chân, vào phòng,
thân ngồi ngay thẳng, cột niệm ở trước. Bây giờ, ta sẽ
đến để gây trở ngại.’ Liền hóa thành một con rồng
to[24] quấn Phật bảy vòng, cất đầu đến trên đảnh Phật,
thân như chiếc thuyền to, đầu như cái buồm lớn, mắt đỏ
như lò đồng, lưỡi như điện chớp, hơi thở dữ dội như
tiếng sấm. Bấy giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần
muốn làm nhiễu loạn.’ Liền nói kệ:
Giống
như ngôi nhà trống,
Tâm
Mâu-ni rỗng lặng;
Chuyển
xoay ở trong đó,
Thân
Phật cũng như vậy.
Vô
lượng rồng hung ác,
Ruồi,
muỗi, rệp, côn trùng;
Tụ
lại ăn thân kia,
Cũng
không động lông tóc.
Dù
phá nát hư không,
Nghiêng
úp cả đại địa;
Tất
cả loài chúng sanh,
Đều
đến gây kinh sợ.
Gươm,
mâu, đao, tên bén,
Cũng
đến hại thân Phật;
Mọi
bạo hại như vậy,
Cũng
không tổn mảy lông.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Trong
lòng cảm thấy lo buồn liền biến mất.
*
KINH
1090. NGỦ YÊN[25]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong thất đá, núi Tỳ-bà-la trong rừng
Thất diệp thọ[26], thành Vương xá. Bấy giờ, ban đêm, Thế
Tôn dậy, nơi đất trống hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành đến
cuối đêm, rửa chân, vào thất, nằm yên nghỉ, nghiêng hông
bên phải sát đất, hai chân chồng lên nhau, cột niệm vào
tướng ánh sáng, chánh niệm, chánh trí, nghĩ tưởng đến
thức.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong thất đá, núi Tỳ-bà-la trong rừng Thất diệp thọ,
thành Vương xá. Bấy giờ, ban đêm, Thế Tôn dậy, nơi đất
trống, hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành đến cuối đêm, rửa
chân, vào thất, nằm yên nghỉ, nghiêng hông bên phải sát
đất, hai chân chồng lên nhau, cột niệm vào tướng ánh sáng,
chánh niệm, chánh trí, nghĩ tưởng đến thức. Bây giờ, ta
sẽ đến gây trở ngại.’ Ma Ba-tuần hóa ra một thiếu niên
đến đứng trước Phật, mà nói kệ:
Nhân
vì ta nên ngu?
Hay
là vì đời sau?
Có
nhiều tiền, của báu?
Cớ
sao chọn ở rừng?
Một
mình không bè bạn,
Mà
mê đắm ngủ nghỉ?
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Không
nhân ngươi nên ngủ,
Không
phải vì đời sau,
Cũng
không nhiều tiền của,
Chỉ
gom báu vô ưu.
Vì
thương xót thế gian,
Nên
nằm nghiêng hông phải,
Thức
cũng không nghi hoặc
Ngủ
cũng không sợ hãi.
Hoặc
ngày, hoặc lại đêm,
Không
tăng cũng không giảm.
Vì
thương chúng sanh ngủ,
Nên
không có tổn giảm.
Dù
dùng trăm mũi nhọn,
Xuyên
thân, luôn khuấy động,
Vẫn
được ngủ an ổn,
Vì
lìa gươm bên trong.
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Liền
hổ thẹn, lo buồn biến mất.
*
KINH
1091. CÙ-ĐỀ-CA[27]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở nơi thất đá, núi Tỳ-bà-la trong rừng
Thất diệp thọ[28], thành Vương xá. Bấy giờ, có Tôn giả
Cù-đề-ca[29] cũng ở thành Vương xá, trong hang Đá đen bên
sườn núi Tiên nhân[30], một mình tư duy, tu hạnh không phóng
dật, tự được nhiều lợi ích, tự chứng ngộ tâm giải
thoát nhất thời[31], nhiều lần bị thoái chuyển. Lần thứ
nhất, thứ hai, ba, bốn, năm, sáu, trở đi, trở lại; sau khi
tự thân tác chứng tâm giải thoát nhất thời, chẳng bao lâu
lại thoái chuyển.
Tôn
giả Cù-đề-ca tự nghĩ: ‘Một mình ta ở chỗ vắng tư duy,
hành không phóng dật, tinh tấn tu tập để tự được lợi
ích, khi tự thân chứng ngộ tâm giải thoát nhất thời, mà
nhiều lần lại còn thoái chuyển, cho đến sáu lần vẫn còn
thoái chuyển lại. Bây giờ, ta nên dùng đao tự sát chớ để
cho thoái chuyển lần thứ bảy.’
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở nơi thất đá, núi Tỳ-bà-la trong rừng Thất diệp thọ,
tại thành Vương xá, có đêï tử là Cù-đề-ca cũng ở thành
Vương xá, trong hang Đá đen bên sườn núi Tiên nhân, một
mình ở chỗ vắng, chuyên tinh tư duy, khi tự thân tác chứng
tâm giải thoát nhất thời, qua sáu lần thoái chuyển. Ông
tự nghĩ: ‘Ta đã qua sáu lần phản thoái mới trở lại được,
chớ để cho thoái chuyển lần thứ bảy. Ta hãy dùng đao tự
sát chớ để cho thoái chuyển lần thứ bảy.’ Nếu Tỳ-kheo
kia dùng đao tự sát, ta chớ để tự sát, mà ra khỏi cảnh
giới của ta. Bây giờ ta nên đến bảo Đại Sư ông ấy.”
Bấy
giờ, Ma Ba-tuần cầm đàn tỳ bà bằng lưu ly, đến chỗ Thế
Tôn, vừa khảy đàn vừa nói kệ:
Đại
trí đại phương tiện,
Tự
tại thần lực lớn,
Được
đệ tử sáng chói,
Mà
nay muốn chết đi.
Đại
Mâu-ni nên ngăn,
Chớ
để ông tự sát.
Sao
để đệ tử Phật,
Theo
học Chánh pháp luật,
Học
nhưng không chứng đắc,
Chỉ
muốn chết cho xong?
Ma
Ba-tuần nói kệ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Ba-tuần,
giống phóng dật,
Vì
việc mình nên đến,
Bậc
đã được kiên cố,
Thường
trụ diệu thiền định.
Ngày
đêm chuyên tinh tấn,
Không
nghĩ đến tánh mạng,
Thầy
ba cõi đáng sợ,
Đoạn
trừ ái dục kia.
Đã
chiết phục quân ma,
Cù-đề
Bát-niết-bàn.
Tâm
Ba-tuần buồn lo,
Tỳ
bà rơi xuống đất.
Lòng
ôm ấp ưu sầu,
Liền
biến mất không hiện.
Bấy
giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông hãy cùng Ta đến hang Đá đen bên sườn núi Tiên nhân,
xem Tỳ-kheo Cù-đề-ca dùng đao tự sát.”
Thế
Tôn cùng các Tỳ-kheo đến hang Đá đen bên sườn núi Tiên
nhân, thấy Tỳ-kheo Cù-đề-ca đã tự sát nằm trên đất,
bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông có thấy Tỳ-kheo Cù-đề-ca tự sát, thân thể nằm trên
đất không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Thưa
vâng Thế Tôn, đã thấy.”
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Các
ông có thấy chung quanh thân thể Tỳ-kheo Cù-đề-ca bốc khói
đen đầy khắp bốn phía không?”
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, đã thấy.”
Thế
Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Đó
là ác Ma Ba-tuần ở bên thân thiện nam Cù-đề-ca, đang quanh
quẩn tìm thần thức; nhưng Tỳ-kheo Cù-đề-ca với tâm vô
trụ[32] mà cầm đao tự sát!”
Bấy
giờ, Thế Tôn vì Tỳ-kheo Cù-đề-ca thọ ký lần đầu tiên.
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần nói kệ:
Trên
dưới cùng các phương,
Tìm
khắp thần thức kia,
Đều
không thấy nơi này,
Cù-đề-ca
để đâu?
Bấy
giờ, Thế Tôn lại nói kệ:
Bậc
kiên cố như vậy,
Không
thể tìm ở đâu.
Nhổ
sạch gốc ân ái,
Cù-đề
Bát-niết-bàn.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1092. MA NỮ[33]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở dưới gốc cây Bồ-đề, tại làng Uất-bề-la
bên bờ sông Ni-liên-thiền, thành đạo chưa bao lâu. Bấy giờ,
Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang ở dưới
gốc cây Bồ-đề, tại làng Uất-bề-la bên bờ sông Ni-liên-thiền,
thành đạo chưa bao lâu. Ta sẽ đến đó làm chướng ngại.’
Ma
Ba-tuần hóa ra một thiếu niên đến trước Phật mà nói kệ:
Một
mình vào chỗ vắng,
Thiền
tư, tĩnh tư duy,
Đã
bỏ nước, tài bảo,
Ở
đây cầu lợi gì?
Nếu
cầu lợi xóm làng,
Sao
không gần gũi người?
Đã
không gần gũi người,
Rốt
cuộc được gì nào?
Thế
Tôn tự nghĩ: ‘Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’ Liền
nói kệ:
Đã
được tài lợi nhiều,
Tri
túc, an tịch diệt,
Điều
phục bọn quân ma,
Không
đắm vào sắc dục.
Một
mình riêng thiền tư,
Nếm
vị thiền diệu lạc,
Cho
nên không cùng người,
Quanh
quẩn gần gũi nhau.
Ma
lại nói kệ:
Cù-đàm
nếu tự biết,
Đường
Niết-bàn an ổn,
Riêng
mình lạc vô vi,
Tại
sao gượng dạy người?
Phật
lại nói kệ đáp:
Chẳng
phải chỗ ma cấm,
Lại
hỏi qua bờ kia,
Thì
Ta đáp chân chánh,
Khiến
người đắc Niết-bàn.
Kịp
thời không phóng dật,
Tự
tại không theo ma.
Ma
lại nói kệ:
Có
đá như mỡ đặc,
Chim
chóc muốn lại ăn,
Cuối
cùng không được vị,
Trượt
mỏ trở về không.
Nay
ta cũng như chúng
Luống
nhọc về Thiên cung.
Ma
nói vậy xong, trong lòng cảm thấy lo buồn, tâm bỗng biến
đổi, hối hận, cúi đầu sát đất, dùng ngón tay vẽ lên
đất[34].
Ma
có ba người con gái: Người thứ nhất tên là Ái Dục, người
thứ hai tên là Ái Niệm, người thứ ba tên là Ái Lạc[35]
đi đến chỗ Ma Ba-tuần nói kệ:
Cha
đang lo buồn gì?
Con
người đáng gì lo,
Con
dùng dây ái trói
Trói
chúng như điều voi
Lôi
đem đến trước cha,
Tùy
ý cha sai khiến.
Ma
đáp lại con gái:
Khi
đã lìa ân ái,
Không
dục nào lôi được
Đã
ra khỏi cảnh ma
Cho
nên ta lo buồn.
Bấy
giờ, ba con gái ma từ thân phóng ra ánh sáng lóe lên như những
tia chớp trong mây, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân
Phật, rồi đứng qua một bên bạch Phật:
“Nay
con trở về dưới chân Thế Tôn, để giúp đỡ hầu hạ,
xin Ngài sai khiến.”
Bấy
giờ, Thế Tôn không ngó ngàng đến. Biết Như Lai đã lìa
ái dục, tâm thiện giải thoát. Hai ba phen nói như vậy, sau
đó ba gái ma tự bảo với nhau rằng:
“Đàn
ông có những loại ái dục tùy theo hình tướng. Bây giờ
chúng ta mỗi người sẽ biến hóa ra những loại này, thành
trăm thứ sắc của đồng nữ, trăm thứ sắc của thiếu nữ
mới lấy chồng, trăm thứ sắc của phụ nữ chưa sanh, trăm
thứ sắc của phụ nữ đã sanh, trăm thứ sắc của phụ nữ
trung niên, trăm thứ sắc của phụ nữ đứng tuổi. Hóa ra
những loại hình như vậy rồi, chúng ta đi đến Sa-môn Cù-đàm
nói rằng: ‘Hôm nay tất cả đều về dưới chân Thế Tôn,
hiến dâng cho Ngài sai sử.’”
Bàn
bạc với nhau xong, chúng liền biến hóa thành những loại
như đã nói trên, đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
đứng lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, bọn chúng con hôm nay về dưới chân Thế Tôn, hiến
dâng cho Ngài sai sử.”
Bấy
giờ, Thế Tôn cũng không hề để ý đến.
“Pháp
của Như Lai là lìa các ái dục.” Phật lặp lại như vậy
ba lần.
Bấy
giờ, ba ma nữ lại bảo với nhau:
“Nếu
đàn ông chưa lìa dục trông thấy các hình thể tuyệt diệu
của chúng ta, tâm sẽ bị mê loạn, dục khí dồn nén bốc
lên, lồng ngực muốn vỡ, máu nóng đỏ bừng trên mặt. Nhưng
hiện Sa-môn Cù-đàm không hề để ý đến chúng ta, nên biết
Như Lai đã lìa dục, giải thoát, được thiện giải thoát
tưởng. Bây giờ chúng ta mỗi người nên nói kệ để cật
vấn.”
Ba
ma nữ trở lại trước Phật, đảnh lễ dưới chân Phật,
đứng lui qua một bên. Thiên nữ Ái Dục liền nói kệ:
Một
mình vào chỗ vắng,
Thiền
tư, tĩnh tư duy,
Đã
bỏ nước, tài bảo,
Ở
đây lại cầu gì?
Nếu
cầu lợi xóm làng,
Sao
không gần gũi người?
Đã
không gần gũi người,
Rốt
cuộc được gì nào?
Thế
Tôn nói kệ đáp:
Đã
được tài lợi nhiều,
Tri
túc, an tịch diệt,
Điều
phục bọn quân ma,
Không
đắm vào sắc dục.
Một
mình riêng thiền tư,
Nếm
vị thiền diệu lạc.
Cho
nên không cùng người,
Quanh
quẩn gần gũi nhau.
Thiên
nữ Ái Niệm nói kệ:
Tu
nhiều thiền diệu gì,
Để
thoát dòng ngũ dục?
Lại
nhờ phương tiện nào,
Vượt
qua biển thứ sáu?
Đối
các dục sâu rộng,
Làm
sao tu diệu thiền,
Để
qua được bờ kia,
Mà
không bị ái giữ?
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Thân
được lạc dừng nghỉ,
Tâm
được khéo giải thoát,
Vô
vi, không tạo tác,
Chánh
niệm không dao động.
Biết
rõ tất cả pháp,
Không
khởi các loạn giác,
Ái,
nhuế, thùy miên, phú,
Tất
cả đều đã lìa.
Tu
tập nhiều như vậy,
Thoát
khỏi được năm dục,
Như
đổi biển thứ sáu,
Tất
qua được bờ kia.
Tu
tập thiền như vậy,
Đối
các dục sâu rộng,
Đều
qua được bờ kia,
Không
bị chúng giữ lại.
Khi
ấy, Thiên nữ Ái Lạc lại nói kệ:
Đã
đoạn trừ sân ái,
Chất
chứa dục sâu dày,
Người
nhiều đời tịnh tín,
Vượt
qua được biển dục.
Mở
ra trí tuệ sáng,
Vượt
qua cảnh tử ma.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Đại
phương tiện, rộng độ,
Vào
Pháp luật Như Lai,
Những
người này đã độ,
Người
trí còn lo gì?
Bấy
giờ, chí nguyện của ba Thiên nữ chưa được thỏa mãn, trở
lại chỗ Ma Ba-tuần, cha của chúng. Khi ấy, Ma Ba-tuần vừa
trông thấy các con gái đến, liền nói kệ trêu họ:
Các
con, này ba đứa,
Tự
khoe mình kham năng,
Toàn
thân phóng lửa sáng,
Như
lằn chớp trong mây.
Đến
chỗ Đại Tinh Tấn,
Mỗi
người phô sắc đẹp.
Ngược
lại đều bị phá,
Như
gió lùa bông gòn.
Dùng
ngón tay phá núi,
Dùng
răng cắn hòn sắt,
Hay
muốn dùng tóc, tơ,
Di
chuyển hòn núi lớn?
Những
người thoát hòa hợp,
Mà
mong loạn tâm kia.
Muốn
buộc dính chân gió,
Khiến
trăng rơi giữa không,
Dùng
tay khuấy biển lớn,
Hà
hơi động núi tuyết.
Đã
giải thoát hòa hợp,
Dễ
làm gì dao động.
Ở
giữa biển sâu rộng,
Mà
tìm đất đặt chân,
Như
Lai đối tất cả,
Hòa
hợp tất giải thoát,
Trong
biển lớn Chánh giác,
Tìm
dao động cũng vậy.
Ma
Ba-tuần trêu ba cô con gái rồi biến mất.
*
KINH
1093. TỊNH BẤT TỊNH[36]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật mới thành đạo, ở dưới cây Bồ-đề lớn
bên bờ sông Ni-liền-thiền, tại xứ Uất-bề-la. Thiên ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm mới thành đạo, đang ở
dưới bóng cây Bồ-đề, bên bờ sông Ni-liền-thiền, xứ
Uất-bề-la. Nay ta sẽ đến làm chướng ngại.’ Tức thì
tự biến thân mình thành trăm thứ sắc tịnh và bất tịnh,
đến chỗ Phật. Từ xa, Đức Phật trông thấy một trăm thứ
sắc tịnh và bất tịnh của Ma Ba-tuần liền tự nghĩ: ‘Ác
Ma Ba-tuần biến trăm thứ sắc tịnh và bất tịnh là muốn
làm nhiễu loạn.’ Liền nói kệ:
Mãi
mãi trong sanh tử,
Làm
sắc tịnh bất tịnh,
Vì
sao ngươi làm vậy?
Không
vượt khổ, bờ kia.
Nếu
thân, miệng và ý,
Không
làm chướng ngại người,
Không
bị ma sai sử,
Không
bị ma khống chế.
Biết
ma ác như vậy,
Ma
liền tự biến mất.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’
Trong lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
KINH
1094. KHỔ HÀNH[37]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật mới thành đạo, ở dưới cây Bồ-đề lớn,
bên bờ sông Ni-liền-thiền, tại xứ Uất-bề-la. Bấy giờ,
Thế Tôn một mình ở chỗ yên tĩnh, chuyên tâm thiền định
tư duy, tự nghĩ như vầy: ‘Nay Ta khéo giải thoát khổ hạnh[38].
Lành thay! Nay Ta khéo giải thoát khổ hạnh. Trước kia tu chánh
nguyện, ngày nay đã được quả Vô thượng Bồ-đề.’
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm mới thành Chánh
giác đang ở dưới cây Bồ-đề, tại xứ Uất-bề-la bên
bờ sông Ni-liền-thiền. Nay ta sẽ đến làm chướng ngại’.
Liền biến thành một thiếu niên đến trước Phật mà nói
kệ:
Chỗ
tu đại khổ hạnh,
Thường
khiến được thanh tịnh,
Nay
ngược lại, vất bỏ,
Ở
đây tìm những gì?
Muốn
cầu tịnh ở đây,
Tịnh
cũng không thể được.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Biết
các tu khổ hạnh,
Thảy
đều không có nghĩa,
Hoàn
toàn không được ích,
Như
cung chỉ có tiếng[39].
Giới,
định, văn, tuệ, đạo,
Ta
đều đã tu tập,
Được
thanh tịnh bậc nhất,
Tịnh
này không gì hơn.
Khi
đó Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’
Trong lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
KINH
1095. KHẤT THỰC[40]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại làng Sa-la của Bà-la-môn[41]. Bấy
giờ, sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm bát, vào làng Sa-la khất
thực.
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Nay Sa-môn Cù-đàm sáng sớm đắp
y, ôm bát, vào làng Sa-la khất thực. Bây giờ ta nên đến
trước, vào nhà họ, nói với những gia chủ Bà-la-môn tín
tâm, để cho Sa-môn Cù-đàm ôm bát trống ra về.” Lúc ấy,
Ma Ba-tuần chạy theo sau Phật kêu: “Sa-môn! Sa-môn! Không được
thức ăn sao?”
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm não loạn.’
Liền nói kệ:
Ngươi
đối với Như Lai,
Mới
phạm vô lượng tội,
Ngươi
bảo rằng Như Lai,
Chịu
mọi khổ não ư?
Khi
ấy, Ma Ba-tuần nói: “Cù-đàm hãy trở lại làng xóm. Tôi
sẽ khiến cho Ngài được khất thực.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Dù
thật không có gì,
Vẫn
an lạc tự sống.
Như
trời Quang âm kia,
Hỷ
lạc là thức ăn.
Dù
thật không có gì,
Vẫn
an lạc tự sống.
Hỷ
lạc là thức ăn.
Không
nương vào có thân.
Khi
đó Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’
Trong lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
KINH
1096. SỢI DÂY[42]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trú xứ của các Tiên nhân, nước Ba-la-nại.
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ta
đã giải thoát dây trói buộc trời, người. Các ông lại
cũng đã giải thoát dây trói buộc trời, người. Các ông
nên đi vào nhân gian, đi qua nhiều chỗ, lợi ích nhiều nơi,
an lạc cho trời, người. Không cần bạn đồng hành, mỗi
người tự đi[43]. Bây giờ, Ta cũng du hành trong nhân gian,
đến trú xứ Uất-bề-la.”
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm đang ở trong vườn
Lộc dã trú xứ của Tiên nhân, tại nước Ba-la-nại, vì các
Thanh văn mà nói như vầy: ‘Ta đã giải thoát dây ràng buộc
trời, người. Các ông lại cũng đã… Các ông, riêng mỗi
người đi vào nhân gian giáo hóa,… cho đến Ta cũng du hành
trong nhân gian, đến trú xứ Uất-bề-la.’ Bấy giờ ta sẽ
đến làm chướng ngại.” Liền biến thành một thiếu niên
đứng trước Phật mà nói kệ:
Không
thoát, nghĩ tưởng thoát,
Tự
hô giải thoát rồi;
Lại
buộc thêm càng chặt,
Nay
ta quyết không tha.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Ta
thoát tất cả rồi,
Mọi
trói buộc trời, người.
Đã
biết ngươi Ba-tuần,
Hãy
tự diệt, mất đi.
Khi
đó Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’
Trong lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
KINH
1097. THUYẾT PHÁP[44]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại nhà Thạch Chủ[45] dòng họ Thích,
trong làng họ Thích. Bấy giờ, trong làng Thạch Chủ họ Thích
có nhiều người chết vì bệnh dịch. Dân chúng mọi nơi hoặc
nam hoặc nữ, từ bốn phương đều thọ trì tam quy. Những
bệnh nhân nam nữ hoặc lớn hoặc nhỏ này đều là những
người nhân đến tự xưng tên họ: ‘Chúng con tên… xin quy
y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.’ Cả thôn cả ấp đều như
vậy.
Bấy
giờ, Thế Tôn vì hàng Thanh văn mà ân cần thuyết pháp. Lúc
ấy những người có tín tâm quy y Tam bảo đều được sanh
vào trong cõi trời, hay người. Khi ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ:
‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang ở trong nhà Thạch Chủ họ
Thích trong làng họ Thích, ân cần thuyết pháp cho bốn chúng.
Bây giờ, ta sẽ đến làm chướng ngại.’ Liền biến thành
một thiếu niên đến đứng trước Phật nói kệ:
Vì
sao siêng thuyết pháp,
Giáo
hóa cho mọi người?
Trái
nghịch, không trái nghịch,
Không
khỏi bị xua đuổi.
Vì
còn bị ràng buộc,
Nên
vì họ thuyết pháp[46].
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Dạ-xoa
ngươi nên biết,
Chúng
sanh sanh tập quần,
Những
người có trí tuệ,
Ai
mà không thương xót?
Vì
có lòng thương xót,
Không
thể không giáo hóa,
Thương
xót mọi chúng sanh,
Lẽ
tự nhiên như vậy[47].
Ma
Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’ Trong
lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
KINH
1098. LÀM VUA[48]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại nhà Thạch Chủ dòng họ Thích, trong
làng họ Thích. Bấy giờ, Thế Tôn một mình ở chỗ yên tĩnh,
thiền định tư duy, tự nghĩ: “Có thể nào làm vua mà không
sát sanh, không khiến người sát sanh, một mực thi hành chánh
pháp mà không thi hành phi pháp chăng?”
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở trong nhà Thạch Chủ họ Thích, trong làng họ Thích, một
mình ở chỗ yên tĩnh, thiền định tư duy, tự nghĩ: ‘Có
thể nào làm vua mà không sát sanh, không khiến người sát
sanh, một mực thi hành chánh pháp mà không thi hành phi pháp
chăng?’ Bây giờ, ta hãy nên đến đó vì họ mà nói pháp.”
Liền biến thành một thiếu niên đến đứng trước Phật
nói rằng:
“Như
vậy, Thế Tôn! Như vậy, Thiện Thệ! Có thể được làm vua
không sát sanh, không khiến người sát sanh, một mực thi hành
chánh pháp, không thi hành phi pháp. Thế Tôn nay hãy làm vua!
Thiện Thệ nay hãy làm vua! Có thể sẽ được như ý.”
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Nên nói với ma rằng:
“Ma
Ba-tuần, vì sao ngươi nói: ‘Thế Tôn nay hãy làm vua! Thiện
Thệ nay hãy làm vua! Có thể sẽ được như ý?’”
Ma
bạch Phật:
“Chính
tôi nghe từ Phật nói như vầy: ‘Nếu bốn Như ý túc được
tu tập, tu tập nhiều rồi, muốn khiến cho núi Tuyết chúa
biến ra vàng ròng tức thì làm được, không khác.’ Nay, Thế
Tôn đã có tứ như ý túc, tu tập, tu tập nhiều, có thể
khiến cho núi Tuyết chúa biến ra vàng ròng như ý, không khác.
Cho nên tôi bạch: ‘Thế Tôn hãy làm vua! Thiện Thệ hãy làm
vua! Có thể sẽ được như ý.’”
Phật
bảo Ba-tuần:
“Ta
không có tâm muốn làm vua. Vì sao phải làm? Ta cũng không có
tâm muốn núi Tuyết chúa biến ra vàng ròng. Tại sao phải
biến?”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Dù
thật có vàng ròng,
Giống
như núi Tuyết chúa,
Một
người được vàng này,
Cũng
còn không biết đủ.
Cho
nên người trí tuệ,
Vàng
đá coi như nhau.
Khi
đó Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’
Trong lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
KINH
1099. SỐ ĐÔNG[49]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại nhà Thạch Chủ dòng họ Thích, trong
làng họ Thích. Bấy giờ, có số đông Tỳ-kheo tụ tập ở
nhà cúng dường để may y.
Lúc
đó, Ma Ba-tuần tự nghĩ: “Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở tại nhà Thạch Chủ dòng họ Thích, trong làng họ Thích,
có số đông Tỳ-kheo tụ tập ở nhà cúng dường để may
y. Bây giờ, ta sẽ đến làm chướng ngại.” Liền biến thành
một thanh niên Bà-la-môn, quấn búi tóc to, mặc áo da thú,
tay cầm gậy cong, đến nhà cúng dường [50] , đứng im lặng
trước chúng Tỳ-kheo, trong giây lát nói với các Tỳ-kheo:
“Các
ông tuổi trẻ xuất gia, da trắng, tóc đen, tuổi đang lúc
sung sức nên hưởng thụ ngũ dục, trang điểm tự lạc. Vì
sao trái nghịch thân tộc, khiến họ khóc lóc chia lìa, chí
tin, không nhà, xuất gia học đạo? Tại sao lại bỏ cái lạc
hiện tại mà đi tìm cái lạc phi thời của đời khác?" [51]
Các
Tỳ-kheo nói với Bà-la-môn:
“Chúng
tôi không bỏ cái lạc hiện tại mà đi tìm cái lạc phi thời
của đời khác, nhưng bỏ cái lạc phi thời để thành tựu
cái lạc hiẹân tại?”
Ma
Ba-tuần lại hỏi:
“Thế
nào là bỏ cái lạc phi thời để thành tựu cái lạc hiẹân
tại?”
Tỳ-kheo
đáp:
“Thế
Tôn đã dạy: ‘Cái lạc của đời khác thú vị ít mà khổ
nhiều, lợi ít mà hại nhiều.’ Thế Tôn đã nói: ‘Cái
lạc hiẹân tại xa lìa các nhiệt não, không đợi thời tiết,
có thể tự thông đạt, duyên vào tự tâm mà giác tri.’ Này
Bà-la-môn, đó gọi là cái lạc hiẹân tại.”
Khi
ấy Bà-la-môn ấm ớ, lắc đầu ba lần, chống gậy xuống
đất rồi biến mất.
Bấy
giờ, các Tỳ-kheo sanh lòng sợ hãi, lông trong người dựng
đứng, tự hỏi: ‘Đó là hạng Bà-la-môn nào, đến đây
rồi biến mất?’ Liền đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới
chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch
Thế Tôn, Tỳ-kheo chúng con đang ở nhà cúng dường để may
y, có một thanh niên Bà-la-môn quấn búi tóc to đến chỗ chúng
con nói rằng: ‘Các ông tuổi trẻ xuất gia… Nói đầy đủ
như trên cho đến: ấm ớ, lắc đầu ba lần, chống gậy xuống
đất rồi biến mất. Chúng con sanh lòng sợ hãi, lông trong
người dựng đứng. Đó là hạng Bà-la-môn nào mà đến đây
rồi biến mất?”
Phật
bảo các Tỳ-kheo:
“Đó
không phải là Bà-la-môn nào, mà là Ma Ba-tuần đến chỗ các
ông, muốn làm nhiễu loạn.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Phàm
sanh các khổ não,
Đều
do nơi ái dục.
Biết
đời là kiếm nhọn,
Người
nào ưa thích dục?
Biết
thế gian hữu dư,
Tất
cả là kiếm nhọn,
Cho
nên người trí tuệ,
Phải
luôn tự điều phục.
Tích
tụ vàng ròng nhiều,
Giống
như núi Tuyết chúa,
Chỉ
một người thọ dụng,
Ý
còn không biết đủ,
Cho
nên người trí tuệ,
Phải
tu bình đẳng quán.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1100. THIỆN GIÁC[52]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở tại nhà Thạch Chủ dòng họ Thích, trong
làng họ Thích. Bấy giờ, có Tôn giả Thiện Giác[53], sáng
sớm đắp y, ôm bát vào làng Thạch Chủ họ Thích khất thực.
Sau khi khất thực trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân, cầm
tọa cụ vắt lên vai phải, vào trong rừng ngồi dưới một
bóng cây, nhập chánh thọ ban ngày, tự nghĩ: “Ta được điều
lợi ích! Đã xuất gia học đạo trong Chánh pháp luật. Ta
được điều lợi ích! Đã may mắn gặp Đại Sư Như Lai Đẳng
Chánh Giác. Ta được điều lợi ích! Đã được ở trong đại
chúng phạm hạnh, trì giới đầy đủ, đức độ, hiền thiện
chân thật. Nay ta sẽ được mạng chung một cách hiền thiện.
Ở đời vị lai cũng được tốt lành.”
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở nhà Thạch Chủ làng họ Thích và có đệ tử Thanh văn
tên là Thiện Giác đắp y, ôm bát… nói đầy đủ như trên
cho đến sẽ được mạng chung một cách hiền thiện. Ở đời
vị lai cũng được tốt lành. Bây giờ, ta sẽ đến làm chướng
ngại.’ Liền hóa thân to lớn, sức lực khỏe mạnh, ai thấy
cũng sợ. Sức mạnh này có thể lật úp đại địa, đi đến
chỗ Tỳ-kheo Thiện Giác.
Tỳ-kheo
Thiện Giác vừa trông thấy thân to lớn, sức lực khỏe mạnh,
liền sanh lòng sợ hãi, từ chỗ ngồi đứng dậy đến chỗ
Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch
Phật:
“Bạch
Thế Tôn, sáng sớm con đắp y, ôm bát… nói đầy đủ như
trên cho đến sẽ được mạng chung một cách hiền thiện.
Ở đời vị lai cũng được tốt lành. Con thấy có người
thân to lớn, sức lực dũng mãnh có thể lay động quả đất,
thấy rồi sanh lòng sợ hãi, sợ hãi đến dựng đứng cả
lông!”
Phật
bảo Thiện Giác:
“Đó
không phải là người thân to lớn, là Ma Ba-tuần muốn làm
nhiễu loạn. Ông hãy trở về nương vào dưới bóng cây tu
tập tam-muội như trước, hãy tác động ma kia, để nhờ đó
thoát khổ.”
Khi
ấy Tôn giả Thiện Giác liền trở về chỗ cũ, sáng sớm
đắp y, ôm bát vào nhà Thạch Chủ, làng họ Thích khất thực,
khất thực xong trở về tinh xá. Nói đầy đủ như trên,…
cho đến sẽ được mạng chung một cách hiền thiện. Ở đời
vị lai cũng được tốt lành.
Lúc
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Hiện tại Sa-môn Cù-đàm đang
ở nhà Thạch Chủ làng họ Thích và có đệ tử Thanh văn
tên là Thiện Giác, đắp y, ôm bát. Nói đầy đủ như trên,…
cho đến sẽ được mạng chung một cách hiền thiện. Ở đời
vị lai cũng được tốt lành. Bây giờ, ta sẽ đến làm chướng
ngại.’ Lại hóa ra thân to lớn, sức mạnh dũng mãnh, có
thể lay động quả đất, đến đứng trước Thiện Giác.
Tỳ-kheo Thiện Giác vừa trông thấy ma lại liền nói kệ:
Ta
chánh tín không nhà,
Để
xuất gia học đạo.
Nơi
Phật, vô giá bảo[54],
Chuyên
buộc tâm chánh niệm.
Mặc
ngươi hóa hình sắc,
Tâm
ta không dao động.
Biết
ngươi là huyễn hóa,
Từ
đây hãy mất đi.
Khi
đó Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’
Trong lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
KINH
1101. SƯ TỬ[55]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong vườn Lộc dã, chỗ ở của các
Tiên nhân, tại nước Ba-la-nại. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các
Tỳ-kheo:
“Thanh
văn của Như Lai rống lên tiếng rống của sư tử, nói là:
‘Đã biết! Đã biết!’ Vậy, không biết Thanh văn của Như
Lai đã biết những pháp gì? Vì đã biết nên rống lên tiếng
rống của sư tử, đó là: ‘Thánh đế về khổ, Thánh đế
về sự tập khởi của khổ, Thánh đế về sự tận diệt
khổ, Thánh đế về con đường đưa đến diệt khổ.’”
Khi
ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đang ở trong vườn
Lộc dã, chỗ ở của các Tiên nhân, tại nước Ba-la-nại,
vì các Thanh văn thuyết pháp,… cho đến đã biết bốn Thánh
đế. Bây giờ, ta sẽ đến làm chướng ngại.’ Liền hóa
ra một thiếu niên đứng trước Phật nói kệ:
Vì
sao giữa đại chúng,
Sư
tử rống không sợ,
Bảo
rằng: ‘Không ai địch’,
Mong
điều phục tất cả.
Bấy
giờ, Thế Tôn tự nghĩ: ‘Ác Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.’
Liền nói kệ:
Như
Lai đối tất cả,
Chánh
pháp luật sâu xa,
Phương
tiện sư tử rống,
Nơi
pháp không sợ hãi,
Nếu
người có trí tuệ,
Cớ
sao tự lo sợ?
Khi
đó Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’
Trong lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
KINH
1102. BÁT[56]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong đồng trống bị nhiều người giẫm
đạp, tại thành Vương xá, cùng với năm trăm Tỳ-kheo; Ngài
lấy năm trăm bình bát để giữa sân, vì họ mà nói pháp.
Bấy
giờ, Thế Tôn lại vì năm trăm Tỳ-kheo nói về năm uẩn là
pháp sanh diệt. Khi ấy, Thiên ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn
Cù-đàm đang ở trong đồng trống bị nhiều người giẫm
đạp, tại thành Vương xá, cùng với năm trăm Tỳ-kheo… cho
đến nói về năm uẩn là pháp sanh diệt. Bây giờ, ta nên
đến làm chướng ngại.” Liền hóa ra một con trâu lớn đến
chỗ Phật, vào chỗ để năm trăm bình bát. Các Tỳ-kheo muốn
bảo vệ các bình bát, liền đuổi đi.
Lúc
bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Đó
không phải là trâu, là Ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.”
Liền nói kệ:
Sắc,
thọ, tưởng, hành, thức,
Không
phải ngã, ngã sở,
Nếu
biết nghĩa chân thật,
Không
đắm trước nơi chúng.
Tâm
không đắm trước pháp,
Thoát
khỏi sắc ràng buộc,
Thấu
rõ khắp mọi nơi,
Không
trụ cảnh giới ma.
Phật
nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan
hỷ phụng hành.
*
KINH
1103. NHẬP XỨ[57]
Tôi
nghe như vầy:
Một
thời Đức Phật ở trong đồng trống bị nhiều người giẫm
đạp, tại thành Vương xá, cùng với sáu trăm Tỳ-kheo. Bấy
giờ, Thế Tôn lại vì các Tỳ-kheo nói về sáu xúc nhập xứ[58]
tập, sáu xúc tập, sáu xúc diệt. Khi ấy, Ma Ba-tuần tự nghĩ:
“Sa-môn Cù-đàm đang ở đồng trống bị nhiều người giẫm
đạp, tại thành Vương xá, vì sáu trăm Tỳ-kheo nói về sáu
xúc nhập xứ, nói đây là pháp tập, đây là pháp diệt. Bây
giờ, ta nên đến làm chướng ngại.’ Liền hóa ra một thanh
niên thân to lớn, sức lực dũng mãnh có thể lay động quả
đất đi đến chỗ Phật.
Các
Tỳ-kheo kia vừa trông thấy thanh niên to lớn, dũng mãnh, sanh
lòng sợ hãi, lông trong người dựng đứng, nói với nhau rằng:
“Kia
là ai mà hình dáng đáng sợ vậy?”
Bấy
giờ, Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Đó
là Ác ma Ba-tuần muốn làm nhiễu loạn.”
Bấy
giờ, Thế Tôn liền nói kệ:
Sắc,
thanh, hương, vị, xúc,
Và
thứ sáu: các pháp,
Niệm,
ái, thích, vừa ý,
Thế
gian chỉ có vậy.
Đây
là tham ác nhất,
Thường
trói buộc phàm phu,
Người
vượt những bệnh này,
Là
Thánh đệ tử Phật,
Vượt
qua cảnh giới ma,
Như
mặt trời không mây.
Khi
đó Ma Ba-tuần tự nghĩ: ‘Sa-môn Cù-đàm đã biết tâm ta.’
Trong lòng cảm thấy buồn lo liền biến mất.
*
--------------------------------------------------------------------------------
[1].
Đại Chánh, quyển 39. Quốc Dịch, quyển 33. “Tụng vii. Kệ.1.
Tương ưng Tỳ-kheo” tiếp theo Pāli, A.3.126 Kaṭuviya. Biệt
dịch, No 100 (20).
[2].
Hán: y ác tham thị 依惡貪嗜. Pāli: rittassādaṃ bāhirassādaṃ,
vị trống không, vị ngoại giới.
[3].
Pāli: muṭṭhassatiṃ asampajnaṃ asamāhitaṃ vibhantacittaṃ pākantimdriyaṃ,
mất chánh niệm, không tỉnh giác, không tập trung, tâm loạn
động, các căn phóng túng.
[4].
Pāli: mā… attānaṃ kaṭuviyam akāsi, đừng làm tự ngã hư
thối.
[5].
Pāli: abhijjhā… kaṭuvuyaṃ vyāpādo āmâgndho pāpakā ạkusalā
vitakkā makkhikā, tham là thối nát, sân là mùi hôi thối, tầm
cầu ác bất thiện là ruồi nhặng.
[6].
Pāli, không thấy tương đương. Biệt dịch, No 100(21).
[7].
Tức nghỉ trưa.
[8].
Nguyên Hán: Sĩ phu 士夫.
[9].
Pāli, S. 20. 9. Nāgo. Biệt dịch, No 100(22).
[10].
Long tượng 龍象. Pāli: nāga, số nhiều.
[11].
Pāli: taruṇā bhivikacchāpā, những con voi nhỏ.
[12].
Quốc Dịch, “Tụng vii. Kệ. 2. Tương ưng Ma” gồm hai phẩm,
hai mươi mốt kinh. Ấn Thuận, “Tụng viii. Tám chúng. 18. Tương
ưng Ma” hai mươi kinh, Đại Chánh, 1084-1103. Quốc Dịch, phẩm
1, mười một kinh. Pāli, S. 4.9. Āyu (1). Biệt dịch, No 100(23).
[13].
Hàn lâm 寒林. Pāli: Sītavana, khu rừng ở gần thành Rājagaha.
[14].
Pāli: dīghamāyu manussānaṃ, na naṃ hīḷe suporiso, tuổi thọ
con người rất dài; người khôn ngoan không xem khinh điều
này.
[15].
Pāli, S. 4.10. Āyu (2). Biệt dịch, No 100(24).
[16].
Tô tức 穌息. Pāli: assāsaka, có hơi thở điều hòa, an tâm.
[17].
Pāli: nācca yanti aho rattā jīvitaṃ nūparujjhati, ngày đêm không
đi qua, mạng sống không giảm thiểu.
[18].
Pāli, S. 4.15. Mānasa. Biệt dịch, No 100(25).
[19].
Pāli: antalikkhacaro pāso, yoyaṃ carati mānaso, tâm ý này dong
ruổi, như sợi dây thòng giữa hư không.
[20].
Pāli, S. 4.7. Suppati. Biệt dịch, No 100(26).
[21].
Pāli, S. 4. 11. Pāsāṇa. Biệt dịch, No 100(27).
[22].
Đây chỉ quyến thuộc của A-tu-la.
[23].
Pāli, S. 4.6. Sappa (Rắn). Biệt dịch, No 100(28).
[24].
Hán: đại long 大龍. Pāli: mahanta sapparājā, đại xà vương.
[25].
Pāli, S. 4.13. Sakalika. Biệt dịch, No 100(29).
[26].
Vương xá thành Tỳ-bà-la sơn Thất diệp thọ lâm thạch thất
王舍城毘婆羅山七葉樹林石室. Đây chỉ hang Sattapaṇṇiguhā,
trên sườn núi Vebhāra, thành Rājagaha. Nhưng bản Pāli: Maddakucchismiṃ
Migadāye, vườn Nai, trong rừng Maddakucchi.
[27].
Pāli, S.4.23. Godhika. Biệt dịch, No 100(30).
[28].
Xem cht.26, kinh1090.
[29].
Cù-đề-ca 瞿低迦. Pāli: Godhika.
[30].
Tiên nhân sơn trắc Hắc thạch thất 仙人山側黑石室. Pāli:
Isigili-passa, Kālasilā.
[31].
Hán: thời thọ ý giải thoát 時受意解脫; tức, thời giải
thoát hay thời ái tâm giải thoát, trường hợp A-la-hán chứng
tâm giải thoát tùy thuộc hoàn cảnh; khi nghịch duyên, có
thể bị thoái thất. Xem, Câu-xá 25, Đại 29, tr.129a 19, 130b
16 Pāli: sāmāyikaṃ ceto-vimuttiṃ.
[32].
Hán: bất trụ tâm 不住心. Pāli: appatiṭṭhitena viññāṇena,
bằng thức vô trụ (không trụ xứ).
[33].
Pāli, S.4.24. Sattavassa; S.4.25. Dhītaro. Biệt dịch, No 100(31).
[34].
Pāli: kaṭṭhena bhūmiṃ vilikhanto, dùng que vạch lên đất.
[35].
Ái Lạc 愛欲, Ái niệm 愛念, Ái dục 愛樂. Pāli: Taṇhā
(Khát ái), Rati (Không lạc), Rāga (tham dục).
[36].
Pāli, S.4.2. Nāga; 4.3. Subha. Biệt dịch, No 100(32).
[37].
Quốc Dịch, phẩm 2. Pāli, S. 4. 1. 1. Tapokammañca.
[38].
Khổ hành 苦行. Pāli: dukkhārakārikāya, đây chỉ sáu năm khổ
hạnh của Phật.
[39].
Pāli: như bánh lái của chiếc thuyền trên cạn.
[40].
Pāli, S.4.18. Piṇḍa.
[41].
Sa-la Bà-la-môn tụ lạc 娑羅婆羅門聚. Pāli: Pañcasālāyaṃ
brāhmaṇagāme.
[42].
Pāli, S.4.4-5 Pāsa.
[43].
Sf. Mv.i., vin.i - 21.
[44].
Pāli, S.4.14. Paṭirūpa.
[45].
Thạch Chủ 石主. Pāli: Kosalesu Ekasālāyaṃ brāhmaṇagāme.
[46].
Pāli: netaṃ tava paṭỉūpaṃ, tad aññam anusāssasi, anurodhavirodhesu,
mā sajjittho tad ācaran ti, “Thật không thích hợp để Ngài
giáo hóa người khác. Chớ đi giữa những người tán thành
và những người chống đối.”
[47].
Pāli: hitānukampī sambuddho, yad aññam anusāssati; anurodha-virodhehi
vippamutto Tathāgato ti, Đấng Chánh Giác giáo hóa mọi người
do lòng thương tưởng, lân mẫn. Như Lai đã giải thoát ngoài
những tán thành và chống đối.
[48].
Pāli, S.4.20. Rajja.
[49].
S. 4.21. Sambahulā.
[50].
Nhà thị giả, hay nhà khách trong tinh xá.
[51].
Xem cht.55, kinh 1078.
[52].
Pāli, S.4.22. Samiddhi.
[53].
Thiện Giác 善覺. Pāli: Samiddhi.
[54].
Vô giá bảo 無價寶. Bản Tống-Nguyên-Minh: Pháp Tăng bảo
法僧寶
[55].
Pāli, S.4.12. Sīha.
[56].
Pāli, S.4.16. Patta.
[57].
Pāli, S.4.17. Āyatana.
[58].
Xúc nhập xứ 觸入處. Pāli: phassāyatana.
